Một trong những tiến trình đặc biệt đó là việc văn học dần dần trở thành một môi trường sinh hoạt tinh thần độc lập một cách tương đối thoát dần khỏi sự chi phối của quyền lực và chính t
Trang 1Ba thập niên đầu thế kỷ XX và sự hình thành trường văn học ở Việt Nam
Phạm Xuân Thạch
Tóm tắt: Ba thập niên đầu tiên của thế kỉ XX là một giai đoạn đặc biệt của lịch sử văn học Việt Nam: giai đoạn diễn ra quá trình chuyển đổi loại hình từ một nền văn học Trung đại, song ngữ Hán – Nôm, cấu trúc theo mô hình văn học Trung Quốc sang nền văn học Hiện đại, đơn ngữ Quốc ngữ, cấu trúc theo mô hình văn học Tây phương Nói cách khác, đây là giai đoạn tái cấu trúc và hình thành nên văn học hiện đại ở Việt Nam Một trong những tiến trình đặc biệt đó là việc văn học dần dần trở thành một môi trường sinh hoạt tinh thần độc lập một cách tương đối (thoát dần khỏi sự chi phối của quyền lực và chính trị, như trong giai đoạn Trung đại), với các kiểu nhà văn chuyên nghiệp Nó bắt đầu tìm kiếm tính độc lập, vạch ra những ranh giới với các hình thái tinh thần khác, và xác lập một “luật chơi” riêng với những giá trị đặc thù, những kiểu quan
hệ của các nhân vật tham gia vào “cuộc chơi” này Do đó, ba thập niên đầu thế kỉ XX ở Việt Nam chính là giai đoạn hình thành một trường văn học (le champ littéraire) – theo ngôn ngữ của nhà xã hội học Pháp Pierre Bourdieu
Lý thuyết này được hình thành từ thực tế nghiên cứu đời sống văn học Pháp nửa cuối thế kỉ XIX Vì vậy, khi áp dụng vào thực tế văn chương Việt Nam, chắc chắn cần những điều chỉnh nhất định Được tiếp nhận một cách khoa học, lí thuyết này sẽ có thể là một công cụ hữu hiệu giải quyết vấn đề mà chúng tôi đặt ra, đồng thời cũng có thể góp phần tìm hiểu văn chương Việt Nam đương đại, cụ thể là góp phần lí giải vị thế xã hội mà văn chương đã có và đang có ở dân tộc này.
*Trong một bài viết hoàn thành cuối những năm 1960 mang tên “Lịch sử văn học:
sự thách thức đối với lý luận văn học”[1], H.R.Jauss có nhắc đến cuộc khủnghoảng của lịch sử văn học ở nước Đức trong tiền bán thế kỉ XX, sau thời đại vàngvới những thành tựu đỉnh cao xuất hiện trong thế kỷ XIX[2]
Cuộc khủng hoảng ấy, suy đến cùng, là một khủng hoảng phương pháp luận.Quan sát tình hình phát triển của bộ môn này ở Việt Nam trong khoảng haimươi năm gần đây cũng có thể nhận ra một tình hình tương tự Từ cuối nhữngnăm 1990, đầu những năm 2000, ở Việt Nam gần như có một “phong trào” viếtlại lịch sử văn học dân tộc “Phong trào” này bắt nguồn từ việc sau năm 1986,hàng loạt phần còn chìm khuất hoặc bị “ngược đãi” của văn học dân tộc đã từngbước được đưa ra ánh sáng và “chiêu tuyết” Hình ảnh của văn học quá khứ vớinhững phần được tái phát hiện đã phủ định những bức tranh về chính nó đượcdựng lên từ những thập niên 1960, 1970 (chúng tôi lấy thời điểm khi những công
Trang 2trình lịch sử văn học của các trường Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm HàNội xây dựng và vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay trong những cơ sở đàotạo này).
Trong bài viết đã dẫn ở trên, theo Jauss, trong nửa đầu thế kỷ XX, lịch sử văn học
dù được trình bày dưới dạng tổng quát, được viết “theo thể loại” hay “theo tràolưu” đều bị biến thành một thứ biên niên sử các sự kiện văn học, một lối liệt kê
sự kiện và mô tả theo kiểu “thỉnh thoảng có con voi trắng”[3] Để thoát khỏi tìnhtrạng khủng hoảng đó, nói cách khác, để tự xác lập mình như một “bộ môn uyênbác”, một “phương pháp nghiên cứu” (theo cách nói của A.Compagnon trong
công trình Bản mệnh của lý thuyết: văn chương và cảm nghĩ thông thường), lịch sử
văn học buộc phải tự xác lập một phương pháp luận của riêng mình bằng cáchhấp thụ nhưng thành tựu của các lý thuyết văn học
Như A.Compagnon đã tổng kết trong công trình nói trên, tựu chung lại, lịch sửvăn học phải đối diện trước hai vấn đề có tính nền tảng: mối liên hệ với các vănbản với nhau qua thời gian và mối liên hệ giữa (văn chương) và bối cảnh lịch sử.Các dự án về “sự phát triển văn chương” của chủ nghĩa hình thức và “chân trờichờ đợi” (horizon d’attente) của mỹ học tiếp nhận, những dự án lý thuyết cónhiều tham vọng nhất trong việc xác lập cho lịch sử văn học một nền tảngphương pháp luận, lần lượt, định vị trọn vẹn ở từng vấn đề đó Không muốnnhắc lại những khiếm khuyết của từng dự án, những khiếm khuyết mà A.Compagnon đã phân tích trong công trình kể trên, ở đây, chúng tôi chỉ muốnkhẳng định rằng đối diện trước sự phức tạp của đối tượng nghiên cứu, ngườilàm lịch sử văn chương bắt buộc phải lựa chọn con đường có tính trung dungnghĩa là tổng hợp lý thuyết và một trong những con đường tổng hợp như thế,chính là lý thuyết trường
Có một điều không thể phủ nhận được là ngay cả những người hình thức luậnnhất vẫn không thể chối từ được ý nghĩa xã hội của hiện tượng văn học Theo dõi
sự phát triển của lý thuyết văn chương trong thế kỉ XX, có thể thấy sau một thời
kì phát triển theo hướng chuyên sâu với những lý thuyết đối lập nhau về quanđiểm nền tảng, đang có một xu hướng xây dựng những lý thuyết có tính thốngnhất về hiện tượng văn chương Chỉ riêng trong những nghiên cứu xã hội họcvăn học, từ G.Lukacs[4], qua L.Goldmann[5], đến P.Bourdieu và P.V.Zima[6], cóthể nhận thấy rõ một khuynh hướng hấp thụ thành tựu của những lý thuyết
Trang 3khác vào trong lòng xã hội học văn học Điều này được thể hiện rất rõ trong lýthuyết xã hội học (sociocritique) về văn bản của P.V.Zima và lý thuyết về
“trường văn học” (le champ littéraire) của P.Bourdieu Nếu như P.V.Zima tìmkiếm mối quan hệ giữa xã hội và văn bản văn chương qua trung giới ngôn ngữ
và hấp thụ tất cả các thành tựu của ngôn ngữ học về diễn ngôn, tự sự học, mỹhọc tiếp nhận cũng như nghiên cứu liên văn bản thì P.Bourdieu lại đi theo conđường khác Tất nhiên, đây là một trường hợp đặc biệt bởi khác với Lukacs,Goldmann, hay Zima, Bourdieu trước hết là một nhà xã hội học và từ đặc thùnghề nghiệp đó, ông đã xây dựng nên một sự kết hợp độc đáo giữa nhữngnghiên cứu và phương pháp mô hình hóa của xã hội học và sự hiểu biết tườngtận những quy luật đặc thù của văn chương Đây cũng chính là lý thuyết màchúng tôi muốn áp dụng trong nghiên cứu lịch sử văn học của mình
Lý thuyết về trường là một trong những phát hiện quan trọng của xã hội học vănhọc trong thế kỷ XX Người khai sinh ra nó là P Bourdieu (1930-2002), nhà xã hộihọc, một trong những gương mặt trí thức dấn thân tiêu biểu của lịch sử đươngđại Pháp Tư tưởng xã hội học của Bourdieu lấy cảm hứng sâu sắc từ chủ nghĩaMarx và điểm độc đáo của nó không chỉ thể hiện ở khả năng áp dụng hết sứcrộng tới mọi hoạt động xã hội của con người (trong đó có văn học) mà còn ở sự
am tường sâu sắc của ông đối với văn chương, nghệ thuật Công trình độc đáo
của Bourdieu Les Règles de l’Art Genèse et structure du champ littéraire (Những
nguyên tắc của nghệ thuật Sự hình thành và cấu trúc của trường văn học) là một
kết hợp những phân tích tiểu thuyết FlaubertL’Éducation sentimentale (Giáo dục
tình cảm), tình thế văn chương Pháp xung quanh năm 1840 và những nghiên cứu
xã hội học “Trường” (champ) là một trong những khái niệm nòng cốt trong lýthuyết của Bourdieu (cùng với các khái niệm tập tính – habitus – và vốn –capital, bao gồm cả vốn xã hội, vốn văn hóa cũng như vốn biểu tượng – đượcphát triển từ lý thuyết Marxisme[7]) Truờng là một không gian xã hội có tính tựtrị một cách tương đối (văn học, nghệ thuật, triết học, chính trị – quyền lực…)xuất hiện dọc theo lịch sử Nó là một thứ thiết chế (l’institution) nhưng khônghữu hình như hệ thống giáo dục hay luật pháp mà là một thứ thiết chế “ảo” với
tư cách là một cấu hình (configuration) những mối quan hệ giữa các tác nhân(l’agent) tham gia vào trường Một trường được cấu trúc với hệ thống thứ bậcriêng (có những kẻ thống trị và những kẻ bị trị) với những cuộc đấu tranh giànhquyền ấn định những giá trị của mình lên phần còn lại của trường xoay quanhcâu hỏi mang ý nghĩa quyết định tính tự trị của trường (với văn chương, đó là
Trang 4câu hỏi “Văn học là gì?” và những câu hỏi phái sinh từ nó) Một lĩnh vực hoạtđộng trở thành một trường khi nó xác lập được hệ giá trị có tính độc lập củariêng nó, là cái mà các tác nhân chấp nhận trả giá để ấn định dấu ấn của mình lên
hệ giá trị đó Hệ giá trị đó được xác lập trên cơ sở cuộc đấu tranh giữa những tácnhân trong trường Nghiên cứu của Bourdieu hướng đến khoảng thời gian giữathế kỷ XIX trong đời sống văn học ở Pháp Đó là thời điểm mà văn học bắt đầuxác lập một giá trị độc lập của riêng mình và bắt đầu trở thành một “thế giới đảolộn” (monde à l’envers) Chính vì xác lập được hệ giá trị riêng biệt cho mình nêntrong trường văn học, những “nhà thơ bị nguyền rủa” như Verlaine[8] hayMallarmé[9], những kẻ có thể bị coi là tồn tại bên lề những chuẩn mực của xã hội
tư sản lại có thể xác lập được một vị thế và một giá trị ở trong trường vănchương Đó cũng là thời điểm mà văn học chối từ những phán xử từ những thiếtchế bên ngoài nó (Nhà thờ, Luật pháp) Điều này được thể hiện qua các vụ kiệnliên quan tới tiểu thuyết của Flaubert[10] và thơ của Baudelaire[11]
Lý thuyết trường có một giá trị đặc biệt đối với những nghiên cứu xã hội học vănhọc và qua đó, mang đến những đóng góp phương pháp luận đặc biệt cho lịch
sử văn học[12] Trước hết, nó cho phép tái hiện lại đời sống văn học trong tínhsinh động với những nguồn động lực thúc đẩy quá trình sáng tạo của nhà văn
Từ đó, lịch sử văn học không còn là một bức tranh ghép một cách cơ học nhữngtác phẩm văn chương Trên một phương diện, ở hình dung này, có một sự gặp
gỡ giữa lý thuyết về trường và mỹ học tiếp nhận Không tuyệt đối hóa một cáchduy tâm chủ nghĩa nguồn gốc của sáng tạo văn học ở những xung năng tâm lícủa nhà văn, những lý thuyết này nhìn thấy cội nguồn có tính xã hội của nhữngxung năng đó Và cũng chính điều đó mở ra con đường để hiểu tác phẩm vănhọc theo đúng tinh thần của tường giải học (herméneutique): người ta chỉ có thểhiểu được ý nghĩa của văn bản nếu hiểu được câu hỏi mà văn bản đó trả lời Tuynhiên, khác với những khuynh hướng quyết định luận một cách cực đoan, mộtmặt, lý thuyết trường cho thấy động năng thúc đẩy quá trình sáng tạo của nhàvăn là có tính xã hội, trên một phương diện, đó là quá trình đấu tranh của các tácnhân tham gia vào trường để trở thành một vị thế (position) được thừa nhận và
có thể ấn định những giá trị của mình lên phần còn lại của trường Mặt khác, khi
đã hình dung rằng một trường chỉ có thể trở thành chính nó khi xác lập đượcnhững giá trị của riêng mình, lý thuyết này cũng tránh được hạn chế của những
lý thuyết có tính quyết định luận xã hội về văn chương cho rằng động năng thúcđẩy sáng tạo nghệ thuật là những giá trị ngoài văn chương (chẳng hạn như cuộc
Trang 5đấu tranh giai cấp, hay sự thúc đẩy của lí do kinh tế…) Hơn thế nữa, nó chophép xác lập được một cái nhìn có tính biện chứng về quá trình sáng tạo của nhàvăn Nó vừa xác nhận tính sáng tạo của anh ta (trong quá trình xây dựng một giátrị của riêng mình để trở thành một vị thế trong trường) vừa khẳng định tínhquy định xã hội đối với quá trình sáng tạo đó (để xác lập vị thế, anh ta phải đấutranh phủ định những vị thế khác, và vì thế, logic sẽ là phủ định cái gì sẽ bịchính cái đó quy định).
Đối với nghiên cứu lịch sử văn học, lý thuyết về trường văn học có thể mang đếnhai đóng góp cơ bản Trước hết, bản thân sự xuất hiện của trường văn học cũng
có thể coi như một dấu hiệu phân kì lịch sử văn học Gần như đã trở thành mộtquy luật, trong một thời gian dài kể từ khi xuất hiện nghệ thuật ngôn từ, văn họctồn tại trong một tình thế nguyên hợp với các hình thái ý thức xã hội khác Lấynền văn học Pháp làm một ví dụ, cho đến tận thế kỷ XIX, ở Pháp, tổng thể đượchình dung là “mỹ văn” (belles-lettres) được hình dung là tập hợp của tất cảnhững gì lấy ngôn từ làm chất liệu và chế biến chất liệu ấy một cách có nghệ
thuật Chính vì vậy, Émile của J.J.Rousseau được coi là văn học
mà Pensées (Những tư tưởng) của B Pascale cũng được coi là văn học Đến đầu
thế kỷ XIX, với sự thúc đẩy của một loạt yếu tố thì văn học mới bắt đầu tách khỏi
sự thống trị của hệ tư tưởng và xác lập một hình thái tồn tại độc lập tương đốicủa chính mình Như vậy, sự hình thành của trường văn học có thể được xemnhư một dấu hiệu của quá trình hiện đại hóa văn học Trên một phương diệnkhác, như đã nói, lý thuyết trường cho phép chỉ ra điều mà H.R.Jauss đã nói, đólà: “Làm thế nào nhận biết được sự tiếp nối lẫn nhau về mặt lịch sử của các tácphẩm văn học như là sự liên kết lịch sử văn học”[13] Có thể nói, chính nó chophép dựng lại động năng của sự phát triển văn học
Quay trở về với các vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam, có thể nhận thấy trongmười thế kỉ phát triển của văn học viết có một giai đoạn lịch sử đặc biệt: ba thậpniên cuối thế kỉ XX, tính từ thời điểm những phong trào yêu nước mang màu sắcDuy tân do các chí sĩ xuất thân Nho học lãnh đạo nổ ra cho đến khi phong tràoThơ Mới bắt đầu Các hiện tượng văn học đang được giới nghiên cứu bổ sungngày càng đầy đủ cho thấy, đây là một giai đoạn có tính chuyển tiếp giữa haithời đại lớn của văn học dân tộc, là thời kì chuyển đổi loại hình từ nền văn họcsong ngữ Hán Nôm trong quỹ đạo ảnh hưởng của văn chương Trung Quốc sangnền văn học thuần túy sử dụng ngôn ngữ dân tộc với văn tự La tinh hóa và cấu
Trang 6thành theo kiểu mẫu văn chương hiện đại thế giới Đó cũng chính là điều mànhững người nghiên cứu trước đây đã hình dung khi các ông nói về thế hệ 1913
(Thanh Lãng – Bảng lược đồ văn học Việt Nam), giai đoạn 1907-1932 (Phạm Thế Ngũ – Việt Nam văn học sử giản ước tân biên) hay giai đoạn giao thời (Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng – Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930) Cho đến
nay, dù rằng có những quan niệm khác nhau về việc có hay không giai đoạn Cận– Hiện đại trong văn chương Việt Nam thì việc thừa nhận sự tồn tại của một giaiđoạn trung gian có tính chuyển tiếp giữa hai thời đại lớn của văn học Việt Namthiết tưởng là điều không còn phải bàn cãi Vấn đề còn lại là nhận diện nhữngvấn đề tạo nên “nòng cốt” của quá trình vận động đó, hay nói cách khác, trả lờicâu hỏi: quá trình hiện đại hóa đã diễn ra như thế nào trong văn chương ViệtNam ba mươi năm đầu thế kỉ
Trong quá trình xử lí những dữ liệu của văn học Việt Nam giai đoạn này, chúngtôi nhận thấy có những dấu hiệu cho phép đặt giả thiết rằng đây chính là thời kìkhởi đầu cho sự hình thành của trường văn học ở Việt Nam Đó là một khởi đầucủa một câu chuyện dài với những khuất khúc, những biến thiên, những xác lập,
bị xóa bỏ và tái lập trong suốt thế kỉ XX Trong quá trình tái lập lại lịch sử đầyphức tạp đó, đối với chúng tôi, lý thuyết về trường của Bourdieu không phải làmột mô hình để áp đặt một cách máy móc vào mô tả văn học dân tộc theo hướngcoi văn học dân tộc như là chất liệu để chứng minh cho tính đúng đắn của một
mô hình (chẳng hạn việc mô tả diễn biến của văn học Việt Nam 1932-1945 như là
sự vận động từ thấp đến cao của các phương pháp sáng tác từ lãng mạn qua hiệnthực tới văn học cách mạng vô sản) mà lý thuyết chỉ được coi như một công cụphân tích có giá trị tương đối và cần phải hiệu chỉnh trước đối tượng
SỰ HÌNH THÀNH CỦA MỘT THẾ GIỚI
1 Năm 1924, trong buổi lễ kỉ niệm 100 năm ngày mất của Nguyễn Du do HộiKhai trí (Ban Văn học) tổ chức tại Hà Nội vào ngày 8.9, Phạm Quỳnh đọc bàidiễn thuyết bằng quốc văn với tuyên ngôn trứ danh “truyện Kiều còn, tiếng tacòn, tiếng ta còn, nước ta còn” Ông Phạm dùng không thiếu một danh xưng đẹp
đẽ nào để ca tụng Truyện Kiều, tác phẩm mà theo ông, “vừa là kinh, vừa làtruyện, vừa là Thánh thư phúc âm của cả một dân tộc” Ông đánh giá truyệnKiều “không những đối với văn hóa nước nhà mà với văn học thế giới cũng
chiếm một địa vị cao quý”[14] Tất nhiên, khuynh hướng đề cao Truyện Kiều không phải đến năm 1924 mới xuất hiện Ngay từ những số đầu của tờ Nam
Trang 7phong do ông Phạm chủ trương, ông đã có những bài đề cao truyện Kiều Và cũng không phải đến tận lúc này, Truyện Kiều mới được giới văn nhân, Nho sĩ,
quý tộc… ở Việt Nam quan tâm Ngay sau khi được Nguyễn Du trước bạ với
văn học dân tộc, Truyện Kiều đã chịu không biết bao nhiêu “nâng lên đặt xuống”
của giới tinh hoa, từ ông Hoàng đế yêu thơ Tự Đức cho đến ông quan thị tàiNguyễn Công Trứ Những trầm luân của tác phẩm qua bao nhiêu lần đượcphẩm bình tưởng cũng có thể so sánh với số phận của nhân vật chính của thiêntruyện Có điều, lần này, một điều gì đó đã thay đổi Sự thay đổi đó thể hiệntrong chính hệ quy chiếu mà ông Phạm lấy làm căn cứ để đánh giá Truyện Kiều.Ông coi Truyện Kiều là một tác phẩm văn chương và ông đặt nó trong thế sosánh với văn chương Trung Quốc và Pháp để từ đó khẳng định vị trí độc đáo
không thể phủ nhận của Truyện Kiều trong nền văn học thế giới Và đáng lưu
tâm hơn nữa là thái độ của ông Phạm sau bài diễn văn trứ danh
Một hành vi “táo tợn”, đề cao Truyện Kiều đến mức như vậy và theo cách nhưvậy tất yếu sẽ gây ra những phản ứng trái chiều Bằng chứng là bài viết của Ngô
Đức Kế trên báo Hữu Thanh số 21 (1.9.1924) với tiêu đề hết sức đanh thép “Luận
về chính học cùng tà thuyết Quốc văn – Kim Vân Kiều – Nguyễn Du” Dẫukhông nêu đích danh nhưng dụng ý hướng vào ông Phạm là có thể thấy rõ trongbài viết của nhà chí sĩ họ Ngô Ông Phạm im lặng, dù trên tờ báo của ông tiếp tụcđăng các bài viết về truyện Kiều Mãi đến tận năm 1930, sau khi Ngô Đức Kế quađời, ông Phan Khôi mới khơi lại “vụ án” này bằng bài viết “Cảnh cáo các nhà học
phiệt” đăng trên số 62 (24.7.1930) của tờ Phụ nữ tân văn Bài viết của ông Phan
buộc ông Phạm phải trả lời bằng một bài viết đăng trên tờ báo này sau đó khônglâu (số 67 ra ngày 28.8.1930) Đáng chú ý ở đây không phải là việc ông Phạm imlặng trước bài viết của Ngô Đức Kế mà là những lí do ông viện ra để bào chữacho sự im lặng đó Theo ông, đầu mối của cuộc tranh luận giữa hai ông khôngbắt nguồn từ văn chương học thuật mà chỉ từ sự cạnh tranh giữa hai tờ tạp chí.Ông cũng phân trần rất rõ thái độ của mình: “Bất luận tài học của ông Nghè Ngô
thế nào, ông có một điều hơn đứt tôi là ông là người đã vì nước mà phải tù tội (chúng tôi nhấn mạnh) Trên cái cân dư luận của quốc dân, ông đã có sẵn 10
năm Côn lôn ở đó rồi Như vậy thì cuộc tranh luận không còn ngang sức nhaunữa Vả lại tự ý tôi cũng không muốn tranh luận với ông là vì dẫu thế nào mặc
lòng, tôi vẫn kính trọng thân thế ông, thủy chung tôi vẫn coi ông như bậc đàn
anh” Thua kém bậc đàn anh cả tuổi đời (hơn một giáp) lẫn “gia tài” mười năm
Trang 8tù tội vì “việc quốc sự”, Phạm Quỳnh chọn thái độ lảng tránh sự đối đầu trựctiếp.
2 So với Ngô Đức Kế, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu không có được cái “may mắn”được hậu sinh đối xử đầy nể vì như thế Tản Đà (sinh năm 1888) hơn nhữngngười chủ trương Tự Lực Văn Đoàn khoảng một giáp (Khái Hưng sinh năm
1896, Nhất Linh – 1905) Ông hơn Lưu Trọng Lư tới hai giáp (Lưu Trọng Lư sinhnăm 1912) Tản Đà không được “bảo đảm tên tuổi” bằng mười năm chính trịphạm như Ngô Đức Kế nhưng so với những người như Lưu Trọng Lư, ông cũngvẫn có cái uy tín của bậc cha chú Nửa thế kỉ sau những cuộc tranh luận Thơ Mới
– Thơ Cũ, khi viết lời tựa cho Tuyển tập Tản Đà[15], Xuân Diệu vẫn còn nhắc lại
kỉ niệm về những bài học quốc văn đầu tiên của mình trong nhà trường phổthông trong đó có những bài thơ quốc âm của Tản Đà Vậy mà trong cuộc tranhluận Thơ Mới – Thơ Cũ, Tản Đà bị đem ra công kích từ đủ mọi hướng Người ta
làm thơ chế giễu ông, vẽ biếm họa về ông trên Phong Hóa Người ta công khai
tranh luận và chỉ trích ông Và ngay cả khi ông đã “rút lui”, Lưu Trọng Lư vẫncòn gửi ba bức thư lên Khê Thượng về chuyện Thơ Cũ – Thơ Mới “Chiến tuyến”của Tản Đà, dẫu được “yểm trợ” bằng uy tín của Phan Bội Châu, một chí sĩ cùngthế hệ và có uy tín ngang bằng (nếu không muốn nói là hơn) Ngô Đức Kế, cũngvẫn cứ bị “lung lay” trước những đòn tấn công của những người trẻ Chỉ trongvòng khoảng mười năm, dường như gió đã đổi chiều
3 Ba thập niên đầu thế kỉ XX là một giai đoạn đặc biệt của văn chương Việt
Nam Có thể mượn hình ảnh của Trần Trọng Kim mở đầu cuốn Nho giáo trứ
danh để nói về giai đoạn này[16] Nhà văn Việt Nam sống trong tâm thế củangười tham gia kiến tạo cho một cái gì của tương lai, một nền văn chương củatương lai Người ta dự phần vào việc tháo ngôi nhà cũ ra để dựng lên một côngtrình mới của thời đại mình (đó cũng chính là hình ảnh mà Phạm Quỳnh dùng
khi phê bình Giấc mộng con của Tản Đà) Và trong cuộc biến chuyển lớn lao đó,
không ít giá trị bị đảo lộn Dẫu vậy, ở bất cứ nhóm nhà văn dù thuộc thế hệ vànguồn gốc xuất thân nào, dù là Phạm Quỳnh hay Ngô Đức Kế, dù có màu sắccách tân hay bảo thủ, tất cả đều nhất trí trong một quan điểm: văn chương phụctùng luân lí Hơn mười năm sau, chính quan điểm đó sẽ bị đả phá một cách kịchliệt trong bài “Hai cái quan niệm về văn chương” của nhà phê bình Thiếu Sơn
đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy (bản thân việc bài viết được đăng trên tờ báo này
cũng là điều đáng để suy nghĩ), số 38 (2.1935) Trong bài viết này, ông Thiếu Sơn
Trang 9công khai tố cáo những “văn sĩ” thế hệ trước chỉ là “những người chỉ dùng văn
chương làm việc cho xã hội chứ không phải là những văn sĩ như cái quan niệm của Tây phương (người viết nhấn mạnh)” Cũng lần đầu tiên ông tuyên bố mục
đích tối thượng của văn chương là nghệ thuật, tức cái đẹp Bài viết của ông ThiếuSơn là một trong những nguyên nhân (ít nhất là còn một nguyên nhân khác,
cuốn Kép Tư Bền của ông Nguyễn Công Hoan) làm dấy lên một cuộc tranh luận
kéo dài đến tận năm 1939 mà ngày nay giới nghiên cứu vẫn quen gọi là cuộctranh luận giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh.Tạm chưa bàn đến đúng sai của chính cách định danh (qua đó phản chiếu “điểmnhìn” của người nghiên cứu với cuộc tranh luận này), chúng tôi muốn khẳngđịnh một cuộc đối đầu giữa hai quan niệm về nghệ thuật: một bên là nhữngquan điểm về nghệ thuật bình dân, nghệ thuật phục vụ chính trị, nghệ thuật thứctỉnh những người bình dân về cuộc đấu tranh giai cấp và một bên là những quanđiểm về nghệ thuật thuần túy, nghệ thuật vô vị lợi, về việc “văn chương trướchết phải là văn chương” (xin được dẫn lại trọn vẹn tiêu đề một bài viết của nhàphê bình quá cố Hoài Thanh) Và giống như cuộc chiến trong những anh hùng ca
Hy Lạp thời cổ đại, sau cuộc chiến của người có cuộc chiến của những vị thầnbảo trợ, trong cuộc tranh luận này, có thể chứng kiến cuộc đối đầu giữa nhữngBu-ca-rinh, Quách Mạt Nhược, Lev Tolstoi, Rô-manh Rô-lăng (chúng tôi giữnguyên cách phiên âm đương thời) với những Léon Daudet và A.Gide Và cũngchính trong cuộc tranh luận này, Hoài Thanh đưa ra định nghĩa của ông về hailoại người “nhà văn” và “người cầm bút”:
Nhà văn là một người sống giữa xã hội, cố nhiên phải tùy sức mình làm hết phận
sự đối với xã hội, tôi muốn nói nhà văn có lúc phải bênh vực kẻ yếu chống lạisức mạnh của tiền tài, của súng đạn, nhưng trong lúc đó nhà văn không làm vănnữa mà làm cái phận sự của một người cầm bút mà thôi Ta nên nhớ rằng cầmbút chưa phải là viết văn Văn chương là vật quý đâu được nhiều thế[17]
Những hiện tượng nói trên chỉ là một phần trong đời sống văn chương rộng lớn
và luôn luôn biến chuyển nhưng nếu đặt chúng cạnh nhau, có thể rút ra đượcnhiều thông tin về đời sống văn chương đương thời Ở bất cứ thời đại nào, trongđời sống văn chương luôn tồn tại những tiếng nói có tính quyền uy, luôn diễn racuộc đấu tranh giữa các thế hệ người viết Vấn đề là uy tín của những tiếng nóiquyền uy đó được xác lập nhờ đâu và cuộc đấu tranh giữa các thế hệ đã diễn ranhư thế nào Có một điều thấy rõ là sự khác biệt về khuynh hướng của hai giai
Trang 10đoạn trước và sau 1932 Nếu như trước đó, đời sống văn chương tồn tại trongmột tình trạng thỏa hiệp giữa những tiếng nói có trọng lượng (giữa những người
“tân học” như Phạm Quỳnh và những người “cựu học” như Ngô Đức Kế, ítnhất, những người “tân học” cũng chọn thái độ im lặng và lảng tránh) thì đếngiai đoạn tiếp theo, sự xung đột giữa các thế hệ, sự đối đầu giữa các quan điểm
đã trở nên hết sức gay gắt Hơn nữa, nếu như trong giai đoạn trước, trong đờisống văn chương, có những cá nhân mà uy tín của họ đôi khi được bảo đảmbằng những giá trị ngoài văn chương nhưng vẫn có quyền uy trong môi trườngnày thì đến giai đoạn sau, những uy tín đó dường như không còn sức nặng Đã
có một sự tách bạch giữa uy tín văn chương và uy tín được tạo dựng bởi nhữnggiá trị phi văn chương Tính thỏa hiệp có thể coi là một đặc tính có tính phố quátcủa giai đoạn trước năm 1932 Nó thể hiện ngay chính trong những quan niệm
về văn chương của giai đoạn này, vừa bắt đầu hướng tới những giá trị củaphương Tây hiện đại vừa vẫn chịu sức ép từ một thứ quán tính truyền thống.Thế nhưng, nhìn vào những quan niệm văn chương và những cuộc tranh luậnvăn chương sau năm 1932, có thể thấy một sự “phân giới” rất rõ giữa vănchương và phi văn chương, giữa “nhà văn” và “người viết” Tất cả những điềunói trên không có nghĩa là phủ nhận toàn bộ những chuyển biến hết sức quantrọng diễn ra trong văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỉ, điều mà chúngtôi sẽ phân tích trong những phần tiếp theo Vấn đề là định vị đúng nhữngchuyển biến đó trong một tiến trình chung của lịch sử và cũng chính từ đó đưachúng tôi đến với sự khẳng định về ba mươi năm đầu của thế kỉ XX như là giaiđoạn hình thành, thời kì sơ khai của trường văn học ở Việt Nam
Nhìn vào đời sống văn chương Việt Nam, có nhiều bằng chứng chứng minh điều
đó Trước hết là việc một số trí thức, nghệ sĩ lựa chọn văn chương làm con đườnglập nghiệp và tạo dựng uy tín xã hội Điển hình trong trường hợp này là Tản Đà.Xét trong những quy luật của trường quyền lực và hệ giá trị thông thường của xãhội, Tản Đà là một cá nhân “bỏ đi” Ông là con nhà gia thế, cha và anh đều là nhànho, đều đỗ đạt, làm quan Ông được gửi gắm niềm hy vọng của gia đình về việc
sẽ trở thành một nhà khoa bảng rạng danh dòng họ nhờ việc từ bé đã nổi tiếngthần đồng Bản thân Tản Đà từ nhỏ đã có một tình yêu cử nghiệp do có một tinhthần tự tín rất cao về tài năng cá nhân Thế nhưng toàn bộ quãng đời niên thiếu
và tuổi thanh niên của Tản Đà lại là một chuỗi thất bại trong việc thực hiện cái
“chương trình cuộc đời” được truyền thống định trước: liên tục hỏng thi Chođến năm 1915, bế tắc trong việc lập thân như cha, anh, Tản Đà bắt buộc phải
Trang 11“phá nghiệp kiếm ăn xoàng”: viết cho tờ Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn
Vĩnh, một tờ báo quốc ngữ có uy tín ở miền Bắc Và dường như đó là một sựkhởi đầu đầy vinh dự Những bài viết của Tản Đà trên mục “Một lối văn nôm”của tờ tạp chí này được công chúng tán thưởng đến mức Nguyễn Văn Vĩnh đã
dành riêng mục này cho ông và sau đó, đổi tên hẳn chuyên mục này thành Tản
Đà văn tập Năm 1916 diễn ra một sự kiện có ý nghĩa đối với Tản Đà Sau khi
người anh trai của ông, Nguyễn Tái Tích, qua đời, É Vayrac, giám đốc trườngHậu bổ đề nghị nhận Tản Đà vào học trường này không cần qua thi tuyển Tản
Đà từ chối Điều này phải chăng cho thấy ông đã quyết lựa chọn con đường lậpthân mới – trở thành một nhà văn trong xã hội tư sản? Từ đó, cuộc đời của Tản
Đà là một sự pha trộn sự nghiệp của một nhà nho muốn cứu đạo Khổng và nềnluân lí Á Đông, một ông chủ bút và chủ xuất bản và một nhà nghệ sĩ tự do Ông
là người nhiều lần tuyên bố về một sứ mạng được nâng lên thành một “thiênchức”: bảo vệ “thiên lương” – một sự pha trộn giữa lí tưởng của Khổng giáo vàLão Trang Ông cũng chính là người đã đòi kết án Phan Khôi vì đã phản bội lạiđạo lí Khổng Mạnh Thế nhưng ông cũng chính là nhà nho đầu tiên nói nhiềunhất và thành thật nhất về thân phận của người làm nghề “bán văn buôn chữkiếm tiền tiêu” trong xã hội tư sản Quan sát toàn bộ cuộc đời Tản Đà, có thểkhẳng định thái độ lựa chọn nghề viết văn chuyên nghiệp là một lựa chọn kiênđịnh Chính văn chương chứ không phải bất cứ điều gì khác đã đem lại cho Tản
Đà một vị thế xã hội, một uy tín và một danh tiếng Đầu thế kỷ, Tản Đà được coinhư là cơn gió lạ thổi khắp trong Nam ngoài Bắc cũng là nhờ văn chương Điềunày chứng tỏ đời sống văn chương bắt đầu xác lập được một hệ giá trị riêng củamình trong đời sống xã hội nói chung
Từ một góc nhìn khác, quá trình chuyên nghiệp hóa văn chương không thể táchrời khỏi sự hình thành của thị trường sách và xuất bản Trong xã hội Việt Nam cổtruyền trước thế kỷ XX, sở dĩ văn chương khó có thể có được một vị thế độc lậptrong xã hội, một phần chính là do nó không có được khả năng tồn tại độc lập vềkinh tế Thị trường là một con dao hai lưỡi đối với trường văn học Không có nó,văn học không thể trở thành một trường nhưng nếu chỉ có nó thì văn học cũngchỉ là một phân nhánh của trường kinh tế
Như Bourdieu định nghĩa, một trường văn học được cấu thành bởi hai bộ phận,hai cực: một phạm vi phổ biến rộng (văn học thị trường, văn học tiêu thụ, giá trịđồng nhất với doanh số, tồn tại bằng cách thỏa hiệp với thị hiếu và tầm đón đợi
Trang 12của công chúng và xã hội) và một phạm vi phổ biến hẹp[18] Chính phạm vi phổbiến hẹp này là cái cần phải được nói đến Nếu như phạm vi phổ biến rộng đượcđại diện bởi sách thị trường, được đo bằng thành công về doanh thu thì phạm viphố biến hẹp được đại diện bởi những nghệ sĩ tiền phong chủ nghĩa (trong cáchhiểu rộng nhất của khái niệm này), bởi những quan niệm duy mĩ về văn học, bởicuộc tìm kiếm những giá trị riêng, giá trị nội tại của văn học Phạm vi phổ biếnrộng đảm bảo về mặt kinh tế cho sự tồn tại độc lập của văn học với tư cách làmột trường nhưng chính phạm vi phổ biến hẹp mới là cái xác lập cho vănchương những giá trị riêng trong đời sống xã hội và dấu hiệu nhận biết điểnhình của phạm vi phổ biến hẹp này chính là những quan niệm có tính duy mĩ vềvăn chương Trong ba mươi năm đầu thế kỷ, mặc dù những quan niệm này chưaxuất hiện một cách rõ nét và có vị thế vững chắc như trong giai đoạn tiếp theo(mà thực tế ở Việt Nam, những quan niệm duy mĩ này luôn luôn bị đe dọa – nókhiến cho tính độc lập của trường văn học luôn luôn bấp bênh) nhưng cũng cóthể nhận thấy những biểu hiện của nó qua một số hiện tượng: phong trào đề
cao Truyện Kiều, coi Truyện Kiều là phần quý giá nhất của Quốc văn và cuộc tranh
luận xung quanh việc xác lập lại nội hàm cho các khái niệm Quốc văn và Quốchọc; những diễn ngôn phê bình nhân danh tính đạo đức để chống lại những tiểu
thuyết như Tố Tâm.
Với tất cả những hiện tượng trên, có thể khẳng định là trong ba mươi năm đầuthế kỷ XX, đã diễn ra ở Việt Nam một quá trình hình thành của trường văn học.Vậy đâu là những tiếng nói, những vị thế (position), những tác nhân (agent) chủyếu tham gia vào trường văn học trong giai đoạn sơ khai này? Ở đây, lý thuyếttrường đưa chúng ta về với một khái niệm đã từng bị R.Barthes và M.Foucaultkhai tử trong những năm 1960: tác giả văn học[19] Xã hội học về trường củaBourdieu khôi phục lại vị thế của phạm trù tác giả trong nghiên cứu lịch sử vănhọc Theo Bourdieu, nguồn gốc học vấn và tiểu sử xã hội của nhà văn góp phầnlàm nên cái mà Bourdieu định danh là tập tính (habitus) Tập tính là một thiênhướng hành động có tính bền vững của nhà văn được hình thành trong quá trìnhtrưởng thành của anh ta mà trong đó có vai trò của nguồn gốc học vấn, kinhnghiệm xã hội sơ khởi của nhà văn Từ những tiền đề lý thuyết trên, có thể thấy,đứng về mặt nguồn gốc học vấn, có thể chia thành hai nhóm chính: những ngườixuất thân cựu học và những người tân học
Trang 13Trước hết, hãy nói về những người cựu học Ba mươi năm đầu thế kỉ là một giaiđoạn đặc biệt không chỉ của văn chương mà cả của xã hội Việt Nam nói chung.
Sự xâm nhập của người Pháp đã áp đặt một quá trình hiện đại hóa một cáchcưỡng bức lên một cơ cấu xã hội hầu như vẫn còn nguyên vẹn và tạo nên một hệquả tất yếu là sự tồn tại kéo dài và sự biến dạng trước khi chuyển hóa của cácgiai tầng truyền thống Trong địa hạt văn chương, một hiện tượng độc đáo có thểghi nhận là sự tồn tại kéo dài dưới dạng biến thể của những loại hình tác giảtruyền thống: nhà nho hành đạo trung nghĩa và nhà nho tài tử Điển hình chokiểu nhà nho thứ nhất là những nhân cách vẫn được chính sử định danh lànhững “nhà nho chí sĩ”, những nhà khoa bảng sinh trong những năm 60, 70 củathế kỉ XIX và là người khởi xướng những phong trào đấu tranh với chủ trươngduy tân đòi độc lập cho Việt Nam Những tên tuổi điển hình cho loại tác giả này
là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế… Đạidiện cho kiểu tác giả thứ hai là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu Hai kiểu tác giả nóitrên là hai khả năng khác nhau trong việc tiếp nhận di sản văn chương truyềnthống và đưa di sản ấy vào trong lòng một xã hội đang biến đổi theo khuynhhướng hiện đại hóa
Hầu hết những nhà nho chí sĩ đều là những “tay kiệt xuất” trong “trường văntrận bút”, là những nhà khoa bảng xuất sắc Hoạt động văn học của những nhàchí sĩ này kéo dài cho đến tận thập niên 30 của thế kỷ XX Họ có một nỗ lực phithường của trí thức truyền thống trong việc đương đầu với những hoàn cảnhmới, những vấn đề mới của dân tộc Trong địa hạt văn chương, đó là nhữngngười phủ định quyết liệt nhất văn chương cử tử Trên một phương diện, hànhđộng đốt thi tập, văn tập của Nguyễn Thượng Hiền, có ý nghĩa như là sự phêchuẩn cho sự phân rã của mô hình văn học truyền thống từ những đại diện xuấtsắc nhất của nền văn chương đó và đồng thời cũng là của tinh thần dân tộc.Đứng giữa ngã ba đường của lịch sử, thâm nhiễm văn hóa truyền thống từ máuthịt, nhưng lại nỗ lực tự vứt bỏ, tự phủ định, được mở rộng tầm mắt trướcnhững quan hệ giao lưu và những nền văn hóa của các dân tộc trên thế giớinhưng lại không nhập cuộc được hoàn toàn vào thế giới hiện đại, thế hệ nhữngchí sĩ Duy tân tiêu biểu cho một cuộc gặp gỡ bất thành giữa truyền thống và hiệnđại Bất thành trên những mục tiêu cụ thể do chính các cụ đặt ra nhưng lại mở rađược những con đường mới, những cánh cửa mới cho lịch sử dân tộc Lĩnh vựcsáng tác “sở trường”, được dành nhiều tâm huyết và cũng đạt được nhiều thànhtựu của các nhà nho chí sĩ là văn chương viết bằng chữ Hán và chữ Nôm với hệ
Trang 14thống thể loại truyền thống: thơ, phú, liệt truyện, truyện lịch sử, văn tế, vănsách… Đối với các cụ văn chương chỉ là một phần của hoạt động yêu nước,chống ngoại xâm, là một phương tiện phục vụ cho sự nghiệp hoạt động chính trị– xã hội mang tính cách mạng Chính vì vậy, văn học của những nhà chí sĩ chính
là sự tiếp nối của bộ phận văn chương chính thống nhất của văn học truyềnthống Hoàn cảnh lịch sử cũng như những yêu cầu hoạt động cách mạng đã tácđộng và làm nên nhiều nét mới mẻ trong những sáng tác văn chương yêu nước.Tuy nhiên, những quan niệm của các cụ về văn chương, bản chất, nghĩa vụ, giátrị đích thực của văn chương vẫn nằm trong quỹ đạo của văn học truyền thống.Đối với các cụ, văn chương vẫn mang nặng chức năng hành đạo, giáo hóa, dùng
để biểu đạt “tâm chí”, “đạo” với một cái Đẹp không tách rời khỏi cái Chí Thiện,không coi văn chương là một mục đích để theo đuổi dù gửi gắm vào đó rấtnhiều tâm huyết và tài năng Một mặt không thể phủ nhận các nhà nho chí sĩ đã
để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm văn chương có giá trị cả về nội dung tư tưởnglẫn hình thức nghệ thuật Mặt khác, chính đặc điểm thuộc về loại hình tác giả đócủa những nhà nho chí sĩ không cho phép các cụ đặt lại những vấn đề triết – mỹ
về văn chương – điều cần thiết đối với tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.Hoàn toàn xa lạ với văn học hiện đại và văn học phương Tây, thấm nhuầntruyền thống văn chương chính thống của thời Trung đại, con đường sáng táccủa những nhà nho chí sĩ là con đường đẩy đến tận cùng những giới hạn khảnăng của văn học truyền thống trong việc phản ánh những vấn đề lớn của thờiđại và dân tộc[20]
Đại biểu xuất sắc nhất của loại hình nhà nho tài tử trong giai đoạn giao thờichính là Tản Đà Nếu như sáng tác của những nhà nho chí sĩ là sự tiếp nối của bộphận văn chương chính thống mang chức năng hành đạo giáo hóa, thì sáng táccủa Tản Đà lại là sự kế thừa của bộ phận văn học mang đậm tính nghệ thuật nhấtcủa văn chương quá khứ Điều đó được xác định trên một loạt những tiêu chíđịnh tính văn học Trong quan niệm về bản chất, chức năng của văn chương vàcái đẹp, Tản Đà không khác gì những nhà nho chí sĩ Ông coi trọng “văn vị đời”hơn “văn chơi”, hòa lẫn cái Đẹp và cái Chí Thiện, một thứ Chí Thiện theo tinhthần Nho giáo Tuy vậy con đường đi trong sự nghiệp sáng tác của ông khônggiống với những nhà nho chí sĩ Con đường ấy dẫn đến người nghệ sĩ hơn là dẫnđến nhà cách mạng, nhà hoạt động chính trị, xã hội (mặc dù trong cuộc đời,không ít lần ông có tham vọng trở thành những kiểu người đó) Xuất thân từ mộtgia đình khoa bảng, từng theo đuổi cựu học và cũng từng dấn thân vào con
Trang 15đường cử nghiệp (nhưng bất thành), khác với những nhà nho chí sĩ, Tản Đà cótheo đuổi tân học nhưng chũng chỉ đến mức hết cấp sơ học trong hệ thống giáodục Pháp Việt Tất cả những điều đó đã tạo nên những nét đặc trưng trong vănnghiệp của Tản Đà Ông chủ yếu viết văn bằng chữ Quốc ngữ, là một trongnhững nhà kiến thiết của văn chương mới bằng chữ Quốc ngữ và là một trongnhững nhà nho rất sớm trở thành “người nghệ sĩ trong xã hội tư sản” (theo cách
nói của Trần Đình Hượu)[21] Ông mở Tản Đà thư điếm, làm chủ bút Hữu Thanh tạp chí, An Nam tạp chí, tham gia viết cho nhiều tờ báo đương thời, góp phần giới
thiệu Nguyễn Công Hoan ra văn đàn… Trong số những thể loại mà Tản Đà đãtừng sáng tác, các thể văn xuôi là địa hạt sớm được ông quan tâm và dành nhiềutâm lực Ở Bắc Kỳ, Tản Đà thuộc vào số những người tiên phong sáng tác văn
xuôi bằng chữ Quốc ngữ Ông xuất hiện trên Đông Dương tạp chí với “Một lối văn
nôm”, ông viết “nhàn đàm”, “tiểu thuyết”, “du ký”, “mộng ký”, “truyện”… Tuynhiên, thơ mới thực sự là lĩnh vực thể hiện hết tài năng và đạt được nhiều thànhtựu nhất của ông Ông là nhà nghệ sĩ của thơ thất ngôn bát cú, thất ngôn trườngthiên, của hát nói, thơ lục bát, của từ, hành Đây cũng chính là điểm khác biệt lớnnhất giữa Tản Đà và những nhà nho chí sĩ trong sáng tác văn học Như chúng tôi
đã trình bày, Tản Đà là người có ý thức trong việc kiến thiết một nền văn họcmới, một mô hình văn học mới Thế nhưng cái dự án đó của đời ông lại là một
dự án bất thành Cái ông để lại được cho những nhà văn hậu sinh và cũng là cái
mà các nhà Thơ Mới dựa vào đó để tôn ông làm chủ soái thi đàn, “chứng giámcho công việc lớp người kế tiếp” chính là nghệ thuật thơ ca Và đó cũng là bộphận văn chương đạt được nhiều thành tựu nhất của quá khứ Mô hình về hệthống thể loại văn xuôi mà hơn một lần Tản Đà cố công phân định lại là mô hìnhkhông thể áp dụng được cho văn học hiện đại Và ở đây con đường văn nghiệpcủa Tản Đà lại gặp những nhà nho chí sĩ ở một điểm: đẩy tiếp đến cùng nhữnggiới hạn khả năng của văn chương truyền thống chứ không sáng tạo nên đượcnhững mô hình mới Đó cũng chính là giới hạn không thể vượt qua của một lớpngười
Như vậy, Tản Đà và những nhà nho chí sĩ là hai đại diện của kiểu tác giả truyềnthống tiếp tục tồn tại trong những thập niên đầu thế kỉ Ở giữa hai khuynhhướng này là hàng loạt những nhà nho, từ Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, chođến Phan Khôi, Ngô Tất Tố Không định hình một cách rõ nét về mặt loại hìnhnhưng họ đều là những người có xuất thân gắn bó chặt chẽ với giáo dục truyềnthống Họ tham gia vào nền văn học mới bằng chữ Quốc ngữ với những vai trò
Trang 16khác nhau: dịch giả, người sáng tác, nhà biên khảo… Chính họ đã làm nên bộphận chủ yếu của đội ngũ những người sáng tác văn chương trong giai đoạngiao thời Không những thế, cũng cần phải nhấn mạnh một thực tế là bản thâncái gọi là nhóm tác giả xuất thân cựu học cũng là một thực thể không thuần nhấtvới sự phân hóa từ những người hết sức bảo thủ như Huỳnh Thúc Kháng, NgôĐức Kế cho đến những người cấp tiến như Phan Khôi Điều này thể hiện rất rõtrong cuộc tranh luận giữa Phan Khôi và Tản Đà về Khổng giáo giữa những năm
20 của thế kỉ trước Chính sự đa dạng đó đã khiến nhiều tác giả thuộc nhóm này
đã có những cách tân độc đáo mở đường cho văn chương hiện đại
Ở phía đối cực với những tác giả “cựu học” là những nhà văn “tân học” Tuyvậy, đây cũng là một nhóm nhà văn có tính cách không thuần nhất Ít nhất, theocách hình dung về các “thế hệ” của A Thibaudet[22], có thể chia họ thành hai
“làn sóng”: những người tiên phong xuất hiện trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX, vàthập niên đầu tiên của thế kỉ XX và thế hệ những người xuất hiện trong nhữngnăm 1920 Thế hệ thứ nhất các nhà văn tân học gồm những tên tuổi như TrươngVĩnh Kí, Trương Minh Kí, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản, Phạm Quỳnh,Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn… Nét độc đáo của thế hệ này là một sự hòahợp khá sâu sắc hai nền văn hóa Nhiều tên tuổi trong số này không chỉ là nhữngnhà văn mà còn là những học giả lớn, có tầm vóc với những công trình khảo cứu
có giá trị mở đường cho nhiều ngành khoa học xã hội ở Việt Nam Một số ngườitrong số họ lại là những dịch giả có những đóng góp to lớn trong việc giới thiệunhững giá trị phương Tây vào Việt Nam mà điển hình là Nguyễn Văn Vĩnh Nétđộc đáo của thế hệ này chính là khả năng tự kiến tạo học vấn hết sức đáng khâmphục Đa phần trong số này đều là những người có một học vấn đặc biệt uyênbác về văn hóa truyền thống: Trương Vĩnh Kí được đào tạo trong môi trườngcông giáo, Phạm Quỳnh đã từng có giai đoạn được đào tạo để theo đòi cử nghiệp
và nhờ thế nên các ông đều là những người hiểu biết sâu sắc văn hóa Hán học.Ngay một người không được đào tạo đầy đủ về văn hóa truyền thống nhưNguyễn Văn Vĩnh cũng có một kiến thức Hán học nhất định và khả tín thể hiện
qua bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp của ông Ngược lại, các ông lại là
những người được tiếp nhận nền học vấn mới trong một giai đoạn còn hết sức sơkhai Đa phần các ông đều chỉ được đào tạo trong trường Thông ngôn và khó cóthể tin rằng cơ sở đào tạo này có thể cung cấp được cho người học một hiểu biếtđầy đủ về văn hóa Âu Tây ngoại trừ một năng lực ngoại ngữ đủ để phục vụ cho
bộ máy thực dân[23] Trường hợp của Trương Vĩnh Kí hay Nguyễn Trọng Quản
Trang 17là những cá biệt Vậy mà, qua con đường tự học, các ông đã thâm nhập được rấtsâu vào nền văn hóa Pháp Điều này thể hiện qua những những bài viết bằngtiếng Pháp của Phạm Quỳnh[24] hay qua những tờ báo tiếng Pháp của NguyễnVăn Vĩnh Có thể nói, những thành tựu mà các nhà văn thuộc lớp trí thức tân học
đã đạt được, những thành tựu đã đưa các ông vào lịch sử văn học đã khẳng địnhcho một phương án phát triển của văn học hiện đại: phương án dịch thuật, họctập, mô phỏng – bản địa hóa, sáng tạo nên những giá trị mang tính dân tộc Đó làmột phương án giàu tiềm năng và giàu tính khả thi Không thể phủ nhận, cácông chính là những nhà tiên phong, những cột trụ của nền văn học mới bằng chữQuốc ngữ Tuy nhiên, cũng thông qua sự nghiệp của các ông biểu lộ một tình thếtiền định của văn học hiện đại Một mặt, với sáng tác của các ông, văn học đãtiến một bước quan trọng trên con đường từ văn chương truyền thống đến vănchương hiện đại Mặt khác, những sáng tác đó cũng thể hiện sự tách rời của một
bộ phận văn học với những vấn đề lớn của vận mệnh dân tộc (đấu tranh cáchmạng giành độc lập) và đồng thời cả với bộ phận văn học mang đậm tính nghệthuật nhất của văn chương truyền thống – bộ phận văn học của nhà nho tài tử.Tình thế đó, tiền định đó sẽ còn ảnh hưởng tới nhiều giai đoạn văn học về sau.Thế hệ thứ hai các nhà văn tân học bao gồm những nhà văn như xuất hiện trongnhững năm 1920 từ Hoàng Ngọc Phách đến Nguyễn Công Hoan Tính chất tânhọc ở những người này thuần túy hơn trong khi mối quan hệ với văn hóa truyềnthống mờ nhạt hơn vì họ là thế hệ đầu tiên của nhà trường Pháp Việt ở dạnghoàn chỉnh Dẫu vậy, ở lớp tác giả này, sự tiếp thu Tây học lại có phần đại chúnghóa, khác với cái học mang tính tinh hoa ở những người như Phạm Quỳnh,Nguyễn Văn Vĩnh
Ở trên, chúng tôi đã xác lập các nhóm nhà văn, những tác nhân tham gia vàotrường văn học theo nguồn gốc học vấn của nhà văn Nếu xét theo tiêu chí tuổitác (một tiêu chí không kém phần quan trọng ở một nước chịu ảnh hưởng củavăn hóa Khổng giáo như Việt Nam), có thể nhận thấy ba thế hệ nhà văn cáchnhau mỗi thế hệ khoảng trên dưới mười năm nối tiếp nhau xuất hiện trong bathập niên đầu thế kỉ XX Thế hệ thứ nhất bao gồm những nhà Nho như Phan BộiChâu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế Thế hệ thứ ba baogồm những người như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tường Tam Ở giữa lànhững người như Phan Khôi, Tản Đà, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh Điều đặcbiệt là do là những người hoạt động chính trị chống Pháp nên thế hệ thứ nhất cómột vị thế nửa công khai nửa bí mật trong đời sống văn chương đương thời
Trang 18Nhiều người trong số đó hầu như không tham gia vào đời sống văn chương saugiai đoạn hoạt động cách mạng (điển hình như Nguyễn Thượng Hiền) nhưngmột số người sau giai đoạn hoạt động cách mạng lại tham gia vào đời sống vănhọc công khai ở Việt Nam Khi đó, chính quá khứ là những nhà cách mạng lại làmột “đảm bảo” cho uy tín của họ trong đời sống xã hội và đời sống văn học Họ
là những tiếng nói quyền uy trong giai đoạn này Tất nhiên, vào sau những năm
1920, quyền uy đó bắt đầu bị sứt mẻ, điển hình là việc Trần Huy Liệu với bútdanh Nam Kiều phê phán chủ trương Pháp Việt đề huề của Phan Bội Châu
trên Đông pháp thời báo những năm 1925, 1926 Ở một phía khác, trong lòng thế
hệ thứ hai, giữa những người bảo thủ và những người cấp tiến theo nhữngkhuynh hướng khác nhau, cũng bắt đầu có những xung đột về quan điểm, dẫunhững xung đột ấy chưa dẫn đến những cuộc đấu tranh tranh dành vị thế trong
trường Điển hình là việc Phạm Quỳnh phê bình Giấc mộng concủa Tản Đà và
cuộc tranh luận giữa Phan Khôi và Tản Đà về Nho giáo Có thể nói đó chính lànhững mối quan hệ cơ bản cấu thành nên trường văn học trong giai đoạn khởithủy ở Việt Nam
MỘT TÌNH THẾ LƯỠNG LỰ
Năm 1916, ở tuổi 28, khi bắt đầu cuộc đời của một “người nghệ sĩ tự do trong xãhội tư sản”[25], thi sĩ Tản Đà viết một bài bát cú gần như là lời đề tựa cho cả tậpthơ :
Chữ nghĩa Tây Tầu chót dở dang
Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng
Nửa ngòi bút ngỗng ba sinh lụy
Một mối tơ tằm mấy đoạn vương
Có kẹo có câu là sách vở
Chẳng lề chẳng lối cũng văn chương
Còn non, còn nước, còn trăng gió,
Còn có thơ ca bán phố phường[26]
(Đề Khối tình con thứ nhất)
Bài đề tựa của thi sĩ Tản Đà, có thể nói, phản ánh đúng được tình thế của khôngchỉ nhà thơ mà cả của văn chương Việt Nam hồi đầu thế kỉ Sau lần vỏ của mộtthể thơ đã có lịch sử hàng ngàn năm và đã được viết thuần thục ở Việt Nam vớinhững niêm luật đã được ổn định qua chừng đó thời gian không thay đổi, có