1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6

26 432 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 4,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều hòa và thống nhất mọi hoạt động của các thành viên cấu tạo nên hệ là các “hồi tiếp”, liên quan với các chu trình sinh địa hóa, sự biến đổi của năng lượng và thông tin.. Cấu trúc của

Trang 1

Trong thiên nhiên, một cánh rừng, một hồ nước, một đụn cát, rạn san hô là những ví dụ điển hình về các

hệ sinh thái Hệ sinh thái được xem là đơn vị chức năng của sinh giới trên bề mặt Trái Đất

Hệ sinh thái tương tự như một cơ thể sống vì giữa hệ và cơ thể động vật có nhiều điểm tương đồng, tuynhiên, chúng có bản chất rất riêng (bảng 6.1)

Bảng 6.1 Những nét tương đồng giữa cơ thể và hê sinh thái

Cơ quan và hệ cơ quan Quần xã sinh vật Các hoạt động chức

năng

Có quá trình trao đổi vật chất và năng lượng thông qua con đường đồng hóa - dị hóa.

Có quá trình trao đổi vật chất và năng lượng thông qua các hoạt động tổng hợp - phân hủy vật chất.

Đời sống Phát sinh, trưởng thành và già; có tuổi thọxác định. Phát sinh, phát triển và suy vong; có tuổi thọxác định.Giới hạn sinh thái Có giới hạn sinh thái Có giới hạn sinh thái.

Cơ chế điều hòa và

thống nhất các hoạt

động chức năng.

Điều hòa và thống nhất mọi hoạt động của các cơ quan và hệ cơ quan là sự thiết lập

trạng thái “nội cân bằng”, liên quan với

hoạt động của hệ thần kinh và thể dịch

Điều hòa và thống nhất mọi hoạt động của

các thành viên cấu tạo nên hệ là các “hồi

tiếp”, liên quan với các chu trình sinh địa

hóa, sự biến đổi của năng lượng và thông tin. Bản chất của hệ sinh thái là:

- Trong điều kiện tự nhiên hệ sinh thái tồn tại một cách độc lập với các thành phần cấu tạo nên nó (nghĩa là

cây có thể chết, nhưng rừng vẫn tồn tại)

- Các thành viên cấu trúc nên hệ tồn tại và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào nhau, hỗ trợ cho nhau, nếu rời

khỏi hệ, quần thể loài sẽ bị diệt vong

- Một hệ sinh thái bất kì hay mỗi thành viên cấu trúc của nó có chức năng riêng, đều hoạt động nhịp nhàng

để tạo nên hoạt động chức năng thống nhất của cả hệ thống

- Hệ sinh thái bao giờ cũng là hệ động lực hở, tự điều chỉnh, bởi vì hoạt động của nó tuân theo các quy luật

nhiệt động học; hệ luôn nhận năng lượng và vật chất từ môi trường Không những thế, hệ có giới hạn sinh tháixác định; các tác động từ môi trường lên hệ, nếu nằm trong giới hạn chịu đựng, hệ sẽ tự điều chỉnh để duy trì sự

ổn định của mình, nếu vượt khỏi giới hạn đó, hệ sẽ rơi vào trạng thái bất ổn định và suy thoái

2 Các thành phần cấu trúc của hệ sinh thái

Một hệ sinh thái bất kì đều bao gồm quần xã sinh

vật và môi trường vật lí mà nó tồn tại, nhờ đó, các chu

trình sinh học xảy ra một cách hoàn thiện nhất

Không gian của hệ sinh thái được xác định bởi

chiều dài, chiều rộng, chiều cao và độ sâu, còn thời

gian của hệ gồm quá khứ, hiện tại và tương lai trong

lịch sử đời sống của nó

Lịch sử phát triển của hệ sinh thái không chỉ liên

quan với những biến đổi của điều kiện môi trường mà

Hình 6.1 Sơ đồ cấu trúc hệ sinh thái nước ngọt

(Duvignaud et Tanghe, 1967)

Trang 2

còn chứa đựng cả yếu tố thời gian mà hệ đã trải qua Trong tiến trình đó, những “dấu ấn” hay những đặc điểmthích nghi của sinh vật với môi trường có thể tìm thấy ở các dạng hoá thạch Khoa học nghiên cứu về mối quan

hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường ở các giai đoạn quá khứ của lịch sử phát triển Trái Đất được gọi là Cổ sinh thái học (Paleoecology)

Thời gian trở thành nhân tố vật chất thiết yếu cho sự hình thành và tiến hoá của các loài và hệ sinh thái Nhờ

có thời gian, sinh vật mới đủ điều kiện để đồng hoá năng lượng và vật chất, mới sinh sôi nảy nở cho sự pháttriển hưng thịnh

Cấu trúc của một hệ sinh thái bao gồm quần xã sinh vật và môi trường vật lí mà nó sống (hình 6.1) với cácthành phần sau:

- Sinh vật sản xuất (cây xanh, tảo, các vi khuẩn quang hợp và hóa tổng hợp).

- Sinh vật tiêu thụ (chủ yếu là các nhóm động vật).

- Sinh vật phân hủy (chủ yếu là vi sinh vật sống họai sinh).

- Các chất vô cơ (nước, CO 2 , O 2 , muối khoáng ).

- Các chất hữu cơ (protein, gluxit, lipit, vitamin, hormone )

- Các nhân tố khí hậu (ánh sáng, nhiệt, ẩm, gió ).

Theo E Odum (1983), hệ sinh thái còn gồm các quá trình chức năng sau đây:

- Quá trình chuyển hóa năng lượng của hệ,

- Chuỗi thức ăn trong hệ,

- Các chu trình sinh địa hóa diễn ra trong hệ,

- Sự phân hóa trong không gian và theo thời gian,

- Các quá trình phát triển và tiến hóa của hệ,

chu trình sinh địa hóa và tính đa dạng trong cấu trúc

Mỗi một phạm trù hoạt động chức năng lại chứa đựng các thành phần cấu trúc riêng Chẳng hạn, đối vớiphạm trù 1, 2 và 3 nêu trên gồm sinh vật tự dưỡng, động vật ăn cỏ và động vật ăn thịt, kí sinh, cộng sinh , sinhkhối của chúng cũng như những mối quan hệ khác như sự thoát hơi nước, lượng mưa, sự xói mòn và lắng đọng.Đối với phạm trù 4 và 5 gồm các quá trình tăng trưởng và tái sản xuất vật chất, những tác nhân sinh học và vật

lí đối với mức tử vong, sự di cư, nhập cư trong hệ sinh thái cũng như sự phát triển của các đặc tính thích nghi

Do tính đa dạng và phức tạp trong cấu trúc, hệ sinh thái ngày càng hướng đến trạng thái cân bằng ổn định

và tồn tại vô thời hạn khi không có những tác động vượt khỏi ngưỡng chống chịu của nó

Hình 6.2 Hệ chuyển tiếp giữa rừng và đồng cỏ (bìa rừng) và hệ chuyển tiếp giữa nơi

đất cao và vùng nước sâu của thủy vực (đất ngập nước).

Trang 3

không có ranh giới rõ ràng, giữa chúng là một vùng chuyển tiếp hay hệ đệm Chẳng hạn, bìa rừng là nơi chuyểntiếp giữa rừng và đồng cỏ, vùng cửa sông là nơi chuyển tiếp giữa nước ngọt và nước mặn, đất ngập nước làvùng chuyển tiếp giữa nơi đất cao và nước sâu của thủy vực Đó là những hệ chuyển tiếp hay hệ đệm(Ecotone).

Như vậy, hệ đệm là một hệ sinh thái chuyển tiếp giữa các hệ sinh thái lớn nằm kề nhau mà chúng có nhữngđặc trưng tương phản nhau Sự tồn tại và phát triển của hệ đệm không chỉ phụ thuộc vào những nhân tố củachính môi trường vật lí mà nó tồn tại (địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu thủy văn ) mà còn chịu ảnh hưởng và bịchi phối bởi các hệ lân cận (hình 6.2)

Về không gian, hệ đệm nhỏ hơn so với các hệ chính cấu tạo nên nó Ở đó điều kiện môi trường nói chung,thường khắc nghiệt hơn và kém ổn định do tính pha trộn của các hệ lân cận Trong điều kiện như thế không phảitất cả các loài đều có mặt mà chỉ một số không nhiều có nguồn gốc khác nhau mới có thể tồn tại và phát triển

Do ít loài, lại sống trong một không gian rộng lớn, mức độ cạnh tranh giữa các loài thấp, ít kẻ thù nên nhữngloài cư trú trong hệ đệm thường có nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển số lượng cá thể, tạo ra sản lượng cao chokhai thác (Vũ Trung Tạng, 1985, 1994)

Trên bề mặt hành tinh tồn tại những hệ chuyển tiếp rộng lớn, đang lôi cuốn sự quan tâm của nhiều nhà khoahọc và nhiều lĩnh vực khoa học, trở thành đối tượng nghiên cứu rất sôi động trong mọi quốc gia và trên mọi

vùng lãnh thổ Đó là vùng chuyển tiếp Lục địa - Biển (Coastal Zone), vùng chuyển tiếp Khí quyển - Thủy quyển (Atmosphere - Hydrosphere), nơi sinh tồn của các quần xã sinh vật màng nước (Pleiston- Neiston), vùng chuyển tiếp Đáy - Nước (Pelagobenthos) và vùng chuyển tiếp giữa nơi đất cao và nước sâu của các thủy vực, được gọi

là Đất ngập nước (Wetland)

3.2 Các hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nhân tạo

Trong thiên nhiên tồn tại các hệ sinh thái khác nhau về nguồn gốc hình thành Đó là các hệ sinh thái tựnhiên và các hệ sinh thái nhân tạo

- Hệ sinh thái tự nhiên được hình thành do hoạt động của các quy luật tự nhiên, ví như các hồ tự nhiên, mộtkhoảnh rừng, một đầm lầy, thậm chí rất nhỏ như một phần tử mùn bã hữu cơ (detritus)

- Hệ sinh thái nhân tạo được hình thành do hoạt động của con người như các hồ chứa, thành phố, nươngrẫy, một bể cá cảnh, thậm chí cả các hệ cực nhỏ được tạo ra trong phòng thí nghiệm mà trong đó một chu trìnhsinh học xảy ra một cách hoàn thiện

4 Các hoạt động chức năng của hệ sinh thái

4.1 Tổng hợp vật chất và phân hủy vật chất

Hai quá trình tổng hợp và phân hủy vật chất hoạt động đối lập nhau trong các hệ sinh thái, tương tự như quá

trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể sinh vật.

4.1.1 Quá trình tổng hợp vật chất

Tổng hợp vật chất thực chất là quang tự dưỡng (photoautotroph) được thực hiện bởi quá trình quang hợp(photosynthesis) của cây xanh, tảo, vi khuẩn quang hợp và quang khử (photoreducer, tức là khử CO2, không thải

O2 và vi khuẩn khử các hợp chất hữu cơ khác nhau nhờ năng lượng ánh sáng) Khuẩn lam (Cyanobacteria)

trong điều kiện thoáng khí là vi khuẩn quang hợp, còn trong điều kiện kị khí lại là dạng quang khử Sự hìnhthành các hợp chất hữu cơ còn có sự tham gia của vi khuẩn hoá tổng hợp (chemosynthesis)

- Quang hợp của cây xanh:

Nhờ hệ sắc tố có thành phần và cấu trúc phức tạp, thực vật và tảo là sinh vật duy nhất trên hành tinh có khảnăng cố định được năng lượng Mặt Trời để tổng hợp các chất hữu cơ đầu tiên thông qua hoạt động quang hợp:

6CO2 + 12H2O + Năng lượng MT (C6H12O6) + 6H2O + 6O2

Ở thực vật bậc cao có nhiều quá trình sinh học cố định CO2 Trước năm 1965, người ta chỉ biết, ở phần lớnthực vật, sự cố định CO2 xảy ra theo chu trình Canvin (hay chu trình C3) Đến năm 1965, hai nhà bác học người

Úc là Hatch và Slack mới phát hiện ra chu trình C4 (hay C4-dicarbocylic), đồng thời vào năm đó, chu trình CAM(Crassulaceaen Acid Metabolism), mang tên nhóm thực vật quang hợp theo chu trình, cũng được phát hiện

Trang 4

Thực vật C4 có diệp lục lớn với nhiều sai khác cơ bản so với C3 về đặc điểm hình thái và sinh lí, cũng như cảcác phản ứng với ánh sáng, nhiệt độ và nước Ở thực vật C3 cường độ quang hợp cực đại theo đơn vị mặt láthường đạt ở cường độ chiếu sáng và nhiệt độ vừa phải, còn ở nhiệt độ cao và ánh sáng mạnh quang hợp giảm.Ngược lại, thực vật C4 thích nghi với điều kiện chiếu sáng mạnh và nhiệt độ cao, đồng thời sử dụng nước cóhiệu quả (1g sản phẩm khô/400g nước, ở C3: 1g/400-1000g nước) Hàm lượng O2 cao không gây ngưng trệquang hợp của C4 như đối với C3 Thực vật C4 sống hiệu quả hơn ở giới hạn trên của sự chiếu sáng và dãy nhiệt

mà ở đó quang hô hấp không cao, nghĩa là khi tăng độ chiếu sáng, sản phẩm quang hợp không bị hao phí cho hôhấp

Quang hợp của thực vật C4 đặc trưng cho các loài thuộc họ Hòa thảo (Grammineae) và một số đại diện của

các họ khác trong lớp Một và Hai lá mầm Thực vật C4 phát triển ưu thế trên các hoang mạc, thảo nguyên nóngnhiệt đới, ít gặp trong rừng và những nơi sương mù phương bắc với cường độ chiếu sáng và nhiệt độ thấp Tuycường độ quang hợp của thực vật C3 thấp hơn so với C4, nhưng chúng đóng vai trò to lớn trong sản xuất nguồnthức ăn sơ cấp trên hành tinh

Không lâu người ta đã phát hiện khả năng quang hợp của thực vật hoang mạc gọi nôm na là thực vật CAM.Những loài này chịu được điều kiện khô nóng kéo dài (cây mọng nước như dứa, xương rồng ), ban ngày khíkhổng đóng, chỉ mở vào đêm lạnh CO2 khi hấp thu qua khí khổng được gom lại dưới dạng axit hữu cơ (axitmalic) và chỉ vào hôm sau mới được cố định dưới dạng hydratcacbon (C6H12O6) Sư ngưng trệ của quang hợpnhư thế làm giảm đáng kể sự mất nước, đồng thời làm tăng khả năng bảo vệ và duy trì cân bằng nước và trữlượng nước trong cơ thể

- Quang hợp của vi khuẩn:

Vi khuẩn và vai trò của chúng trong việc hình thành nguồn thức ăn hữu cơ

Việc phân loại các dạng tự dưỡng ở vi khuẩn là rất phức tạp, vì chúng không có sự thống nhất về một cơchế, và ở mức độ nào đó, lại không phụ thuộc vào nhau Trong số vi khuẩn tự dưỡng được chia ra thành

chemolithoautotroph, photolithoautotroph và chemoorgranoautotroph Để cấu trúc cơ thể, tất cả chúng để đều

sử dụng CO2 làm nguồn cacbon, nhưng khác nhau theo khả năng khai thác năng lượng

- Hóa tự dưỡng vô cơ (Chemolithoautotroph): Vi khuẩn cố định N2, vi khuẩn hidro, vi khuẩn lưu huỳnh

không màu, một số Thiobacteria, vi khuẩn sinh khí CH4, vi khuẩn oxi hóa sắt, lấy năng lượng từ sự oxi hóa

Quang hợp của vi khuẩn

Vi khuẩn quang hợp chủ yếu sống trong nước ngọt và nước mặn Chúng đóng vai trò không lớn trong sảnxuất chất hữu cơ, nhưng có khả năng hoạt động ở những nơi nhìn chung không thuận lợi đối với đa số thực vật,đồng thời trong các thủy vực chúng còn tham gia vào chu trình của một vài nguyên tố Ví dụ, vi khuẩn lưuhuỳnh xanh hay đỏ trong chu trình lưu huỳnh Những chủng vi khuẩn kị khí bắt buộc đó (chỉ tồn tại trong điềukiện không có O2) thường gặp ở ranh giới giữa vùng ôxi hóa và vùng khử trong trầm tích hay nước mà ở đó ánh

Trang 5

sáng hầu như không lọt tới Chẳng hạn, sự có mặt của chúng trong lớp bùn triều thường tạo nên các lớp màuhồng hay đỏ nổi bật ngay dưới lớp màu xanh phía trên của các loài tảo sống trong bùn (ranh giới trên của vùng

kị khí hay vùng khử), nơi có ánh sáng, nhưng rất nghèo O2 Vi khuẩn không lưu huỳnh quang hợp là vi khuẩnhiếu khí không bắt buộc Khi không có ánh sáng, tương tự như nhiều loài tảo, chúng có thể sống dị dưỡng Vànhư vậy, quang hợp của vi khuẩn có lợi trong xử lí nước thải và những thủy vực phú dưỡng, nhưng không thểthay thế cho quang hợp thực sự, cái đã tạo nên nguồn thức ăn và khí O2 khổng lồ cho sinh vật dị dưỡng

Năm 1973, D Osterholt và U Stolenus đã phát hiện một dạng quang dưỡng mới (photoautotroph) là vi

khuẩn muối (Halobacterium), không có chlorophil, nhưng có khả năng chuyển năng lượng Mặt Trời thành hóa

năng Sự tiếp nhận ánh sáng được thực hiện nhờ protein màu đỏ tía (rodopsin) Chất này về mặt hóa học giống

với rodopsin chứa trong võng mạc của mắt động vật Halobacterium là đại diện nguyên thủy về mặt sinh họcvới khối lượng phân tử rất nhỏ so với chlorophil (27 kilodalton) và quang tự dưỡng của nó cũng là dạng nguyênthủy nhất (Iu A Obtchinnikov,1978) Chúng sống phổ biến ở các vực nước mặn, ấm nóng, nơi kém thích hợpđối với các đại diện quang hợp khác Chẳng hạn, trên mặt biển Chết, các loài tảo chỉ có số lượng cá thể 10 tế

bào/lit, trong khi mật độ Halobacterium đạt 3-5 triệu tế bào/ml (Orens,1983).

- Hóa tổng hợp của vi khuẩn:

Hóa tổng hợp của vi khuẩn được thực hiện nhờ hoạt động của một số nhóm vi khuẩn xác định Chúng chủ

yếu sử dụng năng lượng của các quá trình ngoại nhiệt (ôxi hóa một vài hợp chất với tư cách là chất khử) Đa sốtrường hợp, các chất bị ôxi hóa bởi các vi khuẩn hóa tổng hợp chính là sản phẩm phân hủy kị khí của các hợpchất hữu cơ có sẵn trong tự nhiên Như vậy, do hoạt động ở nơi không có ánh sáng, vai trò của sinh vật hóa tổnghợp trong sản xuất thức ăn không đáng kể mà chủ yếu lôi cuốn khoáng dinh dưỡng và sử dụng nguồn nănglượng ít ỏi (tái sử dụng cacbon), không đủ cho những động vật tiêu thụ khác sử dụng và huy động một phần sảnphẩm quang hợp “rơi vãi” vào các chu trình sinh địa hóa (Sorokin, 1966)

Vi khuẩn hóa tổng hợp thường gặp trong đất, trong trầm tích đáy ao hồ, đại dương, cả trong nước ngọt vànước mặn, nhưng tập trung đông ở nơi mà điều kiện kị khí được thay bằng điều kiện hiếu khí, vì chúng cần ôxi

và các hợp chất khử

Trong vi khuẩn hóa tổng hợp, nhóm có vai trò quan trọng nhất trong thủy vực là vi khuẩn ôxi hóa H2S và lưuhuỳnh Các chất hữu cơ khi rơi vào vùng không có ôxi với sự có mặt của sunphat, một chất ôxi hóa, sẽ bị phânhủy Trên 90% năng lượng thoát ra tham gia vào khử sunphat đến các sunphit Khi nhận được năng lượng, cácsunphit di chuyển từ đáy lên tầng nước và ở đây chúng bị ôxi hóa bởi các vi khuẩn hóa tổng hợp Nếu vùngchứa H2S được chiếu sáng thì quá trình ôxi hóa H2S có sự tham gia của vi khuẩn đỏ tía Sản lượng hóa tổng hợp

ở lớp nước mặt của tầng chứa H2S đạt đến 20-25 microgam/lit/ngày đêm, chỉ kém vi khuẩn đỏ tía khoảng 2 lần

và tảo 6 lần

Vi khuẩn hoá tổng hợp thuộc nhóm chemolittotroph lấy năng lượng từ phản ứng ôxi hoá các hợp chất vô cơđơn giản để đưa cacbondiôxit vào trong thành phần tế bào chất, không nhờ vào quang hợp Bởi vậy, vi khuẩnhóa tổng hợp có thể phát triển phong phú trong bóng tối, nhưng đa số cần ôxi Chúng gồm các chủng như vi

khuẩn nitrat hoá, vi khuẩn hidro, vi khuẩn Thiobacillus không màu, một số vi khuẩn Thiorhodaceae sinh khí

mêtan và vi khuẩn ôxi hoá sắt ôxi hóa NH3, NO2-, H2, H2S hoặc các chất khử khác để chuyển NH3 thành nitrit,nitrit thành nitrat, sunphit thành lưu huỳnh, sắt 2 thành sắt 3 sản sinh năng lượng cho hoạt động sống Đại diện

của nhóm này là vi khuẩn lưu huỳnh Bagiatoa thường gặp trong các nguồn giàu lưu huỳnh, còn các chủng vi

khuẩn cố định đạm đóng vai trò quan trọng trong chu trình nitơ

Không lâu, người ta đã phát hiện thấy các hệ sinh thái nước sâu hoạt động chủ yếu dựa vào vi khuẩn hóatổng hợp, hoàn toàn không phụ thuộc vào các sản phẩm quang hợp Các hệ sinh thái này tồn tại trong bóng tối,nơi xuất hiện sự căng rãn của đáy đại dương chứa nguồn nước nóng giàu khoáng và lưu huỳnh cùng với sự cómặt của nhiều loài động vật biển như thân mềm Hai vỏ kích cỡ tới 30cm và giun Chúng nhận năng lượng từcác chủng vi khuẩn, kẻ đã sử dụng sunphit và có thể cả các hợp chất vô cơ khác cùng với khí CO2 và O2 Một sốloài động vật sống ở đó trực tiếp sử dụng vi khuẩn lưu huỳnh làm thức ăn, còn ở một số khác có lẽ, vi khuẩn

Trang 6

không làm thức ăn, nhưng thường xuyên sống trong ống ruột Trước chúng ta, đó là một hệ sinh thái địa nhiệtthực thụ Các hợp chất lưu huỳnh bị khử được hình thành nhờ nhiệt của nhân Trái Đất trở thành nguồn nănglượng cho hệ Đây là một ngọai lệ vượt khỏi các nguyên lí chung trong sự tổng hợp các chất hữu cơ của câyxanh

Cần hiểu rằng, trong phạm vi của sự tiến hoá, sinh vật được chia thành 2 nhóm chính: sinh vật tự dưỡng và sinh vật dị dưỡng Hầu hết các loài thực vật có mạch và nhiều loài tảo chỉ sử dụng các chất vô cơ đơn giản trong

quá trình quang hợp Chúng là những sinh vật hoàn toàn tự dưỡng Một số ít loài tảo lại cần từ 1 đến 2 hay 3chất hữu cơ tương đối phức tạp để tăng trưởng, do đó, chúng là những sinh vật dị dưỡng một phần hay được gọi

là sinh vật “nửa tự dưỡng” (auxiotroph) W Rodhe (1955) chỉ ra rằng, ở các nước “đêm đông” như phần bắc

Thụy Điển vào mùa hè phytoplankton là sinh vật tự dưỡng điển hình, tạo nên nguồn thức ăn sơ cấp trong cácsông, hồ, nhưng suốt mùa đông kéo dài hàng tháng, chúng lại sử dụng các chất hữu cơ hoà tan trong nước đểsống, tương tự như các sinh vật dị dưỡng khác Như vậy, sinh vật tự dưỡng và dị dưỡng là những nhóm thốngtrị, còn các nhóm trung gian khác đóng vai trò quan trọng chỉ trong điều kiện không thuận lợi cho các sinh vật

tự dưỡng và dị dưỡng

4.1.2 Quá trình phân hủy vật chất

Sự phân hủy vật chất bằng con đường sinh học được thực biện bởi các nhóm sinh vật dị dưỡng(heterotroph), tức là nhóm sống dựa vào nguồn thức ăn có sẵn Chúng rất đa dạng về thành phần loài, gồm

phagotroph (ăn sinh vật sống), saproph (ăn xác thối, mùn bã hữu cơ) và osmotroph (ăn chất hữu cơ hòa tan

bằng thẩm thấu) Saproph và osmotroph đặc trưng đối với nấm, vi khuẩn dị dưỡng, Protozoa và trong mức độnhất định, dinh dưỡng thẩm thấu cũng đặc trưng đối với hầu hết các thủy sinh vật

Trong quá trình phân hủy vật chất, các nhà sinh thái rất quan tâm đến nhóm vi sinh vật dị dưỡng (nấm, vikhuẩn), vì chúng đóng vai trò chìa khóa trong quá trình khoáng hóa các chất hữu cơ phức tạp để trả lại những

nguyên tố ban đầu cho môi trường Vi khuẩn dị dưỡng được chia ra: Chemolithoheterotroph, chemoorganoheterotroph và photoorganoheterotroph Để trao đổi chất chúng đều sử dụng chủ yếu các hợp chất

cacbon hữu cơ có sẵn trong tự nhiên

- Hóa dị dưỡng vô cơ (Chemolithoheterotroph): Vi khuẩn khử lưu huỳnh, một số vi khuẩn sinh khí CH4,

Thiorhodaceae kiếm năng lượng nhờ vào quá trình ôxi hóa CH4 và S2O32- với chất khử tương ứng là SO42- và

O2

- Hóa dị dưỡng hữu cơ (Chemoorganoheterotroph): Đa số vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn phản nitrat kị khí, một

số vi khuẩn lưu huỳnh không màu khai thác năng lượng từ sự ôxi hóa các hợp chất hữu cơ khác nhau

- Quang dị dưỡng hữu cơ (Photoorganoheterotroph): Vi khuẩn lưu huỳnh đỏ tía lại sử dụng năng lượng ánhsáng

* Hô hấp hiếu khí: Dạng này là hoạt động chức năng của tất cả các loài sinh vật Chúng sử dụng ôxi phân

tử để ôxi hóa vật chất, tạo năng lượng cho các hoạt động sống, đồng thời thải ra các sản phẩm cuối cùng củaquá trình hụ hấp là CO2 và H2O:

* Hô hấp kị khí: Quá trình xảy ra không có mặt của ôxi phân tử Chất nhận điện tử (chất ôxi hoá) là chất vô

cơ hay hữu cơ khác Nhiều loài vi sinh vật và Protozoa có kiểu hô hấp này Chẳng hạn, vi khuẩn sinh khí mêtanphân giải các chất hữu cơ để hình thành khí CH4 bằng cách khử cacbon hữu cơ hoặc vô cơ (CO32-) trong các đáy

ao hồ hoặc phân động vật nhai lại, kể cả những loài sống trong dạ dày các loài gia súc

Hô hấp kị khí thường gặp dưới dạng hô hấp sunphat và nitrat Hô hấp sunphat xảy ra trong trầm tích giàu

SO42- do các nhóm vi khuẩn như Metanococcus, Desulfovibrio, Beggiatoa, Thiobacillus Sự phân huỷ các chất

được thực hiện theo phản ứng sau đây:

CH3-CO-COOH + H2O -> CH3-COOH + CO2 + 2H+

H+ + 41 SO42- -> 41 S2- + H2O

(C6H12O6) + 6O2 6CO2 + 6H2O + Năng lượng

Trang 7

Ở đây, chất cho điện tử là axit puruvic, còn chất nhận điện tử là SO42-.

Hô hấp nitrat diễn ra trong quá trình phản nitrat (denitrification) để biến đổi nitrat trở về dạng NO, NH3, N2,

N2O với sự tham gia của các chủng vi khuẩn phản nitrat: Pseudomonas, Escherichia, nấm theo phản ứng sau:

DH2 -> D2 + 2H+; 2H+ + NO3- -> H2O + NO2

-Chất cho điện tử là hợp chất hữu cơ có công thức DH2, còn chất nhận điện tử là nitrat

Hô hấp kị khí là hoạt động sống chủ yếu của các nhóm sinh vật hoại sinh (vi khuẩn, nấm, Protozoa), songcũng có thể gặp cả trong một số mô của động vật bậc cao Ví dụ điển hình cho hô hấp kị khí bắt buộc là hoạtđộng của vi khuẩn metan Vi khuẩn này phân hủy các hợp chất hữu cơ để sinh khí mêtan dựa vào sự khử cacbonhữu cơ hoặc cacbonat (hô hấp của chúng có thể xảy ra bằng cả con đường kị khí và lên men)

* Sự lên men

Lên men là quá trình sản sinh năng lượng, trong đó hợp chất hữu cơ vừa là chất cho điện tử, vừa là chấtnhận điện tử Trong quá trình này khử hydro xảy ra kèm theo sự đứt gãy của các chất hữu cơ phức tạp thành cácchất đơn giản hơn Khi khai thác năng lượng bằng con đường lên men, phản ứng đường phân (glycolysis) rấtđặc trưng đối với thủy sinh vật, tức là quá trình cắt ngắn dần hexoz (C6H12O6) cho đến 2 phân tử puruvic, trong

đó, 2 phân tử NAD được khử đến NAD-H còn sự tái sinh NAD được thực hiện nhờ khử axit puruvic thànhlactic, sản phẩm cuối cùng của lên men đường:

C6H12O6 -> 2 CH3-CO-COOH + 4H+

(glucose) (axit puruvic)

2 CH3-CO-COOH + 4H+ -> 2 CH3-CHOH-COOH (axit lactic)

Ở đây chất cho điện tử là glucose, còn chất nhận điện tử cuối cùng là axit puruvic

Lên men là quá trình kị khí nhờ các vi khuẩn kị khí nghiêm ngặt (kị khí bắt buộc) hoặc kị khí tuỳ ý (khôngbắt buộc) Trong trường hợp sau, sự có mặt của không khí sẽ chuyển quá trình lên men sang dạng hô hấp hiếukhí Nói chung, lên men tạo ra năng lượng thấp, tuy nhiên, cùng với hô hấp kị khí khác, nó có ý nghĩa quantrọng ở những nơi giàu chất hữu cơ, nhưng thiếu hoặc hoàn toàn không có O2 tự do

Ba dạng hô hấp trên ngự trị trong sinh quyển, tham gia vào quá trình phân hủy vật chất đến dạng đơn giảnnhất, trả lại cho môi trường, nhờ đó vật chất được quay vòng và năng lượng được biến đổi

4.2 Các chu trình sinh địa hóa

4.2.1 Các khái niệm

Chu trình sinh địa hoá được hiểu là quá trình trao đổi không ngừng của các nguyên tố hoá học giữa môi ường và quần xã sinh vật và sự đổi mới liên tục của các chất dinh dưỡng chứa trong mô sinh vật thông qua xíchthức ăn

Sinh vật tự dưỡng sử dụng các nguyên tố hoá học và những hợp chất vụ cơ đơn giản (nư ớc, cacbon diôxit,nitrat, photphat ) có trong môi trường để tổng hợp nguồn thức ăn sơ cấp thông qua hoạt động quang hợp.Nguồn thức ăn này cung cấp cho các sinh vật dị dưỡng khác nhau Những chất bài tiết và xác chết của độngthực vật được các nhóm vi sinh vật phân hủy và khoáng hóa trả lại cho môi trường các chất ban đầu

Trong chu trình này vi sinh vật được xem là “vệ sinh viên môi trường”, đồng thời là nhóm gắn kết môi

trường với quần xã sinh vật và tham gia khép kín các chu trình sinh địa hoá thông qua vai trò vừa phân hủy cácchất hữu cơ phức tạp được sản ra từ các nhóm sinh vật lại vừa cung cấp các chất khoáng cho sinh vật tự dưỡng

Do đi theo chu trình nên vật chất được sinh vật sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần

Chu trình vật chất được chia thành 2 dạng: Chu trình các chất khí và chu trình các chất lắng đọng Trong mỗi chu trình đều có nguồn dự trữ và vốn lưu động, được phân biệt giữa chúng như sau (bảng 6.2):

Bảng 6.2 Sự giống và khác nhau giữa các chu trình chất khí và chất lắng đọng

Chu trình các chất khí Chu trình các chất lắng đọng

Trang 8

- - - Nguồn dự trữ từ khí quyển như hơi nước, CO2, O2,

N2, NOx , SOx

- - - Sau khi đi qua chu trình, vật chất ít bị thất thoát

- Vận động nhanh chóng, không gây mất cân bằng

Thực vật lấy nước từ đất qua hệ thống rễ, nhưng

hầu như nước bị thoát khỏi bề mặt lá (97-99% khối

lượng) Nhờ đó, nước mới tạo nên dòng liên tục

mang chất dinh dưỡng từ đất qua thân lên lá để cây

tổng hợp các chất hữu cơ đầu tiên Nếu như nước và

muối khoáng không bị hạn chế thì sự tăng trưởng

của thực vật trên mặt đất tỉ lệ thuận với nguồn năng

lượng Mặt trời trải xuống bề mặt hành tinh Song

thực tế nguồn năng lượng đó phần lớn biến thành

nhiệt, đảm bảo cho sự thoát hơi nước một cách ổn

định Do đó, sự tăng trưởng của thực vật lại tỉ lệ

thuận với cường độ thoát hơi nước và sự thoát hơi

nước được xem là chiến lược tồn tại của thực vật

Nhu cầu nước của sinh vật rất cao Chẳng hạn,

để sản xuất 1kg hạt lúa cần tới 3.000 lít nước, 1kg

ngô - 900 lit, 1kg đậu - 1.350 lit Lượng nước được

mỗi người trên thế giới sử dụng là 1.240m3/năm, ở

Mĩ là 2.480m3/năm, trong khi hơn 1 tỷ người thiếu

cả nước sinh hoạt

Trên hành tinh, nước tồn tại dưới 3 dạng: thể

rắn, thể lỏng và thể hơi Dưới tác động của nhiệt,

n-ước chuyển dạng cho nhau và vận động, tạo nên chu

trình nước hay còn gọi là chu trình nhiệt - ẩm toàn

cầu, trong chu trình nước, đại dương như một cỗ

máy khổng lồ trực tiếp vận hành Rõ ràng, chu trình

nước đóng vai trò trực tiếp điều hoà khí hậu trên

hành tinh.Nếu lượng mưa phân bố đều trên mặt đất thì các vùng nhận được khoảng 700 mm/năm (Schlesinger,1997) Nước ngọt toàn cầu chỉ chiếm 2,38% tổng lượng nước toàn hành tinh, gồm cả băng, trong đó 2/3 tậptrung ở các chỏm băng Bắc cực và Nam cực cũng như trong các sông băng ở vùng núi cao Một lượng nhỏ chứatrong các túi nước ngầm, sông, hồ; 97,6% nước được chứa trong các đại dương Con người chỉ sống dựa vào lư-ợng nước rơi ít ỏi (35.103 km3/năm) Tuy nhiên, nước trên hành tinh phân bố không đều theo cả không gian vàthời gian do các quá trình động lực của khí quyển (hình 6.3) Nhiều vùng, nhiều tháng không có nước, nhưng

Hình 6.3 Chu trình nước toàn cầu, trong đó mô tả một “tế bào” đối lưu Nhờ năng lượng mặt trời những tế bào này tạo ra các thành phần chính của thời tiết như sự bốc hơi nước và ngưng đọng xuất hiện trong khôí khí thăng, dẫn đến mưa, kèm theo là sự lắng xuống của khối khí khô Gần mặt đất, khối khí lạnh và khô lấy nhiệt và ẩm Gió được hình thành trong quá trình đó, rồi không khí ấm và khô lại dâng lên Cuộc du hành đó tạo nên chu trình nước (chu trình nhiệt - ẩm) toàn cầu.

Trang 9

nhiều nơi, nhiều tháng lại quá thừa nước Hơn nữa, nơi có nước lại không sử dụng được do bị ô nhiễm Hiện tại,toàn cầu đang lâm vào tình trạng khủng hoảng sinh thái về nước, nhất là đối với nước sạch cho sinh hoạt củacon người Do đó, hiện nay, nước đang trở thành vấn đề quốc sách của mỗi quốc gia Tiết kiệm sử dụng và bảo

vệ sự trong sạch của nước là chiến lược sống còn cho sự phát triển của nền văn minh nhân loại

4.2.3 Chu trình cacbonđiôxit (CO2)

Cacbon là một trong những nguyên tố quan trọng, tham gia vào cấu trúc cơ thể, chiếm đến 49% khối lượngkhô Cacbon tồn tại trong sinh quyển dưới dạng chất vô cơ và hữu cơ, kể cả chất chứa trong cơ thể sinh vật

Nguồn CO2 trong khí quyển rất ít so với ôxi và nitơ,

chỉ chiếm khoảng 0,03% thể tích CO2 là sản phẩm của

các quá trình hô hấp, nhưng là nguồn sống của thực vật,

được thực vật hấp thụ cùng với nước và muối khoáng để

sản ra chất hữu cơ đầu tiên Một lượng rất nhỏ CO2 cần

cho đời sống của động vật, nhưng quá nhiều CO2 gây

ngạt, đồng thời còn tạo ra những hậu quả sinh thái

nghiêm trọng khác (hiệu ứng nhà kính)

Hàm lượng CO2trong khí quyển không ổn định, dao

động theo mùa liên quan với mùa sinh dưỡng của thực vật

toàn cầu, mùa sử dụng nguyên liệu hoá thạch của con

người và sự trao đổi theo mùa giữa khí quyển và đại

dương, đồng thời biến động trong suốt quá trình lịch sử

phát triển của vỏ Trái Đất Những nghiên cứu các mẫu

băng với tuổi 160.000 năm ở Vostok của các học giả Xô

Viết trước đây chứng minh rằng, ở tuổi Băng hà lần cuối,

cách đây khoảng 20.000-50.000 năm, hàm lượng CO2 rất

thấp, chỉ đến 180-200ppm (Barnola et al 1987) Sự biến

đổi hàm lợng CO2 trong khí quyển với thời gian dài có xu

hướng chung là tăng lên với tốc độ trung bình 0,4%

(1,5ppm/năm)

Những tài liệu của Schlesinger (1977) về các dòng

CO2 vận động trong sinh quyển (hình 6.4) và cán cân cân bằng CO2 (10 15 gC/năm) được ghi nhận ở bảng dưới

đây: Lượng phát thải = Sự trao đổi trong chu trình CO

2

Bể tiếp nhận chưa xác định 1,7

Đại dương tiếp nhận 2,0

Gia tăng trong khí quyển 3,2

Nhiên liệu hoá thạch 6,0

Phá rừng trên cạn 0,9

+ +

Hình 6.4 Chu trình cacbondiôxit toàn cầu

Con số trong hình thể hiện lượng cacbon theo đơn vị 10 15 gam chứa trong các thành phần và trao đổi hằng năm giữa các hệ sinh thái Bề rộng mũi tên tương ứng với số lượng của các dòng.

Trang 10

Hiện nay còn tồn tại một số vấn đề mà chúng ta chưa hiểu biết đầy đủ Đó là khối lượng và những bể chứa

CO2, các quá trình kiểm soát dòng CO2 toàncầu

Các nhà hải dương học cho rằng, đại dương là một bể chứa khí CO2 khổng lồ, hấp thụ 33% lượng CO2 từđốt nhiên liệu hoá thạch, nhưng sự trao đổi này chỉ diễn ra trên lớp nước mặt

Hoang mạc là bể chứa CO2 còn lớn hơn các thảm thực vật trên mặt đất, nhưng không hề có sự trao đổi CO2nào giữa hoang mạc và khí quyển

Hệ sinh thái Tundra là những hệ nghèo do thảm thực vật chủ yếu là rêu với thời kỳ sinh dư ỡng quá ngắn,còn các vật liệu hữu cơ chứa ở mặt đất tuy khá phong phú, nhưng ít được phân huỷ trong điều kiện nhiệt độthấp, do đó, lượng CO2 được sản ra cũng rất thấp Hệ thực vật của vùng này rất mẫn cảm với sự thay đổi của khíhậu, nhất là với nhõn tố nhiệt độ (Schneider, 1989) Khi Trái Đất ấm lên, các vật liệu hữu cơ ở đây phân hủynhanh hơn, khí CO2 được giải phóng nhiều hơnvà sự tăng trưởng của thảm thực vật cũng làm cho khối lượng

CO2 biến động mạnh hơn

Đất rừng ôn đới Bắc Bán cầu là bể chứa CO2 lớn nhất trong các biome trên cạn, mỗi một ha có thể chứa đến

150 tấn hay với tổng số 200-500 giganton (Gt = 1015 tấn) Nếu toàn bộ lượng đó được giải phóng vào khí quyểnthì chỉ riêng nó cũng có thể làm tăng hàm lượng CO2 lên đến 50% (Goulden et al., 1998) Giống như bể chứa

CO2 ở vùng cực, đất của vùng ôn đới cũng bị băng giá trong mùa lạnh nên sự giải phóng CO2 hoàn toàn phụthuộc vào sự thay đổi nhiệt độ toàn cầu và mùa sinh trưởng của thực vật

Nghiên cứu về rừng nhiệt đới Trung và Nam Mỹ của Phillips et al.(1998) chỉ ra rằng, sự gia tăng sinh khốicủa thực vật trung bình là 1 tấn/ha/năm, tương đương với 0,62 tấn CO2/ha/năm thì thảm thực vật toàn khu vựctrên đã thu hồi 40% lượng CO2 của khí quyển

Đất canh tác và cây trồng trên đó cũng có vai trò xác định trong cán cân CO2của khí quyển và từ đó chỉ rarằng, ở đất khô hạn và nghèo muối khoáng quan trọng (nitơ, photpho) là những nhân tố giới hạn đối với sự pháttriển của thảm thực vật, kéo theo là làm giảm vai trò đóng góp của thảm thực vật vào chu trình cacbondioxittoàn cầu

Những vấn đề nêu trên đã khẳng định, sự gia tăng nhanh chóng hàm lượng CO2 trong khí quyển hiện nay dohoạt động của con người lớn đến chừng nào Tác động của con người lên sự cân bằng của CO2 trong sinh quyểnthường tạo nên những hiệu ứng kép: gây ô nhiễm không khí, đồng thời tạo nên hiệu ứng nhà kính

4.2.4 Chu trình nitơ (N2)

Nitơ chiếm gần 80% thể tích khí quyển, được coi là một khí trơ, song đóng vai trò rất quan trọng cho đời

sống của sinh vật và trở thành yếu tố giới hạn đối với sự phát riển của chúng Dòng nitơ vận động trong sinhquyển được sơ đồ hoá ở hình 6.5

Nitơ của sinh quyển chứa trong các hợp chất vô cơ và hữu cơ có mặt ở mọi nơi với khối lượng khác nhau(bảng 6.4)

Nitơ luân chuyển trong sinh quyển dưới nhiều dạng nhờ hoạt động của những nhóm sinh vật đặc trưngcũngnhư những quá trình vật lý xảy ra trong khí quyển Các quá trình đó đã phá vỡ mối liên kết ion của các phân tử

N2, biến chúng thành các cation có khả năng hoạt hoá cao, kết hợp với ôxi hoặc hidro tạo nên NOx, NH3 , từ đó

NO3- được thành tạo Sự cố định này hàng năm cung cấp cho mặt đất gần 3 giganton

Bảng 6.4 Nitơ trong sinh quyển (Delwich, 1970) đơn vị: Triệu tấn

Trong khí quyển 3.800.00 Hoà tan trong nước đại dương 20.000

Nitơ của sinh vật:

- trong cơ thể sống

- trong cơ thể chết

77212760

Nitơ dưới dạng chất hữu cơ:

- t - trong cơ thể sống

- trong cơ thể chết

901 1 900Nitơ vô cơ (của đất) 140 Nitơ vô cơ của đại dương 100

Nitơ của vỏ Trái Đất 14.000.000 Nitơ trong trầm tích 4.000.000

Tổng lượng nitơ hữu cơ: 1.673

Tổng lượng nitơ vô cơ: 21.820.240

Trang 11

Khởi đầu của chu trình chung là nitrat (NO3-) và muối amôn (NH4+) Chúng được thực vật và tảo hấp thụcho hoạt động quang hợp để tạo nguồn thức ăn sơ cấp chứa nitơ.

Vi khuẩn cố định nitơ sống cộng sinh gặp nhiều

trong đất Ngược lại, các chủng sống tự do lại rất

phong phú trong nước và trong đất, nhưng về số lượng cá thể, những dạng sống cộng sinh nhiều hơn so vớidạng sống tự do Trong nước, vi khuẩn cố định N2 khá phong phú Trong điều kiện kị khí thường gặp

Clostridium, Methanococcus, Methano, Desulfovibrio, Bacterium và một số vi khuẩn quang hợp khác

Ở nơi hiếu khí hay gặp đại diện của Azotobacteriaceae (Azotobacter) và các loài thuộc Khuẩn lam như Anabaena, Aphanizonemon, Nostoc, Oscillatoria, Microcystis, Nodularia, Gloeocapsa

Để hoạt hoá nitơ, vi khuẩn tự dưỡng sử dụng năng lượng ánh sáng hoặc hoá tổng hợp, còn các vi khuẩn dịdưỡng sử dụng năng lượng chứa trong các hợp chất hữu cơ có sẵn trong môi trường

Ngoài vi khuẩn cố định nitơ lấy năng lượng từ nguồn cacbon bên ngoài, còn gặp loài khuẩn tía

(Rhodopseudomonas capsulata) sống bằng nitơ phân tử (N2) trong điều kiện kị khí với năng lượng được sửdụng là ánh sáng (Madigan et al 1979) Vi khuẩn này cũng có thể sống trong bóng tối, kiếm năng lư ợng nhờlên men đường kị khí, mặc dù loài này sinh trưởng tối ưu trong điều kiện được chiếu sáng, nhưng khử nitơ phân

tử không nhất thiết phải đi kèm với quá trình quang hợp

Một số Khuẩn Lam (Cyanobacteria) cố định nitơ có thể sống tự do hoặc cộng sinh với nấm (địa y) hoặc với một số thực vật khác, chẳng hạn, bèo Hoa dâu (Azolla) có những khoang rất nhỏ chứa đầy Anabaena sống cộng

sinh

Hình 6.5 Chu trình nitơ toàn cầu.

Các con số chỉ ra lượng nitơ tính bằng 10 9 kg trong

cơ thể sinh vật thuộc các bể chứa khác nhau, cũng như dòng nitơ vận động hàng năm giữa các hệ sinh thái, trong đó chiều rộng mũi tên tương ứng với các dòng có số lượng khác nhau.

Hình 6.6 Nốt sần của cây họ đậu, nơi cộng sinh

của vi khuẩn Rhizobium.

Trang 12

Gần đây, người ta còn phát hiện được các đại diện của nấm Actinomyces, nhất là các dạng nguyên thủy, cộng sinh trong rễ của các loài cây thuộc chi Alnus có khả năng cố định nitơ, mặc dù hiệu suất kém hơn so với

Rhizobium Ngoài chi Alnus các đại diện của Actinomyces còn được tìm thấy trong nốt sần của 160 loài thực vật khác thuộc 8 chi, 5 họ của lớp thực vật Hai lá mầm như Ceanothus, Comptonia, Elaeagnus, Myrica, Casuarina, Coriaria, Araucaria và Ginkgo, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới (Torrey, 1978) Phần lớn các loài thuộc các chi

trên thường thích nghi với điều kiện đất cát hay đất đầm lầy nghèo đạm Chúng có công dụng trong việc cải tạo

các vùng đất nghèo đạm giống như vi khuẩn nốt sần (Rhizobium) sống cộng sinh ở rễ cây họ Đậu.

* Quá trình amôn hoá (Amonification) hay khoáng hoá (Mineralization):

Sau khi NO3- tham gia thành tạo các chất hữu cơ (chứa nhóm amin -NH2) thông qua con đường tổng hợpprotein và axit nucleic thì phần lớn các hợp chất này lại quay về dạng chất thải như urê, uric hoặc các chất sống

(protoplasma) chứa trong cơ thể chết Rất nhiều vi khuẩn dị dưỡng, nấm Actinomyces trong đất và nước lại sử

dụng các hợp chất hữu cơ giàu đạm, rồi lại giải phóng các sản phẩm phân huỷ cuối cùng (NO3-, NO2-, NH3) ramôi trường Quá trình đó được gọi là amôn hoá hay khoáng hoá, kèm với sự giải phóng năng lượng (toả nhiệt).Chẳng hạn, nếu là glyxin base (thuộc protein) thì quá trình amôn hoá giải phóng 176cal/mol Ở những nơi yếmkhí, nhiều nấm và vi khuẩn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phân hủy protein để giải phóng NH3 và

H2S trong đó, một số vi sinh vật amôn hoá khá “hẹp thực”, chỉ sử dụng pepton mà không phân hủy các axitamin, một số sử dụng urê mà không phân hủy uric Ngược lại, nhiều loài sử dụng rất rộng nguồn chất hữu cơchứa nitơ, từ dạng đơn giản nhất đến dạng phức tạp nhất

* Quá trình nitrat hoá (Nitrification):

Quá trình biến đổi amonia (NH3) và amôn (NH4+) thành NO2- và NO3- được gọi là quá trình nitrat hoá, trừtrường hợp một số vi khuẩn tự dưỡng hoặc dị dưỡng sống trong biển có thể sử dụng amonia và muối amôn đểtổng hợp sinh chất riêng cho mình Quá trình nitrat hoá diễn ra rất chậm, phụ thuộc vào pH của môi trường.Trong điều kiện pH thấp, tuy không phải tất cả, quá trình nitrat hoá trải qua 2 bước:

- Biến đổi amonia hay amôn thành nitrit (NH3, NH4+ > NO2-)

- Biến đổi nitrit thành nitrat (NO2- > NO3-)

Những đại diện của Nitrosomonas có thể biến đổi amonia thành nitrit, một chất độc thậm chí với hàm lượng rất nhỏ Những vi sinh vật khác như Nitrobacter lại dinh dưỡng bằng nitrit và tiếp tục biến đổi nó thành nitrat.

Vi khuẩn nitrit hoá đều là những chủng tự dưỡng hoá tổng hợp, lấy năng lượng từ quá trình oxi hoá Chẳng hạn,

Nitrosomonas khi chuyển amonia thành nitrit sản ra 65cal/mol, còn Nitrobacter - 17cal/mol Chúng sử dụng

một phần năng lượng đó để kiếm nguồn cacbon từ việc khử CO2 hay HCO3- Như vậy, khi làm điều này để tựtăng truởng, chúng đã sản sinh ra một lượng đáng kể nitrit hoặc nitrat cho môi trường Bằng thực nghiệm, R.M.Jackson và F Raw (1966) đã chỉ ra rằng, trong đất mỗi đơn vị CO2 được đồng hoá, Nitrosomonas europaea đã ôxi hoá 35 đơn vị amonia thành nitrit và Nitrobacter agilis đã ôxi hoá từ 76 đến 135 đơn vị nitrit thành nitrat

(Kormondy, 1996)

Nitrat cũng như nitrit rất dễ bị lọc khỏi đất, đặc biệt trong đất chua Trừ khi thực vật đồng hoá, chúng có thểrời khỏi hệ sinh thái này đến một hệ khác nhờ sự vận chuyển của các mạch nước ngầm Chẳng thế, hoang mạcChilê do sự rửa trôi từ dãy Andes nên rất giàu muối nitrat, đến mức cung cấp nguồn vật liệu chất nổ dư thừa chocác cường quốc phương Tây trong chiến tranh Thế giới lần I

Trang 13

* Quá trình phản nitrat (Denitrification)

Ngược với quá trình nitrat hoá, quá trình phản

nitrat biển đổi nitrat về dạng N2, NO, N2O Tham

gia vào quá trình này chủ yếu là Pseudomonas,

Escherichia và nấm Chúng sử dụng nitrat như

nguồn khai thác ôxi với sự có mặt của glucose và

phôtphat Phần lớn các loài vi khuẩn phản nitrat chỉ

khử nitrat đến nitrit, còn những loài khác lại khử

nitrit đến amonia

Trong điều kiện kị khí, phản nitrat đến N2O với

sự có mặt của glucose là phản ứng toả nhiệt, giải

phóng tới 545 cal/mol, còn phản nitrat đến nitơ (N2)

cho 570 cal/mol Ngược lại, các phản ứng ôxi hoá

glucose trong điều kiện hiếu khí cho tới 686

cal/mol Trừ khi bị “bắt” trở lại trong quá trình cố

định nitơ, nitơ phân tử (N2) có được giải phóng hay

không để trở lại nguồn dự trữ trong khí quyển (dù ở

dạng NOx hay N2) nhờ quá trình phản nitrat và phụ

thuộc vào pH môi trường Sự tăng tiến của các dạng

ôxit nitơ (NOx) xuất khiện khi pH < 7 Nếu pH >

7,3 thì dinitơ ôxit (N2O) có xu hướng bị tái hấp thụ

và tiếp theo lại bị khử trong quá trình phản nitrat để

trở thành N2

Quá trình phản nitrat đến N2 chỉ xảy ra trong

điều kiện kị khí hay kị khí một phần, nên thường

gặp trong đất yếm khí, ở đáy sâu các hồ hay biển,

nơi không có ôxi hoặc giàu các chất hữu cơ đang bị

phân hủy

Sơ đồ ở hình 6.7 chỉ ra các công đoạn thành tạo

và phân hủy chất hữu cơ chứa nitơ với sự tham gia của các nhóm vi khuẩn đặc hiệu khác nhau

4.2.5 Chu trình lưu huỳnh (S)

Lưu huỳnh là một trong 14 nguyên tố giàu nhất trong vỏ Trái Đất, đóng vai trò quan trọng trong thành phầnchất sống như amin xystein, methionin, đồng thời tham gia điều hoà các muối dinh dưỡng khác như N và P Trung tâm của chu trình lưu huỳnh liên quan với sự thu hồi sunphat (SO42-) của thực vật qua bộ rễ, sự giảiphóng và biến đổi lưu huỳnh ở nhiều công đoạn khác nhau dưới các dạng sunphuahydril (-SH), sunphuahidro(H2S), thiosunphat (S2O32-) và lưu huỳnh nguyên tố (S) Chu trình lưu huỳnh rất phức tạp, tương tự như chutrình nitơ, nhưng không “đóng gói” riêng biệt như sự cố định nitơ và amôn hoá (hình 6.8)

* Sự đồng hoá và giải phóng lưu huỳnh:

-N 2, , N 2 O

Azotobacter (hiếu khí), Clostridium (kị khí), Rhizobium (cộng sinh)

Phõn hủy protein: Bacillus, Pseudomonas, Micrococcus, Achromobacteriaceae

Quỏ trỡnh khử Amụn:

Achromobacteriaceae, Bacillus, Corynebacterium, Pseudomonas.

Oxit hoa: Achromobacteriaceae, Corynebacterium, Pseudomonas.

Quỏ trỡnh Amụn húa:

Nitrosomonas

Cố định Nitơ:

Quỏ trỡnh nitrat húa: Nitrobacter

Tổng hợp protein

Phõn hủy nitrat:

Achromobacteriaceae, Azotobacter, Micrococcaceae

Phản nitrat: Bacillus, Micrococcaceae, Pseudomonas

Tổng hợp axit amin

Hình 6.7 Các công đoạn tổng hợp và phân huỷ các hợp chất chứa nitơ với sự tham gia của các nhóm vi khuẩn khác nhau (theo Robert G Wetzen, 1983).

Ngày đăng: 04/06/2015, 22:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6.1. Sơ đồ cấu trúc hệ sinh thái nước ngọt. - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.1. Sơ đồ cấu trúc hệ sinh thái nước ngọt (Trang 1)
Hình 6.2. Hệ chuyển tiếp giữa rừng và đồng cỏ (bìa rừng) và hệ chuyển tiếp giữa nơi - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.2. Hệ chuyển tiếp giữa rừng và đồng cỏ (bìa rừng) và hệ chuyển tiếp giữa nơi (Trang 2)
Hình 6.3. Chu trình nước toàn cầu, trong đó mô tả một “tế  bào” đối lưu. Nhờ năng lượng mặt trời những tế bào này  tạo ra các thành phần chính của thời tiết như sự bốc hơi  nước và ngưng đọng xuất hiện trong khôí khí thăng, dẫn  đến  mưa,  kèm  theo  là   - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.3. Chu trình nước toàn cầu, trong đó mô tả một “tế bào” đối lưu. Nhờ năng lượng mặt trời những tế bào này tạo ra các thành phần chính của thời tiết như sự bốc hơi nước và ngưng đọng xuất hiện trong khôí khí thăng, dẫn đến mưa, kèm theo là (Trang 8)
Hình 6.4 .  Chu trình cacbondiôxit toàn cầu. - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.4 Chu trình cacbondiôxit toàn cầu (Trang 9)
Hình 6.6. Nốt sần của cây họ đậu, nơi cộng sinh - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.6. Nốt sần của cây họ đậu, nơi cộng sinh (Trang 11)
Hình 6.5. Chu trình nitơ toàn cầu. - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.5. Chu trình nitơ toàn cầu (Trang 11)
Hình 6.7. Các công đoạn tổng hợp và phân huỷ các  hợp chất chứa nitơ với sự tham gia của các nhóm vi  khuẩn khác nhau (theo Robert G - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.7. Các công đoạn tổng hợp và phân huỷ các hợp chất chứa nitơ với sự tham gia của các nhóm vi khuẩn khác nhau (theo Robert G (Trang 13)
Hình 6.8. Các con đường vận động của lưu huỳnh. - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.8. Các con đường vận động của lưu huỳnh (Trang 14)
Bảng 6.5.  Năng lượng mặt trời của các quá trình xảy ra trên hành tinh - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Bảng 6.5. Năng lượng mặt trời của các quá trình xảy ra trên hành tinh (Trang 16)
Hình 6.9. Sơ đồ đơn giản của chu trình phôtpho - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.9. Sơ đồ đơn giản của chu trình phôtpho (Trang 16)
Hình 6.11. Chiều dài xích thức ăn của hệ sinh thái - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.11. Chiều dài xích thức ăn của hệ sinh thái (Trang 17)
Hình 6.10. Sơ đồ dòng năng lượng đi qua xích thức - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.10. Sơ đồ dòng năng lượng đi qua xích thức (Trang 17)
Hình 6.14. Diễn thế nguyên sinh và sự biến đổi hàm lượng muối nitơ - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Hình 6.14. Diễn thế nguyên sinh và sự biến đổi hàm lượng muối nitơ (Trang 20)
Hình  6.15.  Đầm  nước  với  những  quần  xã  thủy  sinh  vật  đặc  trưng, theo thời gian đầm nông dần và biến đổi thành vùng đất  trũng,  trên  đó  quần  xã  sinh  vật  trên  cạn  đến  ngự  trị  và  phát  triển thay thế. - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
nh 6.15. Đầm nước với những quần xã thủy sinh vật đặc trưng, theo thời gian đầm nông dần và biến đổi thành vùng đất trũng, trên đó quần xã sinh vật trên cạn đến ngự trị và phát triển thay thế (Trang 21)
Bảng 6.6.  Các khuynh hướng biến đổi trong quá trình diễn thế của hệ sinh thái - Trích: tài liệu bd hsg sinh thái học chương 6
Bảng 6.6. Các khuynh hướng biến đổi trong quá trình diễn thế của hệ sinh thái (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w