1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty bảo hiểm PJICO, Thực trạng và giải pháp

84 885 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Triển Khai Nghiệp Vụ Bảo Hiểm Hàng Hoá Xuất Nhập Khẩu Vận Chuyển Bằng Đường Biển Tại Tổng Công Ty Bảo Hiểm PJICO, Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Hà Ngọc Phúc
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo Hiểm
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 510 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thế giới, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển đã ra đời từ lâu và hiện nay đang phát triển không ngừng

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trên thế giới, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằngđường biển đã ra đời từ lâu và hiện nay đang phát triển không ngừng Ở ViệtNam, nghiệp vụ này ra đời muộn hơn song cũng đã phần nào đáp ứng đượcnhu cầu bảo hiểm cho các đối tượng tham gia Trong nền kinh tế thị trườngViệt Nam hiện nay, sự phát triển không ngừng của các Doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành ngoại thương đã

và đang tạo ra nhu cầu bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng lớn Đặcbiệt, từ khi Việt Nam gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO) đượchơn 1 năm, nhu cầu bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng lớn hơn.Chính những yêu cầu khách quan đó đòi hỏi ngành bảo hiểm Việt Nam phải

có những thay đổi kịp thời để đáp ứng nhu cầu của tình hình mới

Đối với Tổng Công ty bảo hiểm PJICO, việc nghiên cứu thực trạngCông ty và thị trường bảo hiểm hàng hoá nhằm tìm ra những biện pháp đểnâng cao chất lượng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩuđáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng và thích ứng trong điềukiện mới là nhiệm vụ hàng đầu đặt ra cho các nhà quản lý

Trong thời gian thực tập tại Công ty bảo hiểm PJICO, nhận thức rõ vaitrò quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyểnbằng đường biển đối với hoạt động thương mại Quốc tế cũng như đối với sựphát triển của PJICO, em đã lựa chọn đề tài:

“Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty bảo hiểm PJICO, Thực trạng và giải pháp ” để nghiên cứu.

Trang 2

Chuyên đề được thực hiện với mục đích đánh giá tình hình triển khai,những kết quả đạt được, những tồn tại cần giải quyết để từ đó đưa ra nhữnggiải pháp nhằm nâng cao chất lượng nghiệp vụ tại Công ty.

Với mục tiêu trên, chuyên đề này được chia làm 3 chương như sau:

Chương I: Tổng quan về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận

chuyển bằng đường biển

Chương II: Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất

nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty bảo hiểm PJICO

Chương III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất

lượng nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đườngbiển tại Tổng Công ty bảo PJICO

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do còn hạn chế về kiến thức thực tế,khả năng chuyên môn và thời gian nên đề tài này em thực hiện không thểtránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì vậy, em rất mong nhận được sựđóng góp ý kiến của thầy hướng dẫn, các cô chú,anh chị trong công ty và cácbạn để đề tài này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK VẬN

CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

I Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.

Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ra đời

từ rất sớm,có thể nói ngay từ khi ngoại thương phát triển với lợi nhuận củangành hàng hải ngày càng gia tăng , đi cùng với nó là số lượng rủi ro phải ứngphó ngày càng gia tăng do vận chuyển bằng đường biển phụ thuộc rất nhiềuvào thiên nhiên.Các chủ tàu, các nhà buôn bán, những người vận tải luôn luôntìm kiếm những hình thức bảo đảm an toàn cho quyền lợi của mình

Đầu tiên là vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên người ta đã tìmcách giảm nhẹ tổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách san nhỏ lô hàng củamình ra làm nhiều chuyến hàng

Sau đó để đối phó với những tổn thất nặng nề thì hình thức “cho vay mạohiểm” đã xuất hiện theo đó trong trường hợp xảy ra tổn thất đối với hàng hoátrong quá trình vận chuyển, người vay sẽ được miễn không phải trả khoảntiền vay cả vốn lẫn lãi Ngược lại họ sẽ phải trả một lãi suất rất cao khi hànghoá đến bến an toàn, như vậy có thể hiểu lãi suất cao này là hình thức sơ khaicủa phí bảo hiểm Song số vụ tổn thất xảy ra ngày càng nhiều làm cho các nhàkinh doanh cho vay vốn cũng lâm vào thế nguy hiểm và thay thế nó là hìnhthức bảo hiểm ra đời

Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa nước Ý, đã xuất hiện các hợp đồng bảohiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển đầu tiên mà theo

đó một người bảo hiểm cam kết với người được bảo hiểm sẽ bồi thườngnhững thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phải gánh chịu khi có thiệthại xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận một khoản phí Hợp đồng bảo

Trang 4

hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày 22/04/1329 hiện còn đượclưu giữ tại Floren

Sau đó cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ dương và tìm ra Châu Mỹ,ngành hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyểnbằng đường biển nói riêng đã phát triển rất nhanh Về cơ sở pháp lý thì có thểcoi chiếu dụ Barcelona năm 1435 là văn bản pháp luật đầu tiên trong ngànhbảo hiểm Sau đó là sắc lệnh của Philippe de Bourgogne năm 1458, những sắclệnh của Brugos năm 1537, Fiville năm 1552 và ở Amsterdam năm 1558.Ngoài ra còn có sắc lệnh của Phần Lan năm 1563 liên quan đến hợp đồng bảohiểm hàng hoá

Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVI - XVII cùng với sự ra đời của phươngthức sản xuất TBCN thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển rộng rãi và ngàycàng đi sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội Mở đường cho

sự phát triển này là luật 1601 của Anh thời Nữ hoàng Elisabeth, sau đó là Chỉ

dụ 1681 của Pháp do Colbert biên soạn và Vua Louis XIV ban hành , đó lànhững đạo luật mở đường cho lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩuvận chuyển bằng đường biển

Đến thế kỷ XVII, nước Anh đã chiếm vị trí hàng đầu trong buôn bán vàhàng hải quốc tế với Luân Đôn là trung tâm phồn thịnh nhất Tàu của cácnước đi từ Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi đều về cập bến hai bờ sôngThame của thành phố Luân Đôn Các tiệm cà phê là nơi gặp gỡ của các nhàbuôn, chủ ngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm … để giao dịch, traođổi tin tức, bàn luận trực tiếp với nhau

Edward Lloyd’s là một thuyền trưởng về hưu bắt đầu mở quán cà phê ởphố Great Tower ở Luân Đôn vào khoảng năm 1692 Các các nhà buôn, chủngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm…thường đến đó để trao đổicác thông tin về các con tầu viễn dương, về hàng hóa chuyên chở trên tàu, về

Trang 5

sự an toàn và tinh hình tai nạn của các chuyến tàu… Ngoài việc quản lý quán

cà phê, năm 1696 Edward Lloyd’s còn cho ra một tờ báo tổng hợp các tìnhhình tàu bè và các vấn đề khác nhằm cung cấp thông tin cho các khách hàngcủa ông

Tuy nhiên việc làm chính của ông vẫn là cung cấp địa điểm để kháchhàng đến giao dịch bảo hiểm, hội họp Sau khi Edward Lloyd’s qua đời người

ta thấy rằng cần phải có một nơi tương tự như vậy để các nhà khai thác bảohiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tập trung đếngiao dịch bảo hiểm và năm 1770, “Society of Lloyd’s” với tư cách là một tổchức tự nguyện đã thành lập và thu xếp một địa điểm ở Pope’s Head Alleycho các thành viên của họ Sau đó tổ chức này rời địa điểm đến trung tâm hốiđoái của Hoàng gia và ở đó đến năm 1828 thì rời đến toà nhà riêng của họ tạiphố Leaden Hall Tổ chức này hoạt động với tư cách là tổ chức tư nhân đếnnăm 1871 thì hợp nhất lại theo luật Quốc hội và trở thành Hội đồng Lloyd’s

và sau này đã trở thành nơi giao dịch kinh doanh bảo hiểm và hãng bảo hiểmlớn nhất thế giới

Sau bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển là

sự xuất hiện của bảo hiểm hoả hoạn, đánh dấu bằng vụ cháy thảm khốc ởLuân Đôn nước Anh ngày 2/9/1666 hủy diệt 13.000 căn nhà trong đó có hơn

100 nhà thờ trong 4 ngày để lại một sự thiệt hại quá lớn không thể cứu trợđược Sau đó những nhà kinh doanh ở nước Anh đã nghĩ ra việc cộng đồngchia sẻ rủi ro hoả hoạn bằng cách đứng ra thành lập những Công ty bảo hiểmhoả hoạn như : " Fire Office" (năm 1667), "Friendly Society" (năm 1684),

"Hand and Hand" (năm 1696), "Lom Bard House" (năm 1704) Lúc đóCông ty bảo hiểm Lloyds đã ra đời nhưng chỉ hoạt động trong lĩnh vực bảohiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển Mãi tới thế kỷ

XX mới chuyển sang hoạt động cả lĩnh vực nội địa và tái bảo hiểm

Trang 6

Còn ở Việt Nam, bảo hiểm xuất hiện từ bao giờ? Không có tài liệu nàochứng minh một cách chính xác mà chỉ phỏng đoán vào năm 1880 có các Hộibảo hiểm ngoại quốc như Hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thụy sĩ, Hoa kỳ đã để ýđến Đông Dương Các Hội bảo hiểm ngoại quốc đại diện tại Việt Nam bởi cácCông ty thương mại lớn, ngoài việc buôn bán, các Công ty này mở thêm mộtTrụ sở để làm đại diện bảo hiểm Vào năm 1926, Chi nhánh đầu tiên là củaCông ty Franco- Asietique Đến năm 1929 mới có Công ty Việt Nam đặt trụ

sở tại Sài Gòn, đó là Việt Nam Bảo hiểm Công ty, nhưng chỉ hoạt động vềbảo hiểm xe ô tô Từ năm 1952 về sau, hoạt động bảo hiểm mới được mởrộng dưới những hình thức phong phú với sự hoạt động của nhiều Công tybảo hiểm trong nước và ngoại quốc

Ở Miền Bắc, ngày 15/01/1965 Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt làBảo Việt) mới chính thức đi vào hoạt động Trong những năm đầu, Bảo Việtchỉ tiến hành các nghiệp vụ về hàng hải như bảo hiểm hàng hóa xuất nhậpkhẩu, bảo hiểm tàu viễn dương…

Như vậy có thể nói bảo hiểm hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hoáxuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển nói riêng là một nghiệp vụ bảohiểm quan trọng và đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế , nó đã ra đời khásớm ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và chiếm một vị trí quan trọng trongthương mại cũng như ngoại thương của các quốc gia đó

II Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển

Trong nền kinh tế toàn cầu hoá ngày nay thì dịch vụ vận chuyển nói chung

và vận chyển hàng hoá xuất, nhập khẩu (XNK ) bằng đường biển nói riêngngày càng đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế.Có thể nóithương mại có phát triển mạnh được là nhờ có vận chuyển.Có nhiều phương

Trang 7

thức vận chuyển khác nhau như vận chuyển bằng đường biển, đường bộ,đường sắt,hàng không….Trong đó vận chuyển bằng đường biển chiếmkhoảng 90% lượng hàng hoá XNK trên thế giới Bởi vì, vận chuyển bằngđường biển có rất nhiều ưu điểm.

- Vận chuyển bằng đường biển có thể vận chuyển được nhiều chủng loạihang hóa lớn mà các phương tiện vận tải khác như :Đường bộ ,đường sông,đường hàng không … khó thể đảm nhận được

- Các tuyến vận chuyển bằng đường biển rộng lớn nên trên một tuyến cóthể tổ chức được nhiều chuyến tầu trong cùng một lúc trên cả hai chiều

- Giá thành vận chuyển (cước vận tải) thấp Nhờ lợi dụng được điều kiện

tự nhiên nên chi phí về vốn, nguyên vật liệu, sức lao động xây dựng các tuyếnđường hàng hải thấp hơn rất nhiều so với chi phí bỏ ra cho phương tiện khác

- Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển mối quan hệ tốt với cácnước từ đó thúc đẩy giao lưu thương mại và tăng thu ngoại tệ cho đất nướcđó

Tuy nhiên, việc chuyên chở hàng hoá bằng đường biển có một sốnhược điểm:

Vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều rủi ro.Các rủi ro này có thể

do các yếu tố tự nhiên, yếu tố kỹ thuật hoặc yếu tố xã hội, con người

- Do yếu tố tự nhiên: hành trình của con tàu thường rất dài do vậy phụthuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Thời tiết, khí hậu trên đều ảnh hưởngtrực tiếp đến quá trình vận chuyển bằng đường biển Những rủi ro do thiên taibất ngờ như bão lốc, sóng thần có thể xảy ra bất cứ lúc nào

- Do yếu tố kỹ thuật: trong hoạt động của mình, con người ngày càng sửdụng nhiều hơn các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại Nhưng dù máymóc hiện đại, chính xác đến đâu cũng không tránh khỏi trục trặc về kỹ thuật,

đó là trục trặc của chính con tàu, kỹ thuật dự báo thời tiết, các tín hiệu điều

Trang 8

khiển từ đất liền từ đó gây ra đổ vỡ, mất mát hàng hoá trong quá trình xuấtnhập khẩu.

- Do yếu tố xã hội, con người: hàng hoá có thể bị mất trộm, mất cắp, bịcướp, hoặc bị thiệt hại do chiến tranh

Tốc độ của tàu biển còn chậm, hành trình trên biển có thời gian dài,nên xác suất rủi ro tai nạn trên biển càng cao nhưng việc ứng cứu rủi ro, tainạn rất khó khăn

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hôi, mỗi chuyến tàu chuyên chở cógiá trị rất lớn bao gồm giá trị tàu, hàng hoá chở trên tàu và thuỷ thủ đoàn vìvậu, nếu rủi ro xảy ra sẽ gây tổn thất rất lớn về tài sản, trách nhiệm và conngười

Trong quá trình vận chuyển, hàng hoá được người chuyên chở chịutrách nhiệm chính Nhưng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi

và mức độ tuỳ theo điều kiện giao hàng và hợp đồng vận chuyển Theo côngước Brucxen 1924, người chuyên chở được hưởng 17 miễn trách Như vậy,khi rủi ro xẩy ra thì chủ hàng sẽ tự gánh chịu trách nhiện là chính

Trong lịch sử loài người đã có nhiều biện pháp chống lại những tácđộng xấu trên, nhưng thực tế cho thấy biện pháp hữu hiệu nhất là bảo hiểmcho hàng hoá xuất nhập khẩu Ngành bảo hiểm hàng hoá đã ra đời trên cơ sởđòi hỏi của thực tế kinh tế xã hội và đến nay việc bảo hiểm cho hàng hoá xuấtnhập khẩu đã trở thành tập quán thương mại quốc tế Điều này chứng tỏ bảohiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển là sự cần thiếtkhách quan

III Tác dụng của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.

Ra đời từ sự đòi hỏi của thực tại khách quan, bảo hiểm hàng hoá xuấtnhập khẩu vận chuyển bằng đường biển có tác dụng to lớn đến thương mại

Trang 9

quốc tế nói riêng và đời sống kimh tế - xã hội mỗi quốc gia nói chung.Tácdụng này thể hiện ở chỗ.

- Bù đắp một phần hay toàn bộ, những mất mát hay hư hại, về hàng hoá

và các chi phí liên quan, cho chủ hàng tham gia bảo hiểm khi xảy ra rủi rothuộc phạm vi bảo hiểm, từ đó giúp họ nhanh chóng ổn định hoạt động kinhdoanh

- Thông qua hoạt động của nghiệp vụ bảo hiểm này mà hàng năm một

số vốn lớn ( được tập trung từ những người tham gia bảo hiểm ) được sử dụng

để đầu tư phát triển kinh tế

- Người kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm này hàng năm đóng góp mộtphần đáng kể cho ngân sách nhà nước thông qua thuế

- Vì quyền lợi của mình mà người bảo hiểm và người tham gia bảohiểm thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất từ đó giảm thiểuhậu quả có thể xảy ra

- Nghiệp vụ bảo hiểm này sẽ là chỗ dựa tinh thận giúp chủ hàng an tâmhơn khi kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu nhờ cung cấp một cơ chế bảo vệhữu hiệu cho hàng hoá của họ khi có rủi ro xảy ra

- Sự ra đời của nghiệp vụ bảo hiểm này là một nhân tố hết sức quantrọng cho việc thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển bởi nó hạn chế nhữngnhược điểm và phát huy những ưu điểm của phương thức vận tải đường biển

Việt nam có điều kiện thuận lợi để phát triển vận tải biển Nước ta cótrên 3200 km bờ biển chạy từ Bắc xuống Nam, nằm trên đường hàng hải quốc

tế, chạy từ ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương Mối quan hệ hợp tác buônbán giữa nước ta với các nước ngày càng mở rộng Do vậy đây là mảnh đấtmầu mỡ cho nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằngđường biển phát triển và phát huy tác dụng tiềm tàng của nó Để có thể pháthuy tác dụng tối đa của nghiệp vụ này vấn đề đặt ra cho các công ty bảo hiểm

Trang 10

trong nước là dành được những hợp đồng bảo hiểm cho cả hàng xuất và nhậpkhẩu.

IV : Nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển.

4.1 Rủi ro hàng hải và tổn thất trong nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu.

Đối tượng bảo hiểm trong nghiệp vụ này là tất cả các loại hàng hóaXNK nói chung Đối tượng này có thể gặp phải nhiều rủi ro gây tổn thất

4.1.1 Rủi ro hàng hải.

Rủi ro hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trênbiển gây ra làm hư hỏng hàng hoá và phương tiện chuyên chở

Rủi ro hàng hải được phân ra làm nhiều loại:

Theo nguyên nhân rủi ro hàng hải bao gồm rủi ro do thiên tai, rủi ro

do tai nạn bất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con người

- Thiên tai: là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra nhưbiển động, bão, lốc, sét, thời tiết quá xấu mà con người không chống lạiđược

- Tai nạn bất ngờ trên biển: là những rủi ro do mắc cạn,đắm, bị phá huỷ, cháy, nổ, mất tích, đâm va với tàu khách hoặc một vậtthể cố định không phải là nước, phá hoại thuyền trưởng và thuỷ thủ đoàntrên tàu,

- Hành động của con người: ăn trộm, ăn cắp hàng, mấtcướp, chiến tranh, đình công bắt giữ, tịch thu

Đó là các rủi ro chính, ngoài ra còn một số rủi ro khác như rủi rolúc

xếp dỡ hàng, hàng bị nhiễm mùi, lây bẩn

Trang 11

Theo nghiệp vụ bảo hiểm, có ba loại rủi ro là những rủi ro thườngđược bảo hiểm, rủi ro không được bảo hiểm và rủi ro được bảo hiểm trongtrường hợp đặc biệt.

- Rủi ro thông thường được bảo hiểm : bão, lốc, sóng thần,mắc cạn, đâm va,

- Rủi ro không được bảo hiểm (còn gọi là rủi ro loại trừ): làcác rủi ro không được nhận bảo hiểm trong bất kỳ một đơn bảo hiểm nào,bao gồm sai sót của bản thân người được bảo hiểm, bao bì không đúngquy cách, vi phạm thể lệ xuất nhập khẩu hoặc vận chuyển, chậm trễ hoặcmất giá trị hàng trên thị trường

- Rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt: rủi ro dochiến tranh, đình công, bạo loạn (gọi chung là rủi ro chiến tranh) thườngkhông được nhận bảo hiểm, nhưng nếu chủ hàng có yêu cầu, sẽ được nhậnbảo hiểm kèm theo rủi ro thông thường được bảo hiểm với điều kiện trảthêm phụ phí đặc biệt chứ không nhận bảo hiểm riêng cho rủi ro chiếntranh

Các rủi ro được bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổnthất Việc phân biệt nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp có vai trò rất quantrọng để xác định rủi ro gây ra tổn thất có phải là rủi ro được bảo hiểmhay không Những tổn thất nào có nguyên nhân trực tiếp là rủi ro đượcbảo hiểm gây ra mới được bồi thường

Trang 12

-Tổn thất bộ phận là một phần của đối tượng bảo hiểm theo một hợp

đồng bảo hiểm (HĐBH) bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại Tổn thất bộ phận

có thể là tổn thất có thể là tổn thất về số lượng, trọng lượng, thể tích, giátrị hoặc phẩm chất

- Tổn thất toàn bộ là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại

Có hai loại tổn thất toàn bộ là tổn thất toàn bộ thực tế và tổn thấttoàn bộ ước tính

+ Tổn thất toàn bộ thực tế là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theomột HĐBH bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạngkhông còn như lúc mới được bảo hiểm hay bị mất đi, bị tước đoạt đikhông lấy lại được nữa Chỉ có tổn thất toàn bộ thực tế trong 4 trường hợpsau:

Hàng hoá bị huỷ hoại hoàn toàn

Hàng hoá bị tước đoạt không lấy lại được

Hàng hoá không còn là vật thể bảo hiểm

Hàng hoá ở trên tàu mà tàu được tuyên bố là mất tích

+ Tổn thất toàn bộ ước tính là trường hợp đối tượng được bảo hiểm

bị thiệt hại, mất mát chưa tới mức độ tổn thất toàn bộ thực tế, nhưngkhông thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế, hoặc nếu bỏ ra thêm chi phí

để cứu chữa thì chi phí cứu chữa có thể bằng hoặc lớn hơn giá trị bảohiểm

Tổn thất riêng là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số

quyền lợi của các chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu Như vậy tổn thấtriêng chỉ liên quan đến từng quyền lợi riêng biệt Trong tổn thất riêng,ngoài thiệt hại vật chất, còn phát sinh các chi phí liên quan đến tổn thất

Trang 13

riêng nhằm hạn chế những hư hại khi có tổn thất gây ra, gọi là tổn thất chiphí riêng.

Tổn thất chi phí riêng là những chi phí bảo quản hàng hoá để giảm bớt hư hại hoặc để khỏi hư hại thêm, bao gồm chi phí xếp dỡ, gửi hàng,đóng gói lại, thay thế bao bì ở bến khởi hành hoặc dọc đường Chi phítổn thất riêng làm giảm hoặc hạn chế tổn thất riêng

Tổn thất riêng có thể là tổn thất bộ phận hoặc là tổn thất toàn bộ.-Tổn thất chung là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiếnhành một cách cố ý và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá trở trêntàu thoát khỏi một sự nguy hiểm chung thực sự đối với chúng

Theo quy tắc York Antwerp 1994, có hành động tổn thất chung khi

và chỉ khi có sự hy sinh hoặc chi phí bất thường được tiến hành một cách

cố ý và an toàn chung nhằm cứu các tài sản khỏi một tai nạn chung trênmột hành trình trên biển

Các thiệt hại, chi phí hoặc hành động được coi là tổn thất chung khi

có các đặc trưng sau :

- Hành động tổn thất chung phải là hành động tự nguyện, hữu ý củanhững người trên tàu theo lệnh của thuyền trưởng hoặc người thay mặtthuyền trưởng

- Hy sinh hoặc chi phí phải đặc biệt bất thường

- Hy sinh, hoặc chi phí phải hợp lý và vì an toàn chung chotất cả các quyền lợi trong hành trình

- Nguy cơ đe doạ toàn bộ hành trình phải nghiêm trọng vàthực tế

- Mất mát, thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếpcủa hành động tổn thất chung

- Tổn thất chung phải xảy ra trên biển

Trang 14

Tổn thất chung ba gồm hai bộ phận chủ yếu đó là hy sinh tổn thấtchung và chi phí tổn thất chung.

+ Hy sinh tổn thất chung là những thiệt hại hoặc chi phí do hậu quảtrực tiếp của một hành động tổn thất chung

+ Chi phí tổn thất chung là những chi phí phải trả cho người thứ batrong việc cứu tàu và hàng thoát nạn hoặc chi phí làm cho tàu tiếp tụchành trình

Chi phí tổn thất chung bao gồm chi phí cứu nạn; chi phí làm nổi tàukhi bị mắc cạn, chi phí thuê, kéo, lai, dắt tàu khi bị nạn; chi phí tại cảnglánh nạn như: chi phí ra vào cảng, chi phí xếp dỡ, nhiên liệu vì an toànchung hoặc để sữa chữa tạm thời; chi phí tái xếp hàng, lưu kho hàng hoá;tiền lương cho thuyền trưởng, thuyền viên; lương thực thực phẩm, nhiênliệu tiêu thụ tại cảng lánh nạn

*Các thủ tục giấy tờ liên quan đến tổn thất chung: khi xảy ra tổn

thất chung, chủ tàu hoặc thuyền trưởng phải tiến hành một số thủ tục sau:

- Mời giám định viên để giám định tổn thất của tàu và hàng(nếu có)

chung để các chủ hàng và người bảo hiểm điền vào xuất trình khi nhậnhàng;

- Chỉ định một nhân viên tính toán, phân bổ tổn thất chung;

- Làm kháng nghị hàng hải (nếu liên quan đến người thứba)

Chủ hàng phải làm các kháng nghị sau :

- Kê khai giá trị hàng hoá nếu chủ tàu yêu cầu;

Trang 15

- Nhận bản cam đoan đóng góp tổn thất chung, điền vào vàgửi cho người bảo hiểm Người bảo hiểm sẽ ký vào giấy cam đoan đónggóp tổn thất chung và trả lại chủ hàng để nhận hàng Nếu hàng khôngđược bảo hiểm thì chủ hàng phải ký quỹ bằng tiền mặt hoặc xin bảo lãnhcủa ngân hàng, thuyền trưởng mới giao hàng Nói chung khi có tổn thấtchung xảy ra, người được bảo hiểm phải báo cho người bảo hiểm biết đểđược hướng dẫn làm thủ tục, không tự ý ký vào bản cam đoan đóng góptổn thất chung.

4.2 Trách nhiệm của các bên có liên quan trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển :

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thường được thông qua ba loạihợp đồng là hợp đồng mua bán, hợp đồng vận chuyển và hợp đồng bảohiểm Ba hợp đồng này là cơ sở pháp lý để phân định trách nhiệm các bên

có liên quan và trách nhiệm này phụ thuộc vào điều kiện giao hàng củahợp đồng mua bán Theo các điều kiện thương mại Quốc tế

"INCOTERMS 2000" (International Commercial Terms) có 13 loại điềukiện giao hàng, được phân chia thành 4 nhóm E, F, C, D Tuỳ theo nhữngloại hợp đồng này khi tiến hành nhập khẩu hàng hoá, các bên phải thựchiện các trách nhiệm của mình, cụ thể là:

*Đối với người bán : phải có trách nhiệm chuẩn bị hàng đúng hợpđồng và đúng quy cách, chất lượng; phải lựa chọn bán hàng theo các quyđịnh trong hợp đồng mua bán ngoại thương trên cơ sở điều kiện giao hàngnào? Nếu bán theo giá CIF, người bán phải mua bảo hiểm cho hàng hoá,sau đó ký vào hậu đơn đường biển để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểmcho người mua

*Đối với người mua (người nhập khẩu): Có trách nhiệm nhập hàngcủa người chuyên chở theo đúng số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp

Trang 16

đồng vận chuyển và hợp đồng mua bán, lấy giấy chứng nhận kiểm đếm,biên bản kết toán giao nhận hàng với chủ tàu, biên bản hàng hoá đổ vỡ dotàu gây nên (nếu có).

Nếu sai lệch về số lượng, chất lượng với hợp đồng mua bán, nhưngđúng với hợp đồng vận chuyển thì người mua bảo hiểm lưu quyền khiếunại đối với người bán Nếu phẩm chất, số lượng sai lệch so với biên bảngiao hàng thì người mua căn cứ vào hàng hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên

mà khiếu nại với người vận chuyển

Ngoài ra người mua còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoáhoặc nhận từ người bảo hiểm chuyển nhượng lại

*Người vận chuyển: có trách nhiệm chuẩn bị phương tiện vận

chuyển theo yêu cầu kỹ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải, giao nhậnđúng quy định theo hợp đồng vận chuyển Theo tập quán thương mại quốc

tế, tàu trở hàng cũng phải được bảo hiểm

Người vận chuyển còn có trách nhiệm cấp vận đơn cho người gửihàng Vận đơn (Bill of lading) là một chứng ttừ vận chuyển hàng trên biển

do người vận chuyển cấp cho người gửi hàng nhằm nói lên quan hệ pháp

lý giữa người vận chuyển, người gửi hàng và người nhận hàng

*Người bảo hiểm: có trách nhiệm đối với hàng hoá được bảo hiểm.Chẳng hạn, kiểm tra chứng từ hàng hoá, kiểm tra hành trình và bản thâncon tàu vận chuyển

Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, người bảohiểm có trách nhiệm giấm định, bồi thường tổn thất và đòi ngưòi thứ banếu họ gây ra tổn thất này

4.3 Điều kiện bảo hiểm

Điều kiện bảo hiểm là những quy định phạm vi trách nhiệm củangười bảo hiểm đối với tổn thất của hàng hoá Hàng được bảo hiểm theo

Trang 17

điều kiện bảo hiểm nào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện

đó mới được bồi thường Sau đây là các điều kiện bảo hiểm của Việnnhững người Bảo hiểm London (Institute of London Underwriters –ILU).Ngày 1/1/1963, ILU xuất bản ba điều kiện bảo hiểm hàng hoá làFPA, WA và AR Các điều kiện bảo hiểm này được áp dụng rộng rãitrong hoạt động thương mại quốc tế

Ngày 1/1/1982, ILU xuất bản các điều kiện bảo hiểm mới thay thếcác điều kiện bảo hiểm cũ Trong đó các điều kiện bảo hiểm hàng hoá mớibao gồm:

- Institute cargo clauses C (ICC C) -điều kiện bảo hiểm C

- Institute cargo clauses B (ICC C) -điều kiện bảo hiểm B

- Institute cargo clauses A (ICC C) -điều kiện bảo hiểm A

- Institute war clauses - điều kiện bảo hiểm chiến tranh

- Institute strikes clauses - điều kiện bảo hiểm đình công

So với các điều kiện bảo hiểm cũ, các điều kiện bảo hiểm mới trìnhbày rõ ràng, dễ hiểu Điều kiện mới đã khắc phục được sự mập mờ, khóhiểu và ngôn ngữ cổ được sử dụng trong điều kiện bảo hiểm cũ Tên gọicủa các điều kiện bảo hiểm là C, B, A thay cho các tên gọi cũ là FPA,

WA, AR nên dễ nhớ, dễ sử dụng hơn Và điều cơ bản là nội dung của cácđiều kiện bảo hiểm mới có những thay đổi Nội dung cụ thể của các điềukiện bảo hiểm mới như sau :

1, Điều kiện bảo hiểm C (ICC C)

Các rủi ro được bảo hiểm theo điều kiện này bao gồm:

- Tổn thất hay tổn hại của hàng hoá được bảo hiểm có nguyên nhânhợp lý do cháy nổ; tàu bị mắc cạn, chìm đắm, lật đổ; đâm va; dỡ hàng tạicảng lánh nạn

- Tổn thất chung

Trang 18

- Phần trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điềukhoản hai tàu đâm va nhau đều có lỗi

Các rủi ro loại trừ bao gồm:

- Tổn thất hay tổn hại do hành vi xấu, cố ý của người được bảo hiểm

- Rò rỉ, hao hụt thông thường về trọng lượng, khối lượng hoặc haomòn tự nhiên của đối tượng bảo hiểm

- Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hoá

- Tổn thất hoặc tổn hại do đóng gói bao bì không đủ điều kiện, khôngthích hợp

- Tổn thất hoặc tổn hại do không trả được nợ hoặc thiếu thốn tàichính của chủ tàu, người quản lý, người thuê tàu hoặc người khai thác tàu

- Tổn thất hoặc tổn thất do việc sử dụng bất kỳ một loại vũ khí chiếntranh nào có dùng phản ứng hạt nhân, phản ứng hoá học, chất phóng xạ -Thiệt hại cố ý hoặc sự phá hoại cố ý của đối tượng được bảo hiểm

do hành động phạm pháp của bất kỳ người nào

- Do tàu không đủ khả năng đi biển, hoặc không thích hợp cho việcvận chuyển hàng hoá mà người bảo hiểm đã biết tình trạng đó vào lúchàng hoá được xếp lên phương tiện vận tải

- Tổn thất do chiến tranh, nội chiến, bạo loạn, hành động thù địch,tịch thu, bắt giữ, quản chế giam cầm

- Tổn thất do mìn, thuỷ lôi, bom và các vũ khí chiến tranh khác

- Tổn thất được gây ra bởi người đình công, công nhân bị cấm xưởnghoặc những người tham gia gây rối loạn lao động, bạo động hoặc nổi loạn

- Tổn thất do bạo động chính trị

2, Điều kiện bảo hiểm B ( ICC C )

Theo điều kiện này, ngoài rủi ro được bảo hiểm (và rủi ro theo điềukiện C) ở trên, người bảo hiểm còn bồi thường tổn thất hay tổn hại đối với

Trang 19

hàng hoá được bảo hiểm do động đất, núi lửa, sét đánh; bị nước biển cuốnkhỏi tàu; nước biển, nước sông, nước hồ xâm nhập vào hầm tàu, vào nơi

để công-ten-nơ hoặc nơi để hàng; tổn thất nguyên kiện hàng do rơi khỏitàu hoặc trong quá trình xếp dỡ

3, Điều kiện bảo hiểm A (ICC A)

Đây là điều kiện bảo hiểm có phạm vi rộng nhất, bảo hiểm tất cảnhững hư hỏng, mất mát của hàng hoá, chỉ trừ những rủi ro loại trừ theoquy định Các điều kiện bảo hiểm C, B, A có hiệu lực từ ngày 1/4/1983 vàhiện nay được áp dụng rộng rãi trên thị trường thế giới

4, Điều kiện bảo hiểm chiến tranh

Theo điều kiện bảo hiểm này, những người bảo hiểm phải bồi thườngnhững mất mát hư hỏng hàng hoá do:

- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc xungđột dân sự xảy ra từ những biến cố đó hoặc bất kỳ hành động thù địchnào

- Chiếm đoạt, bắt giữ, kiềm chế hoặc kìm giữ

- Mìn, thuỷ lôi, bom hoặc vũ khí chiến tranh khác

- Tổn thất chung và chi phí cứu nạn

Phạm vi không gian và thời gian bảo hiểm chiến tranh hẹp hơn cácrủi ro thông thường Bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực khi hàng hoá bắt đầuxếp lên tàu biển và kết thúc khi hàng hóa được dỡ khỏi tàu tại cảng cuốicùng hoặc khi hết hạn 15 ngày kể từ nửa đêm ngày tàu đến cảng chuyểntải

Đối với rủi ro do mìn và ngư lôi, trách nhiệm của người bảo hiểmđược mở rộng ra cả khi hàng hoá còn ở trên xà lan để vận chuyển ra tàuhoặc từ tàu vào bờ nhưng không vượt quá 60 ngày kể từ ngày dỡ hàngkhỏi tàu, trừ có thoả thuận đặc biệt khác

Trang 20

5, Điều kiện bảo hiểm đình công

Theo điều kiện bảo hiểm này, chỉ bảo hiểm cho những mất mát, hưhỏng của hàng hoá được bảo hiểm do :

- Người đình công, công nhân bị cấm xưởng hoặc những người thamgia rối loạn lao động, bạo động hoặc nổi dậy

- Hành động khủng bố vì mục đích chính trị

- Tổn thất chung và chi phí cứu nạn

Người được bảo hiểm chỉ bồi thường những tổn thất do hành độngtrực tiếp của những người đình công mà không chịu trách nhiệm về nhữngthiệt hại do hậu quả của đình công

4.4 Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.

Hợp đồng bảo hiểm ( HĐBH) hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyểnbằng đường biển là một văn bản, trong đó người bảo hiểm cam kết sẽ bồithường cho người tham gia bảo hiểm các tổn thất của hàng hoá theo điềukiện đã ký kết, còn người tham gia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm

Khi có yêu cầu bảo hiểm cho hàng hoá, chủ hàng phải làm " giấy yêu

cầu bảo hiểm hàng hoá" Trong giấy yêu cầu bảo hiểm, người được bảo

hiểm phải báo cho người bảo hiểm biết mọi thông tin cần thiết về đốitượng bảo hiểm và những thông tin cần thiết khác để họ phán đoán rủi ro.HĐBH có hai loại : HĐBH chuyến và HĐBH bao

+ HĐBH chuyến

HĐBH chuyến là HĐBH cho một chuyến hàng được vận chuyển từđịa điểm này đến địa điểm khác ghi trong HĐBH Người bảo hiểm chỉchịu trách nhiệm về hàng hoá trong phạm vi một chuyến

HĐBH chuyến thường được trình bày dưới hình thức đơn bảo hiểmhay giấy chứng nhận bảo hiểm do người bảo hiểm cấp Đơn bảo hiểm

Trang 21

chính là một HĐBH chuyến đầy đủ Nội dung gồm hai phần: mặt trước vàmặt sau của đơn bảo hiểm Mặt trước của đơn bảo hiểm thường ghi cácchi tiết về hàng, tàu, hành trình Mặt sau của đơn bảo hiểm thường ghi cácđiều lệ hay quy tắc của công ty bảo hiểm.

Nội dung của HĐBH chủ yếu bao gồm :

- Ngày cấp đơn bảo hiểm

- Nơi ký kết HĐBH

- Tên và địa chỉ của người mua bảo hiểm

- Tên hàng được bảo hiểm

- Qui cách đóng gói, loại bao bì và ký hiệu mã hàng

- Số lượng và trọng lượng của hàng

- Cách xếp hàng lên tàu

- Cảng khởi hành, cảng chuyển tải và cảng cuối Trong trường hợpnơi đến của hàng ghi trong đơn bảo hiểm là một điểm nằm sâu trong nội,nghĩa là sau khi đến cảng cuối, phải chuyển tiếp hàng đến bằng phươngtiện khác đến điểm đã định và đến đây mới hết trách nhiệm của người bảohiểm, thì phải tăng thêm phụ phí bảo hiểm vì ngoài rủi ro hàng hải còn cóthêm rủi ro trên đoạn đường phụ trong toàn bộ hành trình được bảo hiểm

- Ngày khởi hành

- Giá trị bảo hiểm và số tiền được bảo hiểm

- Điều kiện bảo hiểm

- Phí bảo hiểm

- Địa chỉ của giám định viên bảo hiểm

- Phương thức và địa điểm trả tiền bồi thường, do người được bảohiểm chọn

- Số bản đơn được phát hành

+ Hợp đồng bảo hiểm bao (hợp đồng bảo hiểm mở)

Trang 22

HĐBH bao là HĐBH trong đó người nhận bảo hiểm nhận bảo hiểmmột khối lượng hàng vận chuyển trong nhiều chuyến kế tiếp nhau trongmột thời gian dài nhất định (thường là 1 năm) hoặc tiếp nhận bảo hiểmcho một lượng hàng vận chuyển nhất định (không kể thời gian).

Nội dung HĐBH bao gồm các vấn đề chung nhất, có tính nguyên tắcnhư: nguyên tắc chung, phạm vi trách nhiệm, việc đóng gói hàng, phươngtiện vận chuyển, giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm vàthanh toán phí bảo hiểm, giám định, khiếu nại đòi bồi thường, hiệu lựccủa hợp đồng, xử lý tranh chấp Trong hợp đồng phải có ba điều kiện cơbản sau:

- Điều kiện xếp hạng tàu được thuê chuyên trở hàng hoá sẽ được bảohiểm

- Điều kiện về giá trị bảo hiểm

- Điều kiện về giá trị tinh thần trên quan hệ thiện chí

Trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm bao, mỗi lần vậnchuyển hàng hoá, người tham gia bảo hiểm phải gửi giấy báo vận chuyểncho người bảo hiểm Nếu có thay đổi đặc biệt về số lượng, giá trị hàng thì phải tiến hành ký kết hợp đồng bảo hiểm khác

Sau khi cấp đơn bảo hiểm hoặc HĐBH, nếu người được bảo hiểmthấy cần bổ xung, sửa đổi một số điều và người bảo hiểm đồng ý thì ngườibảo hiểm sẽ cấp giấy bảo hiểm bổ xung

Ngoài ra đơn bảo hiểm có thể chuyển nhượng từ người đứng têntrong đơn cho một người khác nhận quyền lợi của bảo hiểm Người đượcbảo chỉ cần ký hậu vào đơn rồi trao lại đơn và các giấy tờ khác có liênquan cho người được nhượng

4.5 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm.

4.5.1 Giá trị bảo hiểm

Trang 23

Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của lô hàng Giá trị thực tế của lôhàng có thể là giá hàng hoá (giá FOB); cũng có thể bao gồm: giá hànghoá, cước phí vận chuyển, phí bảo hiểm và các chi phí khác có liên quan.

Ngoài ra để thoả mãn nhu cầu của người tham gia bảo hiểm, đối vớihàng thương mại, người bảo hiểm còn nhận thêm phần lãi dự tính, tức mứcchênh lệch giữa giá mua ở cảng đi và giá bán ở cảng đến (thực ra đây là lợinhuận thương mại, không hoàn toàn là giá trị của hàng được bảo hiểm)

Nếu giá trị bảo hiểm không chỉ tính bằng giá CIF mà còn thêm phầnlãi dự tính (thường là 10% giá CIF theo Incoterms), nghĩa là giá trị bảohiểm của hàng bằng CIF + 10%.CIF ( hoặc 110%CIF)

Công thức để xác định giá CIF :

Trong đó: C (Cost) : giá hàng được tính bằng giá FOB ở cảng đi

F ( Freight) : cước phí vận chuyển

V = C + F1 - R

Trang 24

C - Giá FOB của hàng hoá

a - Số % lãi dự tính

R - Tỉ lệ phí bảo hiểm

4.5.2 Số tiền bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm là số tiền được đăng ký bảo hiểm, ghi trongHĐBH

Số tiền bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá trị bảo hiểm

Hoá đơn hàng là tài liệu chắc chắn nhất để xác định giá trị bảo hiểmcủa hàng

- Nếu số tiền bảo hiểm bằng giá trị bảo hiểm, đó là "bảo hiểm nganggiá trị ", còn gọi là"bảo hiểm toàn phần"

- Nếu số tiền bảo hiểm cao hơn giá trị bảo hiểm, đó là "bảo hiểmtrên giá trị", hay còn gọi là "bảo hiểm vượt mức"

- Nếu số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm, đó gọi là " bảohiểm dưới giá trị ", còn gọi là "bảo hiểm dưới mức"

Trong thực tế chủ hàng thường bảo hiểm ngang giá trị

4.5.3 Phí bảo hiểm.

Phí bảo hiểm: là một khoản tiền nhỏ mà người được bảo hiểm phải trảcho người bảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất do các rủi ro đã thoảthuận gây nên

Phí bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá trị bảo hiểm hoặc số tiềnbảo hiểm và tỷ lệ phí bảo hiểm

Ta có:

Phí bảo hiểm = Số tiền bảo hiểm * tỷ lệ phí bảo hiểm

Tỷ lệ phí bảo hiểm được ghi trong hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuậngiữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm

Trang 25

Tỷ lệ phí bảo hiểm (R) gồm 2 phần: tỷ lệ phí chính (Rgốc) và tỷ lệ phíphụ (Rphụ)

- Luồng, tuyến vận chuyển

- Phụ phí mở rộng, phạm vi chuyển tiếp vào nội địa

- Phụ phí mua thêm rủi ro chiến tranh, đình công hay rủi ro phụ kèmtheo với các điều kiện B,C

- Phụ phí tàu già khi trở hàng nguyên chuyến hoặc tàu chỉ chở nguyênmột mặt hàng

Vậy ta có:

Phí gốc = Số tiền bảo hiểm * Rgốc

Phí phụ = Số tiền bảo hiểm * Rphụ

Như vậy: Phí bảo hiểm = Phí gốc + Phí phụ

Để tiết kiệm phí bảo hiểm người tham gia bảo hiểm nên lựa chọn điềukiện bảo hiểm cho phù hợp với:

- Tính chất của hàng hoá, giá trị của hàng hoá

- Tính chất của bao bị đóng gói và phương thức xếp hàng

- Đặc thù của tuyến đường vận chuyển, quãng đường vận chuyển

- Loại tàu chuyên chở

Các luật và Quy tắc bảo hiểm hàng hải đều lưu ý hợp đồng bảo hiểmchỉ có hiệu lực ngay sau khi phí bảo hiểm được trả, người bảo hiểm có quyềnhuỷ bỏ hợp đồng nếu người được bảo hiểm không thực hiện đúng nghĩa vụ trả

Trang 26

phí bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường khi xảy ra rủi ro trừ khi hai bên có thoảthuận khác.

4.6 Giám định và bồi thường tổn thất.

4.6.1 Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.

Khi phương tiện chở hàng bị tai nạn và đe doạ an toàn cho hàng hoácủa người được bảo hiểm thì người được bảo hiểm phải có trách nhiệmthông báo cho các cơ quan liên quan nơi gần nhất như cơ quan hàng hải,

cơ quan bảo hiểm để các cơ quan này có biện pháp để theo dõi và phòng

bị cho tàu và hàng hoá

Nếu được thông tin hay phát hiện thấy thực tế hàng hoá bị tổn thất thìngười được bảo hiểm cần làm ngay các việc sau :

- Thông báo cho người bảo hiểm biết và nếu thấy tình hình hàng hoátổn thất hoặc nghi ngờ có tổn thất thì cần làm giấy yêu cầu đề nghị ngườibảo hiểm giám định ngay Việc giám định hàng hoá được bảo hiểm tổnthất phải do người bảo hiểm tiến hành theo đơn đề nghị của người đượcbảo hiểm Nếu tổn thất không được giám định viên của người bảo hiểmgiám định thì sẽ không được bảo hiểm chấp nhận bồi thường

Trang 27

định riêng về thời gian cho phép khiếu nại theo luật trong nước, luật quốc

tế hay văn bản dưới luật

- Việc bảo vệ tài sản trước những tình huống có nguy cơthuộc phạm vi trách nhiệm của HĐBH đều đòi hỏi nỗ lực của cả hai bên

và khi đó chưa cần xét đến biện pháp giải quyết bồi thường của người bảohiểm Xuất phát từ đặc điểm người bảo hiểm có qui định việc người bảohiểm tham gia vào các biện pháp cứu hộ hay bảo vệ hàng hoá đều khôngthể coi là dấu hiệu của sự khước từ hay chấp nhận việc từ bỏ hàng hoá

4.6.2, Khiếu nại bồi thường.

Trong trường hợp xảy ra rủi ro, người được bảo hiểm khiếu nại đòibồi thường Các giấy tờ gửi cho người bảo hiểm bao gồm

- Thư khiếu nại hoặc công văn khiếu nại

- HĐBH và giấy sửa đổi bổ sung (nếu có) bản chính

- Hoá đơn, biên lai chi phí khác

Trong trường hợp các chứng từ trong bộ hồ sơ khiếu nại chưa làm sáng tỏđược tổn thất có thuộc trách nhiệm hay không, người bảo hiểm yêu cầucung cấp thêm các chứng từ sau :

- Hợp đồng mua bán

- Thư tín dụng

Trang 28

- Giấy chứng nhận đăng kiểm tàu.

- Các biên bản của công an, chính quyền cảng

Sau khi kiểm tra chứng từ và thanh toán bồi thường, mọi khoảnkhiếu nại và quyền khiếu nại của người bảo hiểm đối với những người thứ

ba đều được chuyển sang cho người bảo hiểm mà giới hạn là số tiền đãbồi thường

Sau khi bồi thường tổn thất toàn bộ, người bảo hiểm có quyền thuhồi phần còn lại của hàng hoá đã được bồi thường

Người được bảo hiểm muốn khiếu nại tổn thất toàn bộ ước tính chohàng hoá được bảo hiểm phải gửi thông báo từ bỏ hàng cho người bảohiểm Thông báo phải đưa ra không chậm trễ với mục đích để người bảohiểm có cơ hội giảm thiểu hay ngăn ngừa tổn thất (như bán hàng dọcđường) Thông báo từ bỏ hàng phải làm thành văn bản và trong mạitrường hợp để biết ý định của người được bảo hiểm là từ bỏ không điềukiện mọi quyền lợi về hàng hoá được bảo hiểm cho người được bảo hiểm.Nếu người bảo hiểm chấp nhận thông báo từ bỏ hàng nghĩa là người bảohiểm chấp nhận trách nhiệm bồi thường như bồi thường tổn thất toàn bộthực tế và co quyền sở hữu phần còn lại của hàng hoá Việc từ bỏ hàngkhông được thay đổi sau khi người bảo hiểm thông báo chấp nhận từ bỏhàng Tuy nhiên trước khi thông báo từ bỏ hàng, người bảo hiểm phải cónhững biện pháp tích cực nhằm ngăn ngừa, hạn chế tổn thất Nếu người

Trang 29

bảo hiểm không chấp nhận từ bỏ hàng, các quyền lợi của người được bảohiểm trong HĐBH vẫn không thay đổi.

Trang 30

4.6.3, Giám định và bồi thường tổn thất

Giám định là việc làm của người bảo hiểm hoặc người được uỷ thácnhằm đánh giá, xác định nguyên nhân, mức độ, trách nhiệm đối với tổnthất của đối tượng được bảo hiểm để làm cơ sở cho việc tín toán tiền bồithường Khi hàng hoá được bảo hiểm bị tổn thất (hư hỏng, đổ vỡ, thiếuhụt ), yêu cầu giám định trong thời gian qui định Sau khi giám địnhxong, cán bộ giám định sẽ cấp chứng từ giám định, trong đó có xác địnhmức độ tổn thất hay mức giảm giá trị thương mại của hàng hoá làm cơ sởcho việc bồi thường

Việc bồi thường tổn thất phải tuân thủ các nguyên tắc sau :

- Nguyên tắc thứ nhất : số tiền bảo hiểm là giới hạn tối đa của số tiềnbồi thường của người bảo hiểm Tuy nhiên các khoản tiền sau(ngoài sốtiền tổn thất) cũng được bồi thường: các chi phí chi ra để cứu vớt hànghoá, chi phí cứu nạn, phí giám định, chi phí bán đấu giá hàng bị hư, tiềnđóng góp tổn thất chung dù tổng số tiền bồi thường vượt quá số tiền bảohiểm

- Nguyên tắc thứ hai: Bồi thường bằng tiền, không bồi thường bằnghiện vật Thông thường nộp phí bảo hiểm bằng tiền tệ nào thì bồi thườngbằng tiền bảo hiểm đó

- Nguyên tắc thứ ba: Khi trả tiền bồi thường, người bảo hiểm sẽ khấutrừ các khoản tiền bảo hiểm mà người được bảo hiểm đã đòi được ở ngườithứ ba

Sau đó, người bảo hiểm bồi thường như sau:

+ Bồi thường tổn thất chung

- Người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm phần đónggóp vào tổn thất chung dù hàng được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểmnào Nếu số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị phải đóng góp vào tổn thất

Trang 31

chung, người bảo hiểm chỉ bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền được bảohiểm và giá trị phải đóng góp vào tổn thất chung.

- Không bồi thường trực tiếp cho người được bảo hiểm mà thanh toáncho người tính toán tổn thất chung do hãng tàu (người chuyên chở) chỉđịnh

- Số tiền bồi thường này cộng thêm hay khấu trừ vào phần chênh lệchgiữa số tiền thực tế đã đóng góp vào tổn thất chung và số tiền phải đónggóp vào tổn thất chung

+ Bồi thường tổn thất riêng

- Đối với tổn thất toàn bộ thực tế: bồi thường toàn bộ số tiền bảohiểm

- Đối với tổn thất toàn bộ ước tính: bồi thường toàn bộ số tiền bỏhiểm nếu người được bảo hiểm từ bỏ hàng

Trường hợp người được bảo hiểm không từ bỏ hàng hoặc xin từ bỏhàng nhưng người bảo hiểm không chấp nhận, sẽ bồi thường theo mức độtổn thất thực tế

- Đối với những tổn thất bộ phận: bồi thường số kiện, số bao bì hàng

bị thiếu, mất hoặc bồi thường theo mức giảm giá trị thương mại của phầnhàng bị tổn thất

Ngoài ra, nếu trong HĐBH hàng hoá xuất nhập khẩu có ấn định mứcmiễn thường của công ty bảo hiểm thì khi tổn thất xảy ra, xác định số tiềnbồi thường đối với giá trị hàng hoá bị tổn thất thì phải xét đến mức miễnthường này

Mức miễn thường này là tỷ lệ miễn giảm trách nhiệm bồi thường củangười bảo hiểm khi tổn thất xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm

Có hai loại mức miễn thường: Miễn thường có khấu trừ và miễnthường không khấu trừ Theo HĐBH có áp dụng miễn thường có khấu trừ

Trang 32

x%, nếu tổn thất xảy ra vượt quá x% số tiền bảo hiểm thì người bảo hiểm

sẽ bồi thường số tổn thất vượt quá đó Theo HĐBH có áp dụng miễnthường không khấu trừ x%, nếu tổn thất vượt quá x% số tiền bảo hiểm thìngười bảo hiểm sẽ bồi thường toàn bộ tổn thất

Lưu ý: Người bảo hiểm chỉ có trách nhiệm bồi thường trong phạm vi

số tiền bảo hiểm Nếu số tiền bảo hiểm cả hàng hoá thấp hơn giá trị bảohiểm (mua bảo hiểm dưới giá trị) thì người bảo hiểm chỉ bồi thườngnhững mất mát, hư hỏng, thiệt hại và các chi phí trong phạm vi tráchnhiệm của họ theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm Nếu sốtiền bảo hiểm của hàng hoá cao hơn giá trị bảo hiểm thì người bảo hiểmchỉ bồi

thường theo thiệt hại thực tế Tuy nhiên trong trường hợp phải tuânthủ ý kiến của người bảo hiểm để thực hiện các biện pháp đề phòng vàhạn chế tổn thất thì người bảo hiểm phải thanh toán cho người được bảohiểm những chi phí cần thiết và hợp lý khi áp dụng biện pháp này, dù chotổng

số tiền bồi thường có thể vượt quá số tiền bảo hiểm

Khi thanh toán bồi thường, người bảo hiểm có thể khấu trừ vào tiềnbồi thường của người được bảo hiểm trong việc bán hàng hoá cứu được vàđòi người thứ ba

Trong trường hợp tàu bị mất tích, hàng hoá được coi là tổn thất toàn

bộ ước tính hoặc hàng bị mất mà sau khi đã bồi thường, lại tìm thấy đượchàng thì số hàng đó thuộc quyền sở hữu của người bảo hiểm

Trang 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN

BẰNG ĐƯỜNG BIỂN Ở PJICO

I Vài nét về Công ty cổ phần bảo hiểm PJICO

Tổng công ty xăng dầu Việt Nam Petrolimex - người đề xướng và chủ trì

dự án- cùng với 6 cổ đông sáng lập đã thành lập nên Công ty cổ phần bảohiểm Petrolimex - gọi tắt là PJICO (Petrolimex joint-stock insurancecompany) Ngày 27/05/1995 Công ty đã được Bộ tài chính cấp giấy chứng

nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện kinh doanh bảo hiểm số 06-TC/GCN Ngày 8/6/1995 Công ty được UBND TP Hà Nội cấp giấy phép thành lập số

183/GP-UB và ngày 15/06/1995 Uỷ ban kế hoạch (nay là sở kế hoạch - đầu

tư) TP Hà nội cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Tên công ty: Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex

Tên giao dịch quốc tế: Petrolimex joint – stock insurance company Tên viết tắt: PJICO

Hình thức hoạt động: Công ty cổ phần.

Vốn điều lệ: 55 tỷ đồng

Thời gian hoạt động: 25năm

Ngành nghề kinh doanh: kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

- Trụ sở chính của công ty 532 đường láng Hà Nội

Có thể nói, PJICO là công ty cổ phần bảo hiểm được thành lập đầu tiên

ở Việt Nam, là sự tập hợp sức mạnh kinh tế và uy tín của các tổng công ty lớncủa Nhà nước cũng như 1251 cổ đông thể nhân

Trang 34

Sơ đồ 1: Bộ máy quản lý của PJICO

Theo cơ cấu này các phòng sẽ thực hiện chức năng chuyên môn củamình một cách hiệu quả nhất đồng thời hỗ trợ cho nhau để có thể hoàn thànhtốt nhiệm vụ được giao Các phòng cũng đóng vai trò trực tiếp tham mưu cốvấn kinh doanh cho tổng giám đốc

Đại hội cổ đông

P.BH tài sản- kỹ thuật

P BH con người

P BH

xe cơ giới

P.giám định bồi thường

P tái bảo hiểm

P.BH hàng hóa

P TT_ QLNV

P.

tổng hợp

P.

tổ chức

Các VP đại diện Các chi nhánh Các tổng đạilí & đại lí

Ban kiểm soát

Trang 35

Ngay sau khi thành lập, PJICO đã nhanh chóng tiếp cận thị trường,đếnnay công ty đã triển khai trên 70 sản phẩm bảo hiểm và hiện đang chiếm lĩnhthị trường trong nhiều lĩnh vực như: Giao thông vận tải, xây dựng và lắp đặtcông trình, xăng dầu, hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểmcon người và bảo hiểm tàu thủy.Ngoài ra công ty còn hoạt động cả lĩnh vựcnhận và nhượng tái bảo hiểm , hoạt động đầu tư tài chính…

II Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở PJICO.

2.1.Hoạt động khai thác bảo hiểm :

Khai thác là một khâu rất quan trọng trong các doanh nghiệp, các công

ty Họ khai thác đầu vào như nguồn cung cấp nguyên vật liệu khai thác lợi thếthương mại cuối cùng là khâu khai thác và tìm kiếm thị trường tiêu thụ sảnphẩm Khâu này rất quan trọng nó quyết định đến sự sống còn của công ty.Doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh dịch vụ tài chính không có hoạt động sảnxuất cho nên họ chủ yếu tập trung vào khai thác thị trường Nếu công ty khaithác tốt tức là bán được nhiều hợp đồng bảo hiểm mang lại doanh thu lớn sẽ

là cơ sở để tăng lợi nhuận, chiếm lĩnh thị phần, nâng cao vị thế của mình trênthị trường bảo hiểm Chính vì tính chất quan trọng của khâu khai thác mà hầuhết các công ty bảo hiểm phải lập ra các chiến lược khai thác Công việc khaithác càng trở lên khó khăn hơn trong điều kiện thị trường cạnh tranh ngàycàng gay gắt, trước tình hình đó đòi hỏi các công ty phải tổ chức tốt khâu khaithác

Công ty đã tổ chức hoạt động khai thác một cách có kế hoạch với chiếnlược khai thác cụ thể và chặt chẽ, bên cạnh đó là việc xây dựng được quytrình khai thác hoàn chỉnh

Trang 36

Sơ đồ 2 : Quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK

vận chuyển bằng đường biển của PJICO:

Đối với PJICO mục tiêu và cũng là thước đo hiệu quả của khâu khaithác là xây dựng và phát triển một thị trường bảo hiểm hàng hoá XNK ổn

Tiếp thị, nhận yêu cầu bảo hiểm

Phân tích, điều tra

và đánh giá rủi ro

Chuẩn bị đơn/hợp đồng/GCNBH

Ký duyệt đơn/hợp đồng/GCNBH

Đóng dấu, chuyển đơn/hợp đồng/GCNBH lưu nghiệp

vụ

Quản lý đơn/hợp đồng/GCNBH

Xem xét đề nghị bảo hiểm

Đàm phán

Chào phí

Xử lý trên phân cấp

Từ chối, kết thúc

Trang 37

định lâu dài và tăng trưởng cao, để làm được điều đó công ty cần phải làmđược một số việc sau:

Vào đầu năm các nhân viên của phòng bảo hiểm hàng hóa phải thuthập được thông tin về kim ngạch XNK như chủng loại hàng hoá, sốlượng hàng hoá của từng công ty XNK qua đó sẽ tập hợp số liệu để lập kếhoạch khai thác và định mức thu phí trong năm cho các đối tượng Đối vớikhách hàng mới thì các cán bộ phải tìm cách tiếp cận để tìm hiểu vềngành hàng, nhóm hàng, cách thức đóng gói chất xếp, luồng vận chuyển.Các nhân viên phải tìm cách tiếp cận được với những khách hàng này cho

họ thấy sự hiện diện của công ty và giúp họ hiểu hơn về sản phẩm màcông ty có thể cung cấp Cụ thể phòng hàng hóa phải chuẩn bị tài liệuchào phí kèm theo điều kiện bảo hiểm, các báo cáo tài chính trong một sốnăm gần đây để chứng minh cho họ thấy vị thế cũng như khả năng tàichính của doanh nghiệp Thông qua tư vấn giúp đỡ các công ty XNK lựachọn các điều kiện bảo hiểm phù hợp

Đối với các khách hàng cũ, các khách hàng truyền thống, các nhânviên phải thuyết phục được họ tái tục hợp đồng một cách tự nguyện.Lượng khách hàng truyền thống này sẽ đảm bảo cho công ty một doanhthu ổn định Một công ty bảo hiểm có lượng khách hàng truyền thốngchiếm tỉ lệ cao chứng tỏ chất lượng dịch vụ của công ty là rất tốt và biểuphí phù hợp

Trong quá trình thực hiện kế hoạch công ty thường xuyên cử nhânviên nhắc nhở khách hàng mua bảo hiểm theo đúng thời gian quy định,đồng thời hướng dẫn họ mua bảo hiểm hết phần kim ngạch nhập về theogiá FOB, CF và phần kim ngạch xuất theo giá CIF Mặt khác theo dõi sốliệu về hàng hoá XNK của từng đơn vị và đối chiếu khối lượng khách

Trang 38

hàng mua bảo hiểm nếu tỷ lệ hàng hoá được bảo hiểm so với kim ngạch

mà thấp thì công ty cần phải tìm ra lý do để có sự điều chỉnh phù hợp Tỷ

lệ phí là mối quan tâm lớn của khách hàng Đối với hàng hoá XNK giá trịrất lớn chỉ cần một tỷ lệ nhỏ trong phí cũng là một khoản phí khá lớn Vấn

đề đặt ra cho phòng hàng hải là phải nắm vững cách thức tính phí, các yếu

tố cấu thành lên phí cũng như là đối tượng được bảo hiểm để tính ra mứcphí phù hợp nhất Đến cuối năm phòng hàng hóa tổng kết tập hợp số liệu

để tính ra một số chỉ tiêu hiệu quả khai thác từ đó đề ra một chiến lượckhai thác cho năm nghiệp vụ mới

2.2.Cấp đơn bảo hiểm

Khi nhận được giấy yêu cầu bảo hiểm, phòng hàng hóa phải xem xétviệc cấp đơn theo trình tự sau:

a Kiểm tra chứng từ và thẩm đinh rủi ro

a.1 Thẩm định rủi ro

- Đây là bước nghiên cứu để dự kiến mức độ rủi ro có thể xảy ra đốivới lô hàng và tàu trong suốt hành trình

- Đối với tàu chở hàng các cán bộ khai thác của công ty phải xemxét kỹ các yếu tố sau:

Thứ nhất: quốc tịch của tàu và chủ tàu, điều này có ảnh hưởng rấtlớn đến độ an toàn của hành trình Chẳng hạn tàu có quốc tịch Đông Âuthường xảy ra tổn thất hơn các tàu của vùng khác

Thứ hai : Đối với những lô hàng có giá trị lớn trên 1 triệu USD, cáckhai thác viên phải yêu cầu khách hàng phải thông báo cho công ty về con tàuvận chuyển trước ít nhất là một ngày để công ty có thể tìm hiểu về tàu và chủtàu Nếu thông tin nhận được là khả quan thì mới chấp nhận bảo hiểm

Trang 39

Thứ ba: khả năng tài chính của chủ tàu Nếu chủ tàu có khả năng tàichính tốt thì thường ít xảy ra tranh chấp.

Thứ tư: Tuổi của tàu đối với tàu già, khả năng gây tổn thất sẽ tăng lênthậm chí không đủ khả năng đi biển Trong trường hợp này cần thu thêm phụphí tàu già Nếu khách hàng nhập hàng theo giá CF thì khai thác viên đề nghịkhách hàng áp đặt vấn đề của tàu và bảo lưu quyền đòi lại phí tàu già trên hợpđồng mua bán Đối với hàng hoá bảo hiểm các nhân viên cần phải xem xét cácvấn đề sau: Vấn đề thứ nhất là loại hàng (bao gồm chủng loại, tính chất nội tỳhàng hóa) Vấn đề thứ hai là phương thức đóng gói, bao bì, chất xếp hàng hoá,phương thức vận chuyển, ký mã hiệu

Đối với cảng đi, cảng đến: Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến nguy

cơ xảy ra tổn thất cho hàng hoá vì nó chứa đựng rất nhiều các yếu tố liênquan như người bán hàng, người nhận hàng, tình trạng bốc xếp, tập quáncủa cảng Qua việc nghiên cứu cảng đi, cảng đến nhân viên bảo hiểm biếtđược những rủi ro hàng hoá nào có thể gặp đối với hành trình, biết được

lô hàng có phải chuyển tải hay không và chuyển tải ở cảng nào Từ đó chinhánh sẽ có biện pháp cần thiết cũng như khuyến cáo với khách hàngnhằm ngăn ngừa và hạn chế tổn thất

Khả năng tài chính của khách hàng: Khai thác viên luôn phải theosát quá trình thanh toán phí của khách hàng để có thể phân biệt được loạikhách hàng theo tiêu chuẩn thanh toán tốt hay xấu từ đó có biện pháp sử

lý kịp thời tránh tình trạng dây dưa nợ đọng phí

a.2 Kiểm tra chứng từ:

Trước hết cán bộ bảo hiểm phải kiểm tra tính hợp lý của người yêucầu bảo hiểm, chỉ khi người được bảo hiểm khai rõ tất cả các đề nghị insẵn thì giấy yêu cầu bảo hiểm mới được coi là hợp lệ

Trang 40

- Đối với hàng nhập chỉ chấp nhận ”báo sau” các đề mục liên quanđến phương tiện vận chuyển như: Tên tàu, ngày khởi hành, số hợp đồngvận chuyển với cam kết của khách hàng là tàu đủ khả năng đi biển Đồngthời yêu cầu khách hàng cung cấp đủ các chi tiết khi nhận được bộ chứng

từ Nếu khách hàng khai thiếu một trong các đề mục cơ bản sau: Tên mặthàng, giá trị bảo hiểm, tuyến hành trình, điều kiện bảo hiểm thì các khaithác viên yêu cầu khách hàng phải bổ sung ngay

- Đối với hàng xuất: Bên cạnh giấy yêu cầu bảo hiểm khách hàngcần phải cung cấp thêm một số tài liệu sau:

+ Vận tải đơn

+ Hoá đơn thương mại

+ Thư tín dụng (nếu việc thanh toán mua bán bằng thư tín dụng)Bên cạnh đó cán bộ còn phải xem xét kỹ đặc điểm tính chất hànghoá, phương thức đóng gói, xếp hàng, tuyến hành trình, điều kiện bảohiểm mà khách hàng yêu cầu Nếu tàu trở nguyên chuyến một mặt hàng,chi nhánh sẽ yêu cầu khách hàng cung cấp thêm tàu và bảng thông báo chitiết tàu để tính thêm phụ phí

b.Vấn đề chấp nhận, từ chối bảo hiểm

- Từ chối bảo hiểm: Sau khi kiểm tra nếu thấy chứng từ không hợp

lệ và không thể căn cứ vào đó để cấp đơn bảo hiểm, khai thác viên bảohiểm sẽ từ chối ngay bằng cách lập công văn từ chối và gửi bằng fax hayqua đường bưu điện kèm theo các tài liệu giải thích cho khách hàng hiểu

- Chấp nhận bảo hiểm: Sau khi kiểm tra hồ sơ yêu cầu bảo hiểmphân tích số liệu thống kê, phân tích khả năng tài chính của khách hàng,

Ngày đăng: 09/04/2013, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Kinh tế bảo hiểm – chủ biên : PGS.TS Nguyễn Văn Định Khác
2. Giáo trình Quản Trị kinh Doanh Bảo Hiểm- chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Văn Định 3. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm hàng hóa- GS-TS Trương Mộc Lâm Khác
7. Các bản tin của hiệp hội bảo hiểm Khác
8. Thị trường bảo hiểm- Bộ tài chính ( Các năm 2002- 2007) 9. Tạp chí bảo hiểm Khác
12. Báo cáo thường niên các năm của PJICO Khác
13. Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam- PJICO 2005 Khác
14. Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển- PJICO 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Bộ máy quản lý của PJICO - Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty bảo hiểm PJICO, Thực trạng và giải pháp
Sơ đồ 1 Bộ máy quản lý của PJICO (Trang 34)
Sơ đồ 2 : Quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK  vận chuyển bằng đường biển của PJICO: - Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty bảo hiểm PJICO, Thực trạng và giải pháp
Sơ đồ 2 Quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển của PJICO: (Trang 36)
Bảng 1: doanh thu phí của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển  bằng đường biển của PJICO(2002-2007) - Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty bảo hiểm PJICO, Thực trạng và giải pháp
Bảng 1 doanh thu phí của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển của PJICO(2002-2007) (Trang 43)
Bảng 2:Tình hình chi  giám định và chi đề phòng hạn chế tổn thất của nghiệp vụ (2003-2007): - Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty bảo hiểm PJICO, Thực trạng và giải pháp
Bảng 2 Tình hình chi giám định và chi đề phòng hạn chế tổn thất của nghiệp vụ (2003-2007): (Trang 49)
Bảng 4: Kết quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển  bằng đường biển tại PJICO (2002-2007) - Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty bảo hiểm PJICO, Thực trạng và giải pháp
Bảng 4 Kết quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển tại PJICO (2002-2007) (Trang 56)
Bảng 5 : Thị phần của một số công ty bảo hiểm trong ngiệp vụ bảo  hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển qua các năm. - Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty bảo hiểm PJICO, Thực trạng và giải pháp
Bảng 5 Thị phần của một số công ty bảo hiểm trong ngiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển qua các năm (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w