MỞ ĐẦU Sự cần thiết nghiên cứu Trong thập kỷ 90, trên con đường tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế, các chính sách và công cụ tài chính, tiền tệ đã được tích cực sử dụng h
Trang 1MỤC LỤC
NƯỚC NGOÀI VỀ SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Chương 1 NHỮNG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN MỚI VỀ TÀI
CHÍNH, TIỀN TỆ TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.2.1 Xác định mục tiêu của chính sách tiền tệ 29 1.2.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ và sự lựa chọn 32 1.2.3 Chính sách ngoại hối và chế độ điều hành tỷ giá 39
1.4.2 Mối quan hệ tác động qua lại giữa CSTK và CSTT trong việc thực hiện các mục
Chương 2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC SỬ DỤNG
CÔNG CỤ TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ THÚC ĐẨY TĂNG
Trang 22.2.2 Kinh nghiệm về thực thi CSTT 63 2.2.3 Kinh nghiệm về cải cách hệ thống tỷ giá hối đoái 71 2.2.4 Kinh nghiệm về thiết lập hệ thống giám sát tài chính hiện đại 74
CHÍNH, TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
Chương 1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
1.3.1 Đánh giá kết quả xử lý bội chi ngân sách nhà nước và nợ công giai đoạn
1.3.2 Những vấn đề đặt ra trong xử lý bộ chi NSNN và quản lý nợ công giai đoạn
Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
2.1.1 Đánh giá kết quả thực hiện CSTT giai đoạn 2001-2005 142 2.1.2 Những vấn đề đặt ra trong điều hành CSTT giai đoạn 2001-2005 143
2.2.1 Đánh giá kết quả quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá giai đoạn 2001-2005 150 2.2.2 Những vấn đề đặt ra về quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá giai đoạn 2001-
Trang 32.3 THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT GIAI
2.3.1 Đánh giá tình hình thực hiện chính sách tín dụng và lãi suất giai đoạn 2001-2005 162 2.3.2 Những vấn đề đặt ra trong chính sách tín dụng và lãi suất giai đoạn 2001-2005 166
2.4.1 Đánh giá kết quả phối hợp CSTK và CSTT trong việc thực hiện các mục tiêu
2.4.2 Những hạn chế của cơ chế phối hợp CSTK và CSTT trong việc thực hiện các
Chương 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2001-2005 175
3.1.1 Đánh giá tình hình phát triển của thị trường tiền tệ giai đoạn 2001-2005 175 3.1.2 Những vấn đề đặt ra đối với thị trường tiền tệ giai đoạn 2001-2005 177
Chương 1 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ MỤC TIÊU ĐỊNH
HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ VIỆT
TRONG NƯỚC ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÀI
1.1.1 Xu hướng và đặc điểm kinh tế thế giới giai đoạn 2006-2010 209 1.1.2 Bối cảnh kinh tế trong nước giai đoạn 2006-2010 216
1.2.1 Các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội đến 2010 220 1.2.2 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu 221 1.2.3 Các định hướng phát triển tài chính, tiền tệ đến năm 2010 221
Trang 41.3 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHỦ YẾU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
1.3.1 Cơ hội đối với hoạt động kinh tế và tài chính, tiền tệ Việt Nam 222 1.3.2 Thách thức đối với kinh tế và tài chính, tiền tệ 225
Chương 2 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CHÍNH
SÁCH TÀI KHÓA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2010 231
2.1.1 Yêu cầu chủ yếu điều chỉnh cơ cấu thu NSNN giai đoạn 2006-2010 231 2.1.2 Định hướng điều chỉnh cơ cấu thu NSNN 232 2.1.3 Chính sách và giải pháp điều chỉnh cơ cấu thu NSNN 233
2.2.1 Yêu cầu chủ yếu điều chỉnh cơ cấu chi NSNN giai đoạn 2006 -2010 242 2.2.2 Định hướng đổi mới cơ cấu chi NSNN 242 2.2.3 Chính sách giải pháp đổi mới cơ cấu chi NSNN giai đoạn 2006-2010 244
2.3.1 Quan điểm về xử lý bội chi NSNN nhằm duy trì sự bền vững của NSNN trong
2.3.2 Định hướng về bội chi NSNN và xử lý nợ công nhằm duy trì sự bền vững hợp lý
2.3.3 Các giải pháp xử lý và tăng cường quản lý nợ công trong giai đoạn 2006-2010 255
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
3.1.1 Xác định hệ thống mục tiêu và cơ chế truyền tải CSTT 261 3.1.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thống mục tiêu, cơ chế truyền tải CSTT 262
GIỮA CSTK VÀ CSTT TRONG ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH
3.4.1 Định hướng phối hợp giữa CSTK và CSTT 276 3.4.2 Giải pháp tăng cường phối hợp giữa CSTK và CSTT 277
Trang 5Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 280
4.1.1 Định hướng chủ yếu phát triển thị trường tiền tệ giai đoạn 2006-2010 280 4.1.2 Giải pháp phát triển thị trường tiền tệ giai đoạn 2006 – 2010 281
4.2.1 Định hướng chủ yếu phát triển thị trường vốn giai đoạn 2006-2010 284 4.2.2 Giải pháp phát triển thị trường vốn 2006-2010 285
4.3.1 Sự cần thiết phải đổi mới và hoàn thiện hệ thống thanh tra, giám sát TTTC và
4.3.2 Giải pháp đổi mới hệ thống giám sát thị trường tài chính, hình thành tổ chức giám
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
Trang 7NSTW Ngân sách Trung ƣơng
PT&DB Phân tích và dự báo
Trang 8MỞ ĐẦU
Sự cần thiết nghiên cứu
Trong thập kỷ 90, trên con đường tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế, các chính sách và công cụ tài chính, tiền tệ đã được tích cực sử dụng hướng vào mục tiêu phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển Nhờ vậy, nền kinh tế nước ta đã có bước tăng trưởng cao trong thời gian dài, tạo đà cho
sự phát triển kinh tế trong cả giai đoạn 1991-2000 Bước vào giai đoạn
2001-2010, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta đã đặt ra mục tiêu cao về mức tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội và xoá đói giảm nghèo
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ to lớn đó, Chính phủ đã sử dụng đồng bộ hệ thống các công cụ kinh tế, trong đó có tài chính, tiền tệ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh Tổng kết hoạt động thực tiễn giai đoạn 2001-2005 đã chứng tỏ rằng: CSTC và CSTT đã góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng, thực hiện thành công chiến lược xóa đói giảm nghèo, đảm bảo điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001-2005
Bước vào giai đoạn 2006-2010 – giai đoạn mở cửa hội nhập đầy đủ và sâu rộng với nền kinh tế thế giới, đã nảy sinh nhiều cơ hội mới, đồng thời cũng đặt ra những thách thức và khó khăn nhiều mặt trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ Trong bối cảnh đó, CSTC và CSTT đang đặt ra nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết
Thứ nhất, CSTK, đặc biệt là chính sách thu, chi NSNN đã được đổi mới
theo hướng huy động và phân bổ có hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện xóa đói giảm nghèo và công bằng
xã hội Tuy nhiên, CSTK còn nhiều hạn chế và bất cập, chưa trở thành khâu đột phá, có tác dụng mở đường thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội Phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính còn kém hiệu quả, thất thoát lãng phí lớn, đầu tư của Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhưng mức đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng; cơ chế, CSTC tuy đã được đổi mới nhưng còn nhiều bất cập, không tương thích với thông lệ quốc tế
Thứ hai, CSTT, mặc dù đã được sử dụng linh hoạt để điều tiết vĩ mô
song hiệu quả thấp; hoạt động tín dụng trung và dài hạn còn chậm phát triển, chưa đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn cho phát triển kinh tế - xã hội, chính sách ngoại hối còn nhiều bất cập
Thứ ba, TTTC đã hình thành và trở thành một kênh huy động vốn
quan trọng cho ĐTPT nhưng hoạt động chưa ổn định và chưa vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro Bên cạnh đó hoạt động của các trung gian tài chính còn bất cập, chức năng nhiệm vụ chồng chéo, hiệu quả thấp Mặt khác, giám sát TTTC – một chức năng quan trong trong hoạt đồng tài chính ngân hàng tuy được chú trọng nhưng hiệu quả hoạt động thấp, cần phải được nghiên cứu đổi mới hoàn thiện cả về nội dung, phương pháp và tổ chức bộ máy giám sát TTTC
Trang 9Thứ tư, mặc dù tài chính, tiền tệ là những phạm trù kinh tế khác nhau,
nhưng có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, trở thành các công cụ điều tiết quan trọng nền kinh tế thị trường, song trong hoạt động thực tiễn, việc hoạch định và điều hành chính sách tài chính, tiền tệ chưa tạo ra sự gắn kết hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Thứ năm, những vấn đề nêu trên được đặt trong bối cảnh Việt nam đã
gia nhập WTO Vì vậy, vấn đề điều chỉnh các CSTK và CSTC cho phù hợp với thông lệ quốc tế càng trở nên cấp bách
Với ý nghĩa là một lĩnh vực then chốt mang tính huyết mạch đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các chính sách và công cụ tài chính, tiền
tệ cần phải được đổi mới và hoàn thiện hướng vào thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô, trong đó có mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng, kiềm chế lạm pháp, tạo công ăn, việc làm, và xử lý các vấn đề thâm hụt thương mại Trong đó, việc xác định những vấn đề cơ bản của tài chính, tiền tệ trong giai đoạn mới (2006-2010) có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 ở nước ta
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Một số vấn đề cơ bản về tài chính,
tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2006 -2010” ở cấp Nhà nước là cần thiết,
không chỉ có nghĩa tổng kết những lý luận mới, hiện đại về tài chính, tiền tệ,
mà còn góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách do thực tiễn đặt ra trong việc đề xuất hệ thống giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ tài chính, tiền tệ, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững như Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 đã đặt ra, đồng thời tạo cơ sở vững chắc để phát triển tăng tốc trong giai đoạn 2010-2020
Tình hình nghiên cứu
Trong kinh tế thị trường, những vấn đề lý luận về tài chính – tiền tệ đã được các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm nghiên cứu trong lịch sử phát triển của mình Nhiều quan điểm và các luận thuyết về tài chính, tiền tệ theo các trường phái khác nhau đã hình thành và trở thành những vấn đề kinh điển trong các học thuyết kinh tế
Tuy nhiên, trong kinh tế học hiện đại, các nhà khoa học đã nhận thấy rằng, không thể chỉ sử dụng thuần tuý một học thuyết nào đó trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ để giải quyết các vấn đề phức tạp của nền kinh tế Các nhà kinh tế học ngày nay cho rằng, cần phải kết hợp các học thuyết kinh tế này thông qua việc sử dụng linh hoạt chính sách tài khoá và CSTT mới bảo đảm hiệu quả điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Việc sử dụng các lý thuyết của kinh tế học hiện đại để điều tiết vĩ mô nền kinh tế đã được vận dụng linh hoạt và uyển chuyển tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ Chẳng hạn, trong giai đoạn 1992-2000 Chính quyền của Tổng thống Bill Cliton đã vận dụng hiệu
Trang 10quả CSTK và CSTT để điều tiết vĩ mô nền kinh tế và kết quả là nền kinh tế
Mỹ đã đạt những thành tựu to lớn với những bước phát triển ngoạn mục trong thập kỷ 90
Trong số các nền kinh tế mới nổi, Hàn Quốc là nước đã đạt được những thành công đáng kể trong việc sử dụng các công cụ của CSTK và CSTT để giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội trong phạm vi quốc gia Đặc biệt là Trung Quốc - một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi với nhiều nét tương đồng như Việt Nam – cũng rất thành công trong việc sử dụng hiệu quả các công cụ của CSTK và CSTT để can thiệp và điều chỉnh sự phát triển nền kinh tế Trung Quốc, giữ cho kinh tế tăng trưởng nhanh trong gần 3 thập kỷ
Ở nước ta, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, những vấn đề lý luận, cũng như đánh giá thực tiễn sử dụng công cụ tài chính – tiền tệ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và ổn định luôn luôn thu hút sự quan tâm chú ý của cả Chính phủ lẫn giới khoa học
Trong công cuộc đổi mới quản lý kinh tế ở nước ta đã xuất hiện nhiều chương trình nghiên cứu về chính sách và công cụ tài chính – tiền tệ Đặc biệt trong thập kỷ 90, nhất là những năm 1998-2003 đã công bố nhiều công trình nghiên cứu phục vụ hoạch định chính sách và chiến lược trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ: Chiến lược tài chính Việt nam đến năm 2010; Chiến lược phát triển ngân hàng giai đoạn 2001 – 2010; Chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2001 – 2010; Chiến lược phát triển bảo hiểm giai đoạn 2001 – 2010; Chiến lược vay và trả nợ nước ngoài đến năm 2010 Trong các chương trình nghiên cứu đó, nhiều giải pháp về tài chính – tiền tệ đã được đề xuất nhằm thúc đẩy nền kinh tế – xã hội phát triển nhanh và bền vững
Hàng năm, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á… thường đưa ra các báo cáo đánh giá
về thực trạng công cuộc cải cách kinh tế-xã hội của Việt Nam Các báo cáo này khá tổng quát, bao trùm hầu hết các vấn đề nổi cộm của nền kinh tế, xã hội Việt Nam như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, đầu tư, cải cách tài khoá, cải cách ngân hàng… Đồng thời, các báo cáo này cũng đưa ra một
số đề xuất, kiến nghị đối với Việt Nam về các giải pháp tài chính – tiền tệ nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách kinh tế - xã hội trong những năm tiếp theo
Tuy nhiên, đây là cách nhìn của các tổ chức quốc tế, chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của tư tưởng phát triển nền kinh tế thị trường phát triển Do vậy, một số nhận xét, đánh giá và định hướng phát triển về kinh tế-xã hội Việt Nam còn phù hợp với thực tiễn có tính đặc thù của nền kinh tế Việt Nam Do
đó, một số đề xuất, kiến nghị có tính chất đẩy mạnh cải cách quá “nhanh, mạnh” sẽ khó có khả năng thực hiện trong tương lai gần Các đánh giá, nhận xét cũng như đề xuất kiến nghị chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực, vấn đề then chốt như CSTK, CSTT mang tính vĩ mô cao, mức độ cụ thể thấp Các
dự báo về phát triển kinh tế, xã hội thường trong ngắn hạn (1 – 3 năm) Tuy
Trang 11vậy, nghiên cứu kỹ các báo cáo này rất có ý nghĩa đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học Việt Nam nhằm bổ sung, hoàn thiện hệ thống giải pháp và xác định bước đi, lộ trình thích hợp cho tiến trình cải cách kinh tế- xã hội ở nước ta
Bước vào giai đoạn 2006-2010, giai đoạn hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế thế giới, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội trong và ngoài nước nẩy sinh sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tài chính, tiền tệ của đất nước Tác động đó có thể đưa đến sự vận động của phạm trù tài chính, tiền tệ theo những định hướng khác nhau Việc nắm bắt được những xu thế đó để có giải pháp điều chỉnh kịp thời đang đặt ra những nhiệm vụ cấp bách cho các nhà khoa học kinh tế Việt Nam Xét theo khía cạnh đó, đến nay vẫn chưa có một công trình hoặc những nghiên cứu nào có cách đánh giá đầy đủ, toàn diện mang tính vĩ mô về thực tiễn hoạt động tài chính-tiền tệ giai đoạn 2001-2005
ở nước ta, tạo cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất định hướng CSTC và CSTT trong giai đoạn 2006-2010 Những nghiên cứu trong đề tài này sẽ kế thừa hợp lý những lý luận và kinh nghiệm quốc tế để vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể nước ta
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát chung nhất của đề tài là nghiên cứu nhằm tổng kết những lý luận mới, hiện đại về tài chính-tiền tệ, nhận dạng những vấn đề cơ bản về tài chính – tiền tệ của nước ta trong giai đoạn hiện nay, đề xuất phương hướng giải pháp xử lý các vấn đề cơ bản về tài chính, tiền tệ giai đoạn 2006-2010 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Đánh giá thực trạng tài chính, tiền tệ Việt Nam giai đoạn 2001–
2005, chỉ rõ những thành tựu, những mặt hạn chế, yếu kém của công cuộc cải cách tài chính, tiền tệ
Phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế giai đoạn 2006-2010, những cơ hội và thách thức đặt ra đối với hoạt động tài chính – tiền tệ ở nước ta, trên cơ sở đó xác định mục tiêu, nhiệm
vụ và định hướng đổi mới lĩnh vực tài chính – tiền tệ giai đoạn 2006-2010
Xác định rõ những yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn 2006-2010 đặt ra cho lĩnh vực tài chính, tiền
Trang 12tệ, trên cơ sở đó vạch rõ những vấn đề tài chính, tiền tệ cơ bản cần giải quyết và luận cứ khoa học và thực tiễn của việc xác định đó
Xác lập các quan điểm và yêu cầu giải quyết có hiệu quả các vấn
đề cơ bản về tài chính, tiền tệ nhằm nâng cao vai trò và tác động của tài chính, tiền tệ trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn 2006-2010
Đề xuất được hệ thống giải pháp về các vấn đề tài chính – tiền tệ
cơ bản giai đoạn 2006 – 2010 phù hợp kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập
Cách tiếp cận nghiên cứu
Tài chính và tiền tệ là hai phạm trù độc lập có các chức năng riêng có của mình, có quá trình phát sinh, phát triển trong những điều kiện khác nhau, nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết và chặt chẽ với nhau
Tài chính ra đời phải có 2 điều kiện: sự ra đời của nhà nước và sự phát sinh, phát triển của kinh tế hàng hóa và tiền tệ Tài chính phản ánh và biểu hiện sự vận động của tiền tệ trong quá trình hình thành các quỹ tiền tệ của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế Tài chính không phải là tiền tệ, mà chỉ dùng tiền tệ làm hình thức biểu hiện cho nội dung vật chất của mình Bản thân tài chính và tiền tệ là hai thuộc tính khác nhau và trở thành đối tượng và những vấn đề nghiên cứu khác nhau của khoa học kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, tài chính và tiền tệ là hai công cụ quan trọng được nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Tuy nhiên, bản thân trong nội hàm từng công cụ và CSTC hay CSTT cũng chứa dựng nhiều lĩnh vực và nhiều khâu khác nhau, mà mỗi lĩnh vực đó, trong điều kiện phát triển kinh tế và mở cửa hội nhập ở nước ta hiện nay đều là những vấn đề có nội dung nghiên cứu rất phức tạp, vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn
Do vậy, nội dung nghiên cứu đặt ra cho đề tài này trong điều kiện của nước ta trong giai đoạn 2006-2010 bao gồm:
Thứ nhất, những vấn đề đổi mới CSTK
NSNN là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tài chính, một lĩnh vực quan trọng trong CSTK của nhà nước có vai trò đảm bảo nguồn lực tài chính cần thiết để duy trì sự hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời thực hiện điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế-xã hội Trong xã hội hiện đại, vai trò của CSTK càng trở nên trọng yếu giúp Nhà nước điều hành nền kinh tế xã hội
CSTK bao gồm nhiều khâu, nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, mà mỗi khâu, mỗi lĩnh vực hoạt động đó vừa chứa đựng những đặc điểm chung nhất của hệ thống tài chính, vừa mang những đặc thù riêng, trong đó bao hàm nhiều vấn đề phức tạp như thuế, chi tiêu ngân sách, bội chi ngân sách và nợ chính phủ
Trang 13Trong một nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập ngày càng sâu rộng như ở nước ta hiện nay, thuế, chi tiêu ngân sách và vay nợ chính phủ đang trở thành những vấn đề thực tiễn quan trọng trong hoạt động tài chính
và đang đặt ra những yêu cầu cần đổi mới và hoàn thiện Vì vậy, đổi mới và hoàn thiện cơ cấu thu, chi NSNN, xử lý bội chi và vay nợ chính phủ đã trở thành những vấn đề trọng tâm trong CSTK giai đoạn 2006-2010
Thứ hai, những vấn đề về đổi mới điều hành CSTT
HNQT trong lĩnh vực tài chính ngân hàng giai đoạn 2006-2010 gắn liền với việc tự do hoá tài chính, tự do hoá về luồng luân chuyển vốn, đòi hỏi phải tăng cường tính linh hoạt và hiệu quả của CSTT, chính sách tín dụng và điều hành tỷ giá Như vậy, CSTT lại bao hàm trong đó nhiều vấn đề cần giải quyết
Trong những năm qua, việc điều hành CSTT đã đạt được một số kết quả nhất định theo hướng chuyển dần sang điều tiết tiền tệ gián tiếp, duy trì
ổn định tiền tệ, ổn định tỷ giá, góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Hệ thống mục tiêu CSTT và các công cụ CSTT bước đầu được hình thành Tuy nhiên, trong điều hành CSTT vẫn còn có một số hạn chế, bất cập về khả năng kiểm soát tiền tệ, điều tiết thị trường tiền tệ Vì vậy, đổi mới việc điều hành CSTT phục vụ mục tiêu tăng trưởng trở thành một vấn đề quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô ở nước ta giai đoạn 2006-
2010
Với ý nghĩa là một nội dung của CSTT, song chính sách tín dụng lại được sử dụng như một công cụ đảm bảo cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế quốc dân, thông qua các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền của xã hội và với một hệ thống lãi suất mềm dẻo, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường Tuy nhiên, trong bối cảnh TTTC nói chung và thị trường tiền tệ ở nước ta còn nhiều bất cập, các các nguyên tắc của thị trường chưa được tuân thủ một cách triệt để thì hiệu ứng đòn bẩy của chính sách tín dụng và lãi suất còn rất hạn chế trong việc kiềm chế lạm phát và ổn định tiền tệ, giá cả
Thứ ba, những vấn đề về phát triển TTTC
TTTC là một trong những thị trường yếu tố sản xuất quan trọng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, trong đó bao gồm thị trường tiền tệ (thị trường ngắn hạn) và thị trường vốn (thị trường vốn tín dụng dài hạn và TTCK) Một TTTC phát triển đồng bộ sẽ là tiền đề cơ bản để các nguồn vốn được huy động và phân bổ có hiệu quả cho phát triển kinh tế-
xã hội Tuy nhiên, TTTC ở nước ta đang trong quá trình hình thành và phát triển, bản thân nội tại từng trường cũng chứa dựng các yếu tố không vững chắc, phát triển chưa đồng bộ và chưa phát huy vai trò to lớn trong huy động nguồn lực cho ĐTPT Mặt khác, sự phát triển không ổn định và quá nóng của TTCK cùng với khuynh hướng đầu cơ của thị trường trong thời gian gần đây
là những nhân tố gây bất ổn và chứa đựng nguy cơ mất an toàn hệ thống tài
Trang 14chính Điều đó đặt ra vấn đề hình thành tổ chức giám sát TTTC thống nhất nhằm đảm bảo an toàn và an ninh tài chính quốc gia
Vì vậy, hoàn thiện và phát triển TTTC là một nội dung quan trọng và trở thành vấn đề cấp thiết, mang tính thời sự trong giai đoạn 2006-2010 ở nước ta
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã được triển khai với một cách tiếp cận vừa khoa học, vừa thực
tế, nghiên cứu các vấn đề cả trong nước và kinh nghiệm nước ngoài, gắn lý luận với thực tiễn, dùng lý luận để xem xét thực tiễn, qua đó tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ và bổ sung thêm các khía cạnh lý luận về tài chính, tiền tệ trong nền kinh tế thị trường chưa hoàn chỉnh ở Việt Nam Tuy nhiên, đề tài không đi sâu phân tích các vấn đề lý luận, các học thuyết kinh tế - tài chính – tiền tệ mang tính học thuật, mà tập trung phân tích chính sách, xây dựng quan điểm nhằm xử lý những vấn đề cụ thể về tài chính- tiền tệ trong giai đoạn 2006-2010
Đề tài đã sử dụng các phương pháp phân tích, dự báo, thống kê, điều tra khảo sát Trong đó, có bao gồm các đánh giá thực trạng hoạt động tài chính – tiền tệ giai đoạn 2001-2005; các phân tích, dự báo hoạt động kinh tế, tài chính, tiền tệ giai đoạn 2006-2010
Đề tài đã tổ chức một số cuộc hội thảo, tọa đàm và báo cáo khoa học nhằm cung cấp thông tin và phương pháp luận khi tổ chức nghiên cứu
Kết cấu của đề tài
Đề tài được xây dựng thành 3 Phần Phần thứ nhất dành nghiên cứu các vấn đề lý luận chủ yếu Phần thứ 2 bàn về thực trạng CSTK, CSTT và TTTC Phần thứ ba dành nghiên cứu các vấn đề định hướng và giải pháp đổi mới hoàn thiện CSTK, CSTT và phát triển TTTC trong giai đoạn 2006-2010
Trong mỗi phần lại được kết cấu thành các chương theo các chủ đề tương ứng, mỗi chương lại chia thành nhiều mục và tiểu mục thích hợp
Trang 15Phần 1 VAI TRÒ TÀI CHÍNH TIỀN TỆ VÀ
KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG MỞ CỬA HỘI NHẬP
Trang 16Chương 1 NHỮNG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN MỚI VỀ
TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ TRONG KINH TẾ THỊ
1) Quan niệm về tài chính
Thuật ngữ "tài chính" bắt nguồn từ tiếng La-tinh "fiancia", dịch theo nghĩa hẹp là thanh toán, thu nhập; theo nghĩa rộng là vốn tiền tệ, chu chuyển tiền tệ Từ thế kỷ XIII-XV lần đầu tiên danh từ "thanh toán bằng tiền" được
sử dụng rộng rãi trong một số thành phố nổi tiếng của Italia với tư cách là những trung tâm khổng lồ về thương mại và ngân hàng của châu Âu Sau đó thuật ngữ này được lan rộng ra các nước khác và được sử dụng như một khái niệm, gắn liền với hệ thống các quan hệ tiền tệ hình thành các quỹ tiền tệ được động viên bởi nhà nước để thực hiện các chức năng chính trị và kinh tế
Theo Từ điển Larousse1
cho rằng Tài chính (tiếng Pháp cổ là finer) có nghĩa là một khoản thanh toán Thuật ngữ tài chính (nếu đứng ở số nhiều - finances), được hiểu là tài sản công cộng; toàn bộ các nguồn thu và khoản chi của Nhà nước, hoặc của một lãnh thổ; Nếu hiểu theo nghĩa thông thường: là nguồn tiền mặt của một cá nhân
Trong kinh tế thị trường, thuật ngữ tài chính còn được mô tả theo nghĩa là vốn dưới hình thức tiền tệ, được thể hiện dưới dạng các quỹ cho vay hoặc đi vay thông qua TTTC hay định chế, tổ chức tài chính
Như vậy, tài chính được quan niệm như là nguồn tiền bạc, thu nhập hay tài sản; là cách thức, hay sự huy động, phân phối, bố trí, cung cấp, cấp phát, trợ giúp, chi tiêu, sử dụng, kiểm soát các quỹ tiền bạc; điều hành, dẫn dắt của cải Các quan niệm này thường xem xét ở khía cạnh mô tả các biểu hiện, hiện tượng của hoạt động tài chính
Có thể thấy rằng, khái niệm tài chính gắn liền mật thiết với tiền tệ và các quan hệ hàng hóa-tiền tệ Tài chính nảy sinh trong điều kiện kinh tế hàng hóa-tiền tệ dưới tác động ảnh hưởng của sự phát triển chức năng và nhu cầu của nhà nước và nhu cầu của các chủ thể kinh tế Do đó, tài chính có quan hệ mật thiết với các quá trình kinh tế-xã hội, được thể hiện trong các hình thức vận động khác nhau và nhất định bao giờ cũng biểu hiện dưới hình thái tiền tệ
và kèm theo sự vận động của tiền tệ
Từ quan niệm đó, người ta thường nhầm lẫn tài chính với tiền tệ và trong nhiều trường hợp tài chính được coi là tiền tệ Những quan niệm sai
Trang 17lầm đó đưa đến việc không đánh giá đúng mức vai trò của các phạm trù kinh
tế khách quan
Để có cách hiểu đúng đắn về bản chất của tài chính, chúng tôi nêu lên một số dấu hiệu có tính chất đặc trưng để nhận biết về phạm trù tài chính
Thứ nhất, trong thực tiễn, nếu quan sát quá trình vận động của tài
chính có thể nhận thấy: các biểu hiện bên ngoài của tài chính thể hiện ra dưới dạng các hiện tượng thu vào bằng tiền và các hiện tượng chi ra bằng tiền ở các chủ thể kinh tế-xã hội Các hiện tượng thu, chi bằng tiền đó đều mang
một tính chất chung là vốn tiền tệ đang vận động Như vậy, tính chất tiền tệ của các quan hệ tài chính - đó là một dấu hiệu quan trọng của tài chính
Dấu hiệu này khẳng định rằng, sự hoạt động của tài chính chỉ có thể khi có những điều kiện nhất định, mà nếu thiếu điều kiện đó thì tức khắc biến mất ranh giới tác động của phạm trù này Sự xuất hiện các quan hệ tài chính luôn luôn biểu hiện ở chỗ tồn tại sự vận động của vốn tiền tệ, ở đâu thiếu sự vận động đó thì nơi đó không phải là chỗ nảy sinh tài chính Như vậy, sự hiện diện của tiền tệ là điều kiện bắt buộc cho sự tồn tại của tài chính Không có tiền tệ thì không thể có tài chính Tiền tệ biểu hiện cơ sở vật chất cho sự tồn tại tài chính Tuy nhiên, tài chính và tiền tệ là hai khái niệm khác nhau, nhưng
có quan hệ mật thiết với nhau Tài chính khác biệt căn bản với tiền tệ cả ở nội dung và cả ở các chức năng mà nó thực hiện Người ta có thể cảm nhận được tiền tệ nhờ vào trực giác, còn tài chính biểu hiện sự vận động của tiền tệ, luôn
ẩn đằng sau sự vận động của tiền tệ, khiến người ta không “sờ mó” được vào tài chính
Thứ hai, lĩnh vực nảy sinh và hoạt động của tài chính chính là khâu
phân phối, mà trong đó diễn ra quá trình phân phối giá trị sản phẩm xã hội và thu nhập giữa các chủ thể trong hoạt động kinh tế Bởi vậy dấu hiệu quan
trọng của tài chính là tính chất phân phối của các quan hệ tài chính
Thứ ba, sự phân phối của tài chính nhất định phải kèm theo sự vận động của vốn tiền tệ và có hình thức biểu hiện đặc biệt là các nguồn tài chính
Các nguồn tài chính đó được hình thành ở các chủ thể kinh tế và nhà nước nhờ các dạng vận động khác nhau của thu nhập, tích lũy, thanh toán, trích nộp dưới hình thức tiền tệ và được sử dụng vào những mục đích nhất định để đáp ứng nhu cầu của mình
Thứ tư, chính các nguồn tài chính là sự biểu hiện vật chất hóa của các
quan hệ tài chính và việc sử dụng các nguồn tài chính đó được thực hiện về
cơ bản thông qua các quỹ tiền tệ có những mục đích nhất định Bởi vậy dấu hiệu đặc biệt quan trọng của tài chính, khác biệt với các phạm trù phân phối
khác là ở chỗ, các quan hệ tài chính luôn luôn gắn liền với sự hình thành các quỹ tiền tệ có hình thức biểu hiện là các nguồn tài chính
Quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể nói trên (Nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia đình) chính là quá trình tham gia phân
Trang 18phối các nguồn tài chính thông qua các hoạt động thu, chi bằng tiền của các chủ thể Các hoạt động thu, chi bằng tiền đó là sự vận động của tiền tệ - mặt biểu hiện bên ngoài của tài chính, còn các quỹ tiền tệ do các chủ thể nắm giữ
là biểu hiện nội dung vật chất của tài chính - một thuộc tính vốn có của tài chính Nhưng trên cơ sở các hoạt động thu, chi bằng tiền do các chủ thể thực hiện lại làm nảy sinh các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong xã hội Đó chính là các quan hệ về mặt lợi ích nảy sinh trong quá trình tham gia phân phối và sử dụng các nguồn tài chính để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ Các quan hệ kinh tế đó chính là mặt bản chất bên trong của tài chính, biểu hiện nội dung kinh tế-xã hội của tài chính
Từ những phân tích nêu trên chúng tôi cho rằng, tài chính là biểu hiện
sự vận động của tiền tệ, gắn liền với quá trình huy động và phân phối các nguồn tài chính nhằm thực hiện các lợi ích của các chủ thể kinh tế
Khái niệm này có nhiều điểm khác biết với những quan niệm thường thấy trên các sách, báo chuyên ngành trên thế giới và ở nước ta Hiện nay, trong kinh tế học hiện đại, cũng xuất hiện một số quan niệm khác nhau và cũng khác biệt so với quan niệm của chúng tôi Điển hình là quan niệm về tài chính của các tác giả cuốn giáo khoa “Tài chính học” do Z Bodi và R
Merton chủ biên khi cho rằng, tài chính là việc nghiên cứu các cánh thức phân bổ nguồn lực vốn khan hiếm của các chủ thể trong nền kinh tế theo thời gian Quan niệm này khá cụ thể và trực diện, song theo chúng tôi nó hàm
chứa ý nghĩa về các quan hệ của TTTC
Quan niệm về tài chính của chúng tôi trình bày trên đây cho phép nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện và khách quan về tài chính Quan niệm đó vừa chỉ ra mặt cụ thể, hình thức bên ngoài - nội dung vật chất của tài chính là
sự vận động của các quỹ tiền tệ, vừa vạch rõ mặt trừu tượng, mặt bản chất bên trong - nội dung kinh tế - xã hội của tài chính là các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình huy động và phân bổ các nguồn tài chính để thực hiện các mục đích khác nhau của các chủ thể kinh tế, đồng thời có tính bao quát toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của tài chính nói chung, trong đó bao gồm cả TCC và TTTC
2) Chức năng mới của tài chính trong kinh tế thị trường
Theo chúng tôi, chức năng của tài chính là sự thể hiện bản chất nội hàm bên trong của tài chính, từ đó quy định vai trò tác động của tài chính trong hoạt động thực tiễn Chức năng của tài chính tồn tại độc lập với sự nhận thức hoặc tác động của con người Nhận thức đúng đắn, đầy đủ các chức năng vốn có của tài chính là điều hết sức quan trọng bởi đó là những nhận thức cơ bản mang tính nền tảng, quyết định không những đến việc hiểu đúng bản thân khái niệm tài chính mà còn có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của việc xây dựng và sử dụng các công cụ tài chính trong kinh tế thị trường, giúp tránh được những quyết định chủ quan duy ý chí - cội nguồn của các sai lầm không đáng có trong điều hành chính sách tài chính, tiền tệ
Trang 19Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đều chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng của tài chính, cũng như tên gọi của các chức năng của tài chính Tuy nhiên, đa số các học giả đều thừa nhận tài chính có 2 chức năng cơ bản là phân phối và giám đốc bằng đồng tiền (gọi tắt là giám đốc)
Chúng tôi cho rằng, tài chính có 2 chức năng là phân phối và giám đốc, điều này đúng, nhưng chưa đủ Đúng vì chỉ phù hợp với thể chế kinh tế
kế hoạch hóa tập trung trước đây Chưa đủ vì trong kinh tế thị trường, tài chính vận động trong môi trường kinh tế có những đặc trưng khác biệt, do đó
có cơ sở để phát huy các tác động xuất phát từ khả năng và bản chất nội tại của tài chính Vì thế, theo quan điểm của chúng tôi, tài chính, ngoài 2 chức
năng phân phối và giám đốc còn có chức năng khác, đó là chức năng hiệu quả và sinh lời
Sự phát huy tác động của chức năng này trong kinh tế thị trường là hoàn toàn có cơ sở, vì rằng: trong nền kinh tế thị trường, khác với nền sản xuất hàng hóa giản đơn, quá trình vận động của tư bản được thể hiện qua công thức: T – H – T‟ Ở đây, tài chính được coi là khởi điểm của quá trình vận động của tư bản và cũng chính tài chính, sau một quá trình sử dụng có khả năng tạo ra một lượng giá trị lớn hơn so với tư bản ứng trước Rõ ràng, đây là khả năng bên trong của tài chính, là cái vốn có, nhờ đó mà phát huy tác động của tài chính trong hoạt động thực tiễn
Giữa các chức năng của tài chính có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng phân phối nảy sinh đồng thời với sự ra đời của tài chính và được coi là chức năng cơ sở, qua đó quy định sự hình thành và phát triển của chức năng giám đốc và chức năng hiệu quả, sinh lời Điều đó thể hiện rằng, trong những môi trường nhất định chính sự phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính đã tạo cơ sở để đem lại nguồn tài chính hiệu quả hơn
Ngược lại, nhờ việc thực thi chức năng giám đốc đối với mọi hoạt động tài chính mà làm cho tài chính được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, góp phần tăng thu nhập và của cải, đến lượt nó lại tạo ra cơ sở vững chắc để thực hiện chức năng phân phối tài chính Ý nghĩa của chức năng phân phối tài chính càng tăng lên khi Nhà nước có nguồn lực tài chính nhất định để tác động một cách sâu rộng đến các quá trình kinh tế và xã hội Điều đó tạo ra tiền đề để tăng thêm thu nhập cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư,
do đó mà củng cố chức năng hiệu quả và sinh lời của tài chính
Đó là sự thống nhất biện chứng giữa các chức năng của tài chính Sự thống nhất đó cũng không loại trừ những mặt mâu thuẫn Chẳng hạn, khi mà phân phối tài chính không hợp lý, nguồn lực tài chính không được giám sát đầy đủ trong quá trình sử dụng thì chắc chắn không thể có sự sinh lời hay hiệu quả về mặt tài chính Người ta gọi đó là tính hai mặt của tài chính, nó có khả năng ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được
Trang 20tính toán kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định chính sách tài chính ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau
3) Vai trò mới của tài chính trong kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập
Về phương diện lý luận, vai trò của tài chính đã được làm rõ với tư cách là công cụ quan trọng để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước và thực hiện việc phân phối thu nhập đảm công bằng xã hội
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, chúng tôi cho rằng, ngoài
các chức năng kể trên tài chính còn đóng vai trò là nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội
Đây là vai trò quan trọng nhất của tài chính trong kinh tế thị trường và
mở cửa hội nhập Sự nhận thức mới về vai trò này là cả quá trình phát triển
về lý luận dựa trên những cơ sở sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ những quan điểm của các trường phái kinh tế học Phương Tây
Các trường phái kinh tế học Phương Tây, mặc dù có cách lập luận khác nhau nhưng lại thống nhất quan điểm rằng, phân phối có mối quan hệ rất mật thiết với tăng trưởng kinh tế và được coi là một nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Đã từ lâu, nhà kinh tế lỗi lạc Adam Smith cho rằng, để tăng số người
lao động mang tính sản xuất thì phải tăng tư bản từ quỹ tăng lao động và muốn tăng năng suất lao động lại đòi hỏi phải tăng thêm tư bản Từ đó cho thấy đầu tư tăng tư bản cho sản xuất kinh doanh giữ vai trò quan trọng trong
quá trình tăng trưởng kinh tế Cùng với Adam Smith, David Ricardo lại chú
trọng tới tỷ lệ phân phối của các loại thu nhập và ảnh hưởng của nó tới tích luỹ tư bản và tăng trưởng kinh tế Ông phân tích hàm số tăng trưởng và rút ra nhận xét, do tích luỹ tư bản có xu hướng co lại nên làm kinh tế tăng trưởng chậm lại Các biện pháp thúc đẩy tăng trưởng được xuất phát từ tăng tỷ lệ hình thành tư bản, coi đó là nhân tố chủ yếu quyết định tăng trưởng kinh tế
Các nhà khoa học Roy Harrod và Evsey Domar (sau này gọi là mô hình Harrod–Domar) đã gắn tăng trưởng kinh tế với việc cơ cấu lại tiết kiệm
và đầu tư trong tổng thu nhập Hai ông cho rằng, sản lượng của bất cứ một đơn vị kinh tế nào, dù là một doanh nghiệp, một ngành hay toàn bộ nền kinh
tế cũng đều phụ thuộc chắc chắn vào tổng số vốn có được Khi nói tăng trưởng kinh tế thì phải nói đến mức tăng thêm của sản lượng, nhưng mức tăng thêm của sản lượng lại do lượng tăng thêm của vốn quyết định hay nói cách khác do thay đổi cơ cấu đầu tư vốn quyết định đến tăng trưởng kinh tế
Cambridge cho rằng, con đường căn bản để thực hiện sự tăng trưởng
ổn định nền kinh tế nằm ở chỗ điều chỉnh chế độ phân phối Ông cho rằng, có thể áp dụng biện pháp phân phối lại để điều chỉnh tăng phần thu nhập của các tầng lớp khác nhau, từ đó thực hiện được sự tăng trưởng ổn định của nền kinh
Trang 21tế quốc dân Bởi vì, sự tác động khác nhau giữa khuynh hướng tiết kiệm và tiêu dùng là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nhà kinh tế lỗi lạc người Anh J Kenyes trong cuốn sách “Lý thuyết
chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (1936), đã coi chi tiêu nhà nước là một công cụ cơ bản của Chính phủ để can thiệp vào sự phát triển có tính chất chu
kỳ của nền kinh tế để vượt qua khủng hoảng Bởi vậy, sự hình thành cơ cấu
và tốc độ của chi tiêu nhà nước là yếu tố quan trọng và không thể tách rời để đạt được "cầu hiệu qủa" Tốc độ chi tiêu nhà nước theo ông cần phải thúc đẩy tăng thu nhập quốc dân và cuối cùng phải nhằm vào mục tiêu đảm bảo việc làm Để thực hiện được điều đó, nhà nước phải tác động đến các tác nhân của cầu là: tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng đầu tư
Như vậy, đã từ lâu các nhà kinh tế học Phương tây đã rất đề cao vai trò của phân phối tài chính, coi đó là một nhân tố quan trọng để kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội
Thứ hai, xuất phát từ quan điểm của C Mác
Quan điểm của Mác về vai trò của tài chính xuất phát từ những nghiên cứu lý luận sau đây:
Một làt, Mác đã nghiên cứu về cấu tạo hữu cơ của tư bản và rút ra kết
luận: cấu tạo hữu cơ tăng sẽ làm tăng năng suất lao động, tạo thêm giá trị thặng dư cho xã hội
Mác phân biệt cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị của tư bản Cấu tạo kỹ thuật của tư bản biểu hiện quan hệ tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất với số lượng lao động sử dụng trong quá trình sản xuất Đó là quan hệ tất yếu, do trình độ phát triển của sản xuất quyết định và phản ánh trình độ tiến bộ kỹ thuật Cấu tạo giá trị của tư bản biểu hiện quan hệ tỷ lệ giữa số lượng giá trị
tư bản bất biến và tư bản khả biến cần thiết để để tiến hành sản xuất Cấu tạo
kỹ thuật và cấu tạo giá trị của tư bản có quan hệ với nhau và phụ thuộc vào nhau: sự thay đổi trong cấu tạo kỹ thuật sẽ dẫn đến sự thay đổi trong cấu tạo giá trị Sự thể hiện mối quan hệ mật thiết đó đã hình thành một phạm trù mới,
đó là cấu tạo hữu cơ của tư bản
Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị của tư bản do cấu tạo kỹ thuật quyết định và phản ánh những biến đổi của cấu tạo kỹ thuật đó
Do trình độ kỹ thuật không ngừng phát triển nên cấu tạo hữu cơ của tư bản cũng không ngừng tăng lên Sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ được thể hiện
ở tư bản bất biến tăng lên tuyệt đối và tương đối, còn tư bản khả biến giảm
tương đối Như vậy, do cấu tạo hữu cơ tăng sẽ làm tăng năng suất lao động, tạo thêm giá trị thặng dư và tăng quy mô tích lũy tư bản
Hai là, khi nghiên cứu vai trò của các khâu cấu thành trong quá trình
tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa, bao gồm: sản xuất, trao đổi, phân phối
và tiêu dùng, quan điểm của Mác cho rằng: sản xuất là khâu quyết định phân
Trang 22phối, còn phân phối có tác động ngược trở lại đối với sản xuất theo hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm
Như vậy, phân phối với tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất
xã hội được coi là nhân tố có tác động thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Nói cách khác, tài chính là một bộ phận của các quan hệ phân phối dưới hình thức tiền tệ có vai trò quan trọng trong khuyến khích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, theo Mác vai trò này có phần bị động, vì phân phối là do sản xuất quyết định Điều này đưa đến những quan điểm hạn chế vai trò của phân phối, trong đó có tài chính
Thứ ba, xuất phát từ bản chất, chức năng của tài chính
Tài chính có chức năng phân phối và chức năng hiệu quả, sinh lời Chính các chức năng này đã quyết định vai trò của tài chính trở thành nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, khác với nền sản xuất hàng hóa giản đơn, công thức vận động của tư bản được khái quát là:
TLSX
SLĐ Như vậy, trong công thức trên: tài chính được coi là khởi điểm của quá trình vận động của tư bản, nếu sự đầu tư nguồn lực tài chính cho các bộ phận của sản xuất theo những tỷ lệ hợp lý sẽ tạo ra thặng dư cho xã hội Với ý
nghĩa đó, theo quan điểm của chúng tôi, tài chính là nhân tố quyết định sản xuất, quyết định tăng trưởng kinh tế
Vì thế, để nền kinh tế tăng trưởng nhanh, góp phần thực hiện tốt các CSXH, cần phải coi việc đổi mới cơ cấu huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính và coi đó là nhân tố có tính đột phá, quyết định sự thay đổi cơ cấu kinh tế và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Với ý nghĩa đó, chúng tôi cho rằng, sản xuất là cơ sở của phân phối, của tài chính, nhưng phân phối và tài chính lại có tác động quyết định sản xuất, quyết định tăng trưởng kinh tế
1.1.2 Chính sách tài khóa và sử dụng các công cụ của chính sách tài
khóa
1) Khái quát về chính sách tài khóa
Trong bất kỳ một xã hội nào, nhà nước muốn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình để đạt được các mục tiêu kinh tế-xã hội nhất định đều phải sử dụng công cụ tài chính Vai trò quan trọng việc thực hiện các mục tiêu nói trên thuộc về CSTK
Trang 23CSTK là một phạm trù kinh tế học dùng để chỉ các hành động của Chính phủ quyết định mức chi tiêu công và cách thức có đủ nguồn tài chính
để đảm bảo mức chi tiêu công đó Chính phủ phải chi tiêu cho nhiều nhiệm
vụ rất đa dạng, từ quân sự, cảnh sát, đến các dịch vụ như giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội Có nhiều nguồn để đảm bảo cho các khoản chi trên, trong đó quan trọng nhất là thu thuế từ người dân và vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách
CSTK là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô được Chính phủ sử dụng để huy động, phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia
Nội dung của CSTK thông thường chứa đựng các yếu tố sau:
- Mục tiêu của chính sách: thể hiện phương hướng, đường lối, chủ trương của nhà nước về sử dụng chính sách huy đông, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính
- Các công cụ của chính sách
- Cơ chế chuyển tải của chính sách, bao gồm cách thức hay phương thức huy động, phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính và các chế tài đảm bảo thực hiện phương thức đó
Căn cứ vào tác dụng điều tiết chu kỳ kinh tế có thể chia CSTK thành
CSTK tự động ổn định và CSTK có sự điều chỉnh của nhà nước
CSTK tự động ổn định là loại CSTC dựa trên cơ sở sự biến động của
nền kinh tế quốc dân mà tự động phát sinh tác dụng thay đổi tình hình kinh tế
mà không cần dựa vào sự tác động của phía Chính phủ
Loại hiệu quả ổn định tự động này sinh ra từ nội tại của CSTC, tự mình phát huy tác dụng điều tiết, không cần có bất kỳ hành động can thiệp nào của chính quyền
Tính tự động ổn định của CSTC được thực hiện bởi sự hoạt động của
cơ chế thị trường Chính nhờ cơ chế đó mà tạo ra khả năng phân phối lại một cách tự do và nhanh chóng các nguồn tài chính giữa các chủ thể kinh tế khác nhau
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp cơ chế thị trường cũng thể hiện
sự kém hiệu qủa trong việc phân phối nguồn tài chính và sự phân phối đó bị ngáng trở bởi các tổ chức độc quyền Nói cách khác, cơ chế thị trường không đảm bảo sự phân phối thu nhập phù hợp với mục tiêu của một xã hội dân chủ Bởi vậy, nẩy sinh sự cần thiết phải thực hiện cơ chế điều chỉnh của nhà nước
CSTK có sự điều chỉnh của nhà nước là một loại CSTC mà bản thân
nó không có tác dụng tự động ổn định mà cần nhờ tác động bên ngoài mới có thể phát sinh tác dụng điều tiết đối với nền kinh tế
Trang 24Sự cần thiết xuất hiện vai trò của nhà nước can thiệp vào nền kinh tế căn cứ vào việc giải quyết những nhiệm vụ, gắn liền với sự thỏa mãn nhu cầu của xã hội về phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội
Tuy nhiên cũng cần phải khẳng định rằng, sự điều chỉnh của nhà nước cũng có những gianh giới qui định hình thành một cách khách quan Nếu can thiệp qúa mức sẽ làm suy yếu những đòn bẩy kinh tế và hạ thấp hiệu qủa hoạt động của cơ chế thị trường
Nếu căn cứ vào tính chất điều tiết mặt lượng của tài chính đối với nền kinh tế thì CSTK được chia thành: CSTK mở rộng, CSTK thu hẹp và CSTK
trung tính
CSTK mang tính chất mở rộng là CSTC mà thông qua phân phối và
sử dụng các nguồn tài chính nhà nước thực hiện kích thích tăng tổng nhu cầu
xã hội
Trong điều kiện nền kinh tế thiếu hụt về tổng cầu, nhà nước thực hiện CSTK mở rộng để thu hẹp khoản chênh lệch giữa tổng cầu và tổng cung Khi tổng cầu và tổng cung đã cân đối thì thông qua CSTK mang tính chất mở rộng nhà nước sẽ làm cho tổng nhu cầu vượt qúa tổng cung cấp
Công cụ thực hiện CSTK mang tính chất mở rộng chủ yếu là giảm thuế và tăng quy mô chi tiêu ngân sách Nếu thực hiện song song việc giảm thuế với việc tăng chi tiêu ngân sách, CSTK mở rộng sẽ dẫn đến bội chi ngân sách Bởi vậy,CSTK mang tính chất mở rộng thường được gọi là CSTC bội chi
CSTK mang tính chất thắt chặt là CSTC thông qua phân phối và sử
dụng nguồn tài chính, nhà nước thực hiện giảm bớt và hạn chế tổng nhu cầu Trong điều kiện tăng tổng nhu cầu qúa mức của nền kinh tế, nhà nước thông qua CSTK thắt chặt thực hiện kiềm chế lạm phát để cân đối cung và cầu Trong điều kiện tổng cung cầu đã cân đối, nhà nước có thể thi hành CSTK thắt chặt để tạo ra thiếu hụt nhu cầu hữu ích Biện pháp thực hiện mục tiêu của CSTK mang tính chất thắt chặt chủ yếu là tăng thuế và giảm bớt chi tiêu ngân sách Nếu trong điều kiện vừa tiến hành tăng thuế, vừa thực hiện giảm chi thì có thẻ phát sinh khả năng kết dư ngân sách Bởi vậy, CSTK mang tính chất thắt chặt thường được gọi là CSTC kết dư
CSTK trung tính luôn luôn thể hiện sự cân đối giữa tổng cung và tổng
cầu trong hoạt động phân phối và sử dụng nguồn tài chính Vì thế, hoạt động thu chi tài chính không thể sinh ra hiệu ứng mở rộng, cũng như không thể sinh ra hiệu ứng thắt chặt Nói chung, CSTK trung tính luôn luôn yêu cầu thu chi tài chính giữ vững được sự cân đối
2) Sử dụng các công cụ của chính sách tài khóa để điều tiết kinh tế
Các công cụ của CSTK thường được sử dụng bao gồm: Thuế, chi tiêu ngân sách và vay nợ của chính phủ Mỗi công cụ có những cơ chế tác động khác nhau đến hoạt động kinh tế-xã hội và được sử dụng tùy thuộc vào bối
Trang 25cảnh kinh tế từng thời kỳ Trong nội dung này, chúng tôi chi nghiên cứu và đưa ra những điểm mới về lý thuyết sử dụng các công cụ của chính sách tài khóa để điều tiết kinh tế vĩ mô
1) Sử dụng hệ số điều tiết của thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
Thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác như sau:
- Thuế là một khoản đóng góp thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho nhà nước mang tính bắt buộc Đây là một thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác
- Việc đóng góp thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp
- Việc đóng góp thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng luật pháp
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế trở thành công cụ quan trọng để huy động nguồn lực tài chính cho Chính phủ và thực hiện điều tiết vĩ
mô nền kinh tế
Sử dụng công cụ thuế để huy động nguồn lực tài chính có ưu điểm:
- Thuế là một công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn Đối tượng nộp thuế bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế và phát sinh nguồn thu nhập nộp thuế Vì thế, thuế trở thành công cụ huy động nguồn lực chủ yếu của Chính phủ
- Phương thức huy động tập trung nguồn lực của thuế sử dụng phương pháp chuyển giao thu nhập bắt buộc Do vậy nhà nước đảm bảo thực hiện sự công bằng trong việc phân bố gánh nặng của các khoản chi tiêu công cộng, mặt khác việc động viên thông qua thuế mang tính pháp lý cao
- Nguồn huy động tập trung thông qua thuế là tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc nội, nhờ đó mà một bộ phận đáng kể thu nhập của xã hội được tập trung vào trong tay nhà nước một cách nhanh chóng, thường xuyên
và ổn định để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho các biện pháp kinh tế -xã hội
- Tính ưu thế của động viên thông qua thuế so với các công cụ tài chính khác ở chỗ: Thuế kết hợp giữa phương thức cưỡng bức, được qui định dưới hình thức pháp luật cao với kích thích vật chất nhằm tạo ra sự quan tâm của các chủ thể kinh tế đến chất lượng và hiệu qủa kinh doanh
Trang 26Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực cũng chứa đựng những khuyết tật vốn có Mục tiêu can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của nền kinh tế thị trường là nhằm:
- Đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển có hiệu qủa Chính phủ phải cố gắng duy trì môi trường cạnh tranh thuận lợi và sửa chữa những khuyết tật của thị trường như độc quyền
- Đảm bảo yêu cầu công bằng xã hội bằng biện pháp phân phối lại thu thập
- Đảm bảo cho nền kinh tế phát triển trong thế ổn định theo hướng làm giảm tính chu kỳ của nền kinh tế, giảm thất nghiệp, kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Để thực hiện được các mục tiêu đó, nhà nước cần phải sử dụng công
cụ thuế để thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đối tượng điều tiết thông qua công cụ thuế là các lĩnh vực, các ngành, các vùng, cũng như các mặt hoạt động khác nhau của đời sống kinh tế xã hội, nơi phát sinh những khó khăn hay những vấn đề về thuế mà nó không thể tự động điều tiết, cần phải có sự can thiệp của nhà nước để hiệu chỉnh cho phù hợp với hoạt động bình thường của xã hội
Trên cơ sở mục tiêu và đối tượng kể trên, nội dung điều tiết của thuế đối với nền kinh tế quốc dân bao gồm: điều chỉnh chu kỳ kinh tế; cơ cấu ngành, khu vực và từng vũng lãnh thổ; tích lũy tư bản; lạm phat; việc làm; lưu thông tiền tệ; giá cả; tiền lương; phân phối thu nhập; các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, bảo vệ môi trường Như vậy, nội dung của điều chỉnh của thuế đối với nền kinh tế quốc dân rất rộng, nó bao hàm các qúa trình điều tiết
)
GDP t
T t d
Trong đó: d - hệ số điều tiết kinh tế
t(T) - tốc độ tăng thuế trong năm t(GDP) - tốc độ tăng GDP trong năm
Nếu d = 1, tức là tốc độ tăng thuế ngang bằng tốc độ tăng GDP, thể hiện sự điều tiết tốt trong điều kiện tăng trưởng ổn định nhưng điều tiết kém trong điều kiện kinh tế chu kỳ
Trang 27Trường hợp d >1 tức tốc độ tăng thuế lớn hơn tốc độ tăng GDP, có nghĩa là tăng gánh nặng thuế đối với nền kinh tế Nếu d <1 thì ngược lại làm giảm gánh nặng thuế đối với nền kinh tế
Nếu hệ số lớn hơn hoặc thấp hơn 1 thể hiện sự điều tiết của thuế đối với tăng trưởng kinh tế
2) Sử dụng chi tiêu chính phủ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Chi tiêu của chính phủ nhằm thỏa mãn nhu cầu của Nhà nước đối với việc thực hiện các mục tiêu chung toàn xã hội Chi tiêu chính phủ bao gồm hai loại: chi tiêu công cộng (hoặc gọi là các khoản chi thường xuyên) và chi đầu tư XDCB, trong đó chi đầu tư XDCB được coi là một công cụ quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đầu tư XDCB của chính phủ là khoản chi nhằm hình thành các loại tài sản cố định, cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đầu tư của chính phủ chủ yếu cho những ngành nghề, những lĩnh vực
có hiệu ứng bên ngoài lớn, có tác dụng châm ngòi cho đầu tư của khu vực tư nhân Vì vậy, năng lực đầu tư và phương hướng đầu tư của chính phủ có tác dụng then chốt đối với sự điều chỉnh cơ cấu huy động nguồn lực tài chính của
xã hội để ĐTPT nền kinh tế quốc dân
Theo lý thuyết của Keynes về hệ số nhân đầu tư, trong đó biểu thị mối quan hệ giữa gia tăng thu nhập với gia tăng đầu tư, tức là gia tăng đầu tư sẽ làm gia tăng thu nhập lên bao nhiêu lần
Nếu ký hiệu dR là gia tăng thu nhập, dI là gia tăng đầu tư, dE là gia tăng tiết kiệm, dC là gia tăng tiêu dùng, k là hệ số nhân, ta có:
3) Sử dụng công cụ vay nợ chính phủ để điều tiết kinh tế
Khi chi tiêu của chính phủ lớn hơn mức thuế thu được, Chính phủ phải vay nợ từ trong nước và ngoài nước để trang trải phần thâm hụt ngân sách hình thành nợ chính phủ và gọi là Tín dụng nhà nước Tín dụng nhà nước
Trang 28được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: công trái, tín phiếu, trái phiếu quốc tế, TPCP
Lúc đầu tìn dụng nhà nước chỉ được dùng để bù đắp bội chi tài chính Theo đà phát triển của kinh tế, Tín dụng nhà nước đã trở thành CSTC quan trọng điều tiết quan hệ cung cầu tiền tệ và điều tiết mối quan hệ tài chính với tiền tệ - tín dụng
Tác dụng điều tiết của Tín dụng nhà nước chủ yếu thể hiện trên 3 mặt như sau:
Thứ nhất, Tín dụng nhà nước đã thu hút một nguồn lực tài chính đáng
kể từ dân cư cho nhà nước, làm cho đầu tư và tiêu dùng của dân cư giảm đi
Do đó, tín dụng của nhà nước có tác dụng điều tiết đối với một bộ phận nguồn lực tài chính sử dụng cho mục đích đầu tư và tiêu dùng của nền kinh
tế
Thứ hai, Tín dụng nhà nước có tác động đến cung cầu tiền tệ Nhờ có
Tín dụng nhà nước mà một bộ phận tiền tệ nhàn rỗi, nằm im biến thành tiền
tệ lưu thông và đưa vào ĐTPT kinh tế Sự biến động về số lượng tiền tệ do Tín dụng nhà nước đưa đến gọi là "hiệu ứng tiền tệ" của Tín dụng nhà nước
Thứ ba, do nguồn trả nợ của Tín dụng nhà nước chủ yếu dựa vào gia
tăng thu thuế ở các năm sau Đối với những người cho nhà nước vay, khi Tín dụng nhà nước đến hạn, họ không chỉ thu hồi được vốn mà còn nhận được lợi tức Nhà nước phát hành Tín dụng nhà nước chủ yếu dùng cho các nhu cầu chung của xã hội, mọi người dân đều được hưởng Như vậy sẽ sinh ra vấn đề chuyển dịch thu nhập giữa những người nộp thuế với những người cho nhà nước vay Ngoài ra, vấn đề trả nợ do tín dụng nhà nước đưa đến, không chỉ ảnh hưởng đến những người đương thời, mà còn tồn tại cái gọi là vấn đề chuyển dịch thu nhập và gánh vác của "các đời" Điều đó gọi là hiệu ứng thu nhập, có tác động điều tiết nguồn lực tài chính của khu vực dân cư
Tác dụng của tín dụng nhà nước chủ yếu thông qua quy mô tín dụng nhà nước, cơ cấu người mua, cơ cấu về kỳ hạn, lãi suất tín dụng nhà nước Nhà nước thông qua việc điều chỉnh quy mô tín dụng nhà nước, lựa chọn đối tượng mua, phân chia kỳ hạn hoàn trả tín dụng nhà nước, xây dựng lãi suất tín dụng nhà nước khác nhau, để thực hiện mục tiêu điều tiết của CSTC
Trong điều kiện thực thi CSTC gắn với CSTT, thông qua thị trường tín dụng nhà nước, Chính phủ có thể điều hành được hai hệ thống chính sách lớn: một mặt, tín dụng nhà nước có thể làm nhẹ bớt hậu qủa lạm phát do bội chi ngân sách, việc huy động vốn từ tín dụng nhà nước để bù đắp bội chi ngân sách so với bù đắp bằng phát hành tiền có ảnh hưởng nhỏ hơn tới sự biến động của tiền tệ và lạm phát; mặt khác, còn có thể gia tăng khả năng linh hoạt điều tiết việc cung ứng tiền tệ của NHTW
Trang 291.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA HỘI NHẬP
1.2.1 Xác định mục tiêu của chính sách tiền tệ
CSTT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội của các quốc gia trong một thời kỳ nhất định
Trong tác phẩm “Tiền tệ, ngân hàng và TTTC”, F.S Miskin đã đưa ra
quan điểm về CSTT theo nghĩa rộng: “CSTT là một trong các chính sách vĩ
mô, trong đó ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm tác động tới các mục tiêu cơ bản của nền kinh tế trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu cuối cùng của mình là công ăn việc làm cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá
cả, ổn định lãi suất, ổn định TTTC và ổn định tỷ giá hối đoái”
Bất kỳ nền kinh tế nào, ổn định tiền tệ và nâng cao sức mua đồng tiền trong nước luôn được coi là mục tiêu có tính chất dài hạn NHTW điều hành CSTT phải kiểm soát được tiền tệ, làm sao cho phù hợp giữa khối lượng tiền với mức tăng tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa, giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, giữa tiền và hàng, không gây thừa hoặc thiếu tiền so với nhu cầu của lưu thông
Xét cho cùng, CSTT có thể được xác định theo một trong hai hướng sau:
- CSTT mở rộng là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm Trong trường hợp này, chính sách nhằm vào chống suy thoái
- CSTT thắt chặt là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, trường hợp này CSTT nhằm vào việc kiềm chế lạm phát
Bằng cách NHTW tác động đến cung ứng tiền (money supply) làm thay đổi cung ứng tiền để tác động đến lãi suất, từ đó ảnh hưởng đến chi tiêu của các khu vực nền kinh tế, cuối cùng CSTT có tác động quan trọng đến GDP (thực, tiềm năng) và lạm phát Trong dài hạn, CSTT xác định giá trị danh nghĩa hay giá trị tiền tệ của hàng hóa và dịch vụ - đó chính là mức giá chung hay CSTT chính là yếu tố quyết định mức giá chung trong dài hạn Tuy nhiên, những thay đổi của CSTT cũng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh tế trong ngắn hạn và trung hạn CSTT là cách thức hay tổng thể các biện pháp, công cụ của NHTW nhằm góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế, thông qua việc chi phối, điều tiết quá trình cung ứng tiền và tín dụng, tức là thông qua chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền2
Trang 30
Như vậy, vấn đề xác định đúng đắn, chính xác mục tiêu của CSTT và
sự lựa chọn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy vai trò của CSTT trong nền kinh tế thị trường Để đảm bảo sự lựa chọn đúng đắn, hợp lý cần xem xét qui trình hoạt động của CSTT Quy trình này có thể tóm tắt như sau:
Để đạt được cái đích cuối cùng của CSTT, trong quá trình điều hành CSTT, NHTW phải theo đuổi những đích trực tiếp và gián tiếp khác Các đích này có sự liên kết lẫn nhau và liên kết với cái đích cuối cùng của CSTT,
từ đó hình thành “ hệ thống mục tiêu” của CSTT Nhiều nghiên cứu thực tế
đã chỉ ra rằng, CSTT chỉ đạt được hiệu quả cao khi NHTW lựa chọn được hệ thống mục tiêu CSTT phù hợp với thực trạng của nền kinh tế và hệ thống tài chính
Mục tiêu cuối cùng
Mục tiêu cuối cùng của CSTT thường là mục tiêu trung hạn, vì tác động trễ của tiền tệ đến sản lượng và lạm phát CSTT là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, nên mục tiêu CSTT theo đuổi không ngoài mục tiêu của kinh
tế vĩ mô là “ mức sản lượng cao và tăng trưởng nhanh; mức công ăn việc làm hữu hiệu với mức thất nghiệp tự nguyện thấp nhất; ổn định giá cả” Trên thực
tế NHTW các nước điều hành CSTT đều theo đuổi mục tiêu trên Tuy nhiên, CSTT không phải là duy nhất để nền kinh tế đạt được sự ổn định kinh tế vĩ
mô với mức tăng trưởng bền vững, công ăn việc làm cao và lạm phát thấp,
mà để đạt được điều đó phải phối hợp đồng bộ với nhiều chính sách khác như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách đối ngoại Có thể khái quát hoá mục tiêu cuối cùng của CSTT thường là ổn định hệ thống tiền tệ, hỗ trợ sự phát triển kinh tế bền vững, ổn định giá cả hay là kiểm soát được lạm phát ở mức mong muốn Trong từng thời kỳ, mục tiêu cuối cùng được lượng hoá cụ thể phù hợp với diễn biến kinh tế và diễn biến tiền tệ
Mục tiêu trung gian
Mục tiêu trung gian là những biến số tiền tệ mà có thể đo lường được, NHTW có thể kiểm soát được và phải có tác dụng dự báo được mục tiêu cuối cùng Điều đó có nghĩa rằng biến số tiền tệ đó có mối liên kết với mục tiêu hoạt động và có thể tác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT
Qua đúc kết kinh nghiệm của các nước, IMF đã chia mục tiêu trung gian được chia thành 3 loại: Mục tiêu trung gian là tổng tiền, thường là lượng chọn M2 và/hoặc là tổng tín dụng nền kinh tế Mục tiêu trung gian là tổng tiền, hoặc tỷ giá hối đoái, hoặc lãi suất thị trường đã được áp dụng trong nhiều thập kỷ qua, qua đó cho thấy mỗi một mục tiêu được lựa chọn gắn liền với những diễn biến kinh tế và TTTC trong từng giai đoạn phát triển, gắn liền
Mục tiêu hoạt
động
Mục tiêu trung gian
Mục tiêu cuối cùng Công cụ của CSTT
Trang 31với mục tiêu và giải pháp đảm bảo sự ổn định vĩ mô Như vậy, để lựa chọn được mục tiêu trung gian thích hợp, đòi hỏi sự phân tích kỹ lưỡng về các diễn biến kinh tế, tiền tệ hiện tại và dự báo trong tương lai, và xác định rõ định hướng phát triển kinh tế trong ngắn hạn cũng như dài hạn
Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động là những biến tiền tệ mà NHTW có thể tác động hay kiểm soát một cách trực tiếp bằng các công cụ CSTT nhằm thay đổi mục tiêu trung gian, qua đó tác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT Mục tiêu hoạt động có vai trò quan trọng đối với việc điều hành CSTT, đây là điểm khởi đầu trong cơ chế truyền tải tiền tệ, là biến số chủ yếu để NHTW thực thi CSTT
IMF đã chia mục tiêu hoạt động thành hai loại là mục tiêu hoạt động giá cả hay lãi suất ngắn hạn và mục tiêu hoạt động là khối lượng (tiền cơ bản), cụ thể như sau:
+ Gắn với mục tiêu hoạt động là giá cả nghĩa là NHTW kiểm soát lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng Thông thường NHTW qui định lãi suất trần và lãi suất sàn của NHTW trên thị trường liên ngân hàng nhằm tạo ra hành lang dao động cho lãi suất ngắn hạn trên thị trường theo mức mong muốn của NHTW, thông qua sự tác động của công cụ CSTT như nghiệp vụ thị trường mở v.v Trong trường hợp việc chỉ đạo CSTT hầu hết thông qua sự can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối hơn là việc điều chỉnh lãi suất thì tỷ giá được xem như là mục tiêu hoạt động
+ Gắn với mục tiêu hoạt động là khối lượng tiền tệ nghĩa là NHTW kiểm soát tiền cơ bản (MB), hoặc các cấu thành của nó, chẳng hạn như Dự trữ quốc tế ròng, Dự trữ của các NHTM, hoặc tài sản có trong nước ròng trên bảng cân đối của NHTW
+ Đối với mục tiêu giá cả tiền tệ, việc kiểm soát lãi suất sẽ có hiệu quả trong điều kiện thị trường tiền tệ phát triển (thị trường liên ngân hàng có tính thanh khoản cao và hiệu quả, hệ thống NHTM tồn tại sự cạnh tranh, NHTW phải có sự tín nhiệm với thành viên thị trường) Sở dĩ phải có điều kiện này là
do lãi suất chỉ có tính nhạy cảm cao trong môi trường như vậy, khi đó bất cứ
sự thay đổi nhỏ trong cung tiền của NHTW sẽ tác động đến sự biến động của lãi suất Đối với mục tiêu là khối lượng, điều kiện áp dụng có phần ngược lại, tức là có thể áp dụng trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa phát triển, kém hiệu qủa, khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng là thấp, nhất là trong điều kiện môi trường lạm phát cao Tuy nhiên trong tình hình như vậy, một điều kiện tiên quyết là giữa hệ số tạo tiền và hàm cầu tiền phải có sự liên hệ chặt chẽ với nhau3, và gắn với nó là mục tiêu trung gian là tổng tiền (tổng phương tiện thanh toán hoặc tổng tín dụng nền kinh tế)
Trang 321.2.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ và sự lựa chọn
1) Các công cụ của chính sách tiền tệ
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn sử dụng các công cụ CSTT trong điều hành CSTT của các NHTW trên thế giới, IMF đã tổng kết và phân chia các công cụ CSTT thành 2 loại chủ yếu: Công cụ tiền tệ trực tiếp và công cụ tiền
tệ gián tiếp
2) Công cụ trực tiếp
Là cách thức mà NHTW trực tiếp tác động thông qua các quy định để giới hạn mục tiêu giá cả (hoặc mục tiêu khối lượng) thường nhằm vào các chỉ tiêu trên bảng cân đối của ngân hàng thương mại Các công cụ này thường được áp dụng trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa phát triển, khả năng sử dụng các điều kiện thị trường để điều tiết tiền tệ của NHTW còn hạn chế, như: kiểm soát trực tiếp lãi suất của nền kinh tế, hạn mức tín dụng, tín dụng chỉ định
Ấn định lãi suất tiền gửi và tiền vay
Nếu lãi suất qui định cao, sẽ thu hút được nhiều tiền gửi, làm gia tăng nguồn vốn cho vay Nếu lãi suất thấp, sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng
mở rộng kinh doanh tín dụng
Nhược điểm của biện pháp này là làm cho các TCTD mất đi tính linh hoạt và quyền tự chủ kinh doanh, nó dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở ngân hàng nhưng lại thiếu vốn đầu tư hoặc khuyến khích dân cư dùng tiền vào dự trữ ngoại tệ, bất động sản, trong khi ngân hàng bị hụt hẫng về tiền mặt cũng như nguồn vốn cho vay
Ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay
NHTW có thể qui định khung lãi suất (giới hạn tối đa và tối thiểu về lãi suất) bắt buộc các TCTD phải thực hiện
Biện pháp này có ưu điểm là giúp ngân hàng lựa chọn dự án kinh tế tối
ưu để cho vay, loại bỏ những dự án kinh tế kém hiệu quả Nhìn chung việc ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay ngày càng ít được áp dụng ở các nước theo cơ chế thị trường Bởi vì, trong cơ chế thị trường, lãi suất rất nhạy cảm với đầu tư, nó phải được vận động theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường
Ấn định hạn mức tín dụng đối với các TCTD
Đây là biện pháp mà NHTW khống chế mức cho vay tối đa đối với các TCTD Trên cơ sở qui mô, tình hình hoạt động cũng như khả năng huy động vốn của từng TCTD, NHTW tiến hành phân chia hạn mức tín dụng cho từng TCTD, đó chính là mức tối đa mà mỗi TCTD được phép vay từ NHTW Với việc sử dụng biện pháp này tạo cho NHTW dễ đạt được các mục tiêu trung gian của CSTT Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thị trường, với sự
Trang 33biến động thường xuyên của cung và cầu tiền vay, biện pháp này bỏ ra không còn phù hợp vì không điều chỉnh kịp thời với sự biến động của nền kinh tế
Bên cạnh việc qui định hạn mức tín dụng đối với các TCTD, NHTW còn qui định hạn mức tín dụng đối với nền kinh tế Trong trường hợp này, NHTW có thể qui định giới hạn khối lượng tín dụng mà các TCTD có thể cung cấp cho nền kinh tế Nó được sử dụng để kiểm soát chặt chẽ sự mở rộng tín dụng khi NHTW thực hiện chính sách chặt tiền tệ
Phát hành tín phiếu ngân hàng trung ương
Trong một số trường hợp, NHTW có thể phát hành tín phiếu để giảm khối lượng tiền trong lưu thông Việc phân bổ tín phiếu mang tính chất bắt buộc đối với TCTD Việc phát hành tín phiếu NHTW thường áp dụng trong trường hợp lạm phát cao, hoặc được sử dụng để hỗ trợ một số công cụ khác
Phát hành trực tiếp cho NSNN và cho đầu tư
Trong điều kiện NSNN bị thiếu hụt, NHTW phát hành tiền để bù đắp
sự thiếu hụt ấy Biện pháp này làm gia tăng khối lượng trong lưu thông, hậu quả là gia tăng lạm phát
Phát hành trực tiếp cho đầu tư có thể qua NSNN hoặc qua con đường tín dụng ngân hàng Biện pháp này cần thiết trong điều kiện nền kinh tế suy thoái, dư thừa tiềm năng kinh tế Nó sẽ mang lại hiệu quả tích cực, nếu phát hành này được sử dụng để khơi tăng tiềm năng về tài nguyên và con người
3) Công cụ gián tiếp
Các công cụ gián tiếp là các công cụ mà sự tác động của chúng vào các mục tiêu trung gian được thông qua một biến số khác thuộc về sự kiểm soát của NHTW và phải thông qua cơ chế tự điều tiết của các lực lượng thị trường Thuộc về nhóm công cụ này bao gồm:
Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các TCTD phải duy trì theo qui định của NHTW Nó được xác định bằng tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi trong một khoảng thời gian nhất định
Dự trữ bắt buộc được xác định bằng cách:
DTBB TGBBxTL T
DTBB Trong đó:
Trang 34Tuỳ theo điều kiện của từng nước, trong từng thời kỳ, có nhiều qui định về việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau Dự trữ bắt buộc có thể qui định cho tất cả các TCTD hoặc có thể chỉ tính cho một số các TCTD Tỷ
lệ dự trữ bắt buộc có thể được qui định chung cho toàn bộ các nguồn vốn huy động được của các TCTD hoặc có thể chỉ được qui định đối với tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi ngắn hạn dưới một năm
Việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của các TCTD và quan trọng hơn là để NHTW kiểm soát quá trình tạo tiền của hệ thống TCTD Sự thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động tới sự thay đổi số nhân tiền và qua đó tác động đến mức cung tiền
Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng, các yếu tố khác không đổi, làm giảm khả năng cho vay và đầu tư của TCTD, do đó làm giảm tiền trong lưu thông Ngược lại, NHTW giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mở rộng cho vay và đầu tư của các TCTD, dẫn đến tăng mức cung ứng tiền
Như vậy thông qua công cụ dự trữ bắt buộc, NHTW tác động cả về khối lượng và giá cả tín dụng của các ngân hàng thương mại:
Về số lượng: Tăng, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng có nghĩa là thắt chặt hay nới lỏng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại
Về chi phí: Tăng, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng có nghĩa là làm tăng hoặc giảm cho phí tín dụng của các ngân hàng thương mại
Do đó dự trữ bắt buộc tạo ra tác động kép (vừa tác động về khối lượng, vừa tác động về chi phí) để buộc các ngân hàng thương mại có thể mở rộng hay hạn chế tín dụng
Thông qua việc ấn định lãi suất tái cấp vốn, NHTW tác động đến chi phí vay mượn của các TCTD tại NHTW Nếu lãi suất tái cấp vốn tăng lên, chi phí các khoản tiền vay từ NHTW tăng lên, các TCTD sẽ bất lợi trong vay vốn Trong điều kiện đó, các TCTD không có khả năng bành trướng tín dụng Nếu lãi suất tái cấp vốn giảm xuống, các TCTD có khả năng bành trướng tín dụng do được lợi trong việc vay vốn của NHTW
Điều kiện để NHTW tái cấp vốn là:
- Còn hạn mức tín dụng dành cho TCTD đó
Trang 35- Các khoản tín dụng đem đến tái chiết khấu phải lành mạnh và đảm bảo khả năng thu hồi nợ
Ở các nước công cụ tái cấp vốn được sử dụng một cách phổ biến để tác động đến cơ số tiền và cung ứng tiền tệ và qua đó thực hiện các mục tiêu
về tăng trưởng kinh tế và ổn định tiền tệ Qua công cụ tái cấp vốn, NHTW là người cho vay cuối cùng Tái cấp vốn được thực hiện trên nền các giấy tờ có giá, nên thời hạn vay mượn là rõ ràng, việc hoàn trả nợ tương đối chắc chắn, tiền vay vận động phù hợp với sự vận động của quy luật cung cầu thị trường
Mặc dù công cụ tái cấp vốn có nhiều công dụng trong việc thực hiện CSTT, nhưng việc kiểm soát cơ số tiền và mức tiền cung ứng thường kém chặt chẽ Sự thay đổi của lãi suất tái cấp vốn có thể làm tăng hay giảm khối lượng vay mượn của TCTD, nhưng mức độ thay đổi là bao nhiêu lại phụ thuộc phần lớn vào hoạt động của TCTD Vì vậy, đôi khi khối lượng tiền vay mượn của TCTD nằm ngoài ý định của NHTW, do vậy NHTW không thể kiểm soát chặt chẽ sự thay đổi của mức cung ứng tiền
Nếu ý muốn gia tăng khối lượng tiền trong lưu thông, mở rộng tín dụng, NHTW thực hiện nghiệp vụ mua các giấy tờ có giá trên thị trường tiền
tệ Ngược lại, khi muốn giảm mức cung ứng tiền thu hẹp tín dụng, NHTW bán các giấy tờ có giá đang nắm giữ
Qua nghiệp vụ mua bán này, NHTW làm tăng hay giảm dự trữ của ngân hàng thương mại, tác động tới khả năng tín dụng của ngân hàng này và
từ đó làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ
Công cụ thị trường mở có ưu điểm là nó trực tiếp tác động ngay đến
dự trữ của các TCTD và buộc các ngân hàng này phải gia tăng tín dụng hoặc giảm tín dụng đối với nền kinh tế Nếu không có sự tham gia mua bán của NHTW trên thị trường tiền tệ mà chỉ có việc mua bán tín phiếu kho bạc giữa các TCTD với nhau thì khối lượng tiền tệ sẽ không thay đổi Bởi vì một TCTD này bán tín phiếu cho TCTD thì chỉ là sự chuyển dịch tín phiếu và một phần dự trữ dư thừa từ TCTD này qua TCTD khác mà thôi
Công cụ tiền tệ gián tiếp là cách tác động thông qua thị trường dưới những điều kiện về cung cầu vốn, và hầu hết các công cụ này nhằm vào bảng cân đối tiền tệ của NHTW Các công cụ tiền tệ gián tiếp (dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở…) không ngừng phát triển cùng với sự phát triển của thị trường tiền tệ, hệ thống thanh toán Đến nay, công cụ dự dữ bắt buộc ít được sử dụng hơn ở những nước phát triển,mà dự trữ bắt buộc chủ
Trang 36yếu được sử dụng ở những nước đang phát triển và những nước chuyển đổi Còn công cụ tái cấp vốn cũng được mở rộng thêm, đến nay NHTW nhiều nước đã thực hiện nghiệp vụ thấu chi cung cấp nguồn vốn qua đêm cho các NHTM do thiếu hụt khả năng thanh toán khi tham gia hệ thống thanh toán của NHTW và thực hiện nghiệp vụ gửi tiền (deposit facility) để thu hút vốn khả dụng thừa của các NHTM nhằm ngăn chặn lãi suất thị trường hạ xuống mức quá thấp Nghiệp vụ tiền gửi thường được kết hợp với nghiệp vụ lombard hoặc cho vay qua đêm tạo ra một hành lang dao động cho lãi suất thị trường liên ngân hàng
Nghiệp vụ thị trường mở ngày nay đã trở thành công cụ CSTT chủ yếu
ở những nước phát triển Từ nghiệp vụ thị trường mở truyền thống (mua bán hẳn chứng khoán chính phủ) đến nay nghiệp vụ này đã phát triển dưới nhiều hình thức, như nghiệp vụ mua – bán có kỳ hạn giấy tờ có giá (Repo); nghiệp
vụ mua – bán có kỳ hạn ngoại tệ (nghiệp vụ Swap); bán tín phiếu của NHTW trên thị trường sơ cấp
Ngoài nghiệp vụ tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở là những công cụ tiền tệ gián tiếp chủ yếu được áp dụng trong điều hành CSTT của NHTW các nước, còn một số công cụ khác được áp dụng trong những điều kiện nhất định và chỉ có một vài nước áp dụng Chẳng hạn như nghiệp vụ tiền gửi của khu vực công – là sự phân bổ lại tiền gửi chính phủ giữa NHTW với các NHTM để bù đắp sự thiếu hụt ngắn hạn vốn khả dụng của các NHTM
Sử dụng công cụ này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa NHTW và Kho bạc…
Như vậy, để điều hành CSTT, NHTW đã sử dụng rất nhiều các công
cụ tiền tệ, mỗi công cụ đều có những vai trò nhất định trong việc tác động đến cung, cầu vốn trên thị trường Tùy theo các điều kiện của thị trường tiền
tệ, mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, mục tiêu và khuôn khổ CSTT của NHTW mà mỗi công cụ khi áp dụng có thể mang lại những hiệu quả tối đa
4) Lựa chọn sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ
Có thể đưa ra nét chung nhất mà IMF đã tổng kết làm cơ sở tham khảo
để lựa chọn công cụ CSTT cho phù hợp với mục tiêu điều hành của NHTW như sau:
- Công cụ dự phòng: Tạo hành lang lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, do vậy phù hợp với mục tiêu hoạt động là lãi suất ngắn hạn hơn là với mục tiêu hoạt động là tiền cơ bản
- Nghiệp vụ thị trường mở: Mục tiêu điều tiết của nghiệp vụ thị trường
mở là giá cả (lãi suất) hay khối lượng tiền tùy thuộc vào việc lựa chọn phương thức đấu thầu là đấu thầu khối lượng hay đấu thầu lãi suất trong các giao dịch mua bán hẳn hoặc mua bán có kỳ hạn các giấy tờ có giá
Khi thực hiện nghiệp vụ Swap, NHTW không tác động được đến tỷ giá hối đoái, mà tác động đến khối lượng tiền Nhưng khi thực hiện mua –
Trang 37bán đứt ngoại tệ, NHTW vừa tác động đến tỷ giá hối đoái vừa tác động đến khối lượng tiền cơ bản
- Công cụ dự trữ bắt buộc: Là công cụ không hiệu quả để định hướng lãi suất ngắn hạn, mà cũng như tác động đến khối lượng tiền cơ bản Tuy nhiên, với việc áp dụng dự trữ bình quân, công cụ dự trữ bắt buộc có thể đóng góp vào sự ổn định của lãi suất ngắn hạn, về khía cạnh nào đó tạo thuận lợi cho hệ thống thanh toán và hỗ trợ việc ổn định hệ số tạo tiền, qua đó góp phần cho cơ chế truyền dẫn tiền tệ thực hiện trôi chảy
Việc lựa chọn các công cụ CSTT có vị trí quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều hành, việc áp dụng các công cụ CSTT gắn liền với khuôn khổ CSTT nhất định Trong một khuôn khổ CSTT, mỗi một công cụ có một vai trò nhất định trong điều tiết tiền tệ, như có công cụ giữ vị trí chủ yếu để cung ứng vốn khả dụng, tạo tín hiệu CSTT, điều chỉnh lãi suất; có công cụ thì
có vai trò hạn chế sự biến động của lãi suất, hoặc cung ứng dài hạn vốn khả dụng cho các NHTM Ngoài ra, với cùng một công cụ, kỹ thuật áp dụng cũng có sự khác nhau giữa các nước, giữa các thời kỳ phát triển, điều đó thể hiện tính đa năng, linh hoạt của các công cụ chính sách Để phát huy hết tính
đa năng và hiệu quả của các công chính sách phụ thuộc nhiều vào kỹ năng điều hành và các điều kiện thực thi CSTT của NHTW
5) Cơ chế truyền tải tác động của chính sách tiền tệ
Cơ chế truyền tải tiền tệ là tuyến đường, hay những kênh tác động mà NHTW có thể sử dụng các công cụ CSTT làm thay đổi các điều kiện tiền tệ trên thị trường, qua đó tác động đến tổng cầu của nền kinh tế làm thay đổi sản
lượng, giá cả và việc làm (mục tiêu cuối cùng của CSTT) Trong nhiều thập
kỷ qua, NHTW đã có những kênh khác nhau làm thay đổi tổng cầu và hoạt động kinh tế Sự hình thành và phát triển cơ chế truyền tải CSTT được bắt đầu từ lược đồ đơn giản của Keynes để xem xét sự thay đổi trong cung tiền, lãi suất của NHTW ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động kinh tế
Qua nhiều nghiên cứu của các nhà học giả kinh tế thế giới đã tổng kết CSTT tác động đến nền kinh tế được thực hiên qua một số kênh chủ yếu sau:
Trang 38Sơ đồ 1 - Các kênh truyền tải của CSTT
Kênh lãi suất trực tiếp: Kênh lãi suất là đặc trưng cơ bản của mô hình
Keynes truyền thống áp dụng cho nền kinh tế đóng CSTT thắt chặt làm tăng lãi suất danh nghĩa ngắn hạn trên thị trường tiền tệ (thị trường liên ngân hàng)
và tiếp đến tăng lãi suất tiền gửi và cho vay của các ngân hàng Sự gia tăng lãi suất của các ngân hàng tác động tới các khoản chi nhạy cảm với lãi suất và thu nhập theo các cách khác nhau
+ Tác động lãi suất tới chi tiêu: Sự thay đổi lãi suất của NHTW tác động đến cầu thực và sản lượng thực của nền kinh tế, vì xét về mặt ngắn hạn, với kỳ vọng về lạm phát không thay đổi thì sự thay đổi lãi suất danh nghĩa dẫn đến sự thay đổi lãi suất thực, qua đó sẽ có tác động nhạy cảm đến sản lượng và giá cả
+ Tác động tới thu nhập: Lãi suất tăng hơn sẽ phân phối lại thu nhập từ người vay tiền sang người gửi tiền
- Kênh tỷ giá hối đoái: Kênh truyền tải qua tỷ giá hối đoái của CSTT
được xây dựng từ mô hình Mundell-Fleming áp dụng cho nền kinh tế mở có chế độ tỷ giá linh hoạt Lãi suất tăng dẫn đến giá nội tệ tăng có thể làm cho giá cả hàng hoá sản xuất trong nước tăng so với hàng hoá của nước ngoài, đưa tới giảm nhu cầu đối với hàng hoá trong nước, tăng nhu cầu hàng nhập làm suy yếu cán cân thương mại, giảm tổng cầu và sản lượng Tỷ giá không chỉ tác động tới tổng cầu, mà còn có thể tác động tới tổng cung Như vậy, ngược với tổng cầu, tổng cung có thể tăng lên khi đồng nội tệ lên giá
Cung ứng tiền tệ
Lãi suất
Tiêu dùng Đầu tư Giá cả
Trang 39Ở những nước có chế độ tỷ giá cố định hoặc bị kiểm soát chặt, CSTT
có thể tác động tới tỷ giá thực thông qua giá cả trong nước và do vậy vẫn có thể tác động tới xuất khẩu ròng mặc dù với mức độ thấp hơn và chậm hơn
- Kênh giá cả tài sản: Sự thay đổi của của CSTT tác động tới giá cả
của cổ phiếu, trái phiếu và bất động sản Sự thay đổi về giá cả các tài sản này tác động tới tổng cầu qua các kênh: tác động Tobin, thực trạng tài chính và năng lực tài sản ròng
- Kênh tín dụng ngân hàng: CSTT thắt chặt làm giảm tiền gửi ngân
hàng Để cân đối giữa cung và cầu tín dụng, các ngân hàng không chỉ tăng lãi suất mà còn áp dụng hạn mức tín dụng thông qua tăng các chuẩn mực về uy tín tín dụng Sự giảm sút của vốn tín dụng sẽ hạn chế đầu tư và sản lượng của
doanh nghiệp
1.2.3 Chính sách ngoại hối và chế độ điều hành tỷ giá
1) Chính sách ngoại hối
Chính sách ngoại hối được thể hiện trên các phương diện: (i) Chính
sách hối đoái; (ii) Dự trữ ngoại hối và (iii) Tỷ giá hối đoái
Chính sách hối đoái: Chính sách hối đoái thường hướng vào việc ngăn
chặn tích trữ ngoại hối trong các pháp nhân và thế nhân, quản lý việc mua bán ngoại tệ, thu hút các nguồn ngoại tệ vào NHTW
Dự trữ ngoại hối: Mỗi nước đều có dự trữ ngoại hối tùy thuộc vào khả
năng của nền kinh tế đó Dự trữ ngoại hối phục vụ cho nhu cầu thanh toán quốc tế và điều chỉnh khối lượng tiền trong nước Khi NHTW mua ngoại tệ
sẽ làm gia tăng dự trữ ngoại tệ, gia tăng khối lượng tiền tệ và ngược lại Qua việc mua bán ngoại hối, NHTW can thiệp vào thị trường, chủ động tác động vào tỷ giá hối đoái theo ý muốn nhất định
Tỷ giá hối đoái: Phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ
Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp đến xuất nhập khẩu Nếu tỷ giá hối đoái quá thấp sẽ khuyến khích nhập khẩu, gây bất lợi cho xuất khẩu Ngược lại, nếu tỷ giá hối đoái quá cao sẽ bất lợi cho nhập khẩu Do tầm quan trọng của
nó, nên NHTW rất quan tâm và khi cần thiết dùng nhiều biện pháp để ổn định tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá cả của ngoại tệ tính bằng đồng bản tệ hoặc tỷ giá là giá cả của đồng bản tệ tính bằng đồng ngoại tệ
Hiện nay nước ta sử dụng cách yết giá của đồng đô la Mỹ (USD) tính bằng đồng Việt Nam (VND), vì thế nó liên quan đến các thước đo tỷ giá Các thước đo này bao gồm:
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (NER) là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo nội tệ và chưa tính đến sức mua của đồng tiền
Trang 40-Tỷ giá hối đoái thực (RER) là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo giá tương đối giữa các nước (nghĩa là tỷ giá danh nghĩa đã loại trừ yếu tố giá cả trong nước và ngoài nước) Tương quan giữa tỷ giá thực E(r) và tỷ giá danh nghĩa E được biểu diễn như sau:
E(r) = EP*/P Trong đó: P* là mức giá cả nước ngoài
P là mức giá ở trong nước
Tỷ giá thực là thước đo đầy đủ sức cạnh tranh hàng hóa của một nước
so với hàng hóa nước ngoài xét về phương diện giá cả
- Tỷ giá hối đoái thực hiệu quả (REER) là tỷ giá được điều chỉnh theo các tỷ giá thực của các nước có giao dịch với một nước theo tỷ trọng thương mại của nước đó với các nước bạn hàng REER là một thước đo hiệu quả về tính cạnh tranh của một nước trong quan hệ thương mại với nước khác
Tỷ giá thực cân bằng (RERE) là mức tỷ giá mà tại đó nền kinh tế đồng thời đạt cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài
Tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng tác động đến giá cả của hàng hoá
và dịch vụ xuất nhập khẩu, đến chi phí đối với hoạt động đầu tư nước ngoài
và lợi nhuận từ hoạt động đầu tư đó Nhiều quốc gia đã có những biện pháp nhằm kiểm soát tỷ giá danh nghĩa Các biện pháp này, cùng với những công
cụ được sử dụng để đạt được mục tiêu tỷ giá đề ra được gọi là chính sách tỷ giá
Nội dung của chính sách tỷ giá được thể hiện ở 3 khía cạnh sau đây:
- Lựa chọn chế độ tỷ giá phù hợp với điều kiện phát triển của quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu;
- Xác định một mức tỷ giá hối đoái áp dụng cho các hoạt động kinh tế
có liên quan nhằm đạt được mục tiêu của chính sách tỷ giá;
- Xác định phương pháp và công cụ điều hành tỷ giá Thông qua đó, nhà nước thực hiện vai trò điều tiết lưu thông ngoại hối để đạt được mức tỷ giá đã xác định
2) Các chế độ tỷ giá
Chế độ tỷ giá đóng vai trò quan trọng trong phân tích và hoạch định chính sách Một khi Chính phủ đã lựa chọn một chế độ tỷ giá cụ thể thì mọi phân tích và đề xuất chính sách dựa trên cơ sở chế độ tỷ giá đó Có 3 chế độ
tỷ giá điển hình:
- Chế độ tỷ giá cố định: Chế độ tỷ giá cố định là chế độ tỷ giá trong đó
Ngân hàng Trung ương ấn định tỷ giá danh nghĩa giữa đồng nội tệ và một đồng ngoại tệ ở một mức cố định Thông thường, đồng ngoại tệ trong trường hợp này là đồng tiền của một quốc gia lớn hoặc một nhóm các quốc gia (đồng tiền chung) có quan hệ thương mại chặt chẽ hoặc có mức lạm phát thấp