CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ KINH TẾ, VĂN HOÁ ĐẾN PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI VÀ ĐỊA VỊ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ VÀ NAM GIỚI BRU-VÂN KIỀU 3.1.. Các công trình nghiên cứu về giới và
Trang 1DAI HOC QUOC GIA HA NOI TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN
|iKLƠNG ĐẠI H(
THONG TIN - THƯ VIEN
PHAN CONG LAO DONG THEO GIGI TRONG CONG DONG |
DAN TOC BRU - VAN KIEU
(Nghiên cứu trường hợp ở hai xã Hướng Hiệp và Tà Long,
huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị)
Chuyên ngành: Xã hội học
Ma sé: 62-31-30-01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1.PGS.TS Lê Thị Quý
HÀ NỘI, 2006
414
Trang 2
MUC LUC Trang phu bia
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt trong luận án
Danh mục các bảng trong luận án
Danh mục các biểu đồ, bản đồ trong luận án
PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU
2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
4.2 Khách thể nghiên cứu
4.3 Phạm vi nghiên cứu
5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
6 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phuong pháp luận
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Các phương pháp nghiên cứu định tính
6.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
6.2.3 Phương pháp phân tích tài liệu
6.2.4 Phương pháp quan sát
ee o
eee ¬
eee ww
Trang 37 DONG GOP MOI CUA LUẬN ÁN
8 KHUNG LY THUYET
CHUONG 1: CO SO LY LUAN
1 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Khái niệm giới
1.1.2 Khái niệm phân công lao động xã hội và phân công lao động theo giới
1.1.2.1 Khái niệm phân công lao động xã hội
1.1.2 2 Khái niệm phân công lao động theo giới
1.1.3 Khái niệm vai trò giới
1.1.4 Khái niệm cộng đồng
1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI
1.2.1 Quan điểm của xã hội học lao động về phân công lao động và phân công lao động theo giới
1.2.2 Học thuyết Marx về phân công lao động theo giới
1.2.3 Lý thuyết cấu trúc - chức năng
1.2 4 Lý thuyết nữ quyền về phân công lao động theo giới
13 QUAN DIEM CUA DANG CONG SẢN VIỆT NAM VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ
MINH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI
(Nghiên cứu trường hợp ở hai xã Hướng Hiệp và Tà Long, huyện Đakrông,
tỉnh Quảng Trị)
2.1 VÀI NÉT VỀ ĐỊA BẦN NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
DÂN TỘC BRU - VÂN KIỂU
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của cộng đồng dân tộc Bru - Vân Kiều
2.2 PHAN CONG LAO DONG THEO GIGI TRONG CONG DONG DAN TOC
BRU - VAN KIỀU
2.2.1 Phân công lao động theo giới trong sản xuất
2.2.1.1 Phân công lao động theo giới trong sản xuất nông nghiệp
2.2.1.2 Phân công lao động theo giới trong lâm nghiệp
2.2.1.3 Khả năng đóng góp thu nhập của phụ nữ và nam giới Bru-Vân Kiêu
14
14
16
16
16
16
16
17
17
17
18
18
20
27
33
46
52
32
32
54
56
56
56
71 84
Trang 42 2 2 Phân công lao động theo giới trong tái sản xuất
2.2.3 Phân công lao động theo giới trong công việc cộng đồng
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ KINH TẾ, VĂN HOÁ
ĐẾN PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI VÀ ĐỊA VỊ XÃ HỘI CỦA
PHỤ NỮ VÀ NAM GIỚI BRU-VÂN KIỀU
3.1 TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ KINH TẾ VÀ VĂN HOÁ ĐẾN
PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI
3.1.1 Tác động của một số yếu tố kinh tế và văn hoá đến phân công lao động theo giới trong sản xuất
3.1.2 Tác động của một số yếu tố kinh tế và văn hoá đến phân công lao động theo giới trong tái sản xuất
3.1.3 Tác động của một số yếu tố kinh tế và văn hoá đến phân công lao động
theo giới trong công việc cộng đồng
3.2 ĐỊA VỊ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ VÀ NAM GIỚI BRU-VÂN KIỀU
3.2.1 Cơ hội tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực và lợi ích của phụ nữ và nam giới 3.2.2 Quyền quyền định của phụ nữ và nam giới Bru-Vân Kiéu
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Một số khuyến nghị
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
88
104
116
116
116
133
140
147
148
158
168
168
171
174
175 186
Trang 5PHAN MO DAU
1 TINH CAP THIẾT VÀ LÝ DO CHỌN ĐÈ TÀI
Phân công lao động theo giới (PCLĐTG) là loại hình phân công lao động xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người Chúng phản ánh bản chất quan hệ xã
hội giữa phụ nữ và nam giới cũng như trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các xã
hội khác nhau Trong những thập kỷ qua, vấn đề này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và các nhà làm chính sách Các công trình nghiên cứu
về giới và các tài liệu thống kê kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong những năm qua đã
cho thấy rằng: Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong lực lượng lao động xã hội
Theo con số thống kê mới đây, phụ nữ nước ta "chiếm 50,6% lực lượng lao động xã
hội" [130, tr 1] "Tỷ lệ nữ tham gia trong các ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm
tới 72,8% trong phụ nữ có việc làm " [116, tr 25] Riêng ở địa bàn nông thôn, phụ
nữ "chiếm 53,3% lực lượng lao động và được đánh giá là làm ra 60% sản phẩm
nông nghiệp" [60, tr 22] Không những thế, "người phụ nữ thực hiện hơn 90% công
việc nội trợ trong gia đình nông thôn" [Š1, tr 214 - 215] Trong khi đó, họ là những người có địa vị xã hội thấp hơn và hưởng lợi ít hơn nam giới Trong lĩnh vực kinh
tế, phụ nữ lao động chủ yếu trong các ngành nghề có thu nhập thấp, hoặc không được trả tiền lương (sản xuất nông nghiệp công việc nội trợ, chăm sóc con cái ) Trong lĩnh vực chính trị, họ chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp trong cán bộ lãnh đạo
Đảng, chính quyền và các đoàn thể Tiếng nói của họ trong tiến trình xây dựng các
chủ trương, chính sách, xây dựng các quyết định thường rất yếu ớt Nhìn tổng quan,
kế cả phạm vi toàn cầu và ở Việt Nam, PCLĐTG đang hàm chứa nhiều vấn đề cần
được giải quyết như: sự đánh giá và nhìn nhận lệch lạc về đóng góp của phụ nữ, thiếu tính khoa học trong sử dụng lao động nam- nữ, bất bình đẳng ngay trong phân
công lao động (PCLĐ) đã làm hạn chế cơ hội phụ nữ có việc làm và có thu nhập cao, ảnh hưởng của hệ tư tưởng phụ quyền trong sử dụng lao động, v.v
Về phương diện đường lối, chính sách, ngay từ sau khi giành được chính
quyền, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề bình đẳng nam - nữ
Điều này được thể hiện rõ trong hiến pháp, pháp luật, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta Nhờ các chủ trương, chính sách đúng đắn ấy mà bắt bình đẳng giới từng bước bị đẩy lùi Sự phân biệt, đối xử với phụ nữ trong sản xuất và
Trang 6các lĩnh vực khác từng bước được khắc phục Quyền và dia vị của phụ nữ trong gia
đình và xã hội được nâng cao
Bên cạnh những nỗ lực nói trên thì một số chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước ta từ trung ương đến địa phương vẫn còn thiếu sự nhạy cảm giới,
chính sách còn chung chung, khó thực hiện Các chính sách đối với dân tộc thiểu số chưa rõ quan điểm giới, nhiều chủ trương, chính sách không đến với phụ nữ và nam
giới dân tộc thiểu số, hoặc có đến nhưng không được quan tâm thực hiện
Chính vì vậy, tiến hành các nghiên cứu về PCLĐTG và bình đẳng nam - nữ
vẫn tiếp tục được đặt ra một cách nghiêm túc Đây cũng là một cơ hội để nhìn nhận
về vai trò của phụ nữ và nam giới trong đời sống xã hội, những bắt cập của phụ nữ
khi họ là người lao động cũng như tác động của các yếu tố kinh tế - văn hóa đối với
việc cải thiện mô hình PCLĐTG và đảm bảo quyền con người cho phụ nữ ở các
cộng đồng dân tộc thiểu số hiện nay
Chúng tôi chọn vấn đề PCLĐTG của dân tộc Bru-Vân Kiều làm đối tượng
nghiên cứu xuất phát từ các lý do sau đây:
Trước hết, người "Bzu-Vân Kiều là một cw dân bản địa sống lâu đời ở vùng
Trung Đông Dương" [43, tr 8] Đây là một dân tộc thiêu số khá đông người, có
những đặc trưng văn hóa riêng rất đặc sắc ở miền Trung Điều đặc biệt là dân tộc
Bru-Vân Kiều nằm trong nhóm dân tộc thiểu số vùng cao đang đương đầu với nhiều
khó khăn trong đời sống kinh tế, văn hoá như sự đe dọa của nghèo đói, bệnh tật, của các tập tục lạc hậu Họ thiếu các cơ hội cho sự phát triển như văn hoá - giáo dục, thông tin, kỹ thuật, v.v Không những thế, cộng đồng này đang phải đối mặt với
nhiều vấn đề trong quan hệ giới, đặc biệt là trong PCLĐ giữa nam và nữ Tình trạng
lao động cực nhọc của phụ nữ, sự tồn tại đậm nét của tư tưởng "trọng nam, kinh
nữ", hiện tượng bạo lực đối với phụ nữ, v.v đang trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến thu nhập, chất lượng cuộc sống và quyền lợi của phụ nữ địa phương
Mặt khác, phụ nữ và nam giới Bru-Vân Kiều đang đứng trước những nhu
cầu giới vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài: Mhu cầu thực tế của phụ nữ: và
nam giới Bru-Vân Kiều là cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập thông qua các hoại
động cải thiện sinh kế và giảm sự phụ thuộc vào tự nhiên; trẻ em trai và gái được đến trường, được chăm sóc sức khoẻ Nhu cầu chiến lược của họ là bình đẳng nam
Trang 7- nữ, thay đổi một số khía cạnh về PCLĐTG theo hướng giảm gánh nặng công việc
đối với phụ nữ và trẻ em gái Để hỗ trợ cho sự phát triển của phụ nữ và nam giới
Bru-Vân Kiều và đáp ứng nhu cầu của họ theo hướng tiến bộ và bình đẳng cần phải
có sự quan tâm, nghiên cứu về sự PCLĐ của họ để có các giải pháp thiết thực Từ nghiên cứu PCLĐTG ở cộng đồng Bru-Vân Kiều tỉnh Quảng Trị có thể đại diện cho
các vùng có đặc điểm kinh tế, xã hội tương tự
Hai là, ở Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực giới được tiến hành độc lập hoặc lồng ghép ở các địa bàn Bắc bộ, Trung bộ và Nam
bộ Tuy nhiên nghiên cứu về sự PCLĐTG trong tiến trình phát triển vẫn là một
khuynh hướng mới đòi hỏi phải có những phân tích sâu hơn, nhiều hơn nữa để
có thể hiểu một cách thấu đáo các khía cạnh giới ở Việt Nam dựa trên các cơ sở
khoa học Hơn nữa những nghiên cứu về sự PCLĐTG ở các cộng đồng dân tộc
thiểu số, đặc biệt là ở dân tộc Bru-Vân Kiều còn quá ít ỏi chưa đáp ứng với yêu
cầu thực tiễn đề ra
Ba là, bản thân tác giả đã có sự ấp ủ và nung nấu trong nhiều năm về ý
tưởng khám phá quan hệ giới của cộng đồng Bru-Vân Kiều Trong thời gian qua,
tác giả cũng đã có những nghiên cứu làm tiền đề cho việc triển khai đề tài này
Chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu sự PCLĐTG của cộng đồng dân tộc Bru-
Vân Kiều vừa có ý nghĩa về mặt lý luận vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn Nghiên
cứu này được tiến hành nhằm làm phong phú thêm lý thuyết xã hội học về giới, đặc
biệt là trong PCLĐTG, bình đẳng giới Mặt khác nghiên cứu này cũng nhằm hiểu rõ
thực trạng các khía cạnh giới ở Việt Nam nói chung, ở cộng đồng dân tộc thiểu số
nói riêng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, từ đó tạo lập các cơ sở khoa học cho việc đề xuất các kiến nghị và giải pháp về chủ trương, chính sách đối với phụ nữ và nam giới các dân tộc thiểu số trong đó có dân tộc Bru-Vân Kiều Thông
qua đó góp phân cải thiện quan hệ giới ở Việt Nam và thực hiện chính sách đoàn
kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
Để định hướng cho quá trình khám phá vấn đề, chúng tôi đặt ra các câu hỏi
nghiên cứu sau đây:
1 Phụ nữ và nam giới Bru-Vân Kiều đã đóng vai trò khác nhau như thế nào
trong hoạt động sản xuất, tái sản xuất và công việc cộng đồng?
Trang 82 Tác động của kinh tế và văn hoá đến sự PCLĐTG của dân tộc Bru - Vân Kiều?
3 Địa vị của phụ nữ và nam giới Bru-Vân Kiều trong xã hội?
4 Làm thế nào đề cải thiện sự PCLĐTG ở cộng đồng dân tộc Bru-Vân Kiều
theo xu hướng khoa học, tiến bộ và bình đẳng?
2 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU
2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Trong thế kỷ vừa qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về PCLĐTG và
các lĩnh vực có liên quan kể cả trên phương diện lý thuyết và thực nghiệm
Trước hết phải đề cập đến tác phẩm: "Nguôn gốc của gia đình, của chế độ tr hữu và của Nhà nước" của Engels (1884) Có thể coi đây là một trong những công
trình nghiên cứu về sự PCLĐTG sớm nhất Đứng trên quan điểm duy vật lịch sử,
Engels đã mô tả sự PCLĐTG gắn liền với sự tồn tại của các hình thức sở hữu tư liệu
sản xuất khác nhau, các kiểu hôn nhân và gia đình khác nhau Theo đó, địa vị xã hội
của phụ nữ và nam giới đã thay đổi khi có sự thay đổi về mô hình PCLĐ mà nguồn gốc sâu xa của nó bắt nguồn từ sự thay đổi về quan hệ đối với tư liệu sản xuất, về
kỹ thuật cũng như hình thái hôn nhân và gia đình
Một trong những công trình khác được nhiều người biết đến là tác phẩm:
"Giới tính thứ hai" của Simone De Beauvoir (1949) Trong tác phẩm này tác giả đã
giải thích các nguyên nhân dẫn đến "địa vị hạng hai" của phụ nữ Bà khẳng định
rằng phụ nữ phải đảm nhận phần lớn công việc nội trợ Phụ nữ càng làm việc thì
quyền lợi của họ càng thấp kém Từ đó bà lên tiếng bênh vực cho quyền lợi của họ
và đấu tranh nhằm xoá bỏ tính trạng bất bình đẳng nam - nữ trên thế giới
Tác phẩm "Sự huyền bí của nữ tính" của Betty Friedan (1963) được coi như
một công trình rất nỗi tiếng về PCLĐTG Trên cơ sở nghiên cứu 50 trường hợp phụ
nữ trung lưu lớp trên chuyên đảm nhận các công việc nội trợ trong khi các ông
chồng của họ làm các công việc ngoài gia đình và có lương, bà đã phát hiện ra rằng
sự PCLĐ ấy đã đem đến cho những người phụ nữ này sự "khốn khổ và thất vọng một sự bất mãn không diễn đạt được bằng khái niệm" [9, tr 4]
Nghiên cứu của E Boserup với tiêu đề: “ƒa¡ trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế "(1970) đã làm thay đổi nhận thức về PCLĐTG của con người "Lần đầu
Trang 9tién Boserup đã xác định một cách có hệ thống và ở phạm vi thế giới sự phân công
lao động theo giới trong các nền kinh tế nông nghiệp" [99, tr 45] Những khám phá
của bà đã góp phần làm sáng tỏ hơn nữa bức tranh về PCLĐTG thông qua việc
phân tích và khẳng định vai trò quan trọng của lao động nữ trong các nước thuộc
thế giới thứ ba, đặc biệt trong sản xuất lương thực, thực phẩm cho toàn thế giới Tác giả Ann Oakley - người đầu tiên đưa thuật ngữ giới vào xã hội học và cũng là "một trong những nhà xã hội học đầu tiên phân tích các loại kỹ năng và
trách nhiệm xép chồng đống dưới quyền người nội trợ" [10, tr 166] Trong một số
nghiên cứu về phụ nữ và công việc nội trợ (1972) và công trình nghiên cứu "Xã hội
học về người nội trợ" (1974), thông qua việc phỏng vấn 40 phụ nữ nội trợ và các nghiên cứu bổ trợ khác, bà đã đề cập đến sự bất bình đẳng trong PCLĐTG trong
công việc này và chỉ ra rằng ở nhiều nước công việc nội trợ không công và không được trả lương phần lớn do phụ nữ đảm nhận, nam giới đã thoái thác công việc này
Với tiêu đề: "Công việc của phụ nữ - Sự phát triển và phân công lao động theo giới", E Leacock, Helen I Safa và những người khác (1986) một lần nữa đã làm sáng tỏ những kết luận của Boserup về PCLĐTG và vai trò của phụ nữ trong thế giới thứ ba Không những thế nghiên cứu của họ đã mở rộng ra để xem xét sự PCLĐTG cả trong xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp Các tác giả đã chứng minh rằng dù trong xã hội nông nghiệp hay xã hội công nghiệp thì phụ nữ cũng bị
đặt những gánh nặng của công việc tái sản xuất ngoài hoạt động sản xuất để kiếm
sống, điều đó khiến cho họ thường xuyên phải lao động quá sức
Vao thap ky 90, Carolin O.N Moser da cho ra đời tác phẩm "Kế hoạch hoá
về giới và phát triển - Lý thuyết, thực hành và huắn luyện" (1993) Cuốn sách này
không chỉ cung cấp những khái niệm then chốt có liên quan đến PCLĐTG và các công cụ phân tích và lập kế hoạch về giới trong các chương trình phát triển mà còn
chỉ ra thực trạng PCLĐTG ở nhiều xã hội khác nhau Không những thế, như trong
lời giới thiệu cho cuốn sách trong bản dịch sang tiếng Việt: "Mục đích của kế hoạch
hoá giới là giải phóng phụ nữ khỏi vị thế yếu kém, phục tùng của họ và đạt đến
công bằng, bình đẳng và có quyền" [85, tr 1]
Bên cạnh đó còn có nhiều nghiên cứu khác cũng đề cập đến các khía cạnh
của PCLĐTG trong sản xuất, tái sản xuất và công việc cộng đồng ở các quốc gia
Trang 10khác nhau trong bối cảnh của các nền văn hoá khác nhau Có thể kể đến một số công trình được công bố như: “Sự phân công lao động theo giới và tác động của nó
đối với vị thế của phụ nữ ở huyện Siaya, Kenya"(1990) của Suda đã phân tích sự
PCLĐ của phụ nữ và nam giới trong sản xuất và tái sản xuất, trong đó phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong cả hai loại hình lao động này Tuy vậy vị thế xã hội của họ luôn thấp hơn nam giới Nghiên cứu về ”Đja vị kinh tế của phụ nữ trong nông nghiệp và xã hội nông thôn"(1992) của Saito đã chỉ ra sự khác nhau của phụ nữ và nam giới cũng như phụ nữ chủ hộ đối với hoạt động nông nghiệp cùng với những
khó khăn mà phụ nữ đương đầu trong hoạt động kinh tế Với tiêu đề: “Giới và
quyền sở hữu đất đai" của Agarwal (2001) đã cho thấy những cản trở của phụ nữ trong tiếp cận và sở hữu đất đai mà các yếu tố này có liên quan đến văn hoá và
chính sách, v.v
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Ngay từ thời kỳ kiến thức về giới còn khá mới mẻ đối với Việt Nam, nhiều tác giả trong nước đã đặt vấn đề nghiên cứu về vấn đề PCLĐTG và lao động của
phụ nữ Có thể kể đến một số công trình như: “Phụ nữ Việt Nam: việc làm, thu
nhập, sự nghèo khổ Một vài quan điểm xem xét từ góc độ giới" của Lê Thi (1990)
đã cho thấy thực trạng lao động nặng nhọc nhưng thu nhập thấp, mức sống thấp của
phần lớn phụ nữ thế giới và ở nước ta hiện nay Từ đó tác giả đưa ra một số định
hướng về tạo việc làm, tăng thu nhập để cải thiện đời sống của phụ nữ "Phu nit
Mường và vai trò lao động của họ” (1991) của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh đã khái quát sự PCLĐ giữa phụ nữ và nam giới dân tộc Mường trong sản xuất và tái sản xuất cũng như địa vị xã hội thấp kém của phụ nữ trong cộng đồng này Tác giả Đào Thế Tuấn trong nghiên cứu có nhan đề ”Phự nữ trong kinh tế hộ nông dân" (1992)
cũng đã khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ trong sản xuất, tái sản xuất Tác giả
cho rằng cần phải thay đổi kiểu PCLĐTG hiện tại để giảm gánh nặng công việc và
nâng cao địa vị xã hội cho phụ nữ Với tiêu đề "Khoán 10 với đời sống phụ nữ miền mii" (1993), tác giả Nguyễn Phương Thảo với cách nhìn tổng quan về tác động của
Nghị quyết 10 đối với cộng đồng miền núi đã chỉ ra rằng phụ nữ miền núi là người giữ vai trò chủ chốt trong sản xuất nhưng họ là người chịu nhiều thiệt thòi và có địa