Đầu tư phát triển ngành giáo dục- đào tạo Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam phát động từ giữathập kỷ 80 của thế kỷ trước đến nay đã thu được kết quả to lớn và toàn diện.Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những bước tiến vững chắc, nhịp độ tăngtrưởng năm sau cao hơn năm trước, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,
an ninh xã hội được đảm bảo, tỉ lệ đói nghèo cũng đã giảm rõ rệt, ViệtNam đã được thế giới thừa nhận là một trong những nước đang phát triển vàthực hiện xoá đói giảm nghèo có hiệu quả nhất Quy mô giáo dục cũng tăngkhá nhanh, năm 2000 cả nước đã hoàn thành xoá mù chữ, phổ cập giáo dụcTiểu học và đang phấn đấu thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục Trung học
cơ sở vào năm 2010
Tuy nhiên, trong quá trình đạt được những thành tựu trên thì chúng tacòn phải đối mặt với những vấn đề xã hội như: khắc phục sự phát triểnkhông đều giữa các vùng, giảm dần khoảng cách giữa giàu và nghèo, giảm
tỷ lệ thất nghiệp, chống các tệ nạn xã hội, tăng cường bảo vệ môi trườngsinh thái, Vì vậy Chất lượng giáo dục- đào tạo, chất lượng nguồn nhân lựcluôn là đề tài muôn thuở của dư luận xã hội cũng như các phương tiện thôngtin đại chúng Vì: “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, bất kỳ quốc gia nàomuốn phát triển, muốn trở thành cường quốc đều phải có nguồn nhân lựcđược đào tạo và đáp ứng được yêu cầu trong môi trường cạnh tranh khốcliệt Có thể nói, đầu tư phát triển ngành giáo dục đào tạo là nhiêm vụ củatoàn xã hội Trong những năm gần đây, Việt Nam dần hội nhập vào đời sốngkinh tế toàn cầu, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao là rất cấp thiết,trên chặng đường hoàn thiện đội ngũ nhân lực mới, chúng ta cũng vấp phảikhông ít những khó khăn thách thức, và còn nhiều bất cập trong hệ thốnggiáo dục, đòi hỏi cần có những biện pháp thiết thực và những hành độngthực tế
Trang 2Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Đầu tư phát triển ngành giáo
dục- đào tạo Việt Nam, thực trạng và giải pháp” Với mục đích nghiên cứu
thực trạng, cơ cấu, và hiệu quả đầu tư phát triển ngành giáo dục- đào tạoViệt Nam từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu
tư đồng thời có những biện pháp huy động vốn đầu tư phát triển ngành giáodục đào tạo, làm tiền đề cho công cuộc cải tiến chất lượng giáo dục, tạo ramột đội ngũ nhân lực mới góp phần phát triển kinh tế- xã hội đất nước trongđiều kiện hội nhập
Chuyên đề thực tập gồm 3 phần:
Chương 1: Giới thiệu về Viện chiến lược phát triển
Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển ngành Giáo dục- Đào tạo
Việt Nam
Chương 3: Giải pháp tăng cường đầu tư phát triển ngành Giáo
dục- Đào tạo Việt Nam
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chuyên đề của tôi cũng không tránh khỏinhững thiếu sót, rất mong sự chỉ bảo của thầy giáo cùng Ban lãnh đạo củaViện chiến lược phát triển Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tìnhcủa TS Nguyễn Hồng Minh và Ban lãnh đạo Viện đã giúp đỡ tôi hoàn thànhchuyên đề thực tập này!
Trang 3CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VIỆN CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN
I KHÁI QUÁT VỀ VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN.
1 Thông tin chung và lịch sử hình thành Viện chiến lược phát triển.
1.1 Thông tin chung
THUỘC BỘ KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ
Tên tiếng Anh: DEVELOPMENT STRATEGY INSTITUTE
OF MINISTRY OF PLANNING AND INVESTMENT
Vụ nêu trên thành Viện chiến lược phát triển thể hiện như sau:
- Năm 1974: Thành lập Viện phân vùng và quy hoạch
- Năm 1983: Thành lập Viện nghiên cứu kế hoạch dài hạn
- Năm 1986: Đổi tên Viện phân vùng và quy hoạch thành Viện Phân
bố lực lượng sản xuất
Trang 4- Năm 1988: Sáp nhập Viện nghiên cứu kế hoạch dài hạn và Việnphân bố lực lượng sản xuất thành Viện Kế hoạch dài hạn và Phân
bố lực lượng sản xuất thuộc Uỷ ban kế hoạch Nhà nước
- Năm 1994: Đổi tên Viện Kế hoạch dài hạn và Phân bố lực lượngsản xuất thành Viện chiến lược phát triển (có vị trí tương đươngtổng cục loại I)
2 Chức năng nhiệm vụ của Viện chiến lược phát triển.
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, dưới sự chỉ đạo trực tiếpcủa Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Chủ nhiệm Uỷ ban phân vùngkinh tế Trung ương trước đây và của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư hiệnnay, cùng với sự phấn đấu liên tục của nhiều thế hệ lãnh đạo, cán bộ nghiêncứu khoa học và nhân viên phục vụ, Viện chiến lược phát triển đã hoànthành tốt các nhiệm vụ được giao với chức năng và nhiệm vụ chủ yếu sau:
Viện có chức năng nghiên cứu khoa học và tổng hợp, tham mưu vềlĩnh vực chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội cả nước và cácvùng lãnh thổ, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch dài hạn, kế hoạch 5năm và hàng năm
Tổ chức nghiên cứu và soạn thảo chiến lược, quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế- xã hội của đất nước, quy hoạch đầu tư, quy hoạch phát triểncác vùng Tham gia xây dựng quy hoạch các ngành, tỉnh, thành phố, cácchương trình phát triển, các dự án lớn của Nhà nước và thẩm định các quyhoạch, dự án; tham gia xây dựng định hướng kế hoạch 5 năm Nghiên cứulập báo cáo Tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất của Việt Nam, tổng hợpphân tích đánh giá hiện trạng tài nguyên thiên nhiên, dân số, lao động, cơcấu kinh tế Đồng thời Viện cũng tổ chức nhiều cuộc sinh hoạt khoa học
về các lĩnh vực kinh tế- xã hội với sự tham gia của nhiều chuyên gia trong
Trang 5và ngoài nước, cử nhiều lượt cán bộ tham gia giảng dạy, báo cáo khoa họctại tại các trường đại học, các Viện nghiên cứu, các cơ quan Trung ương vàđịa phương để thông tin và trao đổi các kết quả nghiên cứu đã đạt được.
Trực tiếp chủ trì một số dự án quy hoạch và dự án hợp tác quốc tế phùhợp với chức năng của Viện Tổ chức việc phân tích và nghiên cứu dự báophát triển kinh tế- xã hội trong nước và quốc tế phục vụ cho nghiên cứu vàquản lý kinh tế Nghiên cứu lý luận và phương pháp luận và phương phápxây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội
Thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ phù hợpvới chức năng của Viện, nổi bật là:
- Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước 70A, nghiên cứu
cơ sở khoa học của định hướng phát triển công nghiệp, nông nghiệp, giaothông, đô thị, dân số, lao động, việc làm và phân bố dân cư, phát triển vùng
- Tham gia soạn thảo Văn kiện các Đại hội của Đảng và một số hộinghị Ban chấp hành Trung ương Đảng
- Nghiên cứu xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế- xã hội vàtham gia triển khai thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược này
- Chủ trì phối hợp cùng các đơn vị trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư vàvới các nghành Trung ương triển khai lập dự án quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế- xã hội đến năm 2010 cho 8 vùng kinh tế lớn, 3 vùng kinh tếtrọng điểm, quy hoạch kinh tế biển Chủ trì xây dựng quy hoạch phát triểncông nghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996- 2010, quy hoạch các khu côngnghiệp, đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Hợp tác quốc tế trong lĩnhvực nghiên cứu chiến lược, chính sách quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu chiến lược, chính sách ,quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội Chủ trì tổ chức nghiên cứu chiến lượcphát triển kinh tế- xã hội của Lào và Campuchia thời kỳ 1991-2000 Giúp
Trang 6Uỷ ban kế hoạch Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào xây dựng quyhoạch tỉnh Khăm Muội, quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội cả nước Làođên năm 2020, và xây dựng chiến lược hợp tác giữa hai nước Việt Nam- Làođến năm 2010 Để đáp ứng các nhiệm vụ được giao trong giai đoạn pháttriển mới và nhằm học tập kinh nghiệm của các nước về nghiên cứu chiếnlược và quy hoạch phát triển, Viện chiến lược phát triển đã mở rộng quan hệhợp tác quốc tế với nhiều cơ quan và Viện nghiên cứu của các nướcASEAN, Đông Bắc Á, châu Âu, Bắc Mỹ, Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chứcquốc tế khác Viện đã chủ trì tổ chức thực hiện 14 dự án nghiên cứu do nướcngoài tài trợ.
Trang 83 Cơ cấu tổ chức của Viện Chiến lược phát triển.
Bảng 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của viện chiến lược phát triển
và lãnh thổ
Ban công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Ban nông nghiệp
và nông thôn
Ban nghiên
cứu phát
triển vùng :
Ban nghiên cứu phát triển hạ tầng
Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam
Trung tâm thông tin
tư liệu, đào tạo
và tư vấn phát triển
Trang 9Tæ chøc, tiÒm lùc
Viện có hội đồng khoa học và 10 ban nghiên cứu: Văn phòng viện;tổng hợp; dự báo; ban nghiên cứu và phát triển các ngành sản xuất; bannghiên cứu và phát triển các ngành dịch vụ; nghiên cứu và phát triển nguồnnhân lực và các vấn đề xã hội; nghiên cứu phát triển vùng; nghiên cứu pháttriển hạ tầng; trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam; trung tâm thông tin,
tư liệu, đào tạo và tư vấn phát triển
Hiện nay Viện có 02 phó giáo sư,25 tiến sỹ, 10 thạc sỹ và 60 cử nhân
Nhiệm vụ chủ yếu của các Ban và văn phòng viện như sau:
Hội đồng khoa học:
Hội đồng khoa học là tổ chức tư vấn giúp Viện trưởng xây dựng cácchương trình khoa học, tổ chức công tác nghiên cứu khoa học và đánh giákết quả nghiên cưú khoa học của Viện
Ban Tổng hợp:
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng các báo cáo
về chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Nghiên cứu
Trang 10nước phục vụ nghiên cứu chiến lược, quy hoạch Dự báo các khả năng pháttriển, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của nền kinh tế Việt Nam.
Ban nghiên cứu phát triển các nghành sản xuất:
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược,quy hoạch phát triển các nghành công nghiệp, xây dựng và nông, lâm, ngưnghiệp trên phạm vi cả nước và các vùng lãnh thổ Đầu mối tổng hợp, thammưu những vấn đề liên quan về quản lý Nhà nước đối với công tác quyhoạch các nghành sản xuất
Ban nghiên cứu phát triển các ngành dịch vụ.
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược,quy hoạch phát triển các ngành dịch vụ của cả nước và trên các vùng lãnhthổ Đầu mối tổng hợp, tham mưu về các vấn đề liên quan về quản lý Nhànước đối với công tác quy hoạch các ngành dịch vụ
Ban nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực và các vấn đề xã hội.
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược,quy hoạch phát triển con người, nguồn nhân lực và các vấn đề xã hội trênphạm vi cả nước và trên các vùng lãnh thổ; xây dựng các giải pháp đảm bảothực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển con người, nguồn nhân lực và cácvấn đề xã hội Đầu mối tổng hợp, tham mưu các vấn đề liên quan về quản lýNhà nước đối với công tác quy hoạch phát triển con người, nguồn nhân lực
và các vấn đề xã hội
Ban nghiên cứu phát triển vùng:
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng các đề ánchiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch sử dụngđất các vùng lãnh thổ (trong đó có các vùng kinh tế- xã hội, các vùng kinh tếtrọng điểm, các vùng khó khăn, vùng ven biển và hải đảo) Đầu mối tổng
Trang 11hợp, tham mưu các vấn đề liên quan về quản lý Nhà nước đối với công tácquy hoạch vùng, lãnh thổ, tỉnh.
Ban nghiên cứu phát triển hạ tầng:
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược,quy hoạch phát triển hạ tầng của cả nước và trên các vùng lãnh thổ Đầu mốitham mưu các vấn đề quản lý Nhà nước liên quan đến lĩnh vực hạ tầng.Tham gia thẩm định quy hoạch các ngành liên quan
Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam:
Đầu mối nghiên cứu và đề xuất về chiến lược, quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế- xã hội vùng ở Nam Bộ; tổ chức hoạt động tư vấn về lĩnh vựcchiến lược và quy hoạch phát triển cho các tỉnh ở Nam Bộ Theo dõi việcthực hiện quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội các tỉnh và vùng ở Nam Bộ
Trung tâm thông tin tư liệu, đào tạo và tư vấn phát triển:
Thu thập, phân tích, xử lý, lưu trữ thông tin, kết quả nghiên cứu củacác ban nghiên cứu của Viện, và các kết quả nghiên cứu khoa học có liênquan của các tổ chức bên ngoài Tổ chức đào tạo cán bộ nghiên cứu chiếnlược và quy hoạch, tư vấn trong công tác lập chiến lược và quy hoạch trongchương trình hợp tác quốc tế với Lào và Campuchia
II NHỮNG KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CHÍNH CỦA VIỆN CHIẾN LƯỢC TRONG THỜI GIAN QUA
1.Các thành tựu đạt được
1.1.Giai đoạn 1964- 1988
a)Về mặt nghiên cứu phân vùng kinh tế, phân bố lực lượng sản xuất.
- 1964- 1975: Trong tình hình đất nước bị chia cắt, có chiến tranh,nhiệm vụ kinh tế lớn lúc này là tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng
và củng cố quan hệ sản xuất mới, từng bước xây dựng cơ sở vật chất của chủ
Trang 12nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm hậu phương lớn chi viện kháng chiến chống
Mỹ cứu nước ở miền Nam Viện cùng với các nghành, các Viện và một sốtrường đại học, được chuyên gia Liên Xô hướng dẫn triển khai giới thiệu vềphân vùng kinh tế, miền Bắc được chia thành 4 vùng nông nghiệp lớn gồm
46 tiểu vùng, năm 1969 đã trình Thường vụ Chính phủ xem xét kết quảnghiên cứu này Các dự án phân vùng kinh tế kể trên là bước thử nghiệmđầu tiên nhằm đưa ra một sơ đồ tổ chức sản xuất trên lãnh thổ ở phạm vi một
số nghành kinh tế chủ yếu Đồng thời tích luỹ một số kinh nghiệm ban đầu
về công tác điều tra cơ bản, phân vùng quy hoạch, đào tạo được một lớp cán
bộ đầu tiên về công tác nay ở Trung ương và địa phương
- Năm 1970 bắt đầu triển khai quy hoạch phát triển kinh tế ở 30huyện Việc làm quy hoạch các vùng nhỏ, các huyện điểm đã phục vụ việclập kế hoạch kinh tế quốc dân và kế hoạch nhành ở Trung ương và địaphương Việc tiến hành quy hoạch các huyện điểm và các vùng kinh tế mới
để làm cơ sở cho việc tổ chức lại sản xuất ở đơn vị cơ sở đã cho chúng tamột số kinh nghiệm bước đầu để sau này thực hiện chủ trương của Đảng vàNhà nước về xây dựng huyện
- Năm 1976 triển khai công tác phân vùng quy hoạch kinh tế trênphạm vi cả nước, theo một quan điểm tổng hợp chung- kết hợp ngành vàlãnh thổ, đã có những tiến bộ mới trong công tác phân vùng quy hoạch.,đánh dấu bằng việc hoàn thành xây dựng một số dự án phân vùng nông, lâmnghiệp và công nghiệp chế biến và dự án phân bố một số ngành công nghiệp
- Đi đôi với phân vùng nông, lâm nghiệp, công tác phân bố côngnghiệp cũng được triển khai đồng đều hơn và có thêm nhiều tiến bộ về mặtnhận thức cũng như cách làm Từ chỗ chủ yếu tìm địa điểm cho từng nhàmáy, công trình riêng lẻ, đã bắt đầu nghiên cứu bố trí một hệ thống các nhàmáy có tính chất liên ngành thành các khu, cụm công nghiệp Nhiều ngành
Trang 13công nghiệp đã nghiên cứu quy hoạch như các ngành điện, than, cơ khí,luyện kim, hoá chất, giao thông vận tải, vật liệu xây dựng Quy hoạch cácthành phố cũng được triển khai nghiên cứu song song với việc bố trí côngnghiệp Nhìn chung quy hoạch ngành đã có tác dụng nhất định phục vụ chocông tác kế hoạch hoá của ngành Các phương án quy hoạch đã đề cập mộtcách tổng hợp các yếu tố kinh tế, kỹ thuật của ngành, đã đi vào nghiên cứucác khu cụm công nghiệp theo quan điểm tổng hợp Vấn đề kết hợp kinh tếvới quốc phòng cũng được coi trọng trong quá trình nghiên cứu bố trí côngnghiệp.
- 1978-1988: Xây dựng “Tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất trênphạm vi cả nước thời kỳ 1986- 2000” Lần đầu tiên ở Việt Nam, Uỷ ban kếhoạch Nhà nước chủ trì triển khai nghiên cứu quy hoạch một cách hệ thống,toàn diện từ Trung ương đến địa phương Tất cả các ngành, các tỉnh và thànhphố trực thuộc Trung ương đã xây dựng sơ đồ phát triển và phân bố lựclượng sản xuất giai đoạn 1986- 2000
Về mặt tổ chức cán bộ, đã xây dựng được một hệ thống từ Trungương đến địa phương chuyên nghiên cứu về phân vùng quy hoạch
b) Về mặt nghiên cứu kế hoạch dài hạn
- Năm 1964: Ngay sau khi thành lập Vụ tổng hợp kế hoạch kinh tếquốc dân dài hạn, đã triển khai mạnh mẽ công tác điều tra cơ bản, dự báodân số và nguồn lao động, xây dựng cơ bản trọng điểm Triển khai hàng loạtnghiên cứu về triển vọng dài hạn và khôi phục và phát triển kinh tế sau chiếntranh
- Năm 1976- 1982: Trên cơ sở tiến hành các điều tra cơ bản, dự báocác nguồn lực và nghiên cứu quy hoạch phát triển các nghành, vùng kinh tế,
đã chủ trì tổ chức xây dựng kế hoạch 5 năm 1976- 1980, phục vụ quá trìnhkhôi phục và phát triển đất nước trong điều kiện cả nước thống nhất và đi lên
Trang 14chủ nghĩa xã hội, đã được Chính phủ trình lên đại hội lần thứ IV của Đảng.Tiếp theo đó chủ trì xây dựng kế hoach 5 năm 1981- 1985, được trình lênĐại hội lần thứ V của Đảng.
- Năm 1983- 1988: Viện nghiên cứu kế hoạch dài hạn đã triển khaihàng loạt các nghiên cứu đánh giá các nguồn lực phát triển
1.2 Giai đoạn 1988 đến nay.
Do yêu cầu cải tiến bộ máy của Chính phủ và thực tế đòi hỏi kết hợpviệc nghiên cứu kế hoạch dài hạn với nghiên cứu phân bố lực lượng sản xuấtnên hai nhiệm vụ này đã được thu về một mối do một Viện đảm nhận- đó làViện Kế hoạch dài hạn và Phân bố lực lượng sản xuất thuộc Uỷ ban Kếhoạch Nhà nước, nay là Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch vàĐầu tư
Trong thời gian này, tập trung nghiên cứu để đáp ứng việc xây dựng
và phát triển kinh tế - xã hội dài hạn trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi
từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý điều tiết củaNhà nước Đồng thời Viện cũng tổ chức nghiên cứu chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội thời kỳ 1991- 2000 Viện đã có những đóng góp tích cực đốivới việc xây dựng chiến luợc và cũng nhận được nhiều bài học bổ ích: Quanniệm về chiến lược, nội dung và phương pháp xây dựng chiến lược pháttriển kinh tế xã hội Viện cũng tham gia soạn thảo các văn kiện của các Đạihội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và một số Hội nghị Ban chấp hành Trungương Đảng
Triển khai nghiên cứu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cả theochiều rộng và chiều sâu trên phạm vi cả nước, công tác quy hoạch được tiếnhành tương đối bài bản
- Đối với nông nghiệp: Viện đã tham gia cùng Bộ chuyên ngànhnghiên cứu: Chiến lược phát triển nông nghiệp đến năm 2000; “Định hướng
Trang 15và quy hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghịêp, nông thôn Việt Namđến năm 2000”, trên cơ sở chiến lược nông nghiệp, đã nghiên cứu quy hoạch
về một số chuyên ngành lớn như Tổng quan về sản xuất lương thực, thựcphẩm, cao su, chè, cà phê, dâu tằm, mía đường, cây ăn quả và chăn nuôi vàphục vụ việc xây dựng kế hoạch 5 năm (1996-2000)
- Đối với lâm nghiệp : Viện tham gia xây dựng báo cáo tổng quanphát triển lâm nghiệp và chương trình trồng 5ha rừng đến năm 2010
- Đối với thuỷ sản: Tham gia cùng Bộ thuỷ sản xây dựng chiến lượcphát triển ngành thuỷ sản thời kỳ 1996-2010 và chiến lược xuất khẩu thuỷsản thời kỳ 1996-2000 và đến năm 2010
- Đối với công nghiệp và kết cấu hạ tầng: Viện đã tham gia cùng BộCông nghiệp xây dựng quy hoạch 9 ngành sản phẩm đến năm 2000 và 2010.Đồng thời đã chủ trì xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp và kết cấu
hạ tầng của cả nước thời kỳ 1996- 2010 và quy hoạch này đã được Thủtướng chính phủ phê duyệt (năm 1996) Các dự án quy hoạch công nghiệp
đã làm rõ được tiềm năng, thế mạnh, khó khăn và phương hướng phát triển
và đề xuất trọng điểm ưu tiên đầu tư ; đã đưa ra được những định hướngchung cho phát triển và kết cấu hạ tầng, là cơ sở cho việc xây dựng quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội nói chung và quy hoạch chi tiết chocác ngành, các địa phương, tạo thêm căn cứ khoa học cho việc xây dựng kếhoạch 5 năm
- Về dân số, lao động và xã hội: Viện đã phối hợp cùng với các ngànhchức năng triển khai nghiên cứu dự báo dân số - lao động trong cả nước, cácvùng, các tỉnh, định hướng chung cho phát triển các nguồn nhân lực, giảiquyết việc làm, xoá đói gảim nghèo, công bằng xã hội, tạo cơ sở cho việcxây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch tổng thể phát triểncác kinh tế xã hội các vùng, các tỉnh
Trang 16- Phối hợp cùng với các đơn vị trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư và vơí cángành Trung ương triển khai lập dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-
xã hội đến năm 2010 cho 8 vùng kinh tế lớn, 3 vùng kinh tế trọng điểm, quyhoạch kinh tế biển, và hướng dẫn, hỗ trợ các tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương triển khai xây dựng dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-
xã hộicủa các địa phương, phục vụ Đại hội Đảng bộ các tỉnh kỳ Đại hộiVIII
Cùng với quá trình hình thành và phát triển, thành quả công tác củaViện ngày càng được nâng cao và đem lại tác dụng ngày một tốt hơn Hiệnnay Viện đang tiếp tục được tăng cường về chức năng và tổ chức- cán bộ để
có thể làm tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình, đóng góp tích cựu và có hiệu quảhơn vào công tác xây dựng chiến lược và công tác quy hoạch phát triển đấtnước trong thời kỳ mới
2 Vai trò của Viện chiến lược trong hoạt động đầu tư nói chung.
Trước hết ta cần hiểu thế nào là chiến lược và quy hoạch:
Chiến lược được hiểu là hướng và cách giải quyết nhiệm vụ đặt ra mang tính toàn cục, tổng thể và trong một thời gian dài, thường là 10 năm đến 20 năm.
Đặc trưng của chiến lược là: Thứ nhất, phải đưa ra một tầm nhìn dài
hạn từ 10 năm trở lên để làm cơ sở cho công tác hoạch định Thứ hai, chiếnlược phải mang tính khách quan, khoa học chứ không thể chỉ dựa vào mongmuốn chủ quan của người lập
Quy hoạch là cụ thể hoá chiến lược về không gian và thời gian Nó là bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế- xã hội.
Các cấp của quy hoạch: quy hoạch vùng là cấp cao nhất, tiếp đến làquy hoạch phát triển nghành và cuối cùng là quy hoạch sử dụng không gian(Gồm cả quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị)
Trang 17Ta có sơ đồ các loại hình kế hoạch sau:
Sơ đồ2: Mối quan hệ giữa các loại hình kế hoạch.
Viện chiến lược phát triển là cơ quan trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu
tư Nhiệm vụ chủ yếu của Viện là nghiên cứu khoa học và tổng hợp, tổ chứcxây dựng và tham mưu về lĩnh vực chiến lược và quy hoạch phát triển kinhtế- xã hội cả nước và các vùng lãnh thổ Trong hoạt động quản lý đầu tư củaNhà nước ở tầm vĩ mô, công tác lập chiến lược và quy hoạch phát triển kinhtế- xã hội đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kế hoạch hoá hoạt động
Trang 18đầu tư Nó đi trước một bước, làm tiền đề để công tác kế hoạch hoá hoạtđộng đầu tư có định hướng, mục tiêu rõ ràng, phù hợp với chiến lược và quyhoạch phát triển kinh tế- xã hội đã được duyệt Đồng thời cũng hỗ trợ choviệc đề xuất các giải pháp tốt nhất để đạt được mục tiêu đó với hiệu quả caonhất Là công cụ đắc lực để Nhà nước quản lý hoạt động đầu tư ở tầm vĩ mô.
Đối với nền kinh tế cũng như hoạt động đầu tư, công tác kế hoạch hoá
là hết sức cần thiết Lập kế hoạch là quyết định trước xem trong tương laiphải làm gì và làm như thế nào, làm bằng công cụ gì, khi nào làm và ai làm?Mặc dù chúng ta ít khi tiên đoán chính xác được tương lai và những yếu tốnằm ngoài sự kiểm soát có thể phá vỡ những kế hoạch tốt nhất Nhưng nếunhư không có kế hoạch, các sự kiện sẽ diễn ra một các ngẫu nhiên và chúng
ta sẽ mất đi khả năng hành động một cách chủ động
Viện có nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng, đề xuất, phối hợp cùng cácban nghành khác trong lập chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế- xãhội,tham gia góp ý kiến trong xây dựng kế hoạch 5 năm để trình Quốc hội vàThủ tướng Chính phủ thông qua Đây là cơ sở để xây dựng các chương trình
dự án lớn, có ý nghĩa quyết định đối với phát triển kinh tế- xã hội của cảnước Bên cạnh đó, các dự án lớn phải được hình thành từ kế hoạch 5 năm,các dự án nhỏ được hình thành từ chương trình dự án Tất cả các dự án đượcxây dựng phải dựa vào quy hoạch, không được trái với quy hoạch Kế hoạchhàng năm hình thành từ kế hoạch 5 năm và nó có nhiệm vụ phân bổ nguồnlực cho các chương trình và cho các dự án
Những đóng góp trong nghiên cứu của Viện đối với hoạt động đầu tư từ năm 1988 đến nay:
Viện đã gặt hái được một số thành công nhất định trong nghiên cứuxây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội trong điều kiện nền kinh tếchuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản
Trang 19lý và điều tiết của Nhà nước Bên cạnh đó Viện cũng nghiên cứu chiến lượcphát triển kinh tế- xã hội thời kỳ 1991- 2000 Triển khai nghiên cứu quyhoạch phát triển kinh tế- xã hội cả theo chiều rộng và chiều sâu Đây là cơ
sở, định hướng cho các dự án đầu tư tuân theo chiến lược quy hoạch pháttriển kinh tế- xã hội, đầu tư có trọng điểm, tránh tình trạng đầu tư dàn trải,gây lãng phí nguồn lực quốc gia Bên cạnh đó, Viện còn phối hợp với các Bộchuyên ngành trong nghiên cứu chiến lược phát triển các ngành kinh tế như:Nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp và kết cấu hạ tầng, dịch vụ.Góp phần nâng cao định hướng cho các dự án đầu tư của từng ngành kinh tế.Qua việc tạo cơ sở tốt cho việc xây dựng các quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế- xã hội nói chung và quy hoạch chi tiết cho các ngành, các địaphương, tạo thêm căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch 5 năm
Viện cũng đã phối hợp cùng các ngành chức năng triển khai nhiều dự
án quy hoạch phát triển phát triển kết cấu hạ tầng trong các năm 1994, 1995
và năm 1996 Trong đó nổi bật là các nghành: giao thông vận tải, bưu chínhviễn thông, điện, cấp nước đô thị và hạ tầng đô thị, trong đó có xác địnhdanh mục các dự án đầu tư trong 5 năm, và quy hoạch phát triển khu côngnghiệp
Danh sách các dự án trình Bộ và Chính phủ:
- Chủ trì xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế công nghiệp
và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996- 2010 (năm 1996)
- Chủ trì nghiên cứu quy hoạch kinh tế biển (1996- 1997)
- Chủ trì nghiên cứu quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hộiVùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (1996- 1997)
- Tham gia xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hộivùng kinh tế trọng điểm phía Nam ( chủ yếu là công nghiệp, kết cấu hạ tầng
và đô thị) (năm 1996)
Trang 20- Làm đầu mối giúp Bộ tổ chức nghiên cứu chiến lược và định hướngquy hoạch phát triển nghành công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin đếnnăm 2010 (năm 1997)
- Tham gia chuẩn bị báo cáo về các công trình trọng điểm trình Quốchội (năm 1997)
- Tham gia chuẩn bị báo cáo về đề án điều chỉnh cơ cấu đầu tư (năm1997)
- Xây dựng bước đầu định hướng phát triển kinh tế- xã hội của ViệtNam đến năm 2020 (năm 1996) để báo cáo Bộ, cố vấn Đỗ Mười và tiểu banchuinr bị văn kiện đại hội IX của Đảng
- Tổng hợp quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội cả nước đến năm 2010(đang tiến hành)
3 Những mặt cần tiếp tục hoàn thiện.
Bên cạnh những mặt tích cực trong lĩnh vực chiến lược quy hoạchphát triển tổng thể kinh tế- xã hội nói chung và những đóng góp tích cực đốivới hoạt động đầu tư và quản lý đầu tư trên cả nước nói riêng, vẫn còn một
số hạn chế cần được quan tâm đó là:
- Chất lượng công tác quy hoạch chưa cao, phản ánh rõ nét là sự mấtcân đối giữa nhu cầu phát triển và khả năng phát triển
- Tình trạng quy hoạch treo còn diễn ra tương đối phổ biến, dẫn đến raquyết định đầu tư sai lầm hay đầu tư dàn trải, gây lãng phí nguồn lực xã hội.Công tác quy hoạch đôi khi chưa đi trước một bước để làm cơ sở cho hoạtđộng đầu tư, dẫn tới đầu tư không mang lại hiệu quả, gây thất thoát, lãng phívốn đầu tư
- Vấn đề thị trường chưa được nghiên cứu đầy đủ trong công tác quyhoạch, các địa phương chưa được tiếp cận đầy đủ, thống nhất phương pháp
và cách tính các chỉ tiêu
Trang 21- Cơ sở vật chất, hạ tầng của Viện vẫn còn nhiều hạn chế, gây trở ngạitrong công tác nghiên cứu và dự báo Đặc biệt, chất lượng của công tác dựbáo chưa cao, chưa có sự độc lập trong công tác dự báo với các cơ quankhác.
4 Hướng hoạt động chính.
Trong thời gian tới Viện chiến lược tiếp tục duy trì và tập trung vàonhững hoạt động sau:
- Duy trì các mối quan hệ đã được thiết lập trong thời gian qua
- Mở rộng các mối liên kết với các Viện chiến lược phát triển có cùngchức năng trong nước cũng như trên thế giới
- Tăng cường trao đổi hợp tác giữa các bộ phận, Ban trong Viện vớinhau
- Hợp tác quốc tế để trao đổi kinh nghiệm thông qua các dự án, traođổi các bộ, hỗ trợ đào tạo
- Tăng cường tổ chức các buổi hội thảo giữa các Bộ, Ngành trong cảnước để đưa ra các biện pháp giải quyết các vấn đề có tính chất tổng hợp
- Xây dựng hệ thống dữ liệu được cập nhật thường xuyên phục vụ chocông tác dự báo
- Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong tất cảcác quá trình xử lý, phân tích thông tin
III KHÁI QUÁT VỀ BAN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH DỊCH VỤ
1.Chức năng nhiệm vụ
- Nghiên cứu tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiếnlược, quy hoạch phát triển các ngành dịch vụ của cả nước và trên các vùnglãnh thổ
Trang 22- Làm đầu mối tổng hợp, tham mưu các vấn đề liên quan về quản lýNhà nước đối với công tác quy hoạch các ngành dịch vụ trên cả nước Thamgia thẩm định các dự án quy hoạch các ngành dịch vụ
- Tham gia đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch 5 năm và kế hoạchhàng năm của các ngành dịch vụ
- Nghiên cứu lý luận, phương pháp luận và phương pháp xây dựngchiến lược và quy hoạch phát triển các ngành dịch vụ
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Viện trưởng giao
- Nghiên cứu phục vụ xây dựng quy hoạch phát triển các ngành dịch
vụ của các vùng kinh tế, tham mưu tư vấn xây dựng quy hoạch phát triển cácngành dịch vụ cho các tỉnh thành trong cả nước
Các lĩnh vực dịch vụ Ban phụ trách nghiên cứu:
+ Khoa học công nghệ+ Giáo dục
+ Giao thông vận tải + Bưu chính viễn thông+ Thương mại
+ Tài chính ngân hàng+ Du lịch
+ Và một số ngành dịch vụ khác
Trang 23Trong các ngành dịch vụ mà ban nghiên cứu phát triển các ngành dịch
vụ phụ trách nghiên cứu thì giáo dục- đào tạo là một trong những ngành dịch
vụ quan trọng, then chốt đối với sự phát triển của một Quốc gia Giáo đào tạo vừa là động lực thúc đẩy vừa là một điều kiện cơ bản đảm bảo thựchiện những mục tiêu kinh tế- xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước Chính vìgiáo dục đào tạo có một tầm quan trọng như vậy nên đầu tư phát triển giáodục đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển
Trang 24dục-CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH
GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VIỆT NAM
I TỔNG QUAN VỀ NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VIỆT NAM 1.Những thành tựu đạt được.
1.1 Về quy mô.
Cho đến nay, hệ thống giáo dục mới ở Việt Nam từ mầm non đến đạihọc về cơ bản được xác lập, mạng lưới trường học phát triển rộng khắp từnông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi; đã xây dựng được hệthống các trường dân tộc nội trú với điều kiện tương đối tốt để đào tạo con
em các dân tộc ít người Hệ thống các trường ngoài công lập được hìnhthành đã góp phần đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân
Tính đến 12/2006 cả nước đã có 36 tỉnh, thành phố đạt phổ cập giáodục tiểu học, 32 tỉnh thành phố đạt phổ cập giáo dục THCS, số giáo viênbình quân tính trên một lớp đảm bảo đủ theo quy định (Đến năm 2006, độingũ nhà giáo Việt Nam gồm nhà giáo trực tiếp giảng dạy và nhà giáo làmcông tác quản lý giáo dục đã lên đến gần 980.000 người, trong đó GV phổthông: 770.000 người, GV mầm non: 160.000 người, Giảng viên ĐH có gần:50.000 người, GV THCN: 14.000 người Số lượng nhà giáo nghỉ hưu hiện
có khoảng 1 triệu người Nếu so với số lượng giáo viên năm 1945 (4000GV) thì đội ngũ nhà giáo hiện nay tăng lên 250 lần Chính lực lượng này đãtạo điều kiện để đảm bảo cho số người đi học trong toàn quốc hiện nay lêngần 24 triệu người, tức là thường trực mỗi năm có 30% dân số đang đi học,
cố gằng làm tốt điều Bác Hồ luôn mong muốn đó là “ai ai cũng được họchành”
1.2 Về chất lượng.
Chất lượng giáo dục nước ta trong những năm đổi mới đang từng bước được cải thiện, lực lượng lao động được đào tạo đã và đang góp phần
Trang 25quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Học sinh, sinh viên được giáo dục toàn diện từng mặt trí, đức, thể, mỹ, kỹ năng nghề nghiệp Trong hầu hết các cuộc thi trí tuệ thế giới, học sinh Việt Nam luôn đạt các giải cao mang vinh quang về cho Tổ quốc
2 Những tồn tại.
- Về quy mô:
Cơ sở vật chất, đồ dùng giảng dạy chưa đáp ứng nhu cầu học tập vàgiảng dạy ngày càng cao của giáo viên và học sinh, sinh viên Quy mô giáodục đại học và trung học chuyên nghiệp còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được nhucầu học tập ngày càng cao của xã hội Giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số,miền núi, vùng khó khăn đang có dấu hiệu giảm sút cả về quy mô và chấtlượng
- Về chất lượng:
Chất lượng giáo dục nói chung còn nhiều yếu kém, bất cập; lối họckhoa cử vẫn còn nặng nề, nặng về truyền đạt kiến thức để đối phó với các kỳthi, chưa chú trọng đến xây dựng tư duy sáng tạo, trình độ ngoại ngữ, tin họcyếu, kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế, chưa chú trọng đúng mức việc giáodục đạo đức, lối sống, động cơ học tập cho học sinh, sinh viên
Chất lượng giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngànhgiáo dục- đào tạo trong thời kỳ mới Bên cạnh đó, đời sống giáo viên còngặp rất nhiều khó khăn, truyền thống tôn sư trọng đạo tốt đẹp ngàn đời naycủa dân tộc bị suy giảm Thêm vào đó là hệ thống các trường sư phạm cònyếu, chất lượng thấp, không thu hút được người tài
Bên cạnh đó ngành giáo dục còn có những hạn chế sau:
+ Cơ cấu giáo dục bất hợp lý
+ Quản lý giáo dục chậm chuyển biến, phân công, phân cấp tráchnhiệm, quyền hạn giữa các ngành các cấp chưa hợp lý
Trang 26+ Sử dụng và quản lý các nguồn đầu tư cho giáo dục kém hiệu quả,chưa thực sự tập trung vào những hướng ưu tiên.
+ Cán bộ quản lý giáo dục các cấp thiếu về số lượng và yếu về chấtlượng, ít được đào tạo, bồi dưỡng
- Nguyên nhân:
+ Bản thân ngành giáo dục chậm đổi mới về cơ cấu, hệ thống, mụctiêu, nội dung và phương pháp giảng dạy, chưa làm tốt chức năng tham mưu
và trách nhiệm quản lý Nhà nước
+ Các cấp Uỷ Đảng, các cơ quan Nhà nước và xã hội chưa nhận thứcđầy đủ vai trò, tác dụng của giáo dục- đào tạo, chưa kịp thời đề ra các chủtrương và giải pháp có hiệu quả để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục- đào tạo pháttriển Đôi khi những giải pháp được đề ra lại chỉ biến thành khẩu hiệu màkhông được thực hiện
+ Sự chậm đổi mới về tư duy giáo dục, coi trọng bằng cấp, lý thuyếtxuông, học không đi đôi với hành, phương pháp giảng dạy và học tập thụđộng là một trong những nguyên nhân quay ngược trở lại, dẫn tới sự chậmđổi mới về mặt tư duy
+ Kinh tế nước ta chậm phát triển, Ngân sách Nhà nước dành chogiáo dục- đào tạo có hạn, sử dụng chưa có hiệu quả, thất thoát lãng phí Bêncạnh đó dân số tăng nhanh cũng là một yếu tố gây trở ngại lớn cho sự pháttriển giáo dục đào tạo
+ Nguồn Ngân sách như đã nói ở trên là có hạn, thêm vào đó nguồnlực xã hội chi cho giáo dục chưa được huy động và tận dụng một cách triệt
để Nguồn vốn huy động được đầu tư chưa thực sự hợp lý Cơ chế sử dụngvốn chưa linh hoạt đây cũng là những nguyên nhân cơ bản dẫn tới nhữnghạn chế của ngành giáo dục- đào tạo hiện nay
Trang 27II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VIỆT NAM.
1 Sự cần thiết phải đầu tư phát triển ngành giáo dục đào tạo.
Ngành giáo dục - đào tạo muốn phát triển được và đáp ứng yêu cầucủa thời kỳ mới nhất thiết phải được đầu tư cả về sức người và sức của Cóthê hiểu đầu tư cho giáo dục - đào tạo là hành động bỏ tiền ra để tiến hànhhoạt động nhằm tạo tài sản mới cho nền kinh tế nói chung và cho ngành giáodục - đào tạo nói riêng Tài sản mới được tạo ra có thể là trình độ được nângcao của mọi đối tượng trong xã hội, từ đó tạo ra tiềm lực, động lực mới chonền sản xuất xã hội Như đã nêu trên, giáo dục - đào tạo chính là động lựcthúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinhtế- xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước Giáo dục - đào tạo vừa gắn với yêucầu phát triển đất nước, phù hợp với xu thế của thời đại - phát triển nền kinh
tế tri thức trên phạm vi toàn cầu, thực hiện giáo dục thường xuyên cho mọingười, hướng tới xây dựng một xã hội học tập suốt đời
Phát triển giáo dục chính là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài, đào tạo con người có văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghềnghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, sống lànhmạnh
Phát triển nguồn nhân lực(PTNNL) bao gồm cả về số lượng và chấtlượng dân số nhưng hiện nay chất lượng nguồn nhân lực là trọng tâm củaPPNNL nhất là đối với các nước đang phát triển với dân số đông và chấtlượng nguồn nhân lực thấp Nguồn vốn nhân lực này được tạo ra qua quátrình đầu tư vào nguồn nhân lực bao gồm đầu tư vào giáo dục và học tậpkinh nghiệm tại nơi làm việc, sức khoẻ và dinh dưỡng Thực tế đã cho thấy,lợi ích thu được từ việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực mà cụ thể là thôngqua giáo dục - đào tạo là rất lớn Trình độ nhân lực trung bình ở một nước
Trang 28cao hơn cho phép tăng trưởng kinh tế tốt hơn và điều chỉnh tốt hơn đối vớicác vấn đề dân số, kế hoạch hoá gia đình, môi trường và nhiều vấn đề khác.Tuy nhiên giáo dục nhìn từ góc độ PTNNL hẹp hơn so với giáo dục như mộtquá trình tồn tại trong xã hội Giáo dục bản thân nó là một quá trình đa mụctiêu và đào tạo nguồn nhân lực để cung cấp nguồn lao động có đủ kỹ năngcho công nghiệp hoá chỉ là một mục tiêu trong số các mục tiêu đó Khôngphải tất cả những gì thu được trong GD- ĐT đều nằm trong khuôn khổPTNNL PTNNL vừa rộng hơn và vừa hẹp hơn quá trình GD- ĐT Nhữngkiến thức và kinh nghiệm thu nhận được trong quá trình GD- ĐT và làm việckhông sử dụng cho quá trình sản xuất nằm ngoài phạm vi của PTNNL.Những kiến thức và kinh nghiệm này nằm trong một khuôn khổ khác liênquan tới một khái niệm rộng hơn là phát triển con người PTNNL là kháiniệm hẹp hơn so với phát triển con người Phát triển con người nhìn nhậncon người không chỉ từ góc độ là yếu tố đóng góp cho phát triển kinh tế xãhội mà còn từ khía cạnh thoả mãn và tiếp nhận các nhu cầu phát triển, giải trícủa riêng cá thể đó.
2 Xu hướng đầu tư phát triển giáo dục- đào tạo.
2.1 Sự thay đổi về quan niệm đối với giáo dục- đào tạo.
Nền văn hoá Á Đông là một nền văn hoá chịu ảnh hưởng sâu sắc của
hệ tư tưởng Nho giáo thời phong kiến, Việt Nam cũng không nằm ngoài quyluật đó Thời phong kiến, VN tiếp thu phương thức giáo dục của Trung Quốc(cũng theo Tam giáo, nhưng Nho giáo được đề cao hơn Phật giáo và Đạogiáo) Nền giáo dục đó đã đào tạo nên một tầng lớp trí thức quan lại phục vụ
xã hội phong kiến Tuy nhiên, nền giáo dục đó chỉ phù hợp với xã hội phongkiến, lấy kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc làm cơ sở.
Thực dân Pháp sang thống trị, đã cải biến nền kinh tế phong kiếnthành nền kinh tế thuộc địa, nửa phong kiến Những cuộc cải cách giáo dục
Trang 29của thực dân ban đầu bị tầng lớp sĩ phu Nho giáo kịch liệt phản đối Nhưngsau đó, một số sĩ phu tiến bộ đã nhận thấy muốn khôi phục lại nền độc lậpdân tộc thì phải mở mang dân trí, do đó các phong trào Duy tân, Đông Kinhnghĩa thục, Văn hoá mới, Truyền bá chữ quốc ngữ đã diễn ra ngày càngsôi nổi
Sau khi nước nhà giành được độc lập, chúng ta đã có một nền giáodục dân chủ nhân dân (với phương châm “dân tộc, khoa học, đại chúng”).Những thành công và đóng góp của ngành giáo dục trong sự nghiệp pháttriển kinh tế - xã hội là không thể phủ nhận, tuy vậy trong một thời gian dài,ngành giáo dục nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung đã vướng vào nhữngquan niệm giáo điều, những tư duy về giáo dục không còn phù hợp với sựtiến bộ của thời đại Học không đi đôi với hành, không gắn với thực tiễncuộc sống; đầu tư phát triển ngành giáo dục- đào tạo đã dần được chú trọngnhưng vẫn mang tính chủ quan, bỏ qua nhu cầu xã hội; bệnh thành tích tronggiáo dục; phương pháp giảng dạy học tập không theo kịp thời đại; bao cấpgiáo dục trong một thời gian dài dẫn đến sự ì trệ trong cả giảng dạy và họctập Kết quả là sản phẩm của ngành giáo dục hay chính là học sinh, sinhviên ra trường chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, không kiếm được việclàm vì tay nghề không đáp ứng được đòi hỏi của doanh nghiệp
Xác định được tính cấp thiết cần phải đổi mới quan niệm trong giáodục- đào tạo, Đại hội IX của Đảng đã xác định: “Mọi người được học, họcthường xuyên, học suốt đời, cả nước trở thành một xã hội học tập” Giáo dụckhông chỉ gồm giáo dục nhà trường mà cả giáo dục ngoài nhà trường, liênthông, liên kết với nhau trên nguyên tắc học thường xuyên, suốt đời, coi giáodục nhà trường giữ vai trò nòng cốt trong quá trình phát triển giáo dục Giáodục- đào tạo ngày nay gắn liền với phát triển nguồn nhân lực, đào tạo theonhu cầu xã hội, dần xoá bỏ cơ chế bao cấp đối với giáo dục đại học Mở
Trang 30rộng quy mô gắn liền với đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo,đảm bảo được những cân bằng động mới như: số lượng và chất lượng, yêucầu đầu tư và nguồn lực cần thiết (của Nhà nước và của xã hội) Xã hội họctập là mục tiêu của nền giáo dục mới và xã hội hoá giáo dục là một phươngtiện mạnh mẽ để thực hiện xã hội học tập
Bên cạnh đó, quan niệm mới coi giáo dục- đào tạo cũng là một ngànhdịch vụ với sản phẩm tri thức, có cầu và có cung đã và đang hình thành trênphạm vi toàn thế giới Cuộc tranh cãi “giáo dục có phải là hàng hoá” đãđược Chính phủ xác định bước đầu “chấp nhận cơ chế thị trường trong đàotạo ĐH thuộc các ngành kỹ thuật – công nghệ và dạy nghề” Ngành dịch vụgiáo dục - đào tạo ở trên một phương diện nào đó, dù muốn hay không cũngđang dần vận hành theo cơ chế thị trường và ở đây đầu tư có một vị trí và vaitrò rất lớn quyết định sức cạnh tranh của sản phẩm tri thức
2.2 Xu hướng đầu tư phát triển ngành giáo dục- đào tạo.
Xu hướng đầu tư phát triển ngành giáo dục đào tạo ở Việt Nam đang
đi dần vào quỹ đạo chung của thế giới, bên cạnh đó dựa trên cơ sở điều kiện thực tiễn của Việt Nam để có những bước phát triển và đầu tư thích hợp, phùhợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế Ta có thể tham khảo bảng dưới đây:
Bảng 3: Đặc trưng chủ yếu của 3 giai đoạn kinh tế
Đặc trưng
Kinh tế sức người
Kinh tế tài nguyên
Kinh tế tri thức 1.Tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học nhỏ lớn rất lớn
2 Tỷ lệ kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học trên
5 Tỷ lệ kinh phí dành cho giáo dục trên GDP <1% 2-3% 6-8%
6 Bình quân trình độ văn hoá tỷ lệ mù chữ trung học trung học
Trang 31cao chuyên
nghiệpThực tiễn cho thấy những nước có trình độ vốn nhân lực cao thường
có mức tăng trưởng cao Tuy nhiên, đằng sau các mức vốn nhân lực cao làcác chính sách đầu tư tích cực và giải pháp phát triển giáo dục hợp lý Ở cấp
độ các nước riêng lẻ, Nhật Bản và Hàn Quốc là những dẫn chứng tốt về sựđóng góp của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế Công dân và người dânHàn Quốc được đào tạo tốt, đồng đều nhờ tỷ lệ đi học cao ở tất cả các bậchọc Ngày nay, hầu như tất cả người trẻ tuổi Hàn Quốc tham gia thị trườnglao động đã học ở trường không ít hơn 12 năm Cùng với tăng trưởng kinh
tế, giáo dục được mở rộng ở mọi cấp bậc học và giáo dục sau trung học trởthành nền giáo dục đại chúng Việc mở rộng hệ thống giáo dục thực hiệnđược nhờ các chính sách đầu tư tích cực Chi tiêu Chính phủ cho giáo dụcchiếm trên dưới 20% ngân sách, song chỉ chiếm một phần ba chi tiêu toànquốc cho giáo dục, nghĩa là nguồn lực xã hội dành cho giáo dục được huyđộng là rất đa dạng, vai trò của tư nhân, và các tổ chức trong đầu tư pháttriển giáo dục được coi trọng
Điều quan trọng nhất trong thành công lâu bền của Nhật Bản có lẽ lànhững thay đổi thực sự cấp tiến trong hệ thống giáo dục Đầu thời kỳ MinhTrị, tỷ lệ biết chữ chỉ chiếm 15%, đến năm 1872 hệ thống giáo dục phổ cậptiểu học được thực hiện và giáo dục trung học được đạt nền móng phát triển.Hiện nay Nhật Bản trở thành một nước có nhận thức cao về giáo dục và códân chúng nằm trong tốp có học nhất thế giới Để đạt được điều này, NhậtBản đã đầu tư nhiều hơn bất cứ nước nào trong thời kỳ đó vào giáo dục
Xu hướng đầu tư phát triển giáo dục ở các nước có nền giáo dục tiêntiến có thể được tóm tắt ở mấy điểm chính sau: Duy trì vai trò quản lý vĩ môcủa Nhà nước trong phát triển giáo dục- đào tạo, đa dạng hoá nguồn vốn đầu
Trang 32tư phát triển giáo dục- đào tạo trong đó dần nâng cao tỷ trọng của các nguồnvốn ngoài NSNN, đa dạng hoá ngành nghề đào tạo theo nhu cầu xã hội Ởcác nước đang phát triển như Việt Nam, xu hướng đầu tư phát triển ngànhgiáo dục- đào tạo đang dần theo chiều hướng tích cực: Đó là: Nhà nước vẫnđóng vai trò chủ chốt trong huy động nguồn lực đầu tư phát triển ngành giáodục, đóng vai trò định hướng trong hoạt động đầu tư (phục vụ các mục tiêumang tính chiến lược, vĩ mô) Bên cạnh đó xu hướng đầu tư đang được điềuchỉnh theo quy luật thị trường (tuân theo quy luật giá trị, cạnh tranh, cung -cầu đặc biệt là giáo dục – đào tạo sau phổ thông, chuyển hướng từ đào tạotheo cái đã có sang “đào tạo theo nhu cầu”), xu hướng đầu tư vì lợi nhuận vàphi lợi nhuận đang đồng thời tồn tại và phát triển.
3 Hiện trạng đầu tư phát triển ngành giáo dục- đào tạo Việt Nam.
3.1 Cơ cấu đầu tư phát triển ngành giáo dục- đào tạo Việt Nam.
Giáo dục- đào tạo đã và đang đóng vai trò hết sức quan trọng, là độnglực thúc đẩy tăng trưởng, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xãhội Chính vì vậy đầu tư phát triển giáo dục đào tạo đóng vai trò hết sứcquan trọng đối với sự phát triển của đất nước nói chung và của ngành giáodục nói riêng Nguồn tài chính cơ bản dành cho giáo dục- đào tạo nước tagồm:
- Ngân sách Nhà nước (NSNN)
- Các nguồn vốn ngoài NSNN: thu từ học phí, phí, đóng góp xây dựngnhà trường và các đóng góp khác, các khoản thu từ nghiên cứu khoa học, laođộng sản xuất, làm dịch vụ, các khoản đóng góp tự nguyện từ các tổ chức kinh tế, xã hội và các nhà hảo tâm, nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức và các nhân cho giáo dục- đào tạo
Ta có thể thấy cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục- đào
Trang 33tạo thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 4: Nguồn vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo
(Nguồn: Bộ GD – ĐT và Ngân sách Nhà nước)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy vốn đầu tư phát triển giáo dục – đào tạoliên tục tăng qua các năm , nếu như năm 2001 tổng VĐT là 25882 tỷ đồngthì đến năm 2006 tổng VĐT đã tăng lên tới 78088 tỷ đồng (tăng gấp 3,02 lần
so với năm 2001), thể hiện mức độ quan tâm ngày càng lớn của xã hội dànhcho sự nghiệp giáo dục – đào tạo
Trang 34Cõ cấu nguồn vốn cho đầu tý phát triển GD - ĐT giai đoạn 2001-2006
59 59 61 61 60 59
41 41 39 39 40 41
0 10
là một nước kinh tế đang phát triển, đời sống người dân còn nhiều khó khăn
và để đảm bảo mức độ phổ cập cũng như các mục tiêu vĩ mô thì Nhà nướccần đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục- đào tạo, nhất làđối với giáo dục mầm non và phổ thông, bài toán đặt ra ở đây là làm thế nào
để sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả Tuy nhiên, tỷ lệ trên cũngphản ánh mức độ bao cấp còn tương đối lớn của NSNN và việc huy độngchưa hiệu quả đối với các nguồn lực khác trong đầu tư phát triển ngành giáodục- đào tạo
3.1.1 Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước (NSNN).
Cho đến thời điểm hiện nay, NSNN vẫn là nguồn tài chính chủ yếu đểphát triển ngành giáo dục – đào tạo ở nước ta Thực hiện chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội 10 năm 1991-2000, Nhà nước đã tăng đáng kể Ngânsách cho giáo dục – đào tạo Tỷ trọng chi cho giáo dục trong tổng chi Ngânsách Nhà nước đã tăng từ 8,9% năm 1990 lên 15% vào năm 2000 (chiếm 3%
Trang 35trong GDP) Tuy nhiên Ngân sách Nhà nước mới chỉ đáp ứng được 70% nhucầu tối thiểu của giáo dục Giai đoạn 2001-2010, tỷ trọng chi cho giáo dục –đào tạo trong tổng chi Ngân sách sẽ tăng lên, dự báo đến năm 2010 tỷ lệ chi
sẽ không dưới 20% Cũng theo Luật giáo dục năm 2005, Nhà nước dành ưutiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, đảm bảo tốc độ tăng chiNSNN cho giáo dục – đào tạo cao hơn tốc độ tăng NSNN hàng năm
Cùng với việc tăng NSNN, việc phân cấp quản lý Ngân sách giáo dụccũng đang được cải tiến từng bước Các biện pháp nhằm cải tiến cơ chế phân
bổ và điều hành ngân sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách giáodục – đào tạo cũng đang được xúc tiến NSNN được tập trung chủ yếu chocác bậc giáo dục phổ cập với mục đích đầu tư cải tạo, nâng cấp và mở rộngcác cơ sở giáo dục và đào tạo Thực hiện từng bước kiên cố hoá các trườnghọc, quan tâm nhiều hơn cho các vùng khó khăn và thường xuyên xảy rathiên tai, trong đó chú trọng đến đảm bảo đủ trường, lớp học từ nhà trẻ, mẫugiáo đến các trường phổ thông trung học cho vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, miền núi, vùng sâu, vùng xa Hiện đại hoá một số trường dạy nghề, tăngnhanh tỷ lệ lao động được đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội Tập trungđầu tư cho một số trường đại học trọng điểm, ưu tiên kinh phí cho việc đàotạo cán bộ khoa học, kỹ thuật ở nước ngoài Dành kinh phí để đào tạo cán bộtrình độ cao cho công nghệ thông tin, đào tạo nhân tài, cán bộ cho nhữngngành kinh tế mũi nhọn, cho đồng bào dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, NSNNcũng dành để đầu tư đổi mới nội dung, chương trình giáo dục, chất lượnggiáo dục, cung cấp đủ đồ dùng học tập và giảng dạy cho các trường tiểu học
và trung học cơ sở, phát triển các cơ sở đào tạo giáo viên, đảm bảo cả về sốlượng cũng như chất lượng giáo viên dạy học cho các trường phổ thông Để
cụ thể hơn về cơ cấu chi của NSNN cho hoạt động giáo dục – đào tạo qua
Trang 36các năm ta có thể xem xét bảng dưới đây:
1 Tổng chi NSNN cho GD - ĐT
- Tốc độ tăng
15.337 -
19.898 29,7
22.777 14,5
32.819 44,1
41.547 26,6
46.072 10,9 1.1 Chi thường xuyên
- Tốc độ tăng
- Tỷ trọng so với tổng NSNN
10.816 - 70,5
14.128 30,6 71,0
18.625 31,8 81,7
25.927 39,2 79,0
32.406 24,9 78,0
36.367 12,2 78,9 1.2 Chi đầu tư
- Tốc độ tăng
- Tỷ trọng so với tổng NSNN
4.521 - 29,5
5.770 27,6 29
4.152 -28 18,3
6.892 65,9 21
9.141 32,6 22
9.705 16,2 21,1
(Nguồn: Ngân sách Nhà nước)
Chi NSNN cho hoạt động giáo dục – đào tạo liên tục tăng qua các năm, nếu như năm 2001 là 15.337 tỷ đồng thì đến năm 2006 là 46.072 tỷ đồng (tăng gấp 3 lần) - tốc độ tăng là tương đối cao Mặc dù nền kinh tế nước ta còn kém phát triển, NSNN còn rất eo hẹp, song Ngân sách chi cho giáo dục – đào tạo qua các năm đều tăng Nếu như tỷ lệ phần trăm NSNN chi cho giáo dục năm 1998 chiếm 13,7 tổng chi NSNN thì đến năm 2005, tỷ
lệ này đã lên tới 18%, như vậy tốc độ tăng bình quân về tỷ lệ Ngân sách hàng năm khoảng 0,56%/năm Tuy nhiên tỷ lệ chi Ngân sách hàng năm tuy tăng song nếu tính đến các yếu tố như tỷ lệ trượt giá của đồng tiền và tốc độtăng học sinh quá nhanh kéo theo sự tăng lên số giáo viên, cán bộ quản lý thìtốc độ tăng Ngân sách đã không theo kịp tốc độ phát triển giáo dục
Nhìn vào bảng cơ cấu vốn cho đầu tư phát triển GD – ĐT ta thấy, Ngân sách chi cho hoạt động giáo dục – đào tạo ta thấy chi thường xuyên chiếm từ 70-80% Ngân sách, chi đầu tư chiếm từ 20-30% Ngân sách Ta có thể xem xét cụ thể cơ cấu chi NSNN bình quân cho hoạt động giáo dục – đào tạo qua biểu đồ sau:
Trang 37Cơ cấu chi NSNN cho GD - ĐT
73%
22%
chi đầu tư xây dựng cơ bản
chi chương trình mục tiêu quốc gia
Chi thường xuyên ở đây gồm 4 nhóm: Nhóm 1: chi cho con ngườigồm chi lương và phụ cấp lương cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục,nhân viên phục vụ; Nhóm 2: chi cho công tác hành chính quản lý; Nhóm 3:chi phí phục vụ giảng dạy học tập; Nhóm 4: Chi mua sắm sửa chữa nhỏ.Đứng trên góc độ tổng thể thì đây là một con số tương đối hợp lý Tuy vậy,qua công tác giám sát cho thấy, hiện nay tỷ lệ này ở nhiều địa phươngthường chi lương chiếm từ 85-95%; chỉ còn khoảng 5-10% chi công tácquản lý hành chính và các hoạt động giáo dục Như vậy, tỷ lệ chi cho côngtác dạy và học là rất nhỏ bé Ở một số nước phát triển như Anh, Pháp cơ cấuchi cho giáo dục với tỷ lệ chi cho lương và cho các hoạt động giáo dục là: ỞTiểu học 90/10; Trung học cơ sở 60/40; Trung học phổ thông 50/50 (50%chi lương và 50% chi cho các hoạt động giáo dục) Qua đó cho thấy chiNgân sách Nhà nước cũng cần có những điều chỉnh cơ cấu và mức tăng hợp
lý để phù hợp với tốc độ phát triển giáo dục
3.1.2 Nguồn vốn ngoài NSNN
Có thể nói nguồn vốn ngoài NSNN có vai trò ngày càng quan trọngđối với sự phát triển của ngành giáo dục – đào tạo, chính vì vậy việc huy
Trang 38động cao hơn nữa các nguồn tài chính ngoài NSNN đầu tư cho giáo dụcgồm: học phí, phí, đóng góp xây dựng trường và các đóng góp khác, cáckhoản thu từ nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, làm dịch vụ, cáckhoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức kinh tế, xã hội, các nhà hảo tâm,đầu tư của các doanh nghiệp cho giáo dục – đào tạo Nguồn vốn ngoàiNSNN có thể được chia thành:
a) Nguồn vốn trong nước: Gồm các khoản đóng góp của gia đình và
học sinh cho việc học tập Theo các kết quả nghiên cứu về chi phí của cha
mẹ học sinh ở các cấp bậc học cho thấy phần đóng góp của dân tính trên đầumột học sinh so với tổng chi phí chiếm 44,5% ở bậc tiểu học; 48,7% ở cấptrung học cơ sở; 51,5% ở cấp trung học phổ thông; 62,1% ở dạy nghề;32,2% ở trung học chuyên nghiệp và 30,7% ở bậc đại học và cao đẳng Bêncạnh đó các khoản thu khác cũng chiếm một vai trò khá quan trọng và đangnâng dần tỷ trọng, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Cácdoanh nghiệp hiện nay có nhu cầu rất cao về nguồn nhân lực, đặc biệt lànguồn nhân lực chất lượng cao Chính vì vậy, doanh nghiệp hiện nay khôngnhững đóng vai trò là khách hàng của ngành giáo dục mà còn trực tiếp thamgia vào công cuộc giáo dục Điển hình là một số doanh nghiệp tự mở trườngđào tạo nghề, hay hình thức liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp để đàotạo nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp
b) Nguồn vốn nước ngoài: Bao gồm nguồn viện trợ, vay nợ (ODA),
các khoản đầu tư trực tiếp của tổ chức và cá nhân nước ngoài cho phát triểngiáo dục – đào tạo Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn thì việchuy động nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước nói chung và phát triểnngành giáo dục – đào tạo nói riêng là hết sức cần thiết Chính vì vậy, Nhànước ta có chủ trương ưu tiên nguồn vay và hợp tác quốc tế dành cho giáo
Trang 39dục thông qua các dự án của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Pháttriển châu Á (ADB) và các tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phi chínhphủ nước ngoài Để mở rộng hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, các
cá nhân nước ngoài và Việt kiều nhằm khai thác mọi tiềm năng bên ngoài đểphát triển giáo dục Dự báo nguồn viện trợ và vay nợ trong giai đoạn 2001-
2010 chiếm khoảng 20% trong tổng chi NSNN cho giáo dục – đào tạo
Bên cạnh vai trò quan trọng của nguồn viện trợ và vay nợ (ODA) thìcác khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài vào giáo dục – đào tạo đang dần pháthuy tác dụng Theo như cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ chấp nhận thịtrường giáo dục, trước hết là đối với giáo dục đại học và dạy nghề Luật giáodục 2005 cũng nêu rõ các nhà đầu tư nước ngoài trong điều kiện cho phép cóthể được thành lập trường 100% vốn nước ngoài, cũng như chấp nhận cáchình thức liên doanh, liên kết trong hoạt động giáo dục – đào tạo Điều nàyvừa tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo, vừa tạo ramội trường cạnh tranh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo ở nước
1 Huy động từ dân đóng góp (năm 2005 chiếm 25%, năm
2010 chiếm 35% so với tổng chi NSNN cho giáo dục – đào
tạo)
2 Viện trợ, vay nợ (ODA), (khoảng 20% trong tổng chi
NSNN cho giáo dục – đào tạo)
3 Từ các nguồn khác (các doanh nghiệp đóng góp, dịch vụ
của nhà trường, ) (khoảng 10% so với tổng chi NSNN cho giáo dục và đào tạo)
Trang 403.2 Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo Việt Nam.
Giáo dục và đào tạo hiện nay đang là quốc sách hàng đầu trong chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và rất nhiều các quốc gia trênthế giới Làm thế nào để có được một nền giáo dục tiên tiến, theo kịp sự pháttriển của thời đại? Đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo thế nào để đảmbảo mối cân bằng động giữa quy mô và chất lượng, sử dụng vốn sao cho hợp
lý, đạt hiệu quả cao, tránh thất thoát lãng phí vốn, Tất cả những vấn đề nàyluôn là mối quan tâm của toàn xã hội và của những người tâm huyết với nềngiáo dục nước nhà Thời gian qua hoạt động đầu tư phát triển giáo dục – đàotạo ngày càng được chú trọng Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao:7-8%/năm, Việt Nam đã có những bước tiến dài trong tiến trình phát triểnkinh tế - xã hội Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nền kinh tế luônđược tái đầu tư với tổng VĐT toàn xã hội luôn ở mức 35-36%GDP/năm.Đây cũng là điều kiện thuận cho việc huy động vốn đầu tư phát triển giáodục – đào tạo
Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo
180.400 10,34
217.600 20,62
258.700 18,89
324.000 25,24
398.900 23,12
2 VĐT cho giáo dục – đào tạo
- Tốc độ tăng
25.882 -
34.088 31,7
37.552 10,2
54.223 44,4
68.968 27,2
78.088 13,2 3.Tỷ trọng VĐT
giáo dục – đào tạo/VĐT toàn xã hội
(Nguồn: Ngân sách Nhà nước)