Mục đích nghiên cứu: Luận giải cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh, phân tích khả năng cạnh tranh của công ty trước các đối thủ hiện tại và tương lai, Từ đó, có những đề nghị về phương hướng phát triển và giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 1Lời mở đầu
Sau hơn 20 năm đổi mới, đặc biệt là trong xu thể hội nhập kinh tếquốc tế có thể thấy sự phát triển mạnh mẽ của tất cả mọi lĩnh vực, mọi ngành,nghề của đât nước Mức tăng trưởng kinh tế liên tục tăng cao, GDP ngày càngcao, khối lượng đóng góp của các ngành nghề vào GDP ngày càng lớn và theo
xu hướng giảm dần tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọngcủa ngành công nghiệp và dịch vụ
Chúng ta đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO Điều này đã mở
ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp bưu chính viễn thông Việt Nam nóiriêng và thành phần kinh tế khác nói chung với thị trường rộng mở, đầu tưnước ngoài sẽ tốt hơn nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức để cácdoanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường cạnh tranh màcác đối thủ sẽ hơn hẳn chúng ta về cả vốn, công nghệ, cả trình độ quản lý Hiện nay, với 6 nhà cung cấp cùng nhau chia sẻ thị trường thông tin diđộng Việt Nam Bằng các chiến lược, chính sách chương trình khác nhau đã
và đang làm nên một cuộc chiến cạnh tranh giành giật thị trường vô cùng sôiđộng và hứa hẹn sẽ còn sôi động hơn khi có thêm sự tham gia của các nhà đầu
tư nước ngoài trong thời gian tới
Công ty thông tin di động VMS MobiFone, đơn vị dẫn đầu ngành thôngtin di động Việt Nam, mạng điện thoại di động được ưa chuộng nhất ViệtNam, với lịch sử 14 năm hoạt động và phát triển, cũng đã và đang nỗ lực hếtminh để củng cố địa vị của mình trên thị trường Nhưng, chúng ta đang sốngtrong môi trường hội nhập và phát triển Vị trí giành được hôm nay nhưng cóthế sẽ bị đối thủ giành giật mất vào ngày mai Nhất là khi phải đối mặt cùngcác nhà đầu tư nước ngoài, những nhà đầu tư mà từ lâu đã coi Việt Nam làmảnh đất màu mỡ để phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực bưu chính viễn thông
Trang 2Từ thực tiễn thị trường, sau một thời gian thực tập tại công ty thông
tin di động VMS MobiFone, tôi quyết định chọn đề tài: “ Nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty thông tin di động VMS MobiFone trong hội nhập kinh tế quốc tế ” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của
mình.
Mục đích nghiên cứu: Luận giải cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh,phân tích khả năng cạnh tranh của công ty trước các đối thủ hiện tại và tươnglai, Từ đó, có những đề nghị về phương hướng phát triển và giải pháp đểnâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường hội nhậpkinh tế quốc tế
Phương pháp nghiên cứu: Để có thể thu thập thông tin làm cơ sở đưa ranhững giải pháp, chuyên đề đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu nhưthống kê, phân tích kinh doanh, dự báo, đọc tài liệu
Phạm vi nghiên cứu: Trong chuyên đề của mình tôi nghiên cứu về khảnăng cạnh tranh của công ty thông tin di động VMS trên thị trường đồng thời
đề nghị những giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh này trong môitrường hội nhập kinh tế quốc tế
Nội dung của chuyên đề được chia làm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế
Chương II: Thực trạng khả năng cạnh tranh hiện nay của công ty thôngtin di động VMS MobiFone
Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranhcủa công ty thông tin di động VMS MobiFone
Trong phạm vi của một chuyên đề thực tập tốt nghiệp, các vấn đề vềcạnh tranh mà em có thể nghiên cứu chỉ ở trong một phạm vi nhất định Emmong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thấy cô đê em có thể hoàn thiệnchuyên đề của mình hơn nữa
Trang 3Chương I Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của 1 doanh
nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế.
I, Hội nhập kinh tế quốc tế và sự cần thíêt phải nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
1 Đánh giá tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam năm 2006.
Năm 2006, kinh tế nước ta phát triển trong điều kiện trong nước và thếgiới có những sự kiện nổi bật: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Hội nghịAPEC 2006 tại Hà Nội thành công tốt đẹp, Việt Nam đã chính thức trở thànhthành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và thông qua quy chế bình
thường vĩnh viễn với Hoa Kì( PNTR) Bên cạnh đó, cũng có không ít các
yếu tố khó khăn tác động không thuận đến sản xuất và đời sống dân cư: Ởtrong nước là ảnh hưởng của bão số 1, bão số 6, bão số 9 và các bất thường vềthời tiết khác; dịch bệnh trong nông nghiệp , trên thị trường quốc tế, giá cảnói chung, đặc biệt là giá xăng dầu diễn biến phức tạp và có chiều hướngtăng Tuy nhiên, nhờ có sự chỉ đạo và điều hành sát sao của Chính phủ thôngqua các chính sách phù hợp, kịp thời, cùng với sự nỗ lực của các ngành, cáccấp, các doanh nghiệp và toàn dân, kinh tế tiếp tục phát triển, chính trị, xã hội
ổn định Có thể đánh giá tình hình phát triển kinh tế năm 2006 như sau:
Tổng sản phẩm trong nước năm 2006 theo giá so sánh ước tính tăng
8,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷsản tăng 3,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,37%; khu vực dịch
vụ tăng 8,29% Trong 8,17% tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp vàthuỷ sản đóng góp 0,67 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng
Trang 4đóng góp 4,16 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ đóng góp 3,34 điểm phầntrăm
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng từ 40,97% năm 2005 lên41,52% trong năm nay; khu vực dịch vụ tăng từ 38,01% lên 38,08%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 21,02% xuống còn 20,40% Trong đó:
Giá trị sản xuất nông nghiệp:
- Giá trị sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2006 (theogiá cố định) ước tính tăng 4,4% so với năm 2005, trong đó nông nghiệp tăng3,6%; lâm nghiệp tăng 1,2%; thuỷ sản tăng 7,7%
- Tổng sản lượng thuỷ sản năm 2006 ước tính đạt 3695,9 nghìn tấn, tăng6,6% so với năm trước, trong đó nuôi trồng tăng 14,6% và khai thác tăng0,7% (khai thác biển tăng 0,9%) Trong tổng sản lượng thuỷ sản, cá 2633,1nghìn tấn, tăng 6,6% ; tôm 459,3 nghìn tấn, tăng 5,6%
Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 490,82nghìn tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanhnghiệp Nhà nước tăng 9,1% (Trung ương quản lý tăng 11,9%; địa phương quản
lý tăng 2%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 23,9%; khu vực có vốn đầu tư nướcngoài tăng 18,8% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 6,5%, các ngành khác tăng 25,4%).Nguyên nhân khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng thấp hơn, chủ yếu do giảm
số doanh nghiệp, giảm nhiều nhất là doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý
do tiếp tục thực hiện triệt để hơn chủ trương của Nhà nước về đổi mới, sắp xếplại doanh nghiệp Nhà nước
Trang 5 Đầu tư
- Thực hiện vốn đầu tư năm 2006 theo giá thực tế ước tính đạt 398,9
nghìn tỷ đồng, bằng 105,9% kế hoạch năm, trong đó vốn Nhà nước chiếm tỷtrọng 50,1%, bằng 103,2%; vốn ngoài Nhà nước chiếm 33,6%, bằng 105,7%;vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 16,3%, bằng 116,1%
-Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước năm 2006 ước
tính thực hiện 64,1 nghìn tỷ đồng, bằng 114,1% kế hoạch cả năm, trong đóvốn đầu tư do trung ương quản lý xấp xỉ 18 nghìn tỷ đồng, bằng 103,3%; vốn
do địa phương quản lý 46,1 nghìn tỷ đồng, bằng 119%
- Đầu tư trực tiếp của nước ngoài năm 2006 tiếp tục phát triển Tính
từ đầu năm đến 18/12/2006, cả nước có 797 dự án đầu tư nước ngoài được cấpgiấy phép với tổng số vốn đăng ký 7,57 tỷ USD, bình quân 1 dự án đạt 9,5 triệuUSD
Thương mại
-Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2006 ước tính
đạt 580,7 nghìn tỷ đồng (tính theo giá thực tế) tăng 20,9% so với năm trước vàtăng trên 13%, nếu loại trừ yếu tố giá, đây là mức tăng tương đối cao so vớimức tăng trưởng, chứng tỏ sức mua tăng và tiêu dùng của dân cư tăng lên.Trong tổng mức, kinh tế nhà nước tăng 8,2%; kinh tế tập thể tăng 20,8%; kinh
tế cá thể tăng 22,4%; kinh tế tư nhân tăng 25%; kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài tăng 21,5%
- Tổng mức lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu năm 2006 ước tính đạt 84 tỷ USD, tăng 21% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 22,1%;
nhập khẩu tăng 20,1%; nhập siêu là 4,8 tỷ USD, bằng 12,1% kim ngạch xuấtkhẩu (các con số tương ứng của năm trước là 4,54 tỷ USD và 14%)
-Xuất khẩu hàng hoá năm 2006 ước tính đạt 39,6 tỷ USD và đã vượt4,9% so với kế hoạch cả năm, trong đó khu vực kinh tế trong 16,7 tỷ USD,
Trang 6tăng 20,5% so với năm trướ Xuất khẩu dịch vụ năm 2006 ước tính đạt 5,1 tỷ
USD, tăng 19,6% so với năm 2005, trong đó một số dịch vụ có tỷ trọng cao đạtmức tăng trên 20% như: du lịch, tăng 23,9%; vận tải hàng không tăng 35,5%;dịch vụ hàng hải tăng 27,5%; dịch vụ tài chính tăng 22,7% Nhập khẩu hànghoá năm 2006 ước tính đạt 44,41 tỷ USD, vượt 4,5% so với kế hoạch năm 2006
và tăng 20,1% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 27,99
tỷ USD, tăng 19,9% và đóng góp 62,6% vào mức tăng chung; khu vực có vốnđầu tư nước ngoài 16,42 tỷ USD, tăng 20,4%, đóng góp 37,4%.Nhập khẩu dịch
vụ năm 2006 ước tính đạt 5,12 tỷ USD, tăng 14,3% so với năm trước, trong đó
du lịch tăng 16,7% và cước phí vận tải, bảo hiểm (cif) chiếm 33,7%, tăng20,1% Nhập siêu dịch vụ năm 2006 chỉ còn khoảng 22 triệu USD (năm trước
220 triệu USD)
Bưu chính, Viễn thông 2006 tiếp tục là năm sôi động Trên thị trường
thông tin di động, có thêm mạng điện thoại di động EVN từ tháng 3/2006, thửnghiệm dịch vụ điện thoại di động CDMA của Viễn thông Hà Nội từ tháng11/2006; các nhà cung cấp không ngừng đưa ra các loại hình dịch vụ mới và đadạng để thu hút khách hàng; kết cấu hạ tầng viễn thông ngày càng hoàn thiện.Mạng lưới bưu chính được củng cố Ước tính đến hết tháng 12/2006, trên cảnước đã có 25,4 triệu thuê bao điện thoại, tăng 60,5% so với cùng thời điểmnăm 2005, trong đó Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông chiếm tới 67,4% thị phầnvới 17,1 triệu thuê bao (7,6 triệu thuê bao cố định và 9,5 triệu thuê bao diđộng) Số thuê bao internet phát triển năm 2006 của toàn mạng ước tính đạt1,19 triệu thuê bao, bằng 95,9% so với năm 2005, do khách hàng chuyển sang
sử dụng thuê bao băng rộng (ADSL) Ước tính đến cuối năm 2006, cả nước
có 4,1 triệu thuê bao internet (với 1,77 triệu thuê bao thuộc Tập đoàn Bưuchính, Viễn thông) Tổng doanh thu bưu chính, viễn thông năm 2006 ước tính
Trang 7đạt 37,4 nghìn tỷ đồng, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông 34,8 nghìn
tỷ đồng
Năm 2006 đã khép lại với nhiều những sự kiện quan trọng, cả trongnước và quốc tế Cùng với xu thế hội nhập và phát triển của Việt Nam là xuhướng toàn cầu hoá đang trở nên phổ biến trên thế giới thì mở cửa, hội nhập
và cạnh tranh là vấn đề đang trở nẻn ngày càng khách quan hơn Cùng với xuthế đó, ngành bưu chính viễn thông mà cụ thể là lĩnh vực thông tin di động đã
và đang có nhiều biến đổi sâu sắc Các nhà cung cấp mới xuất hiện, các dịch
vụ đưa ra ngày càng đa dạng đang làm cho cuộc chiến cạnh tranh giữa cácmạng càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
2 Những cơ hội và thách thức của Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế.
Gia nhập vào các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới, đặc biệt là việc trởthành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO đã đưa vị trícủa Việt Nam lên một tầm cao mới khẳng định vị thế đất nước ta, dân tộc tađối với cộng đồng quốc tế, là một minh chứng hùng hồn về quyết tâm và nghịlực của nhân dân ta xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ, ổn định về chínhtrị, công bằng, gắn kết về xã hội, phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xứng đáng làmột trong những nền kinh tế phát triển năng động, sẵn sàng thực hiện các camkết chung với cộng đồng quốc tế Thêm vào đó là chủ trương cải cách mở cửakêu gọi đầu tư nước ngoài, tích cực xây dựng phát triển kinh tế theo xu hướng
đa dạng hoá đa phương hoá đã tạo ra cho các doanh nghiệp rất nhiều những
cơ hội và thách thức:
Các cơ hội khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.:
Sau hơn 20 năm đổi mới, bộ mặt của nước ta có thể nói đã thay đổi hoàntoàn, được đánh giá là quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế vào hàng nhanhnhất trên thế giới, Việt Nam đang từng ngày từng giờ nỗ lực vì sự phát triểnphồn thịnh quốc gia So với các nước trong khu vực, Việt Nam đựoc đánh giá
Trang 8là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, vì có nguồn nhân lựcdồi dào, thì trường tiêu thụ rộng lớn với dân số hơn 83 triệu người , có thànhphần là dân số trẻ, sức mua lớn, khả năng tiêu thụ hàng hóa là rất lớn, thêmvào đó là các chính sách khuyến khích đầu tưmỏ cửa thị trường của nhà nước,
xu thế hội nhập càng mở ra cho nước ta nhiều cơ hội thu hút các nhà đầu tưlớn, uy tín trên thế giới đến với Việt Nam Hiện nay, nhiều tập đoàn đa quốcgia cũng đã có mặt ở Việt Nam, và số lượng sẽ ngày càng tăng lên kể từ năm
2007 này khi chúng ta đã chính thức trở thành thành viên của WTO
Cùng với việc thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài thì chúng ta cũng cónhiều cơ hội được tiếp xúc, sử dụng tận dụng các công nghệ sản xuất tiên tiếnhiện đại của nước ngoài nhằm rút ngắn quá trình hiện đại hóa, các dây chuyềnhiện đại sẽ đưa lại những sản phẩm có chất lượng đáp ứng nhu cầu ngày càngcao của người tiêu dùng Song song với việc hiện đại hóa quy trình sản xuấtthì vốn cũng là một lợi thế khi chúng ta hội nhập Thị trường Việt Nam rộnglớn nhưng các doanh nghiệp Việt Nam chỉ dừng lại ở quy mô vừa và nhỏ, vốn
ít, nên các dự án đầu tư lớn khó lòng thực hiện nếu không có sự đầu tư từnước ngoài, việc thu hút vốn từ bên ngoài sẽ giúp Việt Nam không chỉ giảmbớt các khoản nợ nước ngoài mà còn có cơ hội thực hiện các dự án lớn Đặcbiệt, việc xuất hiện các ngân hàng lớn mở ra cơ hội đầu tư lớn hơn cho mọingười, cho các doanh nghiệp cho cá nhân và cho xã hội
Việc gia nhập WTO cũng như gia nhập các tổ chức diễn đàn kinh tế lớntrên thế giới tạo cơ hội cho các nhà đầu tư Việt Nam mở rộng thị trường tiêuthụ sản phẩm hàng hóa, cơ hội được thế giới biết đến Việt Nam với những sảnphẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đáp ứng yêu câu khách hàng đang mở racho các doanh nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được chơitrong 1 sân chơi với các anh lớn mà ở đó sự bình đẳng được tôn trọng tuyệt
Trang 9đối Cạnh tranh bình đẳng , đầu tư bình đẳng và cơ hội dành cho tất cả cácdoanh nghiệp là như nhau.
Đối với ngành viễn thông, thì công nghệ là yếu tố sẽ được nhiều nhất.Chúng ta có nhiều cơ hội hơn để được tiếp xúc vơí các công nghệ tiên tiếnhiện đại trên thế giới Đây là một yếu tố rất quan trọng để ngành viễn thôngnâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng, đem lại cho khách hàngchất lượng cuộc gọi ngày càng được nâng cao, đem lạio nhiều các dịch vụ tiệních, các dịch vụ giá trị gia tăng cho người tiêu dùng
Các thách thức đối với các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam:
Trên thực tế, các cơ hội đối với các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn ởdạng tiềm năng, còn các thách thức thì đã là rất hiện thực Khi đã trở thànhthành viên của WTO, sự cạnh tranh chắc chắn sẽ khốc liệt hơn hiện nay rấtnhỉều, đặc biệt với phần kinh doanh dịch vụ,vì theo cam kết, thị trường dịch
vụ không có hạ tầng mạng sẽ mở rộng hơn so với cam kết trong BTA
Bên nước ngoài khi liên doanh có quyền nâng mức vốn góp lên cao hơn,khả năng kiểm soát của nước ngoài đối với việc điều hành kinh doanh dịch vụcũng lớn hơn đây cũng là nguy cơ mà các doanh nghiệp phải đối mặt
Quy mô mạng lưới của chúng ta còn nhỏ bé, năng lực của doanh nghiệpcòn chưa cao, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp bưu chính viễn thôn cònyếu Cách thức cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ cao củacác đối tác sẽ tạo nên một áp lực ghê gớm đối với hoạt động dịch vụ vốn cònkhá non trẻ của các doanh nghiệp trong nước
Hệ thống luật pháp cũng là một nguy cơ đối với các doanh nghiệp kinhdoanh trong lĩnh vực thông tin di động Hệ thống luật pháp của chúng ta chưađồng bộ, thêm vào đó là các thông lệ điều ước quốc tế Gây cho các doanhnghiệp không ít các khó khăn
Trang 10Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế, đã đem laị cho các doanh nghiệp ViệtNam noí chung và các doanh nghiệp trong ngành bưu chính viễn thông nóiriêng nhiều các cơ hội để tăng khả năng kinh doanh trong thời đại mới nhưngđồng thời cũng đưa lại nhiều thách thức cho các doanh nghiệp để có thể tồntại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng trỏ nên khốc liệt hơn.
II Khả năng cạnh tranh và các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1 Khái niệm cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của 1 doanh nghiệp
1.1 Khái niệm cạnh tranh
Có nhiều quan điểm khác nhau diễn đạt khái niệm cạnh tranh Khó khănkhông chỉ ở chỗ nó được diễn đạt khác nhau mà còn vì không có sự nhất trírộng rãi đối với các khái niệm này Cạnh tranh là khái niệm được sử dụngrộng rãi, trên cả bình diện vi mô và vĩ mô Cạnh tranh không chỉ ở trongdoanh nghiệp mà còn cạnh tranh giữa các ngành, các quốc gia, khu vực Trênmỗi phương diện lại xem xét cạnh tranh trên góc độ khác nhau, sử dụng cáctiêu chí khác nhau để đánh giá về khả năng cạnh tranh Nhưng xét trong phạm
vi 1 doanh nghiệp, thì cạnh tranh cuối cùng cũng nhằm mục tiêu lợi nhuận, vịthế, an toàn, trong khuôn khổ luật pháp và định hướng quốc gia
Cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của sản xuấthàng hoá Tuy nhiên, trong một thời gian dài, người ta không coi là một quátrình cũng như không quan sát và phân tích những tác động của chúng trongnền kinh tế Chỉ đến khi các khái niệm giá trị, giá bán được nghiên cứu mộtcách nghiêm túc thì khi đó vấn đề mới được đặt đúng vị trí vốn có của nó.Vào đầu những năm 20 của thế kỷ 20, nhiều nhà kinh tế học đã bỏ nhiềucông sức để nghiên cứu để vượt qua sự tách bạch giữa độc quyền thuần tuý vàcạnh tranh không hoàn hảo
Trang 11- Cạnh tranh độc quyền, theo nghĩa rộng , có thể hiểu là cạnh tranh giữanhiều đơn vị cung với những hàng hoá khác biệt cạnh tranh lẫn nhau trên thịtrường với một số lượng các nhà cung cấp nhất định, cạnh tranh độc quyềntạo cơ sở cho các doanh nghiệp có thêm những phương pháp để xây dựngchiến lược Marketing khác nhau phù hợp với vị trí của mình trên thị trườngđồng thời ohù hợp với hình thái thị trường Nhà kinh tế học áoSchumpeter( 1883-1950) đưa ra luận điểm về cạnh tranh bằng sản phẩm mới,bằng kỹ thuật mới, bằng nguồn cung ứng mới, theo ông, đổi mới chính là sựphá huỷ mang tính sáng tạo Các nhà tư tưởng mang trường phái trọng nông
là những người đầu tiên phát hiện ra ý ngĩa của cạnh tranh thông qua việcnghiên cứu biến động về giá cả Họ cho rằng, giá cả tự nhiên bao gồm laođộng chứa trong sản phẩm và địa tô, nếu có bất thường nào đó xảy ra thì giáthị trường này có thể chênh lệch với giá tự nhiên trong một thời gian ngắn.Khi đó, cạnh tranh sẽ hoạt động tích cực để điều chỉnh cho giá thị trường trở
về giá tự nhiên Adam Smith là người đã tiếp thu và hoàn thiện nội dung này
và bổ sung vào đó các yếu tố cạnh tranh của bên cầu, và như vậy, ông đượccoi là người đầu tiên đưa ra luận điểm tương đối đầy đủ hoàn thiện về lýthuyết cạnh tranh.C Marx định nghĩa: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấutranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợitrong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch
Theo cuốn từ điển kinh doanh(xuất bản năm 1992 ở Anh), cạnh tranhtrong cơ chế thị trường được định nghĩa là: Sự ganh đua kình địch giữa cácnhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng 1 loại về phíamình
Trong Đại từ điển tiếng Việt có ghi: Cạnh tranh là 1 khái niệm được sửdụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Để đơn giản hoá, có thể hiểu cạnh tranh
là một sự ganh đua giữa 1 nhóm người mà sự nâng cao vị thế của người này
Trang 12sẽ làm giảm vị thế của người kia Điều kiện cho sự cạnh tranh trên 1 thịtrường là : có ít nhất 2 chủ thể quan hệ đối kháng và có sự tương ứng giưa sựcống hiến và phần được hưởng của mỗi thành viên trên thị trường…
Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghịêp của tổ chức hợp tác và Pháttriển kinh tế( OECD) đã đưa ra khái niệm cạnh tranh như sau: Là khả năngcủa các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, và vùng trong việc tạo ra việc làm vàthu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế
Vậy khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được định nghĩa nhưsau: là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó mộtcách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiệnmột tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêucủa doanh nghiệp , đồng thời đạt được mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra.Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh càng trở nên quantrọng và có ý nghĩa Nó trở thành động lực, và là điều kiện cần thiết để doanhnghiệp tồn tại và phát triển
Trong cuốn sách “ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiệntoàn cầu hoá của tác giả Trần Siêu, đưa ra khái niệm cạnh tranh trong điềukiện hội nhập kinh tế như sau: Cạnh tranh nói chung là sự phấn đấu vươn lênkhông ngừng để giành lấy vị trí hàng đầu trong 1 lĩnh vực hoạt động nào đóbằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra nhiều lợi thếnhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất hiệu quả và hiệu quả cao nhất.Trong kinh tế, cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ sảnphẩm ( hàng hoá và dịch vụ ) bằng các phương pháp và biện pháp khác nhaunhư kỹ thuật , kinh tế chính trị, quân sự, tâm lý xã hội
Như vậy cạnh tranh là quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá,
là nội dung cơ chế vận động của thị trường Sản xuất hàng hoá càng phát triểnhàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh
Trang 13càng gay gắt, kết quả của cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ănkém hiệu quả.
1.2 Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanhnghiệp có thể tự duy trì vì trí của nó một cách lâu dài và có ys chí trên thịtrường cạnh tranh , đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệđòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiệncác mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra
Ngày nay, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt,một doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc trên thị trường thì phải có mộttiềm lực đủ mạnh và sử dụng các nguồn lực đang có một cách hiệu quả để cóthẻ cạnh tranh được trên thị trường, đó chính là sức cạnh tranh của doanhnghiệp( hay còn được gọi là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp)
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở nhiều mặt Các doanhnghiệp phải luôn luônn đưa ra các phương án , các giải pháp tối ưu nhất để giảmchi phí sản xuất để từ đó giảm giá thành, giá bán, áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật vào sản xuất , nâng cao hiệu quả quản l để nâng cao chất lượng sản phẩm, tổchức tốt mạng lưới bán hàng và biết chọn đúng thời điểm bán hàng nhằm thu hútđược khách hàng , mở rộng thị trường
Chỉ tiêu tổng hợp nhất để đánh giá sức cạnh tranh của một doanh nghiệp làthị phần mà doanh nghiệp đã chiếm được Thị phần càng lớn thể hiện rõ khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh Để tồn tại và có sức cạnh tranh , doanhnghiệp phải có sức cạnh tranh , doanh nghiệp phải chiếm giữ được thị trường bất
kể nhiều hay ít, chính điều này đã phản ánh được quy mô tiêu thụ của doanhnghiệp Qua đó, ta cũng có thể đánh giá được khả năng cạnh tranh của mỗi doanhnghiệp, ưu thế cũng như các điểm mạnh yếu tương đối của doanh nghiệp so vớicác đối thủ cạnh tranh trong ngành
Trang 14Nâng cao khả năng cạnh tranh là một điều tất yếucủa mỗi doanh nghiệp hoạtđộng trong cơ chế thị trường nhất là trong thời kỳ hội nhập và phát triển hiện nay.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện nghiêmngặt một chu trình chất lượng và đảm bảo các yếu tố của chất lượng tổng hợp
Để tăng cường khả năng cạnh tranh, doanh nghiệp không thể không chú đếncác yếu tố về giá và các dịch vụ sau bán Đó là những yếu tố mà khách hàng nàocũng quan tâm khi thấy sản phẩm mà họ định mua thỏa mãn nhu cầu của họ
2 Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Với mỗi quan điểm về cạnh tranh thì lại có các tiêu thức khác khau đểđánh giá về khả năng cạnh tranh nhưng xét trên góc độ nghiên cứu về cạnhtranh của doanh nghiệp thông tin di động thì có thể đánh giá khả năng cạnhtranh theo các tiêu thức sau:
Chỉ tiêu định lượng:
Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận:
- Lợi nhuận là một yếu tố căn bản để đánh giá hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Lợi nhuận được tính bằng tổng doanh thu của doanhnghiệp trừ đi tổng chi phí của doanh nghiệp
Tổng lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
- Tỷ suất lợi nhuận: Là chỉ tiêu định lượng tổng quát đánh gía sức cạnhtranh của doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận có thể được tính theo các cách sau:+ M= (P/ DT)*100
Trong đó: + M : Tỷ suất lợi nhuận
+ P : Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp
+ DT: Doanh thu của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh doanh nghiệp có được bao nhiêu đồng lợi nhuậntrên mỗi đồng doanh thu
Trang 15+ M = (P/V)*100
Trong đó : + V : Tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này tính trên vốn kinh doanh phản ánh cứ mỗi đồng vốn doanhnghiệp bỏ ra thì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
+ M = ( P/CF)* 100
Trong đó: + CF : Tổng chi phí của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận được tính trên chi phí kinh doanh cho thấy doanhnghiệp cứ bỏ ra một đồng chi phí thì có được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Sự tăng giảm của tỷ suất lợi nhuận hàng năm thể hiện hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp trong cạnh tranh
- Phạm vùng phủ sóng: được đánh giá qua các tiêu thức sau:
+ Số lượng trạm thu phát sóng
+ Diện tích vùng phủ sóng
Phạm vi vùng phủ sóng càng rộng , số lượng trạm thu phát sóng càngnhiều, chứng tỏ quy mô đầu tư của doanh nghiệp càng lớn
- Thị phần và số lượng thuê bao: Thị phần là số phần trăm thị trườngdoanh nghiệp chiếm lĩnh được Đối với doanh nghiệp Thông tin di động, thịphần được đo bằng số lượng thuê bao doanh nghiệp phát triển được Số lượngthuê bao thì đựơc đánh giá qua 2 tiêu thức là số lượng thuê bao đang hoạtđộng và số lượng thuê bao trên mạng
- Lãi suất trên mỗi một thuê bao: Lãi suất trên mỗi thuê bao được đánhgiá qua hành vi tiêu dùng của khách hàng Khách hàng tiêu dùng nhiều dịch
vụ của doanh nghiệp thì lãi suất trên mỗi thuê bao cao và ngược lại Sự tiêudùng nhiều hay ít của khách hàng thể hiện trên sản lượng đàm thoại và cácsản lượng giá trị gia tăng của dịch vụ theo thời gian Với chi phí cố địnhkhông thay đổi, tỷ lệ tổng doanh thu trên tổng số thuê bao cũng thể hiện rõ nétchỉ tiêu này
Trang 16- Chất luợng mạng lưới: được đánh giá qua 2 chỉ tiêu
+ Tỷ lệ ngẽn mạng: là tỷ lệ số cuộc gọi không thực hiện được trên tổng
số cuộc gọi đã thực hiện
+ Tỷ lệ rớt cuộc gọi: Là số phần trăm số cuộc gọi đang thực hiện thì bìngắt giữa chừng trên tổng số cuộc gọi đã thực hiện
Đối với các doanh nghiệp, chỉ tiêu này có thể đo được chính xác nhờ cácthiết bị chuyên dùng
Chỉ tiêu định lượng:
- Chăm sóc khách hàng: Công tác chăm sóc khách hàng là dịch vụ hậumãi, chỉ tiêu này là chỉ tiêu định tính vì nó đuợc đánh giá dựa trên cảm nhậncủa khách hàng về dịch vụ mà mình dang sử dụng Mỗi khách hàng có cảmnhận riêng biệt về doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, song, bên cạnh đó doanhnghiệp cũng cần quan tâm có những đầu tư thích đáng cho công tác chăm sóckhách hàng Sự đầu tư này có ảnh hưởng lớn đến cảm nhận của khách hàng vềhình ảnh của doanh nghiệp
- Trình độ nhân viên: Có thể đánh giá trình độ của nhân viên qua trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Tuy nhiên, chỉ tiêu này khôngthể phản ánh một cách đầy đủ Trình độ của nhân viên còn thể hiện qua việcđào tạo của doanh nghiệp Mặt khác , trình độ của nhân viên còn thể hiện ởnhận thức được giáo dục, về thái độ sẵn sàng phục vụ khách hàng của mỗingười
- Tâm lý tiêu dùng của khách hàng: Tâm lý tiêu dùng của khách hàng lànhân tố vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng tới một loạt khách hàng( haynhóm hàng) khác Tâm lý tiêu dùng của khách hàng bị ảnh hưởng bởi các chỉtiêu liên quan như: Chất lượng mạng lưới , vùng phủ sóng, các dịch vụ giá trịgia tăng… Tuỳ theo từng loại khách hàng mà các chỉ tiêu này được đánh giá ở
Trang 17các mức độ khác nhau Chẳng hạn đối với những người th ường xuyên đi lạithì chỉ tiêu vùng phủ sóng rất quan trọng Đối với khách hàng thường xuyên
đi lại trong vùng thì chỉ tiêu chất lượng mạng lưới lại là yếu tố quan trọnghơn
3 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là trong xu thế hội nhập quốc tếđang ngày càng mở rộng như hiện nay thì cạnh tranh trở thành một điều tấtyếu khách quan khẳng định vai trò ngày càng trở nên quan trọng Cạnh tranhđược coi là động lực của sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp màcủa cả nền kinh tế
3.1 Đối với doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụthì cạnh tranh trở nên cần thiết vì:
- Cạnh tranh được coi như cái sàng để lựa chọn và đào thải các doanhnghiệp Vì vậy, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò cực
kỳ to lớn
- Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Cạnhtranh tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanhnghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Cạnh tranh đưa lại cho khách hàng các loại sản phẩm tốt hơn , đáp ứngngày càng cao hơn nhu cầu tiêu dùng Doanh nghiệp muốn tồn tại và pháttriển, không còn cách nào khác phải ngày càng hoàn thiện mình, đưa ra cácloại hình dịch vụ có chất lượng cao hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thịtrường Muốn vậy thì doanh nghiệp cần áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật tiêntiến, cung ứng các sản phẩm có chất lượng ngày càng cao hơn
- Trong xu thế hội nhập và phát triển, không chỉ có các doanh nghiệptrong nước mà còn có cả các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp
Trang 18nước ngoài có tiềm lực lớn hơn các doanh nghiệp trong nước cả về vốn, kỹthuật, công nghệ… thì đòi hỏi các doanh nghiệp trong nướccàng phải quantâm hơn nữa đến vấn đề làm như thế nào để cạnh tranh khi mà đối thủ hơnmình về mọi mặt…
3.2 Đối với người tiêu dùng
Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng cao hơn, số lượng chủng loạinhiều hơn, mẫu mã phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu ngày càngcao của người tiêu dùng Vì vậy, đối với người tiêu dùng, cạnh tranh sẽ có cáctác dụng sau:
- Người tiêu dùng có thể thoải mái lựa chọn sản phẩm mà theo họ là phùhợp với yêu cầu và khả năng chi trả của họ
- Cạnh tranh làm cho lợi ích của người tiêu dùng tăng lên, chất lượnghàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả màn ngày càng tốt hơn Cạnh tranhlàm cho các doanh nghiệp phải nâng cao hơn các hoạt động xúc tiến, nhờ đóngười tiêu dùng được hưởng lợi nhiều hơn từ sản phẩm mà họ được cungcấp Họ không chỉ đựơc cung cấp đơn thuần là sản phẩm mà còn được cungcấp nhiều hơn thế, như các chính sách về bảo hành , bảo hiểm , chăm sóckhách hàng, khuyến mại, giúp khách hàng hiểu hơn về nhóm sản phẩm mà họđang sử dụng , từ đó họ tìm được cho mình sự lựa chọn tốt nhất đối với sảnphẩm
3.3 Đối với nền kinh tế
Cạnh tranh được coi là linh hồn của nền kinh tế Cạnh tranh là môitrường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, gópphần xoá bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh.Cạnh tranh đảm bảo thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phâncông lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc Cạnh tranh thúc đẩy sự đadạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, kích thích nhu
Trang 19cầu ngày càng phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nângcao chất lượng đời sống xã hội và phát triển kinh tế.
Cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh , tạo khả năng chodoanh nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài
Cạnh tranh giúp cho nền kinh tế có tầm nhìn nhận đúng hơn về nền kinh
tế thị trường, vào hội nhập và phát triển, rút ra bài học thực tiễn bổ xung vào
l luận kinh tế thị trường của nước ta
Bên cạnh những tác dụng tích cực , cạnh tranh cũng làm xuất hiệnnhững hiện tượng tiêu cực như làm hàng giả , buôn lậu trốn thuế gây nên sựbất ổn trên thị trường, làm thiệt hại đến lợi ích cảu nhà nước và của người tiêudùng
Phát huy những yếu tố tích cực , hạn chế những mặt tiêu cực không chỉ
là nhiệm vụ của nhà nước , doanh nghiệp mà là nhiệm vụ chung của toàn bộ
cá nhân
III, Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh nói chung và khả năng cạnh tranh của công ty thông tin di động VMS MobiFone nói riêng
1 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh nói chung
1.1 Các nhân tố thuộc về doanh ngiệp
Yêú tố về sản phẩm
Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham gian sản xuất kinh doanh đều phải trảlời 3 câu hỏi: sản xuất cái gi? sản xuất như thế nào ? và sản xuất cho ai? Vànhư vậy doanh nghiệp đã xây dựng cho mình chính sách về sản phẩm Khôngmột doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường mà lại không có chính sách
về sản phẩm cho dù doanh nghiệp đó kinh doanh sản phẩm hữu hình hay vôhình Vấn đề doanh nghiệp cần giải quyết là làm như thế nào để sản phẩm củamình đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường
Trang 20Để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp trên thị trường , doanhnghiệp phải thực hiện đa dạng hoá sản phẩm Sản phẩm của doanh nghiệpluôn được hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu cầu của thị trườngbằng cách cải tiến các thông số của sản phẩm, thực hiện việc hoàn thiện mẫu
mã sản phẩm, phát huy thế mạnh các loại sản phẩm mà doanh nghiệp có khảnăng cạnh tranh đồng thời tìm kiếm các sản phẩm mới Thực hiện đa dạnghoá sản phẩm không chỉ để đảm bảo đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, nhucầu thị trường, bảo đảm doanh thu có lãi mà còn là biện pháp tốt để phân tánrủi ro trong kinh doanh khi cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt vàquyết liệt
Cùng với đa dạng hoá sản phẩm, doanh nghiệp có thể dùng phương pháptrọng tâm,tập trung vào các sản phẩm mà doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh,
có uy tìn chất lượng, hoặc các loại sản phẩm chuyên biệt sử dụng để cung cấpriêng cho 1 đối tượng khách hàng hay một vùng miền nào đó nhất định Trongphạm vi này, doanh nghiệp có thể phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, cóhiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh và như vậy doanh nghiệp cũng có thể xâydựng được cho mình một bức tường rào chắn hiệu quả hơn so với đối thủ Một chiến lược mà doanh nghiệp cúng rất cần thiết phải làm đó làthực hiện sự khác biệt hoá sản phẩm của mình so với các sản phẩm cùng loại ,tìm ra các tính năng, các nét độc đáo riêng cho sản phẩm của mình để thu hút
sự chú ý của khách hàng vào các sản phẩm của mình, nâng cao uy tín củadoanh nghiệp
Như vậy, sản phẩm và xác định cơ cấu sản phẩm hợp lý, tối ưu là mộttrong những vũ khí quan trọng bậc nhất quyết định đến khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp trên thị trường
Chất lượng
Trang 21Đã có một thời , người ta coi yếu tố giá cả là yếu tố quan trọng bậc nhấtquyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vì họ cho rằng kháchhàng luôn yêu thích các sản phẩm có chất lượng cao mà giá lại hạ Tuy nhiêntrong thời đại ngày nay, nếu sản phẩm có giá rẻ thì không thẻ có chất lượngcao được Khách hàng ngày nay quan tâm nhiều hơn đến chất lượng của sảnphẩm vì thế yếu tố giá trong cạnh tranh đã nhường chỗ cho các yếu tố vè chấtlượng Tiêu chí của ngưòi tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm bây giờ là sảnphẩm có chất lượng cao và giá cả hợp lý Chât lượng sản phẩm là hệ thốngnội tại của sản phẩm được xác định bằng các thông số có thể đo được hoặc sosánh được thoả mãn những điều kiện kỹ thuật là những yêu cầu nhất định củangười tiêu dùng và xã hội.
Chất lượng sản phẩm là một vấn đề sống còn đối với sự tồn tại và pháttriển của một doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước ở ViệtNam Một khi chất lượng không còn được đảm bảo thì cũng có nghĩa là doanhnghiệp bị mất khách hàng mất thị trường , nhanh chóng đi tới chỗ bị suy yếu
và phá sản,
Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng sản lượng bán hàngđồng thời thu hút đựoc khách hàng gắn bó lâu dài với sản phẩm, mở rộng thịtrưóng và nâng cao uy tín của doanh nghiệp
Yếu tố giá cả
Giá cả của một sản phẩm trên thị trường đã được hình thành thông quaquan hệ cung cầu Giá cả đóng vai trò quyết định mua hay không mua củakhách hàng Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh , “ khách hàng làthượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì mà họ cho là tốt nhất và cùng mộtloại sản phẩm có mức giá thấp hơn, khi đó sản lượng tiêu thụ của doanhnghiệp sẽ tăng lên
Trang 22Giá cả được thể hiện như một vũ khí cạnh tranh thông qua việc đánh giácủa sản phẩm: định giá thấp , định giá ngang thị trường hay chính là chínhsách giá cao Với một mức giá ngang thị trường giúp doanh nghiệp giữ đượckhách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra những giải pháp giảm gía thành lợinhuận thu được sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh sẽ cao Ngược lại, với mộtmức giá thấp hơn giá thị trường thì sẽ thu hút được khách hàng và tăng sảnlưọng tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ có cơ hội thâm nhập thị trường, chiếm lĩnh thịtrường mới Mức giá doanh nghiệp áp đặt cao hơn giá thị trường chỉ sử dụngvới các doanh nghiệp có tính độc quyền, điều này giúp doanh nghiệp thu đượcnhiều lợi nhuận( lợi nhuận siêu ngạch)
Để chiếm lĩnh ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự lựachọn các chính sách phù hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trongchu kỳ sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường
Tổ chức hoạt động bán hàng:
Bán hàng là khâu hoạt động cuổi cùng của hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Bán hàng là hoạt động đưa sản phẩm tới tay củakhách hàng, bán được hàng thì doanh nghiệp mới thu hồi được vốn, bù đắpđựoc chi phí và thu lợi nhuận
Để sản phẩm của doanh nghiệp đến được với khách hàng , doanh nghiệpcần tổ chức hoạt động bán hàng khoa học có hiệu quả, nhằm đáp ứng mộtcách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng Xây dựng được một hệ thống bánhàng tốt cũng có nghĩa là xây dựng một nền móng vững chắc để phát triển thịtrường, bảo vệ thị phần có được của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiếnbán như khuyến mại , quảng cáo, chăm sóc khách hàng, hoạt động sau bán,các dịch vụ hậu mãi… đây là một hình thức cạnh tranh phi giá cả , gây sự chú
ý và càng ngày thì đây càng được coi là công cụ để cạnh tranh có hiệu quả
Trang 23 Dịch vụ khách hàng:
Dịch vụ khách hàng là khâu tối quan trọng đối với các doanh nghiệp đặcbiệt là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Đây chính là biện pháp để doanhnghiệp sử dụng để nâng cao hình ảnh, thu hút sự quan tâm chú ý của kháchhàng Trước đây, công cụ này ít đựơc quan tâm, có thể do môi trường cạnhtranh chưa thực sự gay gắt, tuy nhiên , trong những năm gần đây thì đây đượccoi là tất yếu nếu doanh nghiệp muốn lôi kéo thêm sự chú ý của khách hàngđối với doanh nghiệp mình
Để thu hút đựoc sự quan tâm chú ý của khách hàng, doanh nghiệp cầnlinh hoạt các hoạt động dịch vụ, đơn giản hoá các thủ tục, nâng cao chấtlượng dịch vụ phục vụ khách hàng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của kháchhàng
- Lực lượng lao động có năng suất, có khả năng phân tích và sáng tạo:liên quan đến khả năng tập hợp và đào tạo một đội ngũ những người lao động
có khả năng đáp ứng cao yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp Để có khảnăng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kinh doanh, một con người phải có thể hội
tụ đủ các yếu tố: tố chất- kiến thức- kinh nghiệm Tố chất là yếu tố bẩm sinh,kiến thức do học tập, ngiên cứu mà có, kinh nghiệm do quá trình tích luỹ cá
Trang 24nhân trong lao động mà thành Sự khác biệt về các yếu tố trên hình thành nênnhững cá nhân có khả năng khác nhau: Người quản lý, người tham mưu,người sáng tạo, ngưòi thừa hành… Một doanh nghiệp có sức mạnh về conngưòi là doanh nghiệp có khả năng và thực hiện lựa chọn đúng và đủ số lượnglao động cho từng vị trí công tác và sắp xếp đúng ngưòi trong một thể thốngnhất theo yêu cầu của công việc.
- Chiến lược con ngưòi và phát triển nguồn nhân lực: Liên quan đến sứcmạnh tiềm năng của doanh nghiệp về con người Chiến lược con người vàphát triển nguồn nhân lực cho thấy khả năng chủ động phát triển sức mạnhcon người của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưỏng và đổi mớithường xuyên, cạnh tranh và thích nghi của kinh tế thị trường Chiến lược nàyliên quan không chỉ đến những vấn đề về đội ngũ lao động hiện tại mà cònkhả năng thu hút nguồn lao động xã hội nhằm kiến tạo được cho doanhnghiệp một đội ngũ lao động:
+ Trung thành và luôn hướng về doanh nghiệp
+ Có khả năng chuyên môn cao, lao động giỏi, năng suất và sáng tạo+ Có sức khoẻ, có khả năng hoà nhập và đoàn kết
Vốn: là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thôngqua khối lượng( nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào khả năngkinh doanh, khả năng phân phối(đầu tư) có hiệu quả các nguồn vốn trong kinhdoanh Bất cứ hoạt động đầu tư mua sắm trang thiết bị, nguyên vật liệu hayphân phối quảng cáo … đều phải tính đến thực trạng tài chính của doanhnghiệp Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh mẽ sẽ có đủ khả năng
để trang bị các dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại, đảm bảo chất lượng,
hạ gía thành, giá bán sản phẩm và tổ chức các hoạt động quảng cáo khuyếnmại mạnh mẽ để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Ngoài ra, vớimột khả năng tài chính hùng mạnh, một doanh nghiệp cũng có khả năng chấp
Trang 25nhận lỗ một thời gian ngắn, hạ giá thành sản phẩm nhằm giữ và mở rộng thịphần của doanh nghiệp để sau đó lại tăng giá, thu được lợi nhuận nhiều hơn.Công nghệ: Một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng với mộtcông nghệ tiên tiến phù hợp với quy mô sản xuất của doanh nghiệp chắc chắn
sẽ lảm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp lên rất nhiều.Với công nghệ hiệnđại, chất lượng sản phẩm sẽ được nâng cao hơn, theo đó, giá thành sản phẩm
hạ, kéo theo sự giảm giá bán trên thị trường, khả năng chiến thắng trong cạnhtranh của doanh nghiệp sẽ là rất lớ Ngược lại, không một doanh nghiệp nàolại có khả năng cạnh tranh cao khi mà công nghệ sản xuất lạc hậu, máy mócthiết bị cũ kỹ vì chính nó sẽ làm giảm chất lượng sản phẩm và tăng chi phísản xuất
Tóm lại, các nhân tố thuộc về doanh nghiệp tác động trực tiếp đến khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp là: Sản phẩm, giá cả, tổ chức bán hàng,dịch vụ khách hàng, và các nguồn lực của doanh nghiệp Các nhân tố này, nếuđược lượng hoá thì chúng chính là yếu tố để đánh giá, đo lường khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
1.2 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờcũng gắn liền với môi trường kinh doanh đó là các yếu tố ngoài doanh nghiệp
và do vậy , nó chịu sự tác động, ảnh hưởng của các nhân tố này:
Phát triển kinh tế:
Đây là nhân tố quan trọng nhất tác động đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Sự ổn định hay bất ổn của nền kinh tế có tác độngtrực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Tính ổn định về kinh tế trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốcgia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát Nền kinh tế được ổn định sẽ là điềukiện tốt để tăng trưởng Khi một nền kinh tế phát triển với tốc độ cao sẽ kéo
Trang 26theo sự tăng thu nhập cũng như khả năng thanh toán của người dân cũng tănglên Mặt khác, nền kinh tế phát triển mạnh có ý nghĩa là khả năng tích tụ tưbản lớn, và như vậy- tốc độ đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên.Đây chính là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp phát triển Doanh nghiệp nào cókhả năng nắm bắt được các cơ hội này thì chắc chắn sẽ thành công và sứccạnh tranh cũng tăng lên.
Tuy nhiên , nếu nền kinh tế liên tục phát triển một cách quá nóng thìcũng đặt ra nhiều vấn đề Khi đó , các doanh nghiệp sẽ ồ ạt xuất hiện trên thịtrưòng, mức độ cạnh tranh trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Ai đi trước trongcuộc cạnh tranh này ngưòi đó sẽ thắng Và ngược lại, khi nền kinh tế đangtrong giai đoạn suy thoái, khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát tăng cao thì sẽ làm chogiá cả tăng, sức mua của người dân giảm, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách
để giữ khách hàng, do đó sự cạnh tranh cũng sẽ trở nên khốc liệt hơn
Môi trường chính trị pháp luật:
Đây là môi trường vĩ mô ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Chính trị và pháp luật là cơ sở là nền tảng cho các doanhnghiệp có thể ổn định sản xuất kinh doanh Hệ thống luật pháp rõ ràng, môitrường chính trị ổn định sẽ là những điều kiện thuận lợi đảm bảo sự bình đẳngcho các doanh nghiệp khi tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả Ổnđịnh về chính trị đem lại sự lành mạnh hoá xã hội, ổn định về kinh tế tạo hànhlang thông thoáng cho sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Hệ thống pháp luật quy định và cho phép những lĩnh vực, hoạt động vàhình thức kinh doanh nào mà doanh nghiệp có thể tiến hành và những lĩnhvực , hình thức, hoạt động , loại hình dịch vụ… doanh nghiệp không thể tiếnhành để sản xuất kinh doanh Vì thế, nếu những quy định này rõ ràng thì sẽtạo ra một sân chơi thông thoáng, bình đẳng cho các doanh nghiệp Trên cơ sở
đó, cạnh tranh các doanh nghiệp sẽ được lành mạnh hơn
Trang 27Khả năng thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm ẩn: Đó là sựxuất hiện các công ty mới tham gia vào thị trường nhưng có khả năng mởrộng sản xuất chiếm lĩnh thị phần của các công ty khác Để hạn chế mối đedoạ này, các nhà quản lý thường dùng các biện pháp như:
- Mở rộng khối lượng sản xuất của công ty để giảm chi phí
- Dị biệt hoá sản phẩm( khác biệt hoá sản phẩm)
Các yếu tố thuộc về văn hoá xã hội: Các yếu tố thuộc về văn hoá xã hộiluôn bao quanh doanh nghiệp và có ảnh hưởng lớn đến sự hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Các thị trường luôn bao gồm cả con người thực với
Trang 28số tiền họ đang sử dụng trong việc thoả mãn các nhu cầu của họ Có thể xemnhư:
Thị trường = Khách hàng + Túi tiền của họ
Các thông tin về môi trường này cho phép doanh nghiệp có thể hiều biết
ở mức độ khác nhau về đối tượng phục vụ của mình Qua đó có thể đưa ramột cách chính xác sản phẩm và cách thức phục vụ khách hàng Các tiêu thứcdùng để sử dụng để nghiên cứu bao gồm: quy môi dân số( bao gồm quy môcủa nhu cầu và tính đa dạng của nhu cầu), xu hướng vận động( dạng của nhucầu và sản phẩm đáp ứng); hộ gia đinh và xu hướng vận động - điều này ảnhhưởng tới chất lượng và quy cách sản phẩm khi thoả mãn nhu cầu của giađình; sự dịch chuyển của dân cư va xu hướng vận động, thu nhập và phânphối thu nhập của người tiêu thụ, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, dân tộc chủngtộc, sắc tộc , tôn giáo văn hoá…
Các yếu tố về địa lý sinh thái: Trong xu thế hội nhập nền kinh tế hiệnnay đây đang được coi là yếu tố rất đáng quan tâm, nó thể hiện khả năng thíchứng của doanh nghiệp với các tiêu chuẩn quốc tế rất gắt gao Các yếu tố nàykhông chỉ liên quan đến sự phát triển bền vững của quốc gia mà còn liênquan đến khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp Doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh chịu sự tác động của các yếu tố về môi trường địa lý sinh tháithì cũng phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trừong để đảm bảo sự ổnđịnh lâu dài của mình
1.3 Các yếu tố cạnh tranh thuộc nội bộ ngành:
Các yếu tố thuộc nội bộ ngành thường là các yếu tố gây nên sự cạnhtranh găy gắt nhất Đối với cùng một loại sản phẩm được cung cấp như nhau,khách hàng sẽ lựa chọn sản phẩm có mẫu mã chất lượng tốt mà giá cả lại phảichăng Ngoài ra các chế độ hậu mãi cúng là một cách để thu hút sự quan tâmchú ý của khách hàng Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải tạo
Trang 29cho được sự khác biệt giữa thứ hàng hoá dịch vụ mà mình cung cấp cho thịtrưòng với các sản phẩm cùng loại.
Ngày nay, với bất kì sản phẩm nào, khi 1 nhà cung cấp đưa ra thị trườngthì ngay lập tức sẽ có nhiều sản phẩm tương tự ra đời, và như vậy, cần hoànthiện sản phẩm đẻ sản phẩm đó đứng vững và phát triển trên thị trường Bêncạnh đó cần quan tâm đến các hoạt động xúc tiến như quàng cáo, khuyến mại,trưng bày giới thiệu sản phẩm, hội nghị khách hàng… nhằm thu hút sự chú ýcủa khách hàng, đó cũng là một cách để nâng cao khả năng cạnh tranh
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty thông tin
di động VMS MobiFone nói riêng
Đặc điểm nổi bật và dễ nhận thấy của VMS MobiFone là một công ty kinhdoanh dịch vụ- dịch vụ thông tin di động Một ngành còn non trẻ và khá mới
mẻ so với lịch sử phát triển của các ngành khác trên thế giới (mới hơn 10năm) nhưng có tốc độ phát triển nhanh chóng Ở Việt Nam, từ chỗ chỉ có 2nhà cung cấp là Công ty thông tin di động MobiFone và Công ty dịch vụ viễnthông VinaFone đến nay đã có 6 nhà cung cấp dịch vụ này bao gồm: Công tythông tin di động VMS MobiFone, công ty dịch vụ viễn thông VinaFone,công ty viễn thông quân đội Viettel Mobile, S Phone, công ty viễn thông điệnlực EVN Telecom và một thành viên vừa mới ra mắt thị trường vào đầu năm
2007 vừa qua HT Mobile 6 nhà cung cấp, với những mục tiêu, phươnghướng và chiến lược cạnh tranh khác nhau đang cung nhau chia sẻ miếngbánh thị trường Các nhà cung cấp cạnh tranh với nhau dựa trên việc khai tháccác lợi thế cạnh tranh, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh củacác doanh nghiệp bao gồm các yếu tố chính sau:
- Công nghệ
- Dịch vụ
- Vùng phủ sóng và chất lượng sóng
Trang 30- Giá cước
- Công tác chăm sóc khách hàng…
Công nghệ: Trên thế giới hiện nay sử dụng phổ biến 2 loại công nghệ là
GSM và CDMA với tỷ lệ GSM/CDMA khoảng bằng 80/20 Ở Việt Nam có 3nhà cung cấp sử dụng công nghệ GSM là MobiFone, VinaFone và Viettel và
3 nhà cung cấp sử dụng công nghệ CDMA là S Phone, EVN và HT Mobile.Theo xu thế phát triển thị trường thì trong những năm qua thì GSM vẫn làcông nghệ được sử dụng nhiều hơn,chiếm ưu thế hơn, số lượng các thuê baocủa các mạng sử dụng công nghệ này cũng lớn hơn so với mạng sử dụngcông nghệ CDMA rất nhiều
Dịch vụ: Cùng với sự đòi hỏi ngày cangg cao của người tiêu dùng , các
nhà cung cấp đã và đang đưa ra nhiều loại hình dịch vụ, nhiều tiện ích nhằmthoả mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng Các dịch vụ phổ biến có thểthấy như kết nối tin nhắn, các dịch vụ trên nền tin nhắn, nhắn tin quốc tế,chuyểnn vùng quốc tế,GPRS, Wap, dịch vụ nhạc chuông cho người gọi, tảinhac chuông, hình ảnh….VMS MobiFone cũng đã đưa ra gần 30 loại dịch vụphong phú, đa dạng Nhiều tiện ích giúp khách hàng có thể tiếp cận thông tinmột cách nhanh nhất Chỉ tính riêng dịch vụ cộng thêm trên nển tin nhắn cũng
đã có rất nhiều loại hình được cung cấp như dự báo thời tiết, tra kết quả sổ xố,bóng đá, các thông tin kinh tế xã hội, giải trí, học hành…và mới đây nhất làdịch vụ tra chứng khoán bằng tin nhắn giúp khách hàng biết đựơc nhữngthông tin nóng hổi nhất từ các sàn giao dịch tại Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh, mà chỉ cần một tin nhắn đơn giản, với chi phí thấp thuận tiện
Vùng phủ sóng: Vùng phủ sóng rộng với chất lượng ổn định là một
trong những tiêu chí để khách hàng lựa chọn mạng thông tin di động Nhờ cóvùng phủ sóng rộng , khách hàng ở mọi miền đất nước có thể liên lạc kết nốivới nhau mọi nơi Hiện nay hầu hết các mạng di động đều đã hoặc tiến tới phủ
Trang 31sóng 64/64 tỉnh thành phố trên cả nước, phủ sóng toàn diện ba miền bắc trungnam, phủ sóng tới cả các cùng núi vùng sâu vùng sa, biên giới hải đảo, bảođảm dù có đi đâu về đâu thì vẫn kết nối được với nhau Do vậy đây là côngtác được tất cả các mạng đặc biệt quan tâm Chạy đua phủ sóng, nâng caochất lượng các trạm thu phát sóng nhằm đảm bảo không chỉ gọi được ỏ mọinơi mà chất lượng mạng cuộc gọi đảm bảo ổn định không ngẽn mạng, khôngrớt mạng đặc biệt vào các dịp lễ tết…
Chăm sóc khách hàng: Công tác chăm sóc khách hàng được các mạng
đặc biệt coi trọng Bởi vì các điểm giao dịch là nơi thể hiện rõ ràng nhất bộmặt của công ty Hình thức điểm giao dịch cũng như thái độ của người làmdịch vụ thể hiện tiêu chí của công ty đối với các khách hàng của mình RiêngMobiFone đã đưa ra 8 cam kết đối với khách hàng nhằm đưa lại cho kháchhàng sự phục vụ tốt nhất, hài lòng nhất đối với khách hàng được sử dụng dịch
vụ của MobiFone Tám cam kết đối với khách hàng bao gồm:
1 Đón tiếp mỗi khách hàng với lời chào, cử chỉ, nụ cười, ánh mắt thânthiện Nếu có thể, gọi tên khách hàng;
2 Lắng nghe và phục vụ khách hàng với thái độ tôn trọng;
3 Cố gắng tìm hiểu và dự đoán nhu cầu của khách hàng nhằm đáp ứnghơn những mong đợi của khách hàng;
4 Cung cấp thông tin đúng về tất cả các dịch vụ, sản phẩm củaMobiFone và trả lời nhanh chóng, chính xác các câu hỏi của khách hàng;
5 Khi khách hàng có yêu cầu hoặc gặp khó khăn về sử dụng dịch vụ,chúng ta phải có trách nhiệm trước khách hàng và giải quyết hoàn chỉnh cácyêu cầu đó cho đến khi khách hàng hài lòng;
6 Giữ lời hứa và trung thực;
Trang 327 Đích thân xin lỗi khách hàng khi khách hàng không hài lòng với dịch
vụ của chúng ta, cho dù chúng ta có lỗi hay không;
8 Cảm ơn khách hàng và khuyến khích khách hàng đóng góp ý kiến vềviệc cung cấp dịch vụ MobiFone./
Đây cũng là công tác được tất cả các mạng quan tâm vơi mục tiêu hướng tới vì sự hài lòng của khách hàng
1 Khái quát quá trình phát triển của công ty thông tin di động VMS MobiFone
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty thông tin di động được thành lập ngày 16/4/1993 theo quyết định
số 3231/QĐ-TCCB ngày 11/10/1997 của tổng cục trưởng cục bưu điện vềviệc thành lập doanh nghiệp nha nước công ty thông tin di động Quyết địnhnày nêu rõ: “ Công ty thông tin di động là đơn vị hạch toán độc lập trực thuộctổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam” ( nay là tập đoàn bưu chính
viễn thông Việt Nam) và có tên giao dịch quốc tế là “VietNam Mobile Telecom Services.Co ( VMS)” Mạng thông tin di động thống nhất lấy tên là
MobiFone Hiện nay công ty có trụ sở chính tại 216 Trần Duy Hưng
Sau một năm thành lập, tháng 5/1994, mạng lưới thông tin di động GSM
sử dụng thiết bị của hãng ERICSSON- nhà cung cấp thiết bị GSM hàng đầu
Trang 33thế giới- đã ra đơì và phục vụ thông tin di động cho khu vực Thành phố HồChí Minh , Long Thành, Vũng Tàu, Biên Hoà gồm một tổng đài với dunglượng ban đầu khoảng 6400 thuê bao, 6 trạm thu phát sóng vô tuyến Tháng7/1994, công ty thông tin di động tiếp tục quản lý khai thác mạng lưới thôngtin di động thử nghiệm tại Hà Nội, gồm một tổng đài dung lượng 2000 thuêbao, 7 trạm thu phát sóng vô tuyến Đến cuối năm 1995, mạng thông tin diđộng đã được phủ sóng tại miền trung gồm một tổng đài với dung lượng banđầu khoảng 3500 thuê bao, 10 trạm thu phát sóng vô tuyến.
Bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử phát triển của công ty thông tin diđộng VMS là việc ký hợp đồng kinh doanh với tập đoàn Comvik/Kennivik(CIV) của Thụy Điển theo hình thức hợp doanh BCC (Business Contract Co-operation) vào ngày 19/5/1995 với thời hạn thực hiện hợp đồng là 10 năm, tức
là đến năm 19/5/2005 Trong hợp đồng này tỷ lệ vốn góp của VMS/CIV là53/47 Với hình thức này, công ty VMS đã khắc phục được tình trạng thiếuvốn, công nghệ và kinh doanh có hiệu quả Sau khi kí kết hợp đồng hợp táckinh doanh với CIV, số lượng thuê bao của VMS đã tăng lên nhanh chóng.Ngày 101/08/1995 Chính phủ phê duyệt nghị định số 51/CP chính thứccông nhận công ty thông tin di động Việt Nam- VMS trở thành đơn vị hạchtoán độc lập trực thuộc tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam
Trải qua hơn 13 năm xây dựng và phát triển, hiện nay hệ thống thông tinđộng của công ty có 10 tổng đài MSC, 69 BSC, 2100 trạm BTS, phủ sóng64/64 tỉnh thành phố cùng hệ thống cửa hàng giao dịch trên cả nước, chuyểnvung quốc tế với 146 mạng, 56 nước trên thế giới Quản lý trên 6 triệu thuêbao trên mạng.Cùng với sự phát triển nhanh của nhu cầu người tiêu dùng, của
xã hội, công ty đã tập trung nhân lực và vật lực để đầu tư phát triển mạnglưới, chỉ tính riêng năm 2006 công ty đã: mở rộng dung lượng hệ thống IN lên5000K, phát triển thêm 750 trạm thu phát sóng nâng tổng số trạm thu phát
Trang 34sóng trên toàn mạng lên 2100 trạm Đưa vào khai thác MSC5, MSC6,MSC7miền nam, nâng tổng dung lượng tổng đài trên toàn mạng lên 10MSC tươngứng với 6800K thuê bao Mở rộng dung lượng hệ thống SMSC lên 2734KBHMS, trang bị và đưa vào khai thác hệ thống dịch vụ FunRing, USSDGateway, MobiEZ, Web Portal, SIM 64K…
Công ty đã đưa ra cho khách hàng nhiều loại dịch vụ, nhiều gói cướckhác nhau phù hợp với nhu cầu tiêu dùng và khả năng chi trả của kháchhàng:
Dịch vụ đầu tiên của công ty VMS là dịch vụ Mobifone (loại dịch vụtrả tiền sau) với chức năng gọi đi bình thường được chính thức đưa dịch vụnày vào ngày 10/05/1994
Tháng 10/1999 công ty đưa ra dịch vụ thứ hai là Mobicacrd (loại hìnhdịch vụ trả tiền trước) với chức năng ngày càng hấp dẫn hơn
Tháng 2/2002 công ty đưa ra loại hình dịch vụ thứ 3 là Mobi4U (làloại hình dịch vụ thông tin di động trả tiền trước tình cước thuê bao ngày Đến tháng 6/2003 Mobiplay là loại hình dịch vụ thứ 4 ra đời (loại hìnhdịch vụ trả tiền trước với chức năng gửi tin nhắn và nhân cuộc gọi
Song song với việc phát triển các dịch vuh thông tin di động thì công tycũng đã hình thành nhiều dịch vụ tiện ích, nhiều loại hình dịch vụ giá trị giatăng, đưa đến cho khách hàng sự đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn… Như :+ Tin nhắn và các dịch vụ trên nền tin nhắn ( tra cứu chứng khoán, bảntin thời tiết, nhắn tin quảng bá, nhắn tin ngắn, nhắn tin quốc tế, dự đoán kếtquả bóng đá…
+ Dịch vụ chăm sóc khách hàng 24/24
+ Dịch vụ hộp thư thoại
+ Dịch vụ chuyển gói mạch
Trang 35Vào tháng 5/2005, công ty thông tin di động đã chấm dứt hợp đồng hợptác kinh doanh với tập đoàn Comvik/Kennivik Và hiện nay, công ty đanghoạt động với danh nghĩa chỉ là một doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lậptrực thuộc VNPT( tập đoàn bưi chính viễn thông Việt Nam) chứ không còn làliên doanh nữa.
1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty
Chức năng nhiệm vụ chính của công ty là: Tổ chức xây dựng, xây dựng
và phát triển mạng lưới, quản lý, khai thác dịch vụ thông tin di động, kinhdoanh và phục vụ các nhiệm vụ chính trị theo kế hoạch được VNPT giao.Công ty có các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Xây dựng mạng lưới thông tin di động hiện đại, sử dụng công nghệtiên tiến, kết hợp nối mạng Thông tin di động toàn cầu và khu vực, kết hợpnối mạng viễn thông cố định
- Cung cấp các loại hình thông tin di động đa dạng: Điên thoại, nhắntin, fax, truyển số liệu, báo động, báo cháy, cấp cứu… phục vụ nhu cầu thôngtin của ngành, của các cấp và nhân dân cả nước
Trang 36- Xây dựng giá thành sản phẩm, định mức tiền lương trên cơ sởnhững quy định của nhà nước và của tập đoàn.
Lĩnh vực hoạt động chính của công ty thông tin di động là khai thácmcung cấp các loại hình dịch vụ Thông tin di động Các loại hình dịch vụ nàyngày càng đựơc đa dạng, phong phú thích ứng với nhu cầu của khách hàng,phù hợp với khoa học công nghệ hiện đại và có đủ sức cạnh tranh trên thịtrường
Để đảm bảo cho việc tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh,
bộ máy quản lý của công ty Thông tin di động VMS MobiFone được tổ chứcnhư sau:
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty thông tin di động
Nguồn: www.mobifone.com.vn
Giám đốc Công ty
Trung tâm
Trung tâm TTDĐ KV IV
Trung tâm TTDĐ
KV III Phòng XNK
Phòng TH-TC Phòng ĐTXD
Phòng CSKH Phòng CNPTM
Trung tâm TTDĐ KV II
Phòng TC-HC
Phòng TTCP
Trang 37Ngoài trụ sở chính, hiện nay công ty còn có 4 trung tâm trực thuộc và 1
xí nghiệp thiết kế
Trung tâm Thông tin di động khu vực I có trụ sở chính tại Hà Nội, chịu
trách nhiệm kinh doanh và khai thác mạng thông tin di động khu vực miềnBắc (các tỉnh phía Bắc đến Hà Tĩnh):
Địa chỉ: Số 811A đường Giải Phóng, Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà
Nội
- Trung tâm Thông tin di động khu vực II có trụ sở chính tại TP Hồ Chí
Minh, chịu trách nhiệm kinh doanh và khai thác mạng thông tin di động khuvực miền Nam (từ tỉnh Ninh Thuận đến các tỉnh miền Ðông Nam Bộ và TP
Hồ Chí Minh):
Địa chỉ: MM18 đường Trường Sơn, Phường 14, Quận 10, Thành phố
Hồ Chí Minh
- Trung tâm Thông tin di động khu vực III có trụ sở chính tại Ðà Nẵng,
chịu trách nhiệm kinh doanh và khai thác mạng thông tin di động khu vựcmiền Trung và Cao Nguyên (từ tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Khánh Hoà và tỉnhÐắc Lắc:
Địa chỉ: Số 263 đường Nguyễn Văn Linh, Thành phố Đà Nẵng.
- Trung tâm Thông tin di động khu vực IV có trụ sở chính tại Cần Thơ,
chịu trách nhiệm kinh doanh và khai thác mạng thông tin di động khu vực 10tỉnh miền Tây Nam Bộ:
Địa chỉ: Số 51F đường Nguyễn Trãi, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần
Thơ
Trang 38- Xí nghiệp thiết kế thành lập ngày 21 tháng 1 năm 1997 có trụ sở tại
Hà Nội với nhiệm vụ tư vấn, khảo sát, thiết kế xây dựng các công trình thôngtin di động
Lãnh đạo công ty gồm;
- Giám đốc công ty: Phụ trách chung toàn bộ hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty, trực tiếp phụ trách các bộ phận: Kế hoạch bán hàng vàmarketing, tổ chức hành chính, xuất nhập khẩu
- Phó giám độc giúp việc cho Giám đôc:
- Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban chức năng trong công ty:Theo quyết định số 2210 ngày 20/12/1996 của Giám đốc công ty thôngtin di động quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các đơn vị trực thuộcCông ty thông tin di động như sau:
a, Phòng Tổ chức hành chính:
Phòng tổ chức hành chính là phòng chức năng của công ty giúp Giám đốcchỉ đạo và thực hiện các mặt công tác sau:
- Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy của công ty
- Công tác nhân sự và đào tạo
- Công tác lao động tiền lương
- Công tác hành chính và quản trị
- Công tác bảo vệ, an ninh quốc phòng, thanh tra an toàn lao động
- Công tác thi đua khen thưởng
- Công tác thông tin nội bộ
b, Phòng kế toán thống kê tài chính:
Trang 39Phòng kế toán thống kê tài chính là phòng chức năng cuả công ty giúpgiám đốc chỉ đạo và thực hiện các mặt công tác sau:
- Tổ chức bộ máy kế toán toàn công ty
- Tổ chức và thực hiện hạch toán kế toán
- Tổ chức và thực hiện công tác thống kê tài chính
- Tổ chức và thực hiện công tác tính cước và thu cước
- Quản lý lao động, vật tư trang thiết bị thuộc đơn vị mình phụ trách và
sử dụng đúng mục đích, nhiệm vụ theo quy định của nhà nước, của Ngành,của công ty
- Xây dựng phương hướng, nhiệm vụ , mục tiêu và các chỉ tiêu kế hoạchngắn hạn , dài hạn theo định hướng chiến lược của ngành của công ty và tổchức bảo vệ
- Hướng dẫn và chỉ đạo các đơn vị tiến hành xây dựng phương án triểnkhai và thực hiện kế hoạch được giao, quá trình thực hiện có sự theo dõi kiểmtra chặt chẽ, điều chỉnh bổ sung kịp thời, đề xuất các chủ trương biện phápthích hợp giúp các đơn vị hoàn thành kế hoạch
- Hướng dẫn và chỉ đạo các cơ sở xây dựng phương án triển khai và thựchiện kế hoạch được giao , quá trình thực hiện có sự theo dõi, kiểm tra chặt
Trang 40chẽ, điều chỉnh kịp thời, đề xuất các chủ trương biện pháp thích hợp giúp cácđơn vị hoàn thành kế hoạch
- Xây dụng kế hoạch phát trỉên mạng thông tin di động đáp ứng nhu cầucủa thị trường ngắn hạn và dài hạn
- Khai thác và bố trí các nguồn vốn cho việc thực hiện các kế hoạch
- Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo từng thời kỳ
- Tổ chức triển và quản lý việc cung cấp dịch vụ thông tin di động và cácdịch vụ khác có liên quan
- Chỉ đạo và thực hiện việc ký hợp đồng kinh tế phục vụ cho sản xuấtkinh doanh (trừ hợp đồng xuất khẩu thiết bị và dự án đầu tư SCL)
- Xây dựng, hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị đơn vị thực hiện các chế độ,thể lệ, thủ tục bán và Marketing theo đúng quy định hiện hành
- Xây dựng kế hoạch , đề xuất việc nhâpk khẩu các máy đầucuối( Cellular và nhắn tin) Simcard, tham gian đàm phán việc ký kết hợpnhập khẩu máy đầu cuối simcard
- Ngiên cứu, đê xuất chính sách giá cả , chủng loại sản phẩm , cước phídịch vụ thông tin di động Tổ chức kiểm tra các đơn vị cơ sở thực hiện
- Chỉ đạo và điều hành mọi hoạt động bán hàng và Marketing trong toàncông ty:
- Quy hoạch mạng lưới bán hàng và đại lý trong toàn quốc
- Chỉ đạo điều hành , phân phối vật tư hàng hoá trong toàn công ty
Nghiên cứu đề xuất, chỉ đạo và thực hiện mọi hoạt động Marketing,khuyến mại, nghiên cứu thị trường, quảng cáo, đồng phục, mẫu cửa hàng, sảnphẩm…
- Báo cáo định kỳ và đột xuất với lãnh đạo công ty về mọi hoạt động vàkết quả thực hiện công tác thuộc trách nhiệm, quyền hạn của phòng và chịutrách nhệm về tính chính xác và trung thực của báo cáo đó