Việt Nam đã nỗ lực gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này. Trong quá trình đàm phán với các đối tác thì vấn đề đặt ra là sự hoàn thiện hệ thống pháp luật hòa hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch, rõ ràng. Trong đó, có hệ thống pháp luật về kinh doanh thương mại đó là sự ra đời của Luật dân sự 2005, Luật thương mại 2005.
Trang 1Mở đầu
Việt Nam đã nỗ lực gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và chính thứctrở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này Trong quá trình đàm phán với các đối tácthì vấn đề đặt ra là sự hoàn thiện hệ thống pháp luật hòa hợp với thông lệ quốc tế vàđáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch, rõ ràng Trong đó, có hệ thống pháp luật vềkinh doanh thương mại đó là sự ra đời của Luật dân sự 2005, Luật thương mại 2005
Nó đã mở ra những điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanhđược dễ dàng hơn, thể hiện mọi cá nhân, tổ chức có quyền tự do kinh doanh nhưngkhông trái với các quy định của pháp luật Cùng với qúa trình tự do kinh doanh buônbán giữa các cá nhân, tổ chức vấn đề nảy sinh ra là vi phạm, tranh chấp xảy ra cũngnhiều Do đó, có thể nói trong thực tế nó thể hiện rõ nhất bằng thực tiễn giao kết, cũngnhư trong quá trình thực hiện hợp đồng luôn nảy sinh những vấn đề rắc rối do nhiềunguyên nhân khác nhau làm cho việc giao kết, thực hiện hợp đồng hoặc thanh lý nó trởlên khó khăn, trong nhiều trường hợp dẫn đến tranh chấp phải đưa đến các cơ quanpháp luật hoặc cơ quan trọng tài giải quyết
Do vậy, trong quá trình thực tập tại công ty Gạch ốp lát Hà Nội, em đã đi sâuvào tìm hiểu vấn để hợp đồng nói chung cũng như hợp đồng đại lý nói riêng tại công
ty Qua quá trình phân tích, tìm hiểu từ thực tiễn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
đã được học và nghiên cứu trong chuyên ngành luật kinh doanh Em đi sâu nghiên cứu
đề tài: Pháp luật về hợp đồng đại lý và thực tiễn áp dụng tại Công ty Gạch ốp lát Hà Nội Kết cấu nội dung đề tài gồm 3 chương:
- Chương I Cơ sở pháp lý của hợp đồng đại lý.
- Chương II Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng đại lý tại Công ty.
- Chương III Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý và một số kiến nghị.
Trang 2Chương I Cơ sở pháp lý của hợp đồng đại lý.
I Khái quát chung về hợp đồng.
1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng.
1.1 Khái niệm
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụpháp lý Trong xã hội loài người mọi hoạt động giao lưu với nhau giữa các cá nhân, tổchức đều thông qua sự trao đổi, thỏa thuận đó xác lập các quyền và nghĩa vụ nhằm thỏamãn các nhu cầu, lợi ích của các bên tham gia mối quan hệ đó và được thể hiện cụ thểdưới hình thức pháp lý là hợp đồng
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên bình đẳng với nahu, làm phát sinh, thayđổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ pháp luật nhất định
1.2 Đặc điểm
Địa vị pháp lý
Nhìn chung trong một quan hệ hợp đồng thì xét về mặt địa vị pháp lý bình đẳngtức là các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng đều có năng lực hành vi dân sự, không bịtruy cứu trách nhiệm hình sự, không bị Tòa án tước quyền hành nghề Hoặc nếu không
có năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì khi tham gia quan hệpháp luật có người đại diện hoặc người giám hộ thì quan hệ pháp luật được chấp nhân
Nó là điều kiện quan trọng về mặt chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật để
từ đso có thể tránh được các rủi ro pháp lý trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng
Sự thỏa thuận
Hợp đồng luôn luôn phải biểu hiện sự thỏa thuận giữa các bên, bình đẳng vớinhau Quá trình hình thành hợp đồng thực chất là quá trình mà các bên bàn bạc, thươnglượng đi đến thỏa thuận do đó cho thấy các bên tự do bày tỏ các quan điểm của mình,đưa ra các ý kiến bày tỏ để đi đến thỏa thuận về ý chí của các bên
Hợp đồng bao giờ cũng thể hiện đúng, trung thành ý chí của các bên, nếu có yếu
Trang 3một hướng khác, ép buộc nhau thì không được công nhân Sự thỏa thuận trong hợpđồng không được trái với pháp luật, đạo đức xã hội.
Hình thức hợp đồng, có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành
vi cụ thể Khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng mộthình thức nhất định.Có thể nói, pháp luật đã để cho các chủ thể khi tham gia quan hệpháp luật có thể tự lựa chọn hình thức nào là hợp lý, thuận lợi cho quá trình giao kết,nhưng cũng tránh những rủi ro pháp lý xảy ra như vi phạm, tranh chấp Ngoài ra, hìnhthức của hợp đồng còn được áp dụng bằng các thói quen, tập quán, thông lệ dữ liệu.Trong đó, thói quen là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp đi lặplại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận
đề từ đó xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Khi thói quen đượcthừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực,
có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của cácbên
Quyền và nghĩa vụ của các bên Các bên trong hợp đồng bao giờ cũng có nhữngquyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng là do các bênthỏa thuận Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng không được tráipháp luật, đạo đức xã hội Quyền và nghĩa vụ của các bên có thể được quy định trongluật hoặc là những điều khoản mà các bên có thể thỏa thuận để cho hợp đồng thêm cụthể, rõ ràng, do đó nó được pháp luật công nhận và bảo vệ, có giá trị pháp lý Hợp đồngđược pháp luật công nhận, các bên phải thực hiện nó Tuy nhiên nếu một bên khôngthực hiện hoặc đơn phương không thực hiện thì khi đó các bên sẽ tự thương lượng, hòagiải trước khi quá muộn cần có sự can thiệp của pháp luật đó là giải quyết tranh chấpxảy ra bằng con đường Tòa án, Trọng tài.Tóm lại trong quan hệ pháp luật quyền củabên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại, nó tạo ra quan hệ ràng buộc giữa các bêntrong quan hệ pháp luật
Trang 42 Phân loại hợp đồng.
Nếu nhìn trên tổng thể các mối quan hệ trong xã hội, các giao dịch rất đa dạng, phụthuộc vào mục đích, lợi ích mối quan hệ mà các chủ thể tham gia giao dịch đó mongmuốn Từ đó, phân biệt các loại hợp đồng người ra phân ra một số nhóm các loại hợpđồng có những đặc trưng khác nhau, chủ yếu khác nhau về các đối tượng và chủ thểcủa loại hợp đồng đó, có những hình thức hợp đồng khác nhau
2.1 Theo tính chất, nghĩa vụ của các bên.
Đó là việc xác lập nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng do đó chủ yếu chiathành các loại hợp đồng chủ yếu, theo điều 406 Bộ luật dân sự 2005:
- Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau
- Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ
- Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ
- Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính
- Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồngđều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa
- Hợp đồng ngay giá là hợp đồng mà trong đó một bên thực hiện nghĩa vụ nào đóbao giờ cũng biết được quyền tương ứng của mình nhận được
- Hợp đồng không ngay giá là hợp đồng mà trong đó một bên thực hiện nghĩa vụnào đó không biết trước được mình sẽ nhận được là bao nhiêu
- Hợp đồng thương lượng là hợp đồng chỉ hình thành khi hai bên có trao đổi, bànbạc với nhau
Trang 5- Hợp đồng không thương lượng là hợp đồng trong đó một bên không có điều kiện
để thương lượng, bày tỏ ý kiến của mình, trong đó điều kiện của hợp đồng là có sẵn domột bên đưa ra, bên kia chỉ có quyền đồng ý thì ký, không đồng ý thì không xác lậphợp đồng
2.2. Theo các lĩnh vực điều chỉnh của pháp luật.
+ Hợp đồng dân sự
Theo điều 388 Bộ Luật dân sự 2005 thì hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữacác bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.Hình thức giaokết: điều 401 Bộ Luật dân sự 2005
Hình thức được giao kết bằng lời nói, được thực hiện chủ yếu qua sự tín nhiệmgiao dịch được thực hiện ngay hoặc những giao dịch đơn giản, có tính phổ thông, đốitượng giao dịch có giá trị thấp như: mua thực phẩm để tiêu dùng Ở hình thức này nộidung của hợp đồng thường được hiểu như đã thành thông lệ, tập quán có sẵn, việc traođổi thỏa thuận chủ yếu là giá cả của đối tượng giao dịch
Hình thức giao kết xác lập bằng văn bản, được thể hiện chủ yếu ở những giaodịch phức tạp, đối tượng của hợp đồng có giá trị lớn hoặc do pháp luật quy định phảithực hiện bằng văn bản như mua bán nhà ở, xe máy, vay tiền ở các tổ chức tín dụng,bảo hiểm…(nhưng không có mục đích lợi nhuận)
Tuy nhiên nếu các bên không công chứng hoặc chứng thực thì hợp đồng vẫn cógiá trị pháp lý và không bị coi là vô hiệu trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.Ngoài ra, nếu pháp luật có quy định bắt buộc phải công chứng, chứng thực thì đó làđiều kiện nhằm làm cho hợp đồng có giá trị pháp lý cao
Hình thức giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể Thông thường đây là mộtdạng quy ước đã hình thành trên cơ sỏ thông lệ mà các bên đã mặc nhiên chấp nhận
Nội dung hợp đồng dân sự, khi hợp đồng dân sự dự kiến hình thức nào đều phảibảo đảm có những điều khoản quy định các nội dung chủ yếu, cơ bản, mà nếu thiếu thìkhông thể giao kết được Tuy nhiên, tùy từng loại hợp đồng có những hợp đồng nội
Trang 6dung chủ yếu do văn bản pháp luật quy định cụ thể đó là việc đưa ra các hợp đồng mẫu
đã được các cơ quan pháp luật đưa ra, điều này rất dễ để cho các doanh nghiệp đó đếnviệc giải quyết các giấy tờ có liên quan trong việc thỏa thuận Ngoài ra, nếu pháp luậtkhông quy định cụ thể thì các bên thỏa thuận về nội dung chủ yếu của hợp đồng nhưngchủ yếu có các nội dung (theo điều 402 Bộ Luật dân sự 2005):
- Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc được làm;
- Số lượng, chất lượng;
- Giá, phương thức thanh toán;
- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
- Quyền, nghĩa vụ của các bên;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
- Phạt vi phạm hợp đồng;
- Các nội dung khác;
Với các nội dung trên thì các bên có thể thoả thuận thêm các điều khoản phụ Ví
dụ như phụ lục hợp đồng Tuy nhiên các quy định điều khoản thêm đó không được tráivới pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội
Theo điều 408 Bộ Luật dân sự 2005 quy định về phụ lục hợp đồng thì: kèm theohợp đồng có thể có phụ lục để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng Phụlục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng Nội dung của phụ lục hợp đồng không đượctrái với nội dung của hợp đồng Trong trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản tráivới nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừtrường hợp có thoả thuận khác Trong trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng
có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợpđồng được sửa đổi
+ Hợp đồng kinh doanh thương mại đó được coi là hoạt động mà các bên trongquan hệ hợp đồng đều nhằm mục đích lợi nhuận, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng
Trang 7dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác( theo điều 3 Luật thương mại 2005).
Về hình thức: hợp đồng kinh doanh thương mại nói chung giống như của hợpđồng dân sự Hai bên giao kết bằng các tài liệu như công văn, điện báo, đơn chào hàng,đơn đặt hàng Ngoài ra, Luật thương mại 2005 đã có quy định rõ ràng cụ thể trongkhoản 3 điều 3: thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõràng được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên,được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tronghợp đồng thương mại
Khoản 4 điều 3 Luật thương mại 2005 thì tập quan thương mại là thói quenđược thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc mộtlĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền vànghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Ngoài ra, khoản 15 điều 3 Luậtthương mại 2005 quy định thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định củapháp luật: thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra gửi đi, nhận và lưu giữ bằngphương tiện điện tử ví dụ như gửi Email, Fax…Do đó nó đã tạo ra sự thoả thuận lợicho việc trao đổi buôn bán, mà hiện nay với sự phát triển mạnh của công nghệ thôngtin đã tạo ra những giá trị gia tăng mới để cho các bên có thể thoả thuận với nhau chỉcần vài thao tác trên bàn phím,sử dụng internet để trao đổi mua bán với nhau
Về nội dung, hợp đồng kinh doanh thương mại cũng giống như hợp đồng dân sự Tuynhiên, do đặc thù là hàng hoá dịch vụ có số lượng, khối lượng lớn nên tính chất phứctạp hơn đòi hỏi ngoài các nội dung cơ bản thì cụ thể hoá chi tiết hoá các thoả thuậnthường sẽ do hai bên thoả thuận và đưa ra các nội dung của hợp đồng nhiều hơn, đòihỏi chặc chẽ hơn, chính xác hơn mà nó thể hiện như sau: chất lượng, chủng loại, quycách, tính đồng bộ của sản phẩm, hàng hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật của công việc
Do đó, có thể phâm biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh doanh thương mại cầnchú ý ba đặc điểm:
Trang 8- Chủ thể việc các chủ thể xác lập quan hệ trong một hợp đồng có thể giúp phânbiệt đâu là hợp đồng dân sự đâu là hợp đồng kinh doanh thương mại.
- Mục đích lợi nhuận: căn cứ vào mục đích của việc ký hợp đồng có hay không cólợi nhuận(hay mục đích lợi nhuận) có thể giúp phân biệt được hợp đồng dân sự và hợpđồng kinh doanh thương mại Chủ thể hợp đồng dân sự là mọi cá nhân, tổ chức còn đốivới hợp đồng kinh doanh thương mại thì là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh
- Về mục đích giao dịch: hợp đồng dân sự không có mục đích lợi nhuận còn hợpđồng kinh doanh thương mại nếu có mục đích kinh doanh là có lợi nhuận như vậy khitham gia hợp đồng thương mại thì cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận, còn tròng hợpđồng dân sự thì chỉ có một bên mang tính lợi nhuận còn một bên thì không hoặc cả haibên đều không có mục đích lợi nhuận
+ Hợp đồng lao động, là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụnglao động về việc làm có trả lương, điều kiện lao động quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
Nó thể hiện sự thoả thuận tự nguyện giữa người lao động và người sử dụng lao độngđây là đặc điểm chung của các loại hợp đồng
Hợp đồng lao động được ký kết bằng văn bản và phải được làm thành hai bảnmỗi bên giữ một bản, đối với một số công việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới
ba tháng, công việc có tính chất giúp việc gia đình các bên có thể giao kết bằng miệngnhưng các bên phải tuân theo các quy định của pháp luật lao động Nội dung của hợpđồng lao động chủ yếu là:
- Công việc phải làm;
- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
- Tiền lương, địa điểm làm việc;
- Thời hạn hợp đồng, điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động;
- Các chế độ BHXH, BHYT, chế độ nghỉ ốm đau, chế độ đãi ngộ (du lịch, khen,thưởng);
Trang 9- Trách nhiệm của các bên mà người lao động phải đảm nhiệm theo nghề chuyênmôn một chức trách nhất định.
Trên đây cho thấy rõ hợp đồng lao động có đặc điểm riêng biệt so với các hợpđồng dân sự và hợp đồng kinh doanh thương mại Đó là hàng hoá ở đây là sức lao độngcủa người lao động, giá cả đó là tiền lương, tiền công mà người lao động và người sửdụng lao động thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức quy định tối thiểu do Nhànước quy định là 450.000 đồng/tháng Không những đủ để cho người lao động bù đắpnhu cầu cần thiết cho cơ thể do việc mất năng lượng đã bỏ ra cho công việc đó mà cònphải có những nhu cầu tích luỹ khác cho bản thân ngoài nhu cầu cần thiết (ăn ở, mặc)
đó là ngoài những chi phí sinh hoạt thiết yếu mà một con người phải có
Sau đây, vấn đề đại lý được đề cập phân tích qua các nguồn như sau:
Đại lý theo từ điển Hán - Việt: đại lý là từ Hán- Việt có nguồn gốc là từ tiếnghán Trong tiếng Hán “đại” có nghĩa là “thay thế”; “lí” có nghĩa là quản lý, thu xếp,xử
lý “đại lý” là hoạt động trong đó một người nhận uỷ thác của người khác, thay mặt cho
họ để tiến hành một hoạt động nhất định
Từ điển tiếng việt giải thích các hoạt động,trong đó một người thay mặt ngườikhác để làm một việc được gọi là đại lý Theo nghĩa này, từ đại lý và đại diện có cùngnghĩa, vì vậy theo nghĩa phổ thông thì khó có thể phân biệt hoạt động đại lý với hoạtđộng đại diện cũng như khó phân biệt hoạt động đại lý thương mại với hoạt động đạidiện thương mại.Trong thực tế, có nhiều loại hoạt động mà có một người được uỷ
Trang 10quyền thay mặt người khác để hành động nhưng với danh nghĩa khác nhau, họ có thểnhân danh người uỷ quyền nhưng họ cũng có thể nhân danh chính mình để hành động.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, đại lý được hiểu là quan hệ pháp lý, trong đómột bên uỷ thác cho bên kia thay mình thực hiện việc quản lý một số công việc thườngdùng trong hoạt động mua bán, giao dịch hoặc xử lý các công việc theo sự uỷ thác củađơn vị sản xuất, thương nghiệp So với “đại diện”, “đại lý” có nhiều nét giống nhưngcũng có những điểm khác “Đại lý” chỉ được sử dụng trong lĩnh vực thương mại và chỉxuất hiện trên cơ sở hợp đồng còn “đại diện” có thể xuất hiện trên cơ sở hợp đồng hoặctrên cơ sở pháp luật Trong quan hệ pháp lí, người đại diện hoạt động nhân danh người
cử đại diện còn người đại lý hoạt động nhân danh chính mình vì quyền lợi của người
uỷ thác Như vậy, từ điển bách khoa Việt Nam đã phân biệt tương đối rõ hoạt động đại
lý với hoạt động đại diện
Dưới phương diện kinh tế, “đại lý”là phương thức kinh doanh, một cách thức tổchức mạng lưới kinh doanh, mạng lưới phân phố (tiêu thụ) hàng hoá, dịch vụ của các
cơ sở kinh doanh Trong phương thức kinh doanh đại lý, người bán và mua không trựctiếp quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau mà phải thông qua ngườitrung gian (bên đại lý ) Bên đại lý là cầu nối để phân phối các sản phẩm hàng hoá,dịch vụ của bên giao đại lý cho người thứ ba Đây là phương thức kinh doanh màngười thực hiện dịch vụ (bên đại lý ) mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mạitrên cơ sở uỷ quyền của người khác
Dưới phương diện pháp lí, khái niệm “đại lý”thương mại chỉ được ghi nhận tạiđiều 166 Luật thương mại 2005 : “ đại lý thương mại là hoạt động thương mại theo đóbên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bánhàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho kháchhàng để hưởng thù lao
Định nghĩa đại lý thương mại theo Luật thương mại 2005 đã thể hiện rõ đại lýthương mại là hoạt động dịch vụ thương mại dưới hình thức thuê và nhận làm dịch vụ
Trang 11mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ trong đó bên giao đại lý là bên có nhu cầumua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ nhưng không trực tiếp thực hiện công việcnày mà uỷ quyền cho một bên khác (bên đại lý) thay mặt mình mua bán hàng hoá hoặccung ứng dịch vụ hộ mình Đại lý thương mại là khái niệm có ngoại diên bao gồmnhiều đại lý trong nhiều lĩnh vực như đại lý mua bán hàng hoá, đại lý cung ứng các loạidịch vụ bảo hiểm, quảng cáo, du lịch, vận tải, bưu chính, viễn thông…
Khi thực hiện hoạt động, bên đại lý là chủ thể trung gian nhận sự uỷ quyền củabên giao đại lý để mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ với bên thứ ba, vì lợi íchcủa bên giao đại lý và được hưởng thù lao Do đó, trong hoạt động đại lý thương mạitồn tại hai nhóm quan hệ: quan hệ giữa bên giao đại lý và bên đại lý; quan hệ giữa bênđại lý và bên thứ ba
Quan hệ giữa bên giao đại lý và bên đại lý là nhóm quan hệ quan trọng nhất, bởi
nó là cơ sở để tạo ra và duy trì hoạt động đại lý Quan hệ này phát sinh trên cơ sở hợpđồng đại lý Các chủ thể của hợp đồng đại lý phải có tư cách thương nhân- tổ chức kinh
tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thườngxuyên và có đăng ký kinh doanh Ngoài ra, trong một số lĩnh vực đặc thù, đỏi hỏi bênđại lý phải đáp ứng những điều kiện khác để đảm bảo hiệu quả của việc thực hiện dịch
vụ cho bêng giao đại lý Ví dụ, trong hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan, theo Nghịđịnh của Chính phủ số 79/2005/NĐ-CP ngày 16/6/2005, bên đại lý hải quan ngoài điềukiện phải là thương nhân còn phải có đầy đủ 3 điều kiện khác, đó là: có ngành nghềkinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hoặc dịch vụ khai thuêhải quan ghi trong giấy đăng ký kinh doanh; có ít nhất một nhân viên đại lý hải quan(người này phải đáp ứng các điều kiện quy định tại điều 3,4 Nghị định này); đáp ứngđiều kiện nối mạng máy tính với cơ quan hải quan để thực hiện thủ tục hải quan điện tửtại các cục hải quan tỉnh, thành phố đã thực hiện thủ tục hải quan điện tử
Quan hệ giữa bên đại lý và bên thứ ba không được quy định cụ thể, rõ ràngtrong chế định đại lý thương mại hiện hành Tuy nhiên, căn cứ vào khái niệm đại lý
Trang 12thương mại trong Luật thương mại 2005 có thể thấy để thực hiện việc uỷ quyền củabên giao đại lý, bên đại lý (bên trung gian) sẽ nhân danh mình để mua bán hàng hoáhoặc cung ứng dịch vụ với bên thứ ba nên sẽ tự chịu trách nhiệm với bên thứ ba Đây làđiểm cơ bản để phân biệt hoạt động đại lý thương mại với hoạt động thương mại hiệnhành Đạidiện cho thương nhân khác với đại diện cho thương mại ở chỗ trong hoạtđộng đại diện cho thương nhân, thương nhân đạidiện(bên trung gian) thực hiện cáchoạt động thương mại với bên thứ ba trong phạm vi đại diện theo danh nghĩa củathương nhân giao đại diện chứ không nhân danh chính mình.
Quan hệ giữa bên đại lý và bên thứ ba là quan hệ mua bán hàng hoá hoặc quan
hệ cung ứng dịch vụ phát sinh trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc hợp đồngcung ứng dịch vụ Chủ thể tham gia quan hệ này một bên (là bên đại lý) phải là thươngnhân còn bên kia (bên thứ ba) không nhất thiết phải là thương nhân Quan hệ này sẽchịu sự điều chỉnh bởi quy định pháp luật về mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ
Theo quy định của Luật thương mại 2005, đại lý thương mại có phạm vi hoạtđộng rất rộng, bao gồm hoạt động đại lý được thực hiện trong nhiều lĩnh vực hoạt độngthương mại đó là: mua bán hàng hoá cho bên giao đại lý và các hoạt động đại lý cungứng dịch vụ của bên giao đại lý cho bên thứ ba như đại lý bảo hiểm, đại lý du lịch lữhành…Như vậy, Luật thương mại 2005 đã mở rộng phạm vi hoạt động đại lý chứkhông bó hẹp ở hoạt động đại lý mua bán hàng hoá như quy định tại Luật thương mại
1997 Mặt khác, phạm vi của hoạt động đại lý mua bán hàng hoá được mở rộng hơn sovới Luật thương mại 1997, bởi khái niệm hàng hoá trong Luật thương mại 2005 cũng
đã mở rộng, theo đó đại lý mua bán hàng hoá không chỉ giới hạn ở hoạt động đại lýmua bán máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, nhà ở dùng để kinh doanhdưới hình thức cho thuê, mua, bán, mà bao gồm hoạt động đại lý mua bán các loạiđộng sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai
Trang 13I.2 Đặc điểm
Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức có giá trịpháp lý tương đương (điều 168 Luật thương mại 2005 ) Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sunghợp đồng đại lý chỉ có hiệu lực khi được các bên chấp nhận và lập thành văn bản, hìnhthức khác có giá trị pháp lý tương đương Đối với những thỏa thuận miệng hoặc thôngqua hành vi thực tế về vấn đề đại lý Mua bán hàng háo không có giá trị pháp lý
Chủ thể của quan hệ hợp đồng đại lý là thương nhân Cả hai bên đại lý và bêngiao đại lý đều phải là thương nhân được phép kinh doanh mặt hàng dự định làm đại lýmiễn là mặt hàng đó không bị pháp luật cấm kinh doanh và nếu là các mặt hàng cần cóđiều kiện trong khi hoạt động để làm đại lý như các tiêu chuẩn môi trường, phốngchống cháy nổ.Nếu trong hợp đồng mà một bên thương nhân không đăng ký kinhdoanh mặt hàng đó, thì hợp đồng đại lý tuy đã được giao kết song không có hiệu lựcpháp lý vì nó đã đi trái với Luật thương mại Đó là các bên trong kinh doanh thươngmại đều là các bên có mục đích lợi nhuận
Quyền và nghĩa vụ của các bên Bên giao đại lý có quyền lựa chọn các hình thứcđại lý, có quyền ấn định giá mua, đối với việc bán hàng hóa thì bên gioa đại lý cóquyền ấn định mức giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ đại lý cho khách hàng, ấnđịnh giá giao đại lý Giá giao đại lý là giá tối thiểu hoặc tối đa là bên giao đại lý đưa racho bên đại lý khi thực hiện đại lý mua, bán, cung ứng dịch vụ Có nghĩa vụ phảihướng dẫn, cung cấp thông tin, hỗ trợ bên đại lý thực hiện dịch vụ đồng thời với nghĩa
vụ này là quyền được kiểm tra, giám sát và yêu cầu cung cấp thông tin về hoạt độngđại lý và quá trình thực hiện hợp đồng của bên đại lý
Nếu trong hợp đồng đại lý có thỏa thuận về việc bên đại lý thực hiện một sốbiện pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật như cầm cố, thế chấp, ký quỹ…thì bêngiao đại lý được nhận ký quỹ tài sản hoăc giấy tờ về tài sản thế chấp của bên đại lý.Khi kết thúc hợp đồng đại lý, bên giao đại lý phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bên đại lýtiền ký quỹ tài sản hoặc giấy tờ về tài sản thế chấp đó
Trang 14Bên giao đại lý được quyền yêu cầu bên đại lý thanh toán tiền hoặc giao hàngtheo hợp đồng đại lý, đồng thời phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại
lý mua bán, chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ, nếu bên đại lý không cólỗi, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Trong trường hợp bên đại lý có hành vi
vi phạm pháp luật mà nguyên nhân của hành vi vi phạm đó có một phần lỗi của bêngiao đại lý thì bên giao đại lý phải liên đới chịu trách nhiệm
Bên giao đại lý phải có nghĩa vụ trả thù lao cho bên đại lý, thời hạn và cách thứcxác định, phương thức thanh toán thù lao do các bên thỏa thuận Nếu các bên khôngthỏa thuận khác thì thù lao đại lý được trả cho bên đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặcchênh lệch giá (điều 171luật thương mại 2005) Trường hợp bên giao đại lý ấn địnhmức giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng (bên đại lý) nếu bên giaođại lý không ấn định mức giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ mà chỉ đưa ra mức ấnđịnh giá giao đại lý cho bên đại lý thì mức chênh lệch giá được xác định mà bên đại lýnhận là giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng so nhưng với giá dobên giao đại lý ấn định cho bên đại lý Trường hợp không có sự thỏa thuận về mức thùlao đại lý thì mức thù lao được tính là mức thù lao thực tế mà các bên được trả trước
đó, trường hợp không có mức thù lao thực tế trả trước đó thì thù lao đại lý là mứctrung bình được áp dụng cho cùng loại hàng hóa dịch vụ mà bên giao đại lý trả cho đại
lý khác Trong cả hai trường hợp này đều không áp dụng được thì mức thù lao đại lý làmức thù lao thông thường được áp dụng cho cùng loại hàng hóa, dịch vụ trên thịtrường Việc thanh toán thù lao được tiến hành theo từng đợt sau khi bên đại lý hoànthiện việc cung ứng dịch vụ cho khách hàng, mua hoặc bán một khối lượng hàng hóaxác định
Quyền và nghĩa vụ của bên đại lý: Bên đại lý là thương nhân tiến hành dịch vụđại lý mua bán hàng hóa, dịch vụ Bên đại lý có quyền giao kết hợp đồng đại lý vớimột hoặc nhiều bên giao đại lý, đây là quyền lựa chọn đối tác trong hoạt động thươngmại Như vậy, bên đại lý có quyền giao kết hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa, cung
Trang 15ứng dịch vụ với nhiều bên giao đại lý trong đó quyền và lợi ích của các bên giao đại lý
có thể thống nhất như một bên giao đại lý mua, một bên giao đại lý bán hoặc có thể có
sự cạnh tranh lẫn nhau như cùng giao đại lý mua, bánm thậm chí đối với nhiều bêngiao đại lý của một mặt hàng Đây chính là cơ sở để tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh,đây cũng là đặc điểm phân biệt với hợp đồng đại diện thương nhân Tuy nhiên theokhoản 7 điều 175 Luật thương mại 2005 thì trường hợp pháp luật có quy định cụ thể vềviệc bên đại lý chỉ được giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý đối với mộtloại hàng hóa, dịch vụ nhất định thì phải tuân thủ quy định của pháp luật đó
Bên đại lý phải có nghĩa vụ bảo quản hàng hóa nhận từ bên giao đại lý số lượng,chất lượng, quy cách hàng hóa sau khi nhận đối với đại lý hoặc trước khi giao với đại
lý mua theo hợp đồng đại lý Đồng thời bên đại lý cũng có yêu cầu bên giao đại lý vềviệc hướng dẫn, cung cấp thông tin, các điều kiện có liên quan cho việc thực hiện hợpđồng đại lý, báo cáo tình hình hoạt động, phát triển những sản phẩm nào có xu hướngphát triển và được người tiêu dùng lựa chọn, từ đó vừa tạo ra sự sáng tạo cho bên giaođại lý đồng thời tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa hai bên trong quá trình hợp tác hai bênđều có lợi, yêu cầu về thù lao, các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hoạt động đại lýmang lại và chịu trách nhiệm trước bên đại lý và trước pháp luật về việc thực hiện hợpđồng đại lý có thể theo đợt, theo khối lượng hàng xác định hoặc theo một khối lượngdịch vụ nhất định
2 Các loại hợp đồng đại lý.
Theo điều 169 Luật thương mại 2005 thì hợp đồng đại lý gồm các loại:
+ Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọnvẹn một khối lượng hàng hóa hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý.Trong trường hợp này mức thù lao được hưởng là mức chênh lệch giữa giá mua, giábán, giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng so với giá do bên giao đại lý ấn định chobên đại lý Có thể nói hình thức này thì bên đại lý có thể ấn định quyền quyết định giá
Trang 16mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng trên cơ sở giá giao dịch đại lý màbên giao đại lý đã ấn định.
+ Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực đại lý nhất định bêngiao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứngmột hoặc một số loại dịch vụ nhất định Đây thường áp dụng cho những mặt hàng cótính chất điạ lý ví dụ như nước mắm Phú Quốc…Các loại mặt hàng này đã có chỗđứng trên thị trường và thương hiệu của họ đã được người tiêu dùng chấp nhận rồi thìviệc đại lý độc quyền sản phẩm đó lại tăng thêm tính nâng cao chất lượng, đánh giáthương hiệu cao hơn cho sản phẩm đó
+ Đại lý hoa hồng: là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua bánhàng hóa theo giá mua bán do bên đại lý ấn định để được hưởng hoa hồng Mức hoahồng được tính theo tỷ lệ phần trăm do các bên thỏa thuận trên giá mua, giá bán hànghóa đó
+Tổng đại lý mua bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bênđại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán, cung ứng dịch
vụ cho bên giao đại lý Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc Các đại lýtrực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý
Ở Việt Nam hiện nay phải kể đến đó là G7Mark, HaproMark đó là các thương hiệu lớn
có kênh phân phối lớn trên cả nước bằng việc huy động tất cả hàng hóa của các doanhnghiệp vào kênh phân phối của họ, giúp cho hàng hóa trong nước có vị trí, chỗ đứngtrong người tiêu dùng Với việc là thành viên thứ 150 của WTO thì việc có các doanhnghiệp, cá nhân, tổ chức lập ra các kênh phân phối là một điều kiện rất quan trọng, nótạo ra thế và lực mới cho các doanh nghiệp của Việt Nam trước yêu cầu cạnh tranh đốivới các hàng hóa, dịch vụ của các nước trên thế giới tràn vào Việt Nam, thì cùng vớithời gian, việc đưa các sản phẩm vào kênh phân phố đến người tiêu dùng đã nhận rõgiá trị của hàng hóa “người Việt dùng hàng Việt”
Trang 173.Giao kết hợp đồng đại lý.
3.1.Nguyên tắc
Theo điều 389 Bộ Luật dân sự 2005 nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự:
+ Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
+ Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thươngmại (điều 10 Luật thương mại 2005) Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bìnhđẳng trước pháp luật trong hoạt động thươngmại
Nguyên tắc tự do, tự nguyên thỏa thuận trong hoạt động thương mại (điều 11Luật thương mại 2005) quy định: các bên có quyền tự do thỏa thuận không trái với cácquy tắc, quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội để xác lập cácquyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại, nhà nước tôn trọng và bảo
vệ các quyền đó Trong hoạt động thương mại các bên hoàn toàn tự nguyện, không bênnào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào
Điều 12 , 15 Luật thương mại 2005 có quy định như sau: nguyên tắc áp dụngthói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên trừ trường hợp cóthỏa thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt độngthương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đó đã biết hoặc phải biếtnhưng không được trái với quy định của pháp luật
Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại: trường hợp pháp luậtkhông có quy định, các bên không có thỏa thuận và không có thói quen đã được thiếtlập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái pháp luật vànhững nguyên tắc quy định trong Luật thương mại và trong Bộ Luật dân sự 2005
Nguyên tắc bảo hộ quyền lợi, lợi ích chính đáng của người tiêu dùng: Trườnghợp thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực chongười tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm vềtính chính xác của các thông tin đó Ví dụ Vinamilk đưa ra sản phẩm sữa tươi tiệt trùng
Trang 18đã được các báo đăng tức là có hành vi lừa dối khách hàng đưa ra những thông tin chưachính xác về sản phẩm đó Và nhà sản xuất Vinamilk đã phải đưa ra những lời xin lỗiđối với người tiêu dùng và sửa chữa sản phẩm đó ngay lập tức vì người tiêu dùng đã bỏtiền ra thì họ phải được chăm sóc tốt về chất lượng sản phẩm đó vừa phải thông tinđúng mà còn đúng với túi tiền họ bỏ ra.Thương nhân thực hiện hoạt động thương mạiphải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mà minhkinh doanh.
Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt độngthương mại Trong hoạt động thương mại các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện,tiêu chuẩn, kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lýtương đương với văn bản Đó cũng là xu hướng tất yếu của quá trình hội nhập kinh tếquốc tế đó là xu thế cho phép việc mở rộng hóa sự công nhận nhiều hơn trong quá trìnhgiao kết giữa các bên từ đó tạo ra sự thuận lợi cho hàng hóa, dịch vụ trở nên phát triểnhơnm đồng thời tạo cho nền kinh tế mở tiến tới một nền kinh tế thị trường
3.2 Chủ thể.
Để xem xét một thỏa thuận có phải là hợp đồng kinh doanh thương mại haykhông thì việc trước tiên là phải xác định một bên trong quan hệ hợp đồng đó có phải
là thương nhân hay không, sau đó mới xem đến đối tượng của hợp đồng
Điều 6 Luật thương mại 2005 quy đinh: thương nhân bao gồm tổ chức kinh tếđược thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thườngxuyên và có đăng ký kinh doanh Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trongcác ngành nghế, tại các địa bàn dưới các hình thức và theo các pháp luật phương thức
mà pháp luật không cấm Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhânđược nhà nước bảo hộ Đăng ký kinh doanh là điều kiện bắt buộc được công nhận làthương nhân, nó là nghĩa vụ của thương nhân Thương nhân là cá nhân thì cá nhân đóphải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Đó là khả năng của cá nhân bằng hành vi củamình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa cụ dân sự (điều 17 Bộ Luật dân sự 2005); được
Trang 19hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên như một nghề Thương nhân là
cá nhân bao gồm:
- Cá nhân kinh doanh;
- Doanh nghiệp tư nhân
Trong lĩnh vực hoạt động thương mại, do thương nhân phải chịu trách nhiệmđầy đủ về hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau đây không được côngnhận là thương nhân:
- Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lực hành vidân sự người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm dân sự, người đang phải chấp hành hìnhphạt tù;
- Người đang trong thời gian bị Tòa án tước quyền hành nghề vì các tội buônlậu, đầu cơ, buôn bán hàng cấm, hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế,lừa dối khách hàng, và các tội khác theo quy định của pháp luật
Thương nhân là tổ chức: trong hoạt động thương mại, thương nhân là tổ chức làchủ thể chủ yếu Trong hoạt động kinh doanh thương mại, tổ chức kinh tế được thànhlập hợp pháp nhằm mục đích hoạt động kinh doanh thương mại một cách độc lập,thường xuyên, có đăng ký kinh doanh được coi là thương nhân Có thể hiểu tổ chứckinh tế trước hết phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân trong quá trình hoạt độngthương mại và hoạt động một cách độc lập, thường xuyên Một tổ chức được côngnhân là pháp nhân khi có đủ các điều kiện quy định tại điều 84 Bộ Luật dân sự 2005:
- Được thành lập hợp pháp;
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisản đó;
- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập;
Theo điều 100 Bộ Luật dân sự 2005 thì thương nhân gồm các loại:
Trang 20- Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân;
để hoạt động thương mại mới trở thành thương nhân Pháp nhân là tổ chức kinh tế baogồm:
- Doanh nghiệp nhà nước;
- Hợp tác xã;
- Công ty TNHH
- Công ty cổ phần;
- Công ty hợp danh
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Các tổ chức kinh tế khác có đủ các điều kiện theo quy định là pháp nhân
3.3 Trình tự, thủ tục.
Đề nghị giao kết hợp đồng
Là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghịnày của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể (Theo khoản 1 điều 390 BộLuật dân sự 2005) Như vậy, đơn chào hàng về bản chất là một đề nghị giao kết hợpđồng cho thấy quá trình sửa đổi luật của nước ta như Bộ Luật dân sự, Luật thương mại
2005 đã đi gần sát với Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế Cụ thể theođiều 14 của Công ước thì chào hàng là : “đề nghị về việc ký kết hợp đồng được gửiđích danh cho một hoặc một vài người được gọi là đơn chào hàng, nếu đề nghị đó đã rõ
Trang 21ràng và thể hiện ý định đặt quan hệ trong trường hợp được sự chấp thuận của ngườichào hàng.”
Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời,nếu bên
đề nghị lại giao kết hợp đồng với bên thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trảlời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợpđồng nếu có thiệt hại phát sinh (theo khoản 2 điều 390) Nhưng bên được đề nghị phảichứng minh được thiệt hại phát sinh đó là thực tế làm gây ra hậu quả lớn đến việc giaokết hợp đồng
Những nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng có thể hình dung đó phải rõ ràng
để bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể hình dung được ngay và hiểu rõ mongmuốn giao kết hợp đồng của bên đề nghị giao kết hợp đồng Khi đó, bên được đề nghịgiao kết hợp đồng phải chịu sự ràng buộc bởi những nội dung đã đề nghị và khôngđược thay đổi nội dung đó nếu bên được đề nghị đã đồng ý Nếu có sửa đổi đề nghị thìđược coi là đề nghị mới Yếu tố bắt buộc có tính đặc trưng của một đề nghị giao kếthợp đồng là việc chuyển đề nghị cho một hoặc nhiều người đã được xác định Đề nghị
đó phải rõ ràng, xác định một cách trực tiếp, gián tiếp, số lượng, giá cả, thủ tục Vì vậy,
đề nghị giao kết hợp đồng khác với quảng cáo mua bán hàng hóa ở chỗ, nếu như đềnghị giao kết hợp đồng chuyển cho một hoặc nhiều người xác định, trong một thời giannhất định thì quảng cáo mua bán hàng hóa lại có thể chuyển đến nhiều người khôngxác định
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Là sự trả lời của bên được đề nghị cho bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộcác nội dung đã nêu trong đề nghị giao kết hợp đồng Như vậy, chấp nhận đề nghị giaokết hợp đồng chỉ có giá trị khi đó là hành vi mang tính tích cực của các đối tác tronggiao dịch Không thể coi là bên được đề nghị giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời đềnghị trong khi họ không có biểu hiện nào ra bên ngoài để cho người đề nghị biết làmình đồng ý với toàn bộ đề nghị giao kết hợp đồng Thời hạn trách nhiệm của bên đề
Trang 22nghị bắt đầu từ thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng được chuyển đi cho bên được đềnghị đến hết thời hạn ghi trong đề nghị giao kết hợp đồng.
Thời điểm giao kết hợp đồng
Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong việckhẳng định sự tồn tại của hợp đồng, là cơ sở để xác định phát sinh quyền và nghĩa vụcủa các bên trong hợp đồng Có thể sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là trong trường hợpphát sinh các tranh chấp về hợp đồng hoặc phát sinh trách nhiệm từ hợp đồng nếu nhưkhông xác định được thời điểm ký kết hợp đồng
Thời điểm giao kết hợp đồng được xác định như sau: hợp đồng được giao kếtvào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết Hợp đồng cũng xemnhư được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu
có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết Thời điểm giao kết hợp đồngbằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản
Như vậy, việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng trong trường hợp giao dịchtrực tiếp bằng văn bản khá đơn giản Vì khi đó các bên cùng có mặt tại nơi giao kếthợp đồng và trực tiếp ký vào hợp đồng Tuy nhiên, đối với trường hợp giao dịch giántiếp thì việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng phức tạp hơn nhiều Hợp đồng đại lýđựoc coi là đã giao kết kể từ thời điểm bên đề nghị nhận được thông báo chấp nhậntoàn bộ các điều kiện ghi trong đề nghị trong thời hạn do ngưòi đề nghị đưa ra trong đềnghị Đối với các giao kết hợp đồng gián tiếp, khi các bên không cùng có mặt để ký kếtthì hợp đồng đại lý sẽ có hiệu lực khi có đủ hai điều kiện sau: bên đề nghị nhận đượcthông báo chấp nhận toàn bộ các điều kiện ghi trong đề nghị giao kết hợp đồng và chấpnhận đề nghị đó phải được nhận trong thời hạn trả lời do người đề nghị đưa ra
3.4 Nội dung
Nội dung của hợp đồng là tất cả những gì mà các bên thoả thuận và pháp luậtquy định đối với hợp đồng Một hợp đồng sẽ có giá trị pháp lý khi thoả mãn tối thiểunhững điều kiện về nội dung mà pháp luật quy định Khi thiếu một trong các nội dung
Trang 23đó thì hợp đồng không thể phát sinh hiệu lực Trong thực tế, hậu quả xấu xảy ra xuấtphát từ việc các bên trong hợp đồng quy định không rõ ràng hoặc không đầy đủ nhữngnội dung của hợp đồng dẫn tới khi có tranh chấp xảy ra, các bên sẽ không có chứng cứhoặc chứng cứ không rõ ràng và những thiệt hại không cần thiết có thể xảy ra đối vớitất cả các bên mà không thể lường trước được Theo quy định của pháp luật, các bên cóthể thoả thuận các nội dung sau:
Đối tượng hợp đồng
Trong hợp đồng, đối tượng của hợp đồng là một hàng hoá nhất định Đây là điềukhoản cơ bản cảu hợp đồng mà khi thiếu nó hợp đồng không thể hình thành được dongười ta không thể hình dung được các bên tham gai hợp đồng nhằm mục đích trao đổicái gì Đối tượng của hợp đồng đại lý được xác định thông qua tên gọi của hàng hoá.Trong hợp đồng đại lý các bên có thể ghi rõ tên hàng bằng tên thông thường, tênthương mại, tên khoa học…để tránh có sự hiểu sai lệch về đối tượng hợp đồng
Giá cả hàng hoá
Trang 24Các bên có quyền thoả thuận giá cả và phải được ghi cụ thể trong hợp đồnghoặc nếu không ghi cụ thể thì phải xác định rõ phương pháp xác định giá, vì đây làđiều khoản quan trọng trong các cuộc thương lượng để đi đến ký kết hợp đồng Đểmang lại lợi ích cho cả hai bên, các bên cũng có thể thoả thuận với nhau lựa chọn hìnhthức giảm giá phù hợp ghi trong hợp đồng như giảm giá do giao hàng sớm, do mua với
số lượng nhiều và quy định rõ mức giảm giá
Phương thức thanh toán
Phương thức thanh toán là cách thức mà bên mua và bên bán thoả thuận, theo đóbên mua phải thanh toán cho bên bán tiền hàng đã mua theo một phương thức nhấtđịnh Có nhiều phương thức thanh toán nhưng việc lựa chọn phương thức nào cũngxuất phát từ yêu cầu của người bán là thu tiền nhanh, đầy đủ và yêu cầu của người mua
là nhận được hàng đúng số lượng, chất lượng, thời hạn như đã thoả thuận và không córủi ro trong thanh toán Việc lựa chọn phương thức thanh toán trong hợp đồng đại lýhoàn toàn phụ thuộc vào sự thoả thuận giữa các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng Sựlựa chọn phương thức thanh toán cũng căn cứ vào mức độ an toàn của phương thứcthanh toán và phí tổn cho việc thanh toán
Thời hạn và địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
Thời hạn thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian mà bên bán phải hoàn thànhnghĩa vụ giao hàng cho bên mua theo đúng đối tượng của hợp đồng, đúng địa điểm đãthoả thuận trong hợp đồng Bên mua có nghĩa vụ phải nhận hàng đúng thời hạn và địađiểm và trả tiền cho bên bán Các bên có thể thoả thuận với nhau về thời hạn giao hàngsao cho hợp lý căn cứ vào tình hình thực tiễn, khả năng thực hiện của mỗi bên Địađiểm giao hàng có thể do hai bên thoả thuận, phù hợp với điều kiện thực tế, thuận tiện
và có lợi cho cả hai bên Khi thoả thuận cần thoả thuận cụ thể địa chỉ giao hàng, bảođảm nguyên tắc phù hợp với khả năng đi lại của phương tiện vận chuyển, bảo đảm antoàn cho phương tiện
Quyền và nghĩa vụ của các bên
Trang 25Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý do các bên thoả thuận.Trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác thì quyền và nghĩa vụ của các bênđược thực hiện theo các quy định của Bộ Luật dân sự 2005 và Luật thương mại 2005.
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Các bên có thể thoả thuận về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Bên vi phạm cóthể bị buộc phải thực hiện đúng hợp đồng đó là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên viphạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thựchiện và bên vi phạm phải chịu chi phí để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phảichịu chi phí phát sinh
Bên vi phạm cũng có thể bị buộc phải bồi thường thiệt hại đã gây ra và bị phạt
vi phạm trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo yêu cầucủa bên bị vi phạm Trường hợp bên bị vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiệnđúng hợp đồng trong thờii hạn mà bên bị vi phạm ấn định thì bên bị vi phạm được ápdụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình
Phạt vi phạm hợp đồng
Phạt vi phạm hợp đồng là một chế tài trong thương mại Theo đó, bên bị viphạm yêu cầu bên vi phạm phải trả một khoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồngnếu trong hợp đồng có thoả thuận Như vậy, trong trường hợp các bên không có thoảthuận về việc phạt vi phạm hợp đồng thì bên bị vi phạm không có quyền yêu cầu bên viphạm hợp đồng phải trả cho mình một khoản tiền phạt nhất định với lý do bên kia đã viphạm hợp đồng Các bên có thể thoả thuận về các trường hợp được miễn trách nhiệmđối với hành vi vi phạm Khi các bên có thoả thuận về việc phạt vi phạm hợp đồng màthuộc các trường hợp được miễn trách nhiệm thì thoả thuận ấy không có giá trị Nghĩa
là bên bị vi phạm không thể viện lý do rằng bên kia vi phạm để yêu cầu bồi thườngtrong những trường hợp như vậy
Trang 26Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều
vi phạm do các bên thoả thuạn trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị nghĩa vụhợp đồng vi phạm
Những thoả thuận khác
Ngoài những nội dung trên, các bên cũng có thể thoả thuận các điều khoản khác, cụ thểhơn để làm rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên Ví dụ như thoả thuận về bao bì, mẫumã,…
3.5 Hình thức của hợp đồng.
Hình thức của hợp đồng là cách thể hiện ý chí thoả thuận giữa các bên tham giaquan hệ hợp đồng Nó được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lậpbằng hành vi cụ thể Đối với cá loại hợp đồng mà pháp luật quy định phải được lậpthành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó
Các hình thức hợp đồng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp cho các bên tham giaquan hệ hợp đồng có thể lựa chọn hình thức phù hợp nhất bảo đảm quyền lợi của mình.Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên với nhau, cho nên về mặt nguyên tắc nó khôngcần đến hình thức tồn tại nhất định Nhưng dưới góc độ pháp lý, việc tuân thủ hìnhthức của hợp đồng sẽ là bắt buộc khi pháp luật có sự ghi nhận vấn đề đó với mục đíchhạn chế các rủi ro cho các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng
3.6 Căn cứ.
Hoạt động thương mại phải tuân thủ Luật thương mại và pháp luật có liên quan.Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định củaluật đó Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trongcác luật khác thì áp dụng quy định của Bộ Luật dân sự 2005
Ngoài ra thì có thể áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thươngmại quốc tế Trường hợp điều ước quốc tế mà CH XHCH Việt Nam là thành viên cóquy định khác với quy định của Luật thương mại thì áp dụng quy định của điều ướcquốc tế
Trang 27đó cho bên nhận thế chấp Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản
có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp
Trong trường hợp thế chấp một phần động sản, bất động sản có vật phụ thì vậtphụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác Tài sản thế chấp
do bên thế chấp giữa các bên có thể thoả thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thếchấp Việc thế chấp quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ
Trang 28điều 715 đến điều 721 của bộ luật này và các quy định khác với pháp luật có liên quan.Hình thức thế chấp tài sản phải đựoc lập thành văn bản, văn bản thế chấp phải đượccông chứng, chứng thực hoặc đăng ký.
+ Đặt cọc (điều 358 Bộ Luật dân sự 2005)
Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền bạc hoặc kim khí quý,
đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong thời hạn để bảođảm giao kết và thực hiện hợp đồng dân sự Việc đặt cọc phải lập thành văn bản Nếuhợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặcđược trừ đề thực hiện nghĩa vụ trả tiền, nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiệnhợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc Nếu bên nhân đặt cọc từ chốiviệc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và mộtphần khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có quy định khác
+ ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoảntiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác ( sau đây gọi là tài sản ký cược)trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê trong trường hợp tài sản thuêđược trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trừ tiền thuê, nếu bênthuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê, nếu tài sảnthuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê
+ Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quýhoặc vật có giá trị khác vào tài khoản phong toả lại một ngân hàng để bảo đảm việcthực hiện nghĩa vụ dân sự Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặcthực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹ thanhtoán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ ngânhàng Thủ tục gửi và thanh toán do pháp luật về ngân hàng quy định
+ Bảo lãnh là việc người thứ ba ( sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên
có quyền ( sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ( sau đây gọi là bên được bảo lãnh) Nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không
Trang 29thực hiện đúng nghĩa vụ, các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phảithực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ củamình Hình thức bảo lãnh phải được lập thành văn bản.
Bộ Luật dân sự 2005 thể hiện quan điểm về việc cầm cố, thế chấp tuy có hạnchế một số quyền của bên cầm cố, bên thế chấp đối với tài sản bảo đảm nhưng không
vì thế mà làm đình trị hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của họ Từ đó, một
số quy định quyền và nghĩa vụ cảu cá bên đã được sửa đổi cơ bán với Bộ Luật dân sự1995
5 Sửa đổi,chấm dứt hợp đồng đại lý.
Hợp đồng đại lý chấm dứt trong các trường hợp sau (điều 424 Bộ Luật dân sự2005) :
5.1 Hợp đồng đã được hoàn thành
Khi các bên tham gia hợp đồng đã thực hiện xong toàn bộ nôi dung nghĩa vụ thìhợp đồng được coi là đã hoàn thành Trong hợp đồng đại lý nếu khi bên đại lý bán đãbán một số lượng hàng theo thoả thuận, đã cung ứng dịch vụ được một khối lượng xácđịnh theo thoả thuận, đã giao hàng hoặc tiền cho bên giao đại lý và nhận thù lao từ bêngiao đại lý thì hợp đồng được coi là đã hoàn thành Khi đó hợp đồng đại lý được coi làchấm dứt
5.2 Theo thoả thuận của các bên
Hợp đồng đại lý cũng đựơc coi là chấm dứt khi hết thời hạn mà các bên thoảthuận ghi trong hợp đồng Trong trường hợp này, hợp đồng được coi là chấm dứt màkhông phụ thuộc vào việc các bên trong hợp đồng đại lý đã thực hiện xong toàn bộ nộidung nghĩa vụ ghi trong hợp đồng hay chưa
Trong trường hợp hợp đồng còn hiệu lực mà các bên có nghĩa vụ không có khảnăng thực hiện được hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ hoặc nếuviệc thực hiện hợp đồng không còn có lợi hoặc gây ra tổn thất về mặt vật chất cho các
Trang 30bên thì các bên có thể thoả thuận chấm dứt hợp đồng Hợp đồng đại lý sẽ chấm dứt khicác bên đạt được sự thoả thuận về vấn đề đó.
5.3 Hợp đồng bị huỷ bỏ, đơn phương chấm dứt thực hiện
Các bên có quyền thoả thuận về điều kiện huỷ bỏ hợp đồng Khi có điều kiệntheo thoả thuận hoặc pháp luật có quy định thì một bên trong quan hệ hợp đồng cóquyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợpđồng Tuy nhiên khi huỷ bỏ hợp đồng cần phải lưu ý, bên hủy bỏ hợp đồng phải cónghĩa vụ thông báo ngay cho bên kia biết về việc huỷ bỏ Trong trường hợp bên huỷhợp đồng thông báo chậm hoặc không thông báo về việc huỷ bỏ hợp đồng cho bên kiabiết, mà gây thiệt hại cho bên kia, thì phải bồi thường thiệt hại Khi hợp đồng bị huỷ
bỏ, thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên hoàn trả cho nhautài sản đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền Bên cólỗi trong việc hợp đồng bị hủy phải bồi thường thiệt hại
Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồithường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng, mà việc vi phạm đó là điều kiện đểchấm dứt hợp đồng, do các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định Nếu các bênkhông có thoả thuận khác thì thời hạn đại lý chỉ chấm dứt sau một thời gian hợp lýnhưng không sớm hơn 60 ngày kể từ khi một trong hai bên thông báo bằng văn bản chobên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý Nếu bên giao đại lý thực hiện thông báochấm dứt hợp đồng theo quy định nêu trên thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại
lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mình làm đại lý cho bên đại lý đó, trừtrường hợp các bên có thoả thuận khác Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thùlao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lýcho bên giao đại lý Trong trường hợp thời gian đại lý dưới 1 năm thì khoản bồi thườngđược tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý Nếu hợpđồng đại lý đựơc chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý không có
Trang 31quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mình đã làm đại lý cho bêngiao đại lý.
6 Giải quyết tranh chấp hợp đồng đại lý.
Khi phát sinh một vụ việc vi phạm hợp đồng thì vấn đề mâu thuẫn và tranh chấp
là không thể tránh khỏi, vấn đề là chỗ xử lý như thế nào có lợi nhất cho các bên hoặccho bản thân mình bằng các biện pháp thích hợp nhất, phù hợp nhất với pháp luật
Để có thể xử lý có hiệu quả các vi phạm hợp đồng khi xảy ra, tùy theo tính chất
sự việc, có thể tiến hành một hoặc các biện pháp sau:
6.1 Thương lượng - hòa giải
Việc thương lượng- hòa giải nhìn chung luôn được khuyến khích khi xảy ra bất
cứ một vụ tranh chấp hợp đồng nào nhằm giải quyết một cách nhẹ nhàng nhất vụ việc.Việc thương lượng hòa giải có thể do các bên chủ động gặp gỡ nhau để giải quyếtnhưng nhiều trường hợp phải do Tòa án hoặc cơ quan Trọng tài thương mại hòa giải.Nhìn chung thương lượng- hòa giải nếu đạt được kết quả thì sẽ có nhiều lợi ích cho cácbên như không phải nộp án phí, rút ngắn thời gian thực hiện hợp đồng…và làm hàilòng các bên tranh chấp
Thông thường việc thương lượng- hòa giải chỉ đạt kết quả do thiện chí của cácbên và chủ yếu việc vi phạm, tranh chấp là do nguyên nhân khách quan hoặc vì hiểulầm hay hiểu không đầy đủ nội dung hợp đồng
Một vấn đề cần lưu ý có tính nguyên tắc là bất kỳ một việc vi phạm hoặc tranhchấp hợp đồng nào cũng cần tiến hành biện pháp thương lượng hòa giải trước, bởi vìnếu bỏ qua biện pháp này thì có nghĩa là đã bỏ qua một cơ hội tốt mà không có mộtbiện pháp nào có thể hiệu quả hơn
6.2 Đơn phương hủy bỏ hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng.
Đây là biện pháp bất đắc dĩ sau khi đã thương lượng hòa giải không được nhưngnhằm hạn chế hoặc không để gây ra hậu quả xấu hơn nếu tiếp tục thực hiện hợp đồngtrong khi phía bên kia không chấp dứt việc vi phạm hợp đồng hoặc thiếu thiện chí để
Trang 32giải quyết hậu quả của việc vi phạm hợp đồng Tuy nhiên cũng cần hết sức cân nhắcthận trọng để tránh nóng vội không cần thiết.
Lưu ý, trong trường hợp bắt buộc phải áp dụng biện pháp này mà gây ra thiệt hại
cho bên vi phạm hợp đồng thì không phải bồi thường thiệt hại cho họ Đây cũng đượccoi là hậu quả mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu
6.3 Yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài thương mại giải quyết
Nói chung nếu việc tranh chấp xuất phát từ hợp đồng mà các bên không tự giảiquyết được thì nên yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài thương mại giải quyết( chỉ áp dụngtrong trường hợp tranh chấp hợp đồng kinh doanh – thương mại giải quyết để bảo vệquyền lợi cho mình trong thời hạn luật định)
Việc yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài thương mại giải quyết là biện pháp cần thiết
và hữu hiệu khi không còn biện pháp nào có thể làm thay đổi được tình hình bởi các
cơ quan này, nhất là Tòa án, là cơ quan có thẩm quyền ra các phán quyết bảo vệ cácquyền, lợi ích hợp pháp của bên vi phạm các phán quyết này có hiệu lực pháp lý cao và
có tính bắt buộc
Khi yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài thương mai giải quyết thì các bên phải tuânthủ quy trình tố tụng chặt chẽ do pháp luật quy định đối với từng loại tranh chấp
6.4 Yêu cầu cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét khởi tố vụ án hình sự
Đây là biện pháp cứng rắn được áp dụng nếu bên đối tác có dấu hiệu chiếmđoạt tài sản khi ký kết hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng bằng hành vi lừa đảohoặc lạm dụng tín nhiệm
Việc lừa đảo được thể hiện qua thủ đoạn gian dối với ý định trước khi ký kết,thực hiện hợp đồng Thông qua việc ký kết hợp đồng có tính chất gian dối của một bên
đã thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của đối tác
Đối với việc lạm dụng tín nhiệm thì các thủ đoạn và ý định chiếm đọat xảy rasau khi ký kết hợp đồng hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng
Nếu có đủ cơ sở xác định có tội phạm xảy ra thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát sẽ khởi
tố, truy tố và đưa ra xét xử tại Tòa án và buộc người chiếm đoạt tài sản phải chịu hìnhphạt và phải trả lại hoặc bồi thường những tài sản bị chiếm đoạt, những thiệt hại chongười bị hại
Trang 33Chương II.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng đại lý
tại công ty
I Vài nét khái quát về công ty.
1 Qúa trình hình thành và phát triển của công ty Gạch ốp lát Hà Nội.
Công ty gạch ốp lát Hà Nội tièn thân là xí nghiệp gạch ngói HữuHưng,
trực thuộc liên hiệp các xí nghiệp Sành sứ thủy tinh, được thành lập tháng 6/1959 theoquyết định số 094A/BXD- TCLĐ ngày 29/3/1993 của Bộ xây dựng và theo căn cứ Nghịđịnh số 15/CP ngày 04/03/1994 của chính phủ về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơcấu tổ chức của BXD.Theo quyết định số 280/QĐ- BXD quyến định đổi tên công tygốm xây dựng Hữu Hưng thành tên mới công ty Gạch ốp lát Hà Nội
Tên doanh nghiệp : Công ty Gạch ốp lát Hà Nội
Tên giao dịch quốc tế : Ha Noi Ceramic Tiles Company
Địa chỉ : Trung Hoà- Cầu Giấy- Hà Nội
Quan hệ Việt- Mỹ đã được thiết lập trở lại tạo cho nền Kinh tế đang trong giaiđoạn phát triển nên tạo ra cho các doanh nghiệp của nước ta nói chung cũng như chocông ty gạch ốp lát Hà Nội nói riêng về những cơ hội và thách thức