1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Một số vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật_Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp khu vực Đồng bằng quyển 1 (tài liệu ôn thi cong chức cấp xã)

490 2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 490
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Điều 6; Quyền con người về chính trị, dân sự,

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC

1 Bản chất của nhà nước

Nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với xã hội có giai cấp, nó ra đời khi

xã hội loài người phát triển đến một trình độ nhất định nhằm đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển đó Vì thế, nhà nước vừa mang tính chất giai cấp vừa mang tính chất

xã hội Tức là, nhà nước vừa bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, vừa duy trì trật tự xã hội để đảm bảo sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Hiến pháp 1992 của nước ta khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” Điều đó đã xác định rõ bản chất của nhà nước ta và được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Trước hết, nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Trong nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực nhà nước thuộc

về nhân dân Nhân dân là người chủ của đất nước, có quyền tham gia và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Các cơ quan nhà nước đều do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp lập ra và chịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân Nhà nước được tổ chức để thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, bảo vệ lợi ích của nhân dân, trấn áp các phần tử chống đối xâm phạm trật tự, an ninh, an toàn xã hội và đi ngược lại lợi ích của đa số đông đảo các tầng lớp nhân dân

Nhà nước ta là nhà nước dân chủ thực sự, rộng rãi Tính dân chủ của nhà nước ta được thể hiện một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Nhà nước thực hiện chính sách kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo sự tự do, bình đẳng của các chủ thể sản xuất kinh doanh, sự bình đẳng của các thành phần kinh tế trước pháp luật Trong lĩnh vực chính trị, nhà nước đảm bảo cho mọi người dân có thể thực hiện được tất cả các quyền tự do dân chủ trên cơ sở các quy định của pháp luật Bên cạnh đó, nhà nước cũng tạo mọi điều kiện cho nhân dân thực hiện các quyền tự do khác như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do

tư tưởng tín ngưỡng Đồng thời, bằng các quy định của pháp luật, nhà nước cũng bảo

vệ các quyền tự do khác của cá nhân như quyền được bảo đảm tính mạng, sức khỏe, quyền bất khả xâm phạm thư tín, nhà ở.…

Nhà nước ta là nhà nước thống nhất của các dân tộc Tính nhân dân và tính chất giai cấp của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với tính dân tộc Trong tất cả các thời kỳ phát triển của mình, Nhà nước ta đều xác lập và thực hiện nguyên tắc đại đoàn kết toàn dân Điều này thể hiện ở chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước mà nội dung cơ bản là tạo điều kiện cho mỗi dân tộc có thể tham gia vào việc thiết lập, củng cố quyền lực nhà nước, tham gia vào việc

tổ chức bộ máy nhà nước Bên cạnh đó, nhà nước thực hiện nhiều chính sách ưu tiên đối với các dân tộc ít người, vùng núi, vùng sâu, vùng xa và tạo điều kiện cho các dân tộc tương trợ giúp đỡ lẫn nhau; và đảm bảo cho các dân tộc phát huy các giá trị văn hóa, tinh thần truyền thống tốt đẹp của mình Trong điều kiện hiện nay, nhà nước cũng

Trang 2

thực hiện các biện pháp để đảm bảo sự phát triển của miền núi nhằm rút ngắn khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tính xã hội rộng rãi Xuất phát

từ nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, với mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Nhà nước ta đã tiến hành nhiều hoạt động để tổ chức và quản lý các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nhằm xây dựng một nền kinh tế phát triển, một nền văn hóa hiện đại mang đậm bản sắc dân tộc Nhà nước cũng thực hiện nhiều biện pháp nhằm phát triển khoa học kỹ thuật, giáo dục để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế -

xã hội Mặt khác, Nhà nước tiến hành nhiều hoạt động để phát triển y tế, chăm lo sức khỏe cho nhân dân Trong điều kiện hiện nay, với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước cũng đã tiến hành các chính sách để đảm bảo

sự công bằng xã hội cũng như thực hiện các chính sách xã hội khác để giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị Điều 14 Hiến pháp 1992 của nhà nước ta đã xác định: Nhà nước ta thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên

cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, tăng cường đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng, tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Những đặc điểm nêu trên trong bản chất của nhà nước ta đó được thể hiện cụ thể trong các chính sách cũng như các hoạt động của nhà nước

2 Các dấu hiệu của nhà nước

Trong xã hội, bên cạnh nhà nước còn có thể có các tổ chức khác như tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng.… Nhà nước khác với các tổ chức khác ở những dấu hiệu cơ bản sau:

- Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt Nhà nước là một tổ chức quyền lực công, quyền lực của nó là công khai, mọi tổ chức và cá nhân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đều phải phục tùng Quyền lực nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan, tổ chức nhà nước từ trung ương tới địa phương, cơ sở Các cơ quan, tổ chức đó chủ yếu làm nhiệm vụ quản lý, cưỡng chế hoặc cung cấp dịch vụ công cho toàn bộ dân

- Nhà nước tổ chức và quản lý dân cư theo khu vực họ cư trú, tức là theo các đơn

vị hành chính - lãnh thổ mà không phụ thuộc nghề nghiệp, độ tuổi hoặc giới tính… của dân cư Sự quản lý của nhà nước theo đơn vị hành chính lãnh thổ đảm bảo cho các thành viên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo nơi cư trú của họ

- Nhà nước là tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội thực hiện chủ quyền quốc gia Việc thực hiện chủ quyền quốc gia của nhà nước được thể hiện ở chỗ nhà nước có quyền quyết định cao nhất các vấn đề trong phạm vi nội bộ của mình, không chịu sự can thiệp của bất kỳ một nước nào khác và nhà nước có quyền độc lập trong

Trang 3

quan hệ với các nhà nước khác

- Nhà nước có quyền ban hành ra pháp luật, tức là hệ thống các quy tắc xử sự cho mọi thành viên của xã hội Để bảo đảm cho các quy tắc ấy được thực hiện, nhà nước

sử dụng nhiều biện pháp khác nhau như tuyên truyền, phổ biến giáo dục, thuyết phục mọi người tôn trọng và tự giác thực hiện và trong những trường hợp cần thiết, nhà nước có thể áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhất định như việc áp dụng các biện pháp xử phạt đối với những người vi phạm pháp luật

- Nhà nước có quyền phát hành tiền, có quyền quy định và thu các loại thuế theo

số lượng và thời hạn được ấn định trước

Nhờ những dấu hiệu cơ bản trên mà chúng ta có thể phân biệt được nhà nước với những tổ chức xã hội khác trong xã hội như Đảng, Công đoàn, Mặt trận tổ quốc.… Mặt khác, nhờ có những đặc điểm này mà nhà nước trở thành tổ chức có vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội

3 Hình thức Nhà nước

Hình thức Nhà nước là một khái niệm chỉ cách thức và những phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước, gồm 3 yếu tố hợp thành là: Hình thức chính tể, Hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị

3.2 Hình thức cấu trúc nhà nước

Hình thức cấu trúc nhà nước là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính

- lãnh thổ và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với các cơ quan nhà nước ở địa phương

Có hai loại cấu trúc nhà nước là nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có cấu trúc đơn nhất Những đặc điểm của nhà nước đơn nhất được phản ánh sâu sắc trong Hiến pháp, pháp luật và thực tiễn tổ chức, hoạt động của nhà nước ta với các đặc thù sau:

Thứ nhất, nước ta là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn

lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời (Điều 1 Hiến pháp 1992); các đơn vị hành chính - lãnh thổ ở nhà nước ta bao gồm: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; và xã, phường, thị trấn

Thứ hai, ở nước ta có một hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước từ trung

ương xuống địa phương

Thứ ba, có một hệ thống pháp luật thống nhất mà Hiến pháp là văn bản có giá trị

pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác đều phải được ban hành trên cơ sở Hiến pháp, phù hợp với Hiến pháp Các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp dưới phải phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà

Trang 4

và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân (Điều 6); Quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật (Điều 50); Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước vã xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của

cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 53); Các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyêt đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng (Điều 8).…

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIẾN PHÁP

1 Những nội dung cơ bản của Hiến pháp Việt Nam

1.1 Hiến pháp - luật cơ bản

Ngành luật Hiến pháp bao gồm các văn bản pháp luật Trong đó, Hiến pháp là luật cơ bản, có vị trí cao nhất và đứng trên các văn bản pháp luật khác Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp và nếu trái với Hiến pháp thì bị bãi bỏ Hiến pháp là văn bản do Quốc hội ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng nhất Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1992 nêu: “Hiến pháp này quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước” Hiến pháp là văn bản được ban hành theo thủ tục đặc biệt Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất hai phần ba tổng

số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được ban hành năm 1946 Tiếp đó, chúng ta có Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 Hiến pháp hiện hành được Quốc hội thông qua năm 1992 và sửa đổi, bổ sung năm 2001

1.2 Những nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1992

Hiến pháp hiện hành được Quốc hội Khoá VIII thông qua ngày 15 tháng 4 năm

1992 Ngày 25 tháng 12 năm 2001, Quốc hội Khoá X đã ban hành Nghị quyết 51/2001/NQ-QH về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 Hiến pháp năm 1992

Trang 5

(sửa đổi) gồm có Lời nói đầu, 12 Chương, 147 điều Sau đây là những nội dung cơ bản của Hiến pháp:

- Hiến pháp quy định chế độ chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Chương I của Hiến pháp quy định về hình thức, bản chất của Nhà nước ta; về hệ thống chính trị; các nguyên tắc bầu cử và chính sách đối ngoại của Nhà nước

+ Về hình thức Nhà nước, Hiến pháp quy định: Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời

+ Về bản chất của Nhà nước: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc; thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số + Về hệ thống chính trị, Hiến pháp khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; xác định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ

sở chính trị của chính quyền nhân dân; xác định Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động

+ Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, Hiến pháp quy định các nguyên tắc: tập trung dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa; quy định trách nhiệm phục vụ nhân dân của cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước

- Hiến pháp quy định chế độ kinh tế của Nhà nước, bao gồm chính sách kinh tế,

cơ cấu kinh tế, các nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế:

+ Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

+ Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh

đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng

+ Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách; phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý nhà nước giữa các ngành, các cấp; kết hợp lợi ích của cá nhân, của tập thể với lỢi ích của Nhà nước

- Hiến pháp quy định chế độ văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ bao gồm các nội dung chính như chính sách phát triển nền văn hoá Việt Nam; chính sách phát triển giáo dục, khoa học, công nghệ; chính sách về bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, bảo

vệ bà mẹ và trẻ em, thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình

- Hiến pháp quy định chế độ an ninh, quốc phòng bao gồm các nội dung về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; chính sách xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang nhân dân; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và công dân trong việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh

Trang 6

+ Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân

+ Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, nòng cốt là các lực lượng vũ trang nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc

+ Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định

- Hiến pháp quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị,

dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội

- Hiến pháp quy định tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước bao gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân

2 Một số quy định của Hiến pháp Việt Nam

2.1 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Điều 49 Hiến pháp quy định: Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam

Theo Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 20 tháng 5 năm 1998, công dân Việt Nam được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm các quyền công dân và phải làm tròn nghĩa vụ công dân của mình đối với Nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật (Điều 4)

Những quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp được gọi

là những quyền và nghĩa vụ cơ bản Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân bao gồm:

- Các quyền và nghĩa vụ về chính trị;

- Các quyền tự do cá nhân;

- Các quyền và nghĩa vụ về kinh tế, văn hoá, xã hội

2.1.1 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân

Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại Chương V Hiến pháp (từ Điều 49 đến Điều 82) Các quyền và nghĩa vụ đó được xây dựng dựa trên các nguyên tắc sau đây:

- Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân: Công dân có các quyền

cơ bản, được Nhà nước bảo đảm thực hiện và phải thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội

- Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật: Các quyền và nghĩa vụ cơ bản được quy định cho mọi công dân Tất cả công dân đều bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và trong việc thực hiện các nghĩa vụ

Về quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới, Hiến pháp quy định: Công dân nữ

và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ

Trang 7

Về quyền bình đẳng dân tộc, Hiến pháp quy định quyền bình đẳng của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc

- Các quyền công dân được Nhà nước bảo đảm: Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ mọi mặt của công dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự

do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện

2.1.2 Các quyền và nghĩa vụ của công dân về chính trị

- Trong lĩnh vực chính trị, công dân có các quyền sau đây:

+ Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội: Công dân có quyền tham gia quản

lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân

+ Quyền bầu cử: Công dân có quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng

nhân dân các cấp

+ Quyền khiếu nại, tố cáo: Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ

quan nhà nước có thẩm quyền về việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào

+ Trong lĩnh vực chính trị, công dân còn có các quyền khác như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền lập hội, quyền hội họp theo quy định của pháp luật

- Trong lĩnh vực chính trị, công dân có các nghĩa vụ sau đây:

+ Nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc

+ Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân

+ Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật

tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng

2.1.3 Các quyền tự do cá nhân

+ Quyền bất khả xâm phạm về thân thể: Công dân được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang

+ Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở: Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép

+ Quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín: nội dung thư tín, điện thoại, điện tín được giữ bí mật Việc bóc mở, thu giữ, kiểm soát thư tín, điện tín phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật

+ Quyền tự do đi lại và cư trú: Công dân có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong nước, ra nước ngoài và về nước theo quy định của pháp luật

Trang 8

+ Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Công dân được tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước

+ Quyền được thông tin: Công dân được nhận tin và truyền tin theo quy định của pháp luật Quyền này mới được bổ sung trong Hiến pháp năm 1992

2.1.4 Các quyền và nghĩa vụ về kinh tế, văn hoá, xã hội

- Trong lĩnh vực kinh tế, công dân có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

+ Quyền và nghĩa vụ lao động: Theo Hiến pháp 1992, lao động vừa là quyền, vừa

là nghĩa vụ của công dân Nhà nước có kế hoạch tạo việc làm cho người lao động; ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động; quy định thời gian lao động, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức nhà nước và những người làm công

ăn lương Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Quốc hội khoá IX đã thông qua Bộ luật lao động nhằm bảo vệ quyền làm việc và các quyền khác của người lao động

+ Quyền tự do kinh doanh: Hiến pháp năm 1992 bổ sung quy định: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” Tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh Quyền của tổ chức, cá nhân về thành lập và quản lý doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp ngày

29 tháng 11 năm 2005

+ Quyền sở hữu: Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác

+ Nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng

+ Nghĩa vụ đóng thuế

- Trong lĩnh vực văn hoá, công dân có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

+ Quyền và nghĩa vụ học tập: Học tập vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức Bậc tiểu học

là bắt buộc, không phải trả học phí Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở; có chính sách học phí, học bổng; tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hoá và học nghề phù hợp Quyền học tập của công dân được quy định cụ thể tại Luật giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 + Quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến

kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác

- Trong lĩnh vực xã hội, công dân có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

+ Quyền bảo vệ sức khỏe: Công dân được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn giảm viện phí; quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm

Công dân có nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng

Trang 9

+ Quyền xây dựng nhà ở: Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội có ban hành Luật Nhà Ở

+ Quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới: Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Lao động nam

và nữ việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế

độ thai sản Phụ nữ là viên chức nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật Nhà nước tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, để phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ

+ Quyền được bảo hộ về hôn nhân và gia đình: Nhà nước bảo hộ hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con; con cháu phải kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ + Hiến pháp còn quy định quyền được bảo vệ và chăm sóc của trẻ em; quyền được hưởng các chính sách ưu đãi của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ; quyền được giúp đỡ của người già, người tàn tật, trẻ mồ côi

2.2 Các quy định về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện dân chủ trực tiếp thông qua bầu cử để thành lập các cơ quan nhà nước là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Việc bầu cử được quy định trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội ngày 15 tháng 4 năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung ngày 25 tháng 12 năm 2001) và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003

- Nguyên tắc bình đẳng: Nội dung của nguyên tắc này là công dân có khả năng như nhau trong việc tham gia bầu cử Công dân có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật thì được ghi tên vào danh sách cử tri; mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri nơi cư trú; mỗi cử tri chỉ có quyền có một phiếu bầu; giá trị phiếu bầu

là ngang nhau

- Nguyên tắc bầu cử trực tiếp: Cử tri trực tiếp lựa chọn người mà mình tín nhiệm, không phải thông qua người khác Cử tri phải tự mình đi bầu, tự tay bỏ phiếu vào thùng phiếu, không nhờ người khác bầu thay Nguyên tắc này bảo đảm tính khách quan của bầu cử

- Nguyên tắc bỏ phiếu kín: Khi cử tri viết phiếu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử Nguyên tắc này bảo đảm tính dân chủ của cuộc bầu cử

2.2.2 Quyền bầu cử và ứng cử của công dân

Trang 10

- Quyền bầu cử: Quyền bầu cử là quyền được ghi tên vào danh sách cử tri và

quyền bỏ phiếu Người đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử Chỉ những người sau đây không có quyền bầu cử:

+ Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;

+ Người đang phải chấp hành hình phạt tù;

+ Người đang bị tạm giam;

+ Người mất năng lực hành vi dân sự

Trong thời gian lập danh sách cử tri, những công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri Nếu danh sách cử tri có sai sót thì mọi người có quyền khiếu nại bằng miệng hoặc bằng văn bản với Uỷ ban nhân dân cấp xã đã lập danh sách

đó Uỷ ban nhân dân phải giải quyết khiếu nại trong thời hạn năm ngày

- Quyền ứng cử: Quyền ứng cử là quyền của công dân tự ra ứng cử hoặc đồng ý

để người khác đề cử mình Người đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân địa phương nào thì phải là người cư trú hoặc làm việc thường xuyên ở địa phương đó

Những người sau đây không được ứng cử:

+ Người không có quyền bầu cử (đã nêu trên đây) thì không được ứng cử;

+ Người đang bị khởi tố về hình sự;

+ Người đang phải chấp hành bản án, quyết định hình sự của Toà án;

+ Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Toà án nhưng chưa được xoá án tích;

+ Người đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành chính

2.2.3 Các bước của cuộc bầu cử

- Xác định số đơn vị bầu cử và số đại biểu được bầu của mỗi đơn vị bầu cử: + Đối với bầu cử đại biểu Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc chia các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu được bầu của mỗi đơn vị

+ Đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, số đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và số đại biểu được bầu của mỗi đơn vị do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

ấn định và phải được Chính phủ phê chuẩn Số đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện và xã, số đại biểu được bầu của mỗi đơn vị do Uỷ ban nhân dân cùng cấp ấn định và phải được Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn

Mỗi đơn vị bầu cử được chia thành các khu vực bỏ phiếu Việc chia khu vực bỏ phiếu do Uỷ ban nhân dân cấp xã ấn định và phải được Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn

- Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử: Sau khi ngày bầu cử được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội công bố, các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập

Trang 11

+ Đối với bầu cử đại biểu Quốc hội, các tổ chức phụ trách bầu cử gồm: Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử

+ Đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, các tổ chức phụ trách bầu cử gồm: Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử

Hội đồng bầu cử cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã do Uỷ ban nhân dân sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập

Ban bầu cử được thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử, do Uỷ ban nhân dân sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập

Tổ bầu cử được thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu, do Uỷ ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập

Các tổ chức phụ trách bầu cử làm việc theo chế độ tập thể Các quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành

- Ứng cử, giới thiệu người ứng cử: Người tự ứng cử phải nộp hồ sơ đến tổ chức phụ trách bầu cử; hồ sơ được chuyển đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp để tổ chức hiệp thương

+ Đối với bầu cử đại biểu Quốc hội: Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở trung ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức, ở cấp tỉnh thì do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh tổ chức Tiếp theo, Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức được bầu đại biểu Quốc hội Sau đó, các cơ quan, tổ chức giới thiệu người của đơn vị mình ra ứng cử Hội nghị hiệp thương lần thứ hai lập danh sách sơ bộ những người ứng cử và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức được bầu đại biểu Quốc hội Cuối cùng, Hội nghị hiệp thương lần thứ ba lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội

+ Đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân:

Chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân

Chậm nhất là 85 ngày trước ngày bầu cử, Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở mỗi cấp được tiến hành, do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức

Chậm nhất là 80 ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân

Sau Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất, cơ quan, tổ chức, đơn vị tiến hành giới thiệu người ứng cử (đối với cấp xã, thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc được giới thiệu người ứng cử)

Trang 12

Chậm nhất là 55 ngày trước ngày bầu cử, Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở mỗi cấp được tiến hành, do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp

tổ chức Hội nghị lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

và gửi lấy ý kiến cử tri

Chậm nhất là 35 ngày trước ngày bầu cử, Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở mỗi cấp được tiến hành, do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp

tổ chức Hội nghị lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân và gửi lấy ý kiến cử tri

Các Hội nghị hiệp thương phải có biên bản ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến và kết quả Hội nghị

- Bỏ phiếu: Bước tiếp theo của cuộc bầu cử là tổ chức bỏ phiếu Cuộc bỏ phiếu được tiến hành liên tục và trong một ngày chủ nhật

Sau khi việc bỏ phiếu kết thúc, phải tiến hành kiểm phiếu ngay tại phòng bỏ phiếu

- Công bố kết quả bầu cử: Người ứng cử được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn thì trúng cử Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử

2.3 Bộ máy Nhà nước nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.3.1 Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Bộ máy nhà nước bao gồm các cơ quan nhà nước Cơ quan nhà nước được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Toàn bộ bộ máy nhà nước hoạt động theo các nguyên tắc thống nhất Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được quy định trong Hiến pháp Cụ thể là:

- Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: Điều 4 Hiến pháp quy định “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành với quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, theo Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”

Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước dựa trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng Pháp luật của Nhà nước là sự thể chế hoá đường lối lãnh đạo của Đảng Đảng thực hiện việc kiểm tra đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước

- Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp: nguyên tắc này được bổ sung tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992 Các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước được phân công cho mỗi loại cơ quan Để thực hiện chức năng đó, mỗi cơ quan có những nhiệm vụ, quyền hạn riêng biệt Đồng thời, giữa các cơ quan có sự phối hợp chặt chẽ để bảo đảm hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước

- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa, được quy định tại Điều 6 Hiến pháp Các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước phải được triển khai thống nhất, thông suốt Các cơ quan cấp

Trang 13

dưới phải tuân thủ, chịu trách nhiệm và chịu sự lãnh đạo của cấp trên Văn bản của cơ quan cấp dưới phải phù hợp với văn bản của cơ quan cấp trên

- Nguyên tắc bình đẳng dân tộc: Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc Chính sách này được quán triệt trong các văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước Trong các cơ quan Quốc hội và Hội đồng nhân dân phải có tỷ lệ đại diện thích đáng của các thành phần dân tộc Trong tổ chức của các cơ quan nhà nước, có những cơ quan chuyên trách về công tác dân tộc (Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Uỷ ban Dân tộc thuộc Chính phủ)

- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Là nguyên tắc được quy định tại Điều

12 Hiến pháp Mọi cơ quan nhà nước phải được thành lập theo đúng quy định của pháp luật Trong khi thi hành nhiệm vụ, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật Những vi phạm pháp luật phải bị xử lý theo quy định Để thực hiện nguyên tắc nói trên, cần tăng cường cơ chế giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật

2.3.2 Hệ thống các cơ quan nhà nước

- Quốc hội

+ Điều 83 Hiến pháp quy định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước

+ Quốc hội có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

* Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

* Thực hiện quyền giám sát tối cao việc thuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

* Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;

* Quyết định chính sách tài chính tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

* Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà

án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương;

* Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;

Trang 14

phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và

an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;

* Quyết định thành lập, bãi bỏ Bộ và các cơ quan ngang Bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;

* Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;

* Quyết định đại xá; quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác, quy định huân chương, huy chương và các danh hiệu vinh dự nhà nước;

* Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

* Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước;

* Quyết định việc trưng cầu ý dân

- Uỷ ban thường vụ Quốc hội

+ Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội

+ Uỷ ban thường vụ Quốc hội được Quốc hội thành lập để tổ chức các hoạt động

của Quốc hội Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra pháp lệnh về các vấn đề được Quốc hội

giao; thực hiện giám sát theo quy định của pháp luật; giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, bãi bỏ nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; giải

tán Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại

nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

- Chủ tịch nước

+ Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại

+ Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội

+ Chủ tịch nước thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp (Điều 103) Chủ tịch nước công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào quyết định của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá

- Chính phủ

Trang 15

+ Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội,

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước

+ Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước

+ Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp (Điều 112) và Luật tổ chức Chính phủ Chính phủ lãnh đạo công tác của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, xây dựng

và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức nhà nước Chính phủ quyết định điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

- Toà án nhân dân

+ Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Toà án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật

+ Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân

+ Hệ thống Toà án nhân dân bao gồm:

* Toà án nhân dân tối cao;

* Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

* Các Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

* Các Toà án quân sự;

* Các Toà án khác do luật định

+ Toà án nhân dân tổ chức và hoạt động theo quy định tại Hiến pháp và Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 02 tháng 4 năm 2002

- Viện kiểm sát nhân dân

+ Theo Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Viện kiểm sát nhân dân là các cơ quan có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định

+ Theo quy định của Hiến pháp (sửa đổi) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 02 tháng 4 năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

+ Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân bao gồm:

* Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

Trang 16

* Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

* Các Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

* Các Viện kiểm sát quân sự

+ Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

+ Viện Kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở địa phương mình

+ Viện Kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật

- Hội đồng nhân dân

+ Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho

ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên

+ Hội đồng nhân dân quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương; xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước

Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang

và của công dân ở địa phương

+ Hội đồng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể quy định tại Luật

tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 và các văn bản pháp luật khác Để khắc phục những hạn chế của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994, Luật năm 2003 đã quy định rõ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp Hội đồng nhân dân (tỉnh - huyện - xã); quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân trong từng lĩnh vực kinh tế, ngân sách, văn hoá, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giám sát ; phân biệt nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân ở địa bàn nông thôn và địa bàn đô thị Luật năm 2003 tăng cường chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân; bổ sung quy định về việc Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu

Để quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết

+ Về cơ cấu của Hội đồng nhân dân, theo Luật năm 2003, Thường trực Hội đồng nhân dân được thành lập ở cả ba cấp Luật bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn mới của Thường trực Hội đồng nhân dân như: giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương; phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên Thường trực Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp; trình Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu

- Uỷ ban nhân dân

Trang 17

+ Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên

+ Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương; chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

+ Cũng tương tự như với Hội đồng nhân dân, Luật năm 2003 đã quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp Uỷ ban nhân dân, phân biệt nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân địa bàn nông thôn và đô thị, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân trong từng lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, đất đai, công nghiệp, thương mại, du lịch, giáo dục và đào tạo,

Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Uỷ ban nhân dân ra quyết định, chỉ thị

Luật năm 2003 quy định các vấn đề mà Uỷ ban nhân dân phải thảo luận tập thể

và biểu quyết theo đa số (Điều 124)

+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là người lãnh đạo và điều hành công việc của Uỷ ban nhân dân Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải là đại biểu Hội đồng nhân dân Theo Luật năm 2003, trong nhiệm kỳ, nếu khuyết Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp giới thiệu người ứng cử Chủ tịch Uỷ ban nhân dân để Hội đồng nhân dân bầu Người giữ chức vụ Uỷ ban nhân dân trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 119)

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 127 của Luật năm 2003 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp mình, trừ các vấn đề mà Uỷ ban nhân dân phải thảo luận và quyết định tập thể Luật bổ sung các nhiệm vụ mới của Chủ tịch

Uỷ ban nhân dân là: chỉ đạo các biện pháp để giải quyết các công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, cháy, nổ, dịch bệnh, an ninh, trật tự và báo cáo Uỷ ban nhân dân trong phiên họp gần nhất; ra quyết định, chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phân công và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch

Uỷ ban nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao

III MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT

1 Khái niệm pháp luật

Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đạt được những mục đích nhất định

Cũng như nhà nước, pháp luật ra đời, tồn tại gắn liền với xã hội có giai cấp, nó ra đời khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định và khi xã hội phân chia thành các giai cấp, vì thế, pháp luật vừa mang tình chất giai cấp vừa mang tính xã hội Tính chất giai cấp của pháp luật thể hiện ở chỗ pháp luật thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, còn tính chất xã hội của pháp luật thể hiện ở chỗ pháp luật là công cụ để điều

Trang 18

chỉnh các quan hệ xã hội nhằm duy trì trật tự xã hội để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của pháp luật

Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính là sự thể hiện ý chí và nguyện vọng của đông đảo nhân dân lao động Pháp luật của nhà nước ta là thể hiện ý chí của nhân dân lao động -

số đông trong xã hội, vì vậy, pháp luật là phuơng tiện để phản ánh và bảo vệ quyền lực của nhân dân lao động

Pháp luật của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng thể hiện tính chất xã hội rộng rãi Pháp luật Việt Nam hiện nay là phương tiện để nhà nước quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nó cũng đồng thời là phương tiện để thể chế hóa những đường lối, chủ trương chính sách của Đảng về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nhằm đảm bảo sự phát triển của xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh

tế và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động Hơn nữa, pháp pháp luật của chúng ta còn có vai trò quan trọng trong việc thiết lập và bảo đảm công bằng xã hội, bảo đảm việc thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Bản chất của pháp luật nước ta thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:

Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện để đảm bảo công bằng xã hội, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Dân chủ là một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước ta Tính chất dân chủ đó được thể hiện và ghi nhận trong hệ thống các văn bản pháp luật của nhà nước từ Hiến pháp đến các văn bản quy phạm pháp luật khác Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận và xác định các biện pháp để đảm bảo cho việc thực hiện các quyền tự do dân chủ của công dân Bên cạnh đó, thông qua pháp luật, Nhà nước ta cũng đó thực hiện các biện pháp để hỗ trợ và đảm bảo sự phát triển của các khu vực khó khăn như miền núi, vùng sâu, vùng xa

Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện để nhà nước quản lý xã hội Thông qua pháp luật, nhà nước đề ra các kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội, văn hóa khoa học kỹ thuật cũng như các lĩnh vực khác của đời sống, xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong quản lý kinh tế xã hội Đồng thời, pháp luật cũng xác định rõ trách nhiệm của mọi công dân trong việc tôn trọng Pháp luật của nhà nước

Pháp luật của nhà nước ta là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam Bộ máy nhà nước là một hệ thống các cơ quan nhà nước có chức năng và nhiệm vụ khác nhau Để đảm bảo cho bộ máy nhà nước nói chung và từng cơ quan trong bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả, phát huy được sức mạnh của quyền lực nhà nước cũng như đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân, thì cần phải có các quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước Các quy định đó không chỉ là cơ

sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước mà

nó còn là phương tiện để nhân dân có thể tiến hành việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và của các nhân viên nhà nước

Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn là phương tiện để thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc Điều 5 Hiến pháp 1992 quy định:

Trang 19

“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam

Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc

Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói,, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phat huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình

Nhà Nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.”

Trên cơ sở này, nhà nước đó ban hành ra hàng loạt các văn bản pháp luật cụ thể hóa và thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc

2 Những đặc trưng của pháp luật

- Pháp luật do nhà nước ban hành Trong xã hội có rất nhiều quy tắc xử sự khác nhau mà con người phải tuân theo như các quy tắc đạo đức, các tập quán, các quy tắc

do các tổ chức khác của con người đặt ra như các điều lệ, quy chế… nhưng chỉ những quy tắc xử sự do nhà nước ban hành thì mới được coi là pháp luật

- Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện Các quy tắc xử sự khác được đảm bảo thực hiện bằng những biện pháp khác nhau Chẳng hạn, sự vi phạm các quy tắc đạo đức sẽ bị xã hội lên án, sự vi phạm các tập quán có thể bị cộng đồng dân cư lên án,

sự vi phạm quy tắc của các tổ chức xã hội thì các tổ chức đó sẽ áp dụng những biện pháp nhất định do chính các tổ chức đó đặt ra Pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước có nghĩa là việc vi phạm pháp luật sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước mà ở mức cao nhất là các hình phạt của Luật Hình sự Bên cạnh việc bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế, nhà nước cũng bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng những biện pháp thuyết phục như vận động, tuyên truyền, khen thưởng…

Như vậy, chỉ những quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện thì mới được gọi là pháp luật

3 Văn bản quy phạm pháp luật

Pháp luật chủ yếu được hình thành từ việc Nhà Nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự và thủ tục định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đạt được mục đích nhất định

Văn bản quy phạm pháp luật có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền ban hành Trong toàn bộ các cơ quan của bộ máy nhà nước, không phải cơ quan nào cũng có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật Nhà nước chỉ trao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho một số cơ quan nhà nước nhất định Vì thế, chỉ những văn bản do các cơ quan đó ban hành thì mới có thể trở thành văn bản quy phạm pháp luật Những văn bản không phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm phạm pháp luật thì không thể là văn bản quy phạm pháp luật

Trang 20

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng những quy tắc xử

sự chung Những văn bản mặc dù do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhưng không chứa đựng quy tắc xử sự chung thì không thể là Văn bản quy phạm pháp luật Đây là đặc trưng cơ bản để chúng ta phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các văn bản có ý nghĩa pháp lý khác như các bản án của Tòa án nhân dân, các quyết định xử phạt hành chính đối với cá nhân hay tổ chức nào đó do có hành vi vi phạm hành chính

Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời

sống Do nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng những quy tắc xử sự chung vì vậy chúng được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống, trong mọi trường hợp khi xuất hiện những điều kiện hay hoàn cảnh được các quy tắc xử sự trong đó xác định

Thứ tư, tên gọi, nội dung và trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp

luật do pháp luật quy định Pháp luật quy định cho mỗi cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ban hành văn bản quy phạm pháp luật với những tên gọi cụ thể Hơn nữa, nội dung và trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cũng được pháp luật quy định cụ thể

4 Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta

Theo quy định của Hiến pháp 1992 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ở nước ta hiện nay có các loại văn bản quy phạm pháp luật sau:

Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành quy định những

vấn đề cơ bản nhất của nhà nước như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Các quy định của Hiến pháp là cơ sở để hình thành một hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta, các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan khác của nhà nước ban hành đều phải dựa trên cơ sở Hiến pháp và phải phù hợp với Hiến pháp

Luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể hóa Hiến

pháp có nội dung điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định hoặc các quan hệ xã hội trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội Luật quy định các vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân

Nghị quyết của Quốc hội được Quốc hội ban hành để quyết định kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, điều chỉnh ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, phê chuẩn điều ước quốc tế, quyết định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội

và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội

Pháp lệnh do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành để quy định về những vấn

Trang 21

đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thành luật Pháp lệnh phải phù hợp với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội

Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được cơ quan này ban hành để giải

thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương và quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Uỷ ban Thường

vụ Quốc hội

Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện những nhiệm

vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, luật quy định

Nghị quyết của Chính phủ được Chính phủ ban hành để quyết định chính sách cụ

thể về xây dựng và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở, hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; bảo đảm thực hiện Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân; thực hiện chính sách xã hội, dân tộc, tôn giao; quyết định chủ trương, chính sách cụ thể về ngân sách nhà nước, tiền tệ; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường; củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước, các biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; các biện pháp chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; phê duyệt các điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của Chính phủ

Nghị định của Chính phủ được ban hành để quy định chi tiết thi hành luật, nghị

quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ thành lập; các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; hoặc quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản

lý kinh tế, quản lý xã hội Việc ban hành Nghị định của Chính phủ quy định những vấn

đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện để xây dựng thành Luật hay Pháp lệnh phải được

sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành để quyết định các chủ

trương, biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; quy định chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt

động của các thành viên Chính phủ; đôn đốc và kiểm tra hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quyết định của Chính phủ

Trang 22

Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ

Quyết định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc; quy định các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách; quy định các biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách

và những vấn đề đề được Chính phủ giao

Chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định các biện pháp để chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp và kiểm tra hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách trong việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và của mình

Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được ban hành để hướng dẫn thực hiện những quy định được Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước, Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ giao thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách

Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được ban hành

để hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử

Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao được

ban hành để thực hiện việc quản lý các Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự

về tổ chức; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

quy định các biện pháp để bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ

Thông tư liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước, Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó

Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa Toà án nhân dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Bộ, cơ quan ngang Bộ

Thông tư liên tịch giữa Toà án nhân dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Thông tư liên tịch giữa Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với Toà

án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc

áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó

Nghị quyết, Thông tư liên tịch giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành

những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó tham gia

Trang 23

quản lý nhà nước

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp quy định các biện pháp bảo đảm thi

hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, về kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội và ngân sách, về các biện pháp ổn định và nâng cao đời sống nhân dân địa phương

Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp

Quyết định của Ủy ban nhân dân quy định các chủ trương, biện pháp cụ thể để tổ chức thực hiện pháp luật và kiểm tra việc thực hiện pháp của các cơ quan, tổ chức ở địa phương và quy định về những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân Chỉ thị của Ủy ban nhân dân quy định các biện pháp và chỉ đạo việc thực hiện các chủ trương, chính sách của trung ương, các cơ quan nhà nước cấp trên và các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

Trang 24

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LUẬT HÌNH SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

PHẦN I LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

I KHÁI QUÁT VỀ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1 Khái niệm

Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội, trật tự xã hội, nhà nước dùng nhiều biện pháp khác nhau vừa có tính thuyết phục vừa có tính cưỡng chế để đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật Tùy theo tính chất, mức độ của các vi phạm pháp luật mà nhà nước lựa chọn sử dụng các chế tài thích hợp như: Dân sự, hành chính, kinh tế, hình sự mà trong đó chế tài hình sự là nghiêm khắc nhất nhằm xử lý bất cứ người nào có hành vi xâm phạm nghiêm trọng các lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân

Như vậy, Luật Hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước ta, bao gồm hệ thống các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành trong đó xác định rõ những hành vi vi phạm nào là tội phạm, đồng thời, quy định hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể

Trong hệ thống pháp luật của nước ta chỉ có Bộ luật hình sự do Quốc hội ban hành mới quy định về tội phạm và về hình phạt Ngoài Quốc hội - Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thì không có cơ quan nào khác có quyền quy định về tội phạm và về hình phạt Hệ thống các quy định của luật hình sự được chia làm hai phần:

- Phần chung: Bao gồm các quy định về nguyên tắc, nhiệm vụ của Luật Hình sự,

về những vấn đề đề chung về tội phạm và hình phạt

- Phần các tội phạm: Bao gồm các quy định xác định các dấu hiệu pháp lý của từng tội phạm cụ thể, loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với từng tội phạm

đó

Phần chung và phần các tội phạm của Luật Hình sự có mối quan hệ mật thiết hữu

cơ với nhau tạo nên sự hoàn chỉnh của Luật Hình sự Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mỗi tội phạm được quy định ở Phần các tội phạm cần phải tuân thủ những quy định của Phần chung Mặt khác, Phần chung muốn phát huy tác dụng khi áp dụng vào thực tiễn của công tác đấu tranh chống tội phạm phải dựa vào các quy định ở Phần các tội phạm

2 Nhiệm vụ

Nhiệm vụ chung của Luật Hình sự là bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa (sau đây viết tắt là XHCN) Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ

của Luật Hình sự là "bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm"

Như vậy, nhiệm vụ đầu tiên của Luật Hình sự trong giai đoạn hiện nay là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa

Trang 25

đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Để bảo vệ các lợi ích này, Luật Hình sự quy định và mô tả hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quy định loại và mức hình phạt cụ thể đối với từng tội phạm để dựa vào đó các

cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án được chính xác, công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Nhiệm vụ tiếp theo của Luật Hình sự là giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm được thể hiện ở chỗ các quy định của Luật Hình sự giúp cho mọi người biết được hành vi nào là tội phạm để tự điều chỉnh hành vi của mình, trong những hành vi bị cấm hoặc tự thực hiện hành vi mà pháp luật bắt buộc phải làm thực chất, nhiệm vụ giáo dục của Luật Hình sự là nhiệm

vụ phòng ngừa tội phạm nói chung

Từ nhiệm vụ "bảo vệ" và nhiệm vụ "giáo dục" của Luật Hình sự chúng ta thấy nổi lên nhiệm vụ chính của Luật Hình sự là đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

3 Những nguyên tắc cơ bản

Các nguyên tắc cơ bản của Luật Hình sự là những tư tưởng chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng các quy định của Luật Hình sự vào đấu tranh phòng chống tội phạm những nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của pháp luật XHCN Những nguyên tắc đó là:

- Nguyễn tắc Pháp chế XHCN là một nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt toàn bộ

hoạt động xây dựng cũng như áp dụng Luật Hình sự

Đối với cơ quan lập pháp (Quốc hội), nguyên tắc pháp chế XHCN được thể hiện

ở chỗ: Những hành vi bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt phảo được Luật Hình

sự quy định; việc sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ tội phạm nhất định phải được tiến hành một cách kịp thời và hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật

Đối với các cơ quan hành pháp và tư pháp, nguyên tắc pháp chế XHCN đòi hỏi việc áp dụng Luật Hình sự cũng như việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và của bản thân người phạm tội phải chính xác và thống nhất Nguyên tắc pháp chế XHCN cũng đòi hỏi việc xét xử đúng người, đúng tội, không một hành vi phạm tội

và người phạm tội nào tránh khỏi việc bị xử lý theo Luật Hình sự, không được xử oan người vô tội Mọi sự tùy tiện trong điều tra, truy tố và xét xử đối với công dân đều bị coi là vi phạm nghiêm trọng pháp chế XHCN

- Nguyên tắc dân chủ XHCN thể hiên ở chỗ, Luật Hình sự bảo vệ, tôn trọng và kiên quyết xử lý mọi hành vi xâm phạm đến các quyền tự do dân chủ của công dân Luật Hình sự không phân biệt đối xử về địa vị xã hội hoặc tình trạng tài sản, mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, đồng thời, bảo đảm cho nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào việc xây dựng và áp dụng Luật Hình sự, đấu tranh phòng

và chống tội phạm

Mặt chuyên chính của nguyên tắc dân chủ XHCN thể hiện ở chỗ xử lý nghiêm các hành vi phạm tội, nhất là các trường hợp cố ý phạm tội, gây thiệt hại lớn cho nhà nước, cho xã hội và công dân cũng như chuyên chính với kẻ phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm,

Trang 26

lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có

tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng

- Nguyên tắc nhân đạo XHCN luôn luôn được thể hiện rõ nét trong chính sách

hình sự của nhà nước ta Việc áp dụng hinh phạt đối với kẻ phạm tội chủ yếu là nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội Hình phạt trong Luật Hình sự không nhằm gây đau đớn về thể xác và không hạ thấp phẩm giá của con người Luật Hình sự khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra Nguyên tắc nhân đạo XHCN cũng thể hiện ở chỗ trong Luật Hình sự có nhiều loại hình phạt không tước tự do; hình phạt chung thân và tử hình chỉ được phép áp dụng trong những trường hợp thật đặc biệt và phạm vi áp dụng cũng có giới hạn nhất định và không được phép áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ

nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử Ngoài

ra, Luật Hình sự còn có các quy định khác nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo tốt như các quy định về miễn trách nhiệm hình sự; miễn hoặc giảm hình phạt;

án treo

- Nguyên tắc kết hợp hài hòa Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản là

sự thể hiện chính sách đối ngoại của Luật Hình sự của nhà nước ta Luật Hình sự trừng trị các hành vi phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; ghi nhận

và bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế của Nhà nước trong cuộc đấu tranh chung của loài người chống các hành vi gây chiến tranh, chống các tội ác diệt chủng, diệt môi sinh, môi trường cũng như các tội phạm mang tính quốc tế khác

Ngoài ra, còn có một số nguyên tắc khác có tính chất đặc thù riêng của Luật Hình

sự, như các nguyên tắc: Trách nhiệm cá nhân, có lỗi, cá thể hoá hình phạt

- Trên thực tế có xảy ra hành vi nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong cấu

thành các tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự hay không và hành vi đó có nguy hiểm cho xã hội hay không Đây là yếu tố bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm Nếu

xác định được không có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra hoặc hành vi đó không

có dấu hiệu của tội phạm hoặc thậm chí tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì cũng không được thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự

- Người thực hiện hành vi đó có lỗi hay không Đây là yếu tố bắt buộc thuộc

mặt chủ quan của tội phạm Nếu xác định được người thực hiện hành vi không có lỗi (cố ý hoặc vô ý) thì du hành vi có nguy hiểm cho xã hội đến mức nào người thực hiện

Trang 27

hành vi đó cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự Ví dụ: Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó

- Người thực hiện hành vi đó đã đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay chưa hoặc người đó có năng lực trách nhiệm hình sự hay không Đây là các yếu tố bắt buộc

thuộc chủ thể của tội phạm Nếu xác định được người thực hiện hành vi chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc không có năng lực trách nhiệm hình sự, thì dù hành vi

có nguy hiểm cho xã hội đến mức nào người thực hiện hành vi đó cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự Ví dụ: Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội chưa đủ 14 tuổi hoặc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

Ngoài ra, còn có những yếu tố khách quan, chủ quan khác không bắt buộc của tội phạm cũng cần được xác định như: hậu quả của hành vi; mục đích, động cơ thực hiện hành vi; những đặc điểm về nhân thân của người thực hiện hành vi Chỉ khi xác định được chính xác, đầy đủ các yếu tố khách quan, chủ quan của tội phạm thì mới có thể quyết định được đúng đắn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

4.2 Nguyên tắc xử lý hình sự

Nguyên tắc xử lý hình sự được quy định rõ tại Điều 3 Bộ luật hình sự 1999, theo

đó, mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật; mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội

Khi xử lý hình sự phải kết hợp hài hòa giữa giáo dục với trừng trị Nghiêm trị đối với người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng, đồng thời khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra

Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt từ và giao học cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục

Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam nhưng phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội và nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt Còn khi người bị phạt tù đó chấp hành xong hình phạt thì cần tạo điều kiện cho họ làm ăn, sinh sống lương thiện, hoà nhập với cộng đồng và khi có đủ điều kiện do luật định thì họ được xóa án tích

4.3 Miễn trách nhiệm hình sự; miễn, giảm hình phạt

- Theo quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự 1999 thì bị cáo có thể được Tòa án miễn trách nhiệm hình sự, nếu có một trong những căn cứ sau đây:

+ Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

Trang 28

+ Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đó tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm;

+ Khi có quyết định đại xá của Quốc hội

- Theo quy định tại Điều 57 Bộ luật hình sự thì người bị kết án có thể được miễn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:

+ Khi người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn chưa chấp hành hình phạt là lại lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm ngheo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa

+ Khi có quyết định đặc xá của Chủ tịch nước hoặc quyết định đại xá của Quốc hội

+ Khi người bị kết án đang được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự mà trong thời gian được hoãn hoặc tạm đình chỉ đó lập công

+ Khi người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế đó chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt

Một hình thức miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện là án treo

- Các điều kiện để xét giảm hình phạt được quy định rõ tại các điều 58 và 59 Bộ

luật hình sự Cụ thể:

+ Đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù phải có đủ 03 điều kiện sau đây mới được xét giảm hình phạt:

* Đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định;

* Có nhiều tiến bộ, thể hiện trên các mặt như thành thật hối cải; tích cực lao động, học tập chứng tỏ sự quyết tâm cải tạo;

* Có đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách

nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục (đối với người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ) hoặc cơ quan thi hành án phạt tù (đối với người chấp hành hình phạt tù)

+ Đối với người bị kết án phạt tiền phải có đủ điều kiện sau đây mới được xét giảm hình phạt:

* Đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt;

* Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn;

* Có đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

- Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt từ từ ba mươi năm trở xuống, mười hai năm đối với tù chung thân Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên Người bị kết án

tù chung thân, lần đầu được giảm xuống ba mươi năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là hai mươi năm

Trang 29

Đối với người đó được giảm một phần hình phạt mà lại phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc hai mươi năm nếu là tù chung thân

Đối với người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đó lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định chung

4.4 Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Do người chưa thành niên có những đặc điểm phát triển tâm - sinh lý khác biệt so với người đã thành niên như: Chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như tâm sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ còn hạn chế cho nên Luật Hình sự có chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội khác hẳn so với người đã thành niên phạm tội

Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm Nếu người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục thì có thể miễn trách nhiệm hình sự cho họ

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm

Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Tòa án áp dụng biện pháp tư pháp đối với họ Trong trường hợp cần phải xử phạt tù có thời hạn thì Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng Tuyệt đối, Tòa án không được xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, không được áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội cũng như không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 69 BLHS)

Người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có nhiều tiến bộ và đã chấp hành được một phần tư thời hạn, thì được Toà án xét giảm theo quy định của pháp luật; nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được xét giảm ngay

và có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại Trường hợp người chưa thành niên bị phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Toà án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành phần tiền mặt còn lại (Điều 76 BLHS)

Người chưa thành niên phạm tội được xoá án tích khi có đủ 1/2 thời hạn do luật định đối với người đã thành niên Điều đáng lưu ý là, nếu người chưa thành niên phạm

Trang 30

tội không bị áp dụng hình phạt mà được áp dụng biện pháp tư pháp thì không bị coi là

có án tích Ngoài ra, án mà Tòa án có thẩm quyền đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI PHẠM

1 Khái quát về tội phạm

1.1 Khái niệm tội phạm

Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 quy định rõ khái niệm tội phạm, theo đó tội phạm được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Như vậy, nói một cách khái quát thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt Pháp luật hình sự không trừng trị tư tưởng của con người và những biểu hiện của nó ra bên ngoài mà không thông qua hành vi Tuy nhiên, hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi nó đồng thời thỏa mãn 04 yếu tố: nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt

- Trước hết, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tức là gây ra hoặc đe dọa

gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ nhe: an ninh quốc gia; tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; quyền tự do dân chủ của công dân; sở hữu; trật tự quản lý kinh tế; trật tự an toàn xã hội; trật tự quản lý hành chính

- Tội phạm là hành vi có lỗi, tức là hành vi đó phải là kết quả của sự tự lựa chọn

và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện lựa chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Luật Hình sự của ta không phải trừng trị một hành vi phạm tội mà chính là trừng trị người đó thực hiện hành vi phạm tội đó nhằm cải tạo, giáo dục họ mà mục đích này chỉ có thể đạt được khi người đó có lỗi Đối với người không có lỗi thì hình phạt không thể phát huy tác dụng giáo dục, cải tạo được

- Tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự, tức là hành vi đó phải được quy định trong Bộ luật hình sự dưới dạng một tội danh cụ thể Ví dụ: Tội giết người, tội buôn lậu, tội gây ô nhiễm nguồn nước, tội hủy hoại rừng, tội gây rối trật tự công cộng

- Tội phạm là hành vi phải chịu hình phạt, tức là bất cứ người phạm tội nào cũng đều có thể phải chịu hình phạt được quy định ngay trong từng điều khoản cụ thể đối

với từng hành vi phạm tội cụ thể

1.2 Phân loại tội phạm

Phân loại tội phạm là phân chia các tội phạm ra từng nhóm (từng loại) dựa trên những căn cứ nhất định giúp cho cơ quan có thẩm quyền đề ra chính sách hình sự một cách phù hợp đối với từng loại tội phạm cũng như đối với từng tội phạm cụ thể và giúp

Trang 31

cho Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án áp dụng những biện pháp cần thiết để truy tố, xét xử đúng người, đúng tội

Trước hết, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thì tội phạm được chia thành 04 loại:

- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà

mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù;

- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao

nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù;

- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức

cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã

hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Ngoài ra, việc phân loại có thể dựa vào những căn cứ khác tuỳ thuộc vào yêu cầu

cần nghiên cứu Ví dụ: Căn cứ vào hình thức lỗi thì tội phạm được chia thành 02 loại: Tội phạm được thực hiện do cố ý và tội phạm được thực hiện do vô ý; căn cứ vào mức

độ thực hiện hành vi phạm tội thì tội phạm được chia thành 03 loại: Tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị, tội phạm chưa đạt và tội phạm đã hoàn thành; Căn cứ vào sự tham gia trong hoạt động phạm tội thì tội phạm được chia thành 02: Tội phạm được thực hiện

đơn lẻ và tội phạm được thực hiện nhiều người (đồng phạm đơn giản, phạm tội có tổ

chức); căn cứ vào khách thể bị xâm hại thì tội phạm được chia thành 14 loại theo 14

chương "Phần các tội phạm" của Bộ luật hình sự;

2 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Luật hình sự quy định tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ Như vậy, người chưa đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự thì luôn được coi là không có lỗi

Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự thì:

- Tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự là từ đủ 14 tuổi (14 tuổi tròn) trở lên Điều đó có nghĩa là những người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào của họ Những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi tuy có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng chưa đầy đủ (hạn chế), họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Như vậy, những người này không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng nhưng do vô ý

- Tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ là từ đủ 16 tuổi (tức 16 tuổi tròn) trở lên Điều đó có nghĩa là, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự

về mọi tội phạm

3 Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Thông thường một hành vi có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì được coi là tội phạm và người thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy

Trang 32

vậy, trong thực tế có không ít trường hợp hành vi của một người về mặt hình thức có các yếu tố cấu thành tội phạm nhưng lại có những lý do nhất định làm mất tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và do đó trách nhiệm hình sự bị loại trừ Bộ luật hình sự quy định 02 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự Đó là: Phòng vệ chính đáng (Điều 15) và tình thế cấp thiết (Điều 16)

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ

chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Ví dụ: hành vi của một người chống trả lại tên cướp có vũ khí để bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản cho hành khách trên xe ô tô; hành vi đánh bị thương kẻ đang thực hiện hành vi giết người hoặc hành vi của nạn nhân chống trả gây thương tích cho kẻ đang thực hiện hành vi hiếp dâm

Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế

đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa Ví dụ: Khi tàu gặp bão lớn, Thuyền trưởng quyết định vứt bỏ hết hàng hoá trên tàu để bảo đảm an toàn cho tính mạng của những người trên tàu hoặc khi hoả hoạn xảy ra, những người cứu hoả đã phá bỏ nhà bên cạnh để ngăn không cho đám cháy lây lan

Phòng vệ chính đáng và hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải

là tội phạm, do vậy, người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng và gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, nếu người đó vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (tức là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại) hoặc gây ra thiệt hại rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá đó

4 Các giai đoạn thực hiện tội phạm

Để xác định chính xác mức độ thực hiện ý định phạm tội làm cơ sở cho việc xác định phạm vi, mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt, Bộ luật hình sự đã phân chia quá trình thực hiện tội phạm cố ý thành ba giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị phạm tội, giai đoạn phạm tội chưa đạt và giai đoạn phạm tội đã hoàn thành

4.1 Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu trong quá trình thực hiện tội phạm cố ý

Hành vi chuẩn bị phạm tội phần lớn được thực hiện bằng hành động tích cực như: Chuẩn bị kế hoạch, phương án phạm tội; nghiên cứu, xem xét địa điểm, thời gian thực hiện tội phạm; tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm, nhưng cũng có trường hợp được thực hiện bằng không hành động

Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự thì chỉ người chuẩn bị phạm một tội

rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng mới phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội định thực hiện Như vậy, người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện

Trang 33

4.2 Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được

đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội Trong giai đoạn phạm tội chưa đạt, người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện được đến cùng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội như: Do bị chống trả quyết liệt; do công cụ, phương tiện phạm tội không phù hợp; do có những trở ngại khách quan ngăn cản hậu quả xảy ra

Có hai dạng phạm tội chưa đạt:

- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp chưa đạt về hậu quả và chưa

hoàn thành về hành vi vì người phạm tội không có điều kiện để thực hiện được đầy đủ các hành vi phạm tội

- Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp chưa đạt về hậu quả nhưng đã

hoàn thành hành vi Người phạm tội đã thực hiện tội phạm đến cùng nhưng không đạt được mục đích mong muốn Thông thường thì trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành nguy hiểm hơn trường hợp phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, do vậy, cần phải được xử phạt nặng hơn

Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật hình sự thì người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt

Trong trường hợp tội phạm không được thực hiện đến cùng nhưng không phải do nguyên nhân khách quan mà do ý chí của người phạm tội tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng mặc dù không có gì ngăn cản thì đó không phải là phạm tội chưa đạt

mà là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội này

4.3 Phạm tội đã hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm Cần phân biệt việc phạm tội đã hoàn thành với việc phạm tội đã kết thúc Khi nói đến việc phạm tội đã hoàn thành là nói đến

khía cạnh pháp lý của việc thực hiện tội phạm, tức là khi hành vi được thực hiện đã

thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm Còn khi nói đến việc phạm tội

đã kết thúc là muốn nói đến thời điểm hành vi phạm tội thực tế được chấm dứt hẳn

Thời điểm hoàn thành của các loại tội phạm là khác nhau Đối với các tội phạm

có cấu thành vật chất thì thời điểm hoàn thành là khi hậu quả nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong điều luật quy định về tội đó xảy ra; đối với các tội phạm có cấu thành hình thức thì thời điểm hoàn thành là khi người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong điều luật quy định về tội đó

5 Vấn đề đồng phạm

- Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Như vậy, để khẳng định xem có đồng phạm hay không đòi hỏi phải xác định rõ các dấu hiệu sau đây:

+ Có hai người trở lên tham gia thực hiện tội phạm và những người này phải có

đủ các điều kiện của chủ thể tội phạm (như: Độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự)

Trang 34

+ Những người này phải cùng cố ý thực hiện tội phạm Trong đồng phạm, mỗi

người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự

cố ý của những người đồng phạm khác Nếu chỉ có sự cố ý của mỗi người mà chưa có

sự cùng cố ý của người khác thì chưa thể có đồng phạm được Đối với những tội mà mục đích là dấu hiệu bắt buộc thì những người đồng phạm còn phải cùng mục đích

+ Những người này phải cùng thực hiện một tội phạm, tức là mỗi người đều

phải có hành vi tham gia thực hiện tội phạm với vai trò tổ chức, xúi giục, giúp sức hoặc trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội Nếu không có một trong những loại hành vi này thì không thể coi là cùng thực hiện tội phạm và do vậy cũng không thể là người đồng phạm được

Một hình thức cao của đồng phạm là phạm tội có tổ chức, tức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm

- Những người cùng tham gia thực hiện tội phạm gọi là những người đồng phạm

Có 4 loại người đồng phạm:

+ Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm

+ Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm + Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm

+ Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm

Trước hết, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước

Tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ nó có thể tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích thiết thân của người phạm tội như: Quyền tự do, quyền chính trị, quyền sở hữu, thậm chí là cả quyền sống Ngoài ra, hình phạt bao giờ cũng để lại cho người bị kết án hậu quả pháp lý là án tích trong một thời gian nhất định do luật định

Hình phạt được Bộ luật hình sự quy định cả ở phần chung lẫn phần các tội phạm

Phần chung quy định về khái niệm, mục đích, hệ thống hình phạt, các nguyên tắc quyết định hình phạt và miễn, giảm hình phạt Phần các tội phạm quy định các loại hình phạt và mức hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể

Hình phạt phải do Tòa án quyết định nhân danh Nhà nước Hình phạt được Tòa

án tuyên đối với người phạm tội thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với họ và hành vi phạm tội do họ gây ra

Theo quy định của Bộ luật hình sự nước ta thì hình phạt chỉ có thể được áp dụng đối với người phạm tội, tức là thể nhân Luật hình sự nước ta hiện nay chưa quy định

Trang 35

trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân với tư cách là một tổ chức, do vậy, cũng chưa

có quy định việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân

1.2 Mục đích

Mục đích của hình phạt là kết quả thực tế cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt được khi quy định trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật hình sự thì hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội,

có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Như vậy, mục đích của hình phạt thể hiện trước hết ở chỗ hình phạt tác động trực tiếp đến người phạm tội, không chỉ trừng trị mà

còn nhằm cải tạo, giáo dục, ngăn ngừa họ phạm tội mới Đây chính là mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt Trong phòng ngừa riêng, giữa trừng trị và cải tạo, giáo dục

người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới có quan hệ tương tác qua lại với nhau rất chặt chẽ Không thể nói đến cải tạo, giáo dục được người phạm tội nếu như hình phạt trừng trị họ không tương xứng với tội phạm đã gây ra (quá nặng hoặc quá nhẹ) Trừng trị công minh là yếu tố tiên quyết quan trọng để bảo đảm mục đích cải tạo, giáo dục

Mục đích phòng ngừa chung của hình phạt thể hiện ở chỗ hình phạt còn nhằm

giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trong từng trường hợp cụ thể bao giờ cũng tác động đến những người khác Tuỳ thuộc vào từng vụ án hình sự cụ thể, ý thức pháp luật, sự chú ý riêng cũng như đặc điểm tâm lý của mỗi người mà mức độ tác động của hình phạt đối với họ cũng khác nhau Hình phạt răn đe mọi người tránh xa việc phạm tội Để đạt được mục đích phòng ngừa chung của hình phạt đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp về kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, pháp lý, văn hoá, giáo dục trong đó, tuyên truyền giáo dục pháp luật nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho công dân có ý nghĩa hết sức to lớn

Phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung là hai mặt không thể tách rời nhau của hình phạt, chúng ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong mục đích chung của hình phạt

+ Cảnh cáo là loại hình phạt nhẹ nhất trong các hình phạt chính thể hiện sự

khiển trách công khai của Nhà nước đối với người bị kết án Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt

+ Phạt tiền là hình phạt mang tính kinh tế thể hiện ở việc tước của người bị kết

án một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế,

Trang 36

trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật hình

sự quy định

Mức phạt tiền được quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời, có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng

+ Cải tạo không giam giữ là hình phạt không buộc người bị kết án phải cách ly

khỏi xã hội mà họ được giao cho cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục nhằm phát huy vai trò của quần chúng nhân dân tham gia vào việc giáo dục, cải tạo người phạm tội

Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối với người phạm tội

ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật hình sự quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội

Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước Trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ Tòa

án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó

+ Trục xuất là hình phạt buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Tù có thời hạn là hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại

trại giam (tức là cách ly khỏi xã hội) trong một thời hạn nhất định

Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối

đa là hai mươi năm Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù

+ Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người

phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình Không áp dụng tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội

+ Tử hình là hình phạt đặc biệt, nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt chỉ

áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới

36 tháng tuổi Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân Trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành

tù chung thân

- Hình phạt bổ sung bao gồm:

Trang 37

+ Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó, thì có thể gây nguy hại cho xã hội

Thời hạn cấm là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt

tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo

+ Cấm cư trú là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú và thường trú

ở một số địa phương nhất định

Thời hạn cấm cư trú là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù

+ Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù về các tội xâm phạm an ninh quốc

gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc người bị kết án phạt tù về tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật hình sự quy định phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo

ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương trong thời hạn từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù

Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo Điều 39 của Bộ luật hình sự và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

+ Tước một số quyền công dân là hình phạt bổ sung được áp dụng đối với công

dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật hình sự quy định

Các quyền công dân mà người phạm tội có thể bị Tòa án tước là: Quyền ứng cử, quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước; quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân

Thời hạn tước một số quyền công dân là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo

+ Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người

bị kết án sung quỹ nhà nước

Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp do Bộ luật hình sự quy định Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống

+ Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính được áp dụng đối với người

phạm các tội về tham nhũng, ma tuý hoặc những tội phạm khác do Bộ luật hình sự quy định

+ Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính

2.2 Các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Theo quy định tại Điều 71 Bộ luật hình sự thì người chưa thành niên phạm tội chỉ

bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:

Trang 38

- Cảnh cáo được áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới

18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt

- Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm

tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định

- Cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16

tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật hình sự quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó

- Tù có thời hạn được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy

định sau đây:

+ Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được

áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

+ Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được

áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định

nhiệm hình sự Như vậy, có thể thấy có 04 căn cứ mà Tòa án phải dựa vào đó để quyết

định hình phạt đối với người phạm tội:

- Quy định của Bộ luật hình sự, tức là các quy định có tính nguyên tắc về tội

phạm và hình phạt trong Phần chung của Bộ luật hình sự và các điều khoản quy định hình phạt đối với tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự

- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tức là những

đặc tính về chất và về lượng của mỗi tội phạm cụ thể cho phép phân biệt tội phạm ở nhóm này với tội phạm ở nhóm khác cũng như phân biệt mức độ nguy hiểm cho xã hội giữa tội phạm này với tội phạm khác trong cùng một nhóm hoặc đối với cùng một tội danh nhưng trong những trường hợp phạm tội khác nhau Tính chất và mức độ nguy

Trang 39

hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thể hiện ở tính chất và tầm quan trọng của khách thể bị xâm hại; hành vi đã thực hiện; hình thức thực hiện tội phạm; giai đoạn thực hiện tội phạm; thủ đoạn, hoàn cảnh, địa điểm, thời gian phạm tội; hậu quả do tội phạm gây ra; hình thức, mức độ lỗi; động cơ, mục đích phạm tội,

- Nhân thân người phạm tội, tức là tổng hợp những đặc điểm nói lên tính chất

của một con người Những đặc điểm đó có ảnh hưởng nhất định đến hành vi phạm tội

và khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội Xét đến nhân thân người phạm tội là xét đến những mối quan hệ giữa người ấy với xã hội, tập thể, gia đình và với người khác cũng như những đặc điểm của bản thân người đó Đặc điểm nhân thân người phạm tội

có rất nhiều loại, như:

+ Những đặc điểm mang tính chất pháp lý (tức là đặc điểm có ảnh hưởng trực tiếp đến tội phạm) được Bộ luật hình sự quy định là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt như: Phạm tội lần đầu hay đã có tiền án, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, người chưa thành niên, có thái độ tự thú, hối cải, lập công chuộc tội hay ngoan cố ; + Những đặc điểm có quan hệ đến ý thức chính trị, ý thức lao động, trình độ nhận thức, hiểu biết của người phạm tội như: Thành phần, trình độ văn hoá, nghề nghiệp ; + Những đặc điểm có quan hệ đến các đối tượng của các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước như: Người phạm tội thuộc dân tộc ít người, thuộc gia đình liệt sỹ,

là nhân sĩ, trí thức có tên tuổi, là người làm nghề tôn giáo ;

+ Những đặc điểm phản ánh hoàn cảnh thực tế của người phạm tội như: Bị lâm bệnh hiểm nghèo, là người già yếu, là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của bản thân hay của gia đình

- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm có:

+ Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

+ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; + Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

+ Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

+ Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

+ Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra; + Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

+ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

+ Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

+ Phạm tội do lạc hậu;

+ Người phạm tội là phụ nữ có thai;

+ Người phạm tội là người già;

+ Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

+ Người phạm tội tự thú;

+ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

Trang 40

+ Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

+ Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

+ Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác

Theo quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự thì khi quyết định hình phạt, Toà án cần lưu ý là các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ một lần nữa, đồng thời ngoài các tình tiết nêu trên, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án

- Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bao gồm:

+ Phạm tội có tổ chức;

+ Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

+ Phạm tội có tính chất côn đồ;

+ Phạm tội vì động cơ đê hèn;

+ Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

+ Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

+ Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

+ Xâm phạm tài sản của Nhà nước;

+ Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác phạm tội hoặc thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

+ Xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

+ Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm

Theo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự thì chỉ những tình tiết liệt kê ở trên mới được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng một lần nữa khi quyết định hình phạt

3.2 Quyết định hình phạt trong một số trường hợp

Các Điều từ 50 đến 53 của Bộ luật hình sự quy định việc quyết định hình phạt trong các trường hợp: phạm nhiều tội; tổng hợp hình phạt của nhiều bản án; chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và đồng phạm

Ngày đăng: 04/06/2015, 20:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w