1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổng kết kinh nghiệm tích hợp giáo dục môi trường trong giảng dạy môn địa lí lớp 7

15 3,4K 50
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng kết kinh nghiệm tích hợp giáo dục môi trường trong giảng dạy môn địa lí lớp 7
Tác giả Trương Hoài Phong
Trường học Trường THCS Thị Trấn Cái Bè
Chuyên ngành Địa Lí
Thể loại Chuyên đề
Thành phố Cái Bè
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 140,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng kết kinh nghiệm tích hợp giáo dục môi trường trong giảng dạy môn địa lí lớp 7

Trang 1

PHẦN 1:ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Giữa con người và môi trường có mối quan hệ mật thiết với nhau Từ khi con người xuất hiện trên trái đất mối quan hệ đó là mối quan hệ hòa thuận Cùng với sự tiến bộ của xã hội loài người và theo thời gian dân số ngày một tăng lên, nhu cầu của con người ngày càng phức tạp hơn Cùng với sự hiểu biết

về môi trường không đầy đủ khiến cho mối quan hệ này trở nên “mâu thuẫn”

Đầu thế kỷ XX, hàng loạt các sự cố về môi trường: Hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ô zôn, ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu toàn cầu Tình hình

đó đã đặt toàn nhân loại đứng trước một thảm họa môi trường được dự báo trước, để khắc phục thảm họa đó nhiều cuộc hội thảo, hội nghị ở tầm cỡ quốc tế

đã diễn ra:

- Từ ngày mồng 5 đến ngày 16 tháng 6 năm 1972 Hội nghị Quốc tế về môi trường và con người được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển)

- Từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 10 năm 1975, IEEP đã tổ chức hội thảo Quốc

tế về giáo dục môi trường (GDMT) tại Bêôgrat

- Tháng 11 – 1976 hội thảo môi trường ở châu Á được tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan)

- Ngày 14 đến ngày 26 tháng 10 năm 1977 hội nghị quốc tế về GDMT được tổ chức tại Tbilisi ( Gru dia )

- Từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 8 năm 1987 UNESCO và UNEP tổ chức hội nghị Quốc tế về GDMT tại Matxcơva

Tất cả những kì hội nghị, hội thảo trên mặc dù diễn ra trong khoảng thời gian khác nhau nhưng đều có một điểm chung là nhấn mạnh mối quan hệ giữa con người và sinh quyển trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục GDMT đã vượt ra khỏi biên giới chính trị, tư tưởng của các quốc gia trên thế giới Để bảo vê cái nôi sinh thành của mình, con người phải thực hiện hàng loạt các vấn đề, trong đó có vấn đề GDMT.Cũng vì thế, ngày mùng 5 tháng 6 hàng năm trở thành “Ngày môi trường thế giới”

Ở nước ta ngày 15/11/2004 Bộ chính trị đã ra nghị quyết 41/NQ-TƯ về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết đã xác định: “Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là yếu tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta” Một trong những giải pháp hàng đầu, đó là: Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng, bảo vệ môi trường Việc giáo dục môi trường ở nhà trường phổ thông là một quá trình nhận thức giúp các em hiểu biết về thiên nhiên và môi trường, từ đó giáo dục cho các

Trang 2

em ý thức quan tâm thường xuyên đến môi trường, dần dần hình thành ở các em lòng yêu thích tôn trọng thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống, phong cảnh đẹp, các di tích văn hoá lịch sử của đất nước

Thực tế trong những năm giảng dạy cũng như dự giờ đồng nghiệp ở trường THCS Thị Trấn Cái Bè và một số giờ dạy của đồng nghiệp ở các trường khác trong huyện, tôi đã nhận thấy ý thức bảo vệ môi trường của đa số học sinh chưa cao Bên cạnh đó còn có tình trạng học sinh cho rằng bảo vệ môi trường là trách nhiệm của chính quyền hoặc của người lớn.Thực trạng đó cho thấy công tác GDMT còn rất hạn chế

Từ những thực tế trên, với cương vị là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Địa Lí tôi rất băn khoăn là làm thế nào để tích hợp giáo dục môi trường vào giảng dạy có hiệu quả, mang tính giáo dục cao, phù hợp với từng khối lớp, từng đối tượng học sinh, gây được sự hứng thú học tập của học sinh, nhưng lại không làm mất đi đặc trưng riêng của môn học Từ suy nghĩ trên nên tôi đã quyết định chọn và viết chuyên đề: “Giải pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy một số bài Địa Lí 7 đạt hiệu quả”

Đã có không ít những tác giả đã đưa ra vấn đề này ở nhiều tác phẩm với nhiều góc độ khác nhau:

- Lê Thông, Nguyễn Hữu Dũng trong cuốn “ Dân số môi trường và tài nguyên “, Nhà xuất bản giáo dục – 2000

- Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Phi Hạnh, Đặng Văn Đức trong cuốn “Giáo dục môi trường qua môn Địa Lí ở trường phổ thông”, Nhà xuất bản Hà Nội – 2003

- Tác giả Nguyễn Đình Khoa trong cuốn “Môi trường sống và con người”, Nhà xuất bản Hà Nội – 1987

Ngoài ra còn nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề môi trường ở nhiều góc

độ khác nhau

Kết quả nghiên cứu của các tác giả là hết sức to lớn Song những vấn đề

đó được đề cập ở phạm vi rộng lớn và mang tính bao quát Qua bài viết này, đối tượng được lựa chọn là học sinh trường THCS Thị trấn Cái Bè với nhiệm vụ chính là tìm hiểu thực trạng nhận thức bảo vệ môi trường của học sinh khối lớp

7 Đồng thời tìm hiểu những nguyên nhân và đưa ra những biện pháp cụ thể để khắc phục thực trạng đó, thông qua những biện pháp tích hợp GDMT vào bài giảng

Trang 3

PHẦN 2:

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VẬN DỤNG.

A / ĐẶC ĐIỂM VỀ MÔI TRƯỜNG :

1.1: Khái niệm về môi trường:

Khái niệm về “môi trường” là một khái niệm phức tạp có phạm vi rộng lớn Với bài tổng kết kinh nghiệm này chỉ nêu ra một số khái niệm ở những góc

độ dễ hiểu nhất Theo nghĩa rộng nhất thì:” Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hay một sự kiện ” Theo nghĩa đen:“ Môi trường là một vùng vật lí và sinh học xung quanh loài người có mối quan hệ chặt chẽ với con người”

1.2: Các loại môi trường:

- Môi trường khí quyển

- Môi trường nước

- Môi trường đất

- Môi trường sinh học

- Môi trường đô thị

B/ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG QUA MÔN ĐỊA LÍ LỚP 7.

1:Khái niệm về giáo dục:

Khái niệm giáo dục được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng: “Giáo dục bao gồm cả việc dạy lẫn việc học cùng với hệ thống các tác động sư phạm khác diễn ra trong và ngoài lớp, trong và ngoài nhà trường cũng như trong gia đình

và ngoài xã hội” Còn theo nghĩa hẹp:“ Giáo dục được hiểu như là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về mặt đạo đức tư tưởng và hành vi nhằm hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, tinh cảm, thái độ và những thói quen hành vi cư

xử đúng đắn trong xã hội”

2: Khái niệm GDMT:

Theo hội nghị GDMT ở Tbilisi, 1977:

“GDMT là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục Nó nên được tập

trung vào những vấn đề thực tiễn và mang tính chất liên thông Nó nên nhằm vào xây dựng giá trị, đóng góp vào sự nghiệp phồn vinh của cộng đồng và liên quan đến sự sống của nhân loại, ảnh hưởng của nó nên ở thời gian khởi đầu của người học và liên quan đến môi trưởng của họ trong hoạt động Nó nên được hướng dẫn ở cả các môn học hiện tại và tương lai có liên quan”.

3: Các phương pháp GDMT:

- Phương pháp giảng thuật

- Phương pháp giảng giải

- Phương pháp đàm thoại

.- Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan

- Phương pháp thí nghiệm

- Phương pháp gạn lọc các giá trị

- Phương pháp thảo luận

Trang 4

- Phương pháp đóng vai.

- Phương pháp nghiên cứu tình huống

- Phương pháp thực địa

- Phương pháp động não

Trên đây là những phương pháp cụ thể để thực hiện mục đích cuối cùng

là GDMT cho học sinh trên địa bàn

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.

Thực trạng GDMT ở nhà trường:

Ngay từ năm 1960 vấn đề bảo vệ môi trường đã được đặt ra nghiêm túc

và đã được nghiên cứu để tích hợp vào chương trình dạy học ở các trường THCS nhưng với mức độ còn hạn chế Đầu thập kỉ 80 nội dung GDMT đã được tích hợp vào chương trình giảng dạy các môn có nhiều khả năng tích hợp, trong đó môn Địa Lí được coi là phù hợp nhất Tuy nhiên chương trình GDMT ở trường THCS nói riêng và các cấp bập học khác nói chung chưa thống nhất Các phương pháp GDMT còn nặng về cung cấp kiến thức hơn là hình thành thái độ cảm xúc, hành vi quan tâm đến môi trường và vì môi trường cho học sinh

Thực trạng ý thức về môi trường của học sinh trường THCS Thị trấn Cái Bè:

Mặc dù là một ngôi trường đóng chân trên địa bàn có mặt bằng dân trí khá cao, nhưng ý thức về môi trường của các em còn ở mức độ mơ hồ Chẳng hạn như “ Không vào rừng chặt phá bừa bãi những cây gỗ lớn” là đã bảo vệ môi trường, nhưng bên cạnh đó còn có rất nhiều vấn đề gần gũi như bảo vệ khuôn viên trường học, đường làng ngõ xóm, trồng nhiều cây xanh

đó là chưa kể nhìn ở góc độ xa hơn là thực trạng đốt rừng tự nhiên lấy đất trồng hoa màu mà không đi đôi với công tác bảo vệ rừng và trồng thêm nhiều rừng mới

Để nắm rõ về mức độ cụ thể bài tổng kết kinh nghiệm đã tiến hành điều tra với một loạt các câu hỏi trắc nghiệm được tiến hành trên 100 học sinh kết quả thu được như sau:

Số lượng học sinh trả lời chưa

đạt

Số lượng học sinh trả lời đạt 15 42,8 13 40,7 15 45,5 Đây chỉ là những câu trắc nghiệm đơn giản nhưng tỉ lệ học sinh trả lời đúng còn thấp Qua đó chứng tỏ ý thức về môi trường của học sinh còn thấp

CHƯƠNG 3: NHUYÊN NHÂN HẠN CHẾ TRONG Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA HỌC SINH VÀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC.

Trang 5

I/ NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ TRONG Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA HỌC SINH :

* Với học sinh: Khi đưa ra câu hỏi “ Em chưa thực sự tham gia vào

công tác bảo vệ môi trường là do đâu ? ” Hầu hết đều có chung một câu trả

lời “ Em chẳng biết tham gia như thế nào, ai hướng dẫn”.Như vậy nhìn từ phía học sinh nguyên nhân là do các em chưa hiểu được là phải làm gì để bảo

vệ môi trường, còn mơ hồ trong nhận thức, còn thờ ơ trước những thay đổi theo chiều hướng tiêu cực của môi trường và quá quen với những phong tục tập quán lạc hậu đã có từ lâu, dẫn đến ý thức về bảo vệ môi trường còn hạn chế

* Với nhà trường và các cấp có trách nhiêm: Chưa thật sự quan tâm,

giáo dục các em ý thức được rằng: môi trường ngày càng xấu đi và sự suy giảm của các nguồn tài nguyên là một thực tế đang được báo động khẩn Nhà trường và các cấp chính quyền địa cũng chưa hề có những hướng dẫn cho các

em những việc cần làm cụ thể để bảo vệ môi trường

II/ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GDMT KHẮC PHỤC THỰC TRẠNG VỀ MÔI TRƯỜNG Ở ĐỊA PHƯƠNG:

A./ BƯỚC CHUẨN BỊ:

.1: Mục tiêu và nội dung đề ra:

Công việc này tùy thuộc vào nội dung cụ thể của bài học đó Nếu như bài học tập trung vào phát triển các giá trị, quan điểm thì phương pháp đóng vai và thảo luận là thích hợp Còn nội dung dạy về môi trường trong quá khứ thì phương pháp thực địa lại có hiệu quả hơn

2: Đặc điểm của người học:

Đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp giảng dạy Với học sinh THCS khi dạy giáo viên có thể sử dụng các mô hình, mẫu vật Với đặc điểm mà bài tổng kết tiến hành người học chủ yếu là HS lớp 7do đó quá trình giảng dạy thường diễn ra ở mức độ thấp hơn Dù ở lứa tuổi nào đi nữa học sinh cũng sẽ cảm thấy được cổ vũ nếu có sự tham gia của giáo viên trong quá trình học tập

3: Nguồn tài liệu:

Với giáo viên: Ngoài sách giáo khoa còn có sách giáo viên, bản đồ nên sưu tầm một số tranh ảnh liên quan nơi học sinh đang sinh sống

Với học sinh sách giáo khoa là nguồn tài liệu chính cùng với tập bản đồ học sinh chủ động chuẩn bị ở nhà

.4: Vai trò của nhà trường và địa phương:

Là một phần học đặc biệt, để tiết dạy có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động ngoại khóa nhà trường tạo điều kiện trong việc lựa chọn thời gian, phòng học và chỉ đạo

Trang 6

Địa phương là một tiêu điểm để lựa chọn, thiết kế và thực hiện các bài học liên quan đến nhu cầu và điều kiện sống, ngoài ra kinh nghiệm của nhân dân cũng có tác dụng rất lớn

B/PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC GDMT TRONG ĐỊA LÝ 7:

I/ Hoạt đông nội khóa:

1: Phương pháp giảng thuật:

Với phương pháp này nặng về mô tả sự vật hiện tượng, bằng lời nói truyền cảm giáo viên giáo dục cho học sinh lòng yêu thiên nhiên và có ý thức về môi trường

Ví dụ: Bài 9 “ Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở đới nóng ” – Địa lí 7.

Quan sát hình: 9.4, giáo viên giới thiệu nội dung của mỗi bức hình A, B, C, D Đặt câu hỏi “ Em hãy nêu quá trình thoái hóa đất do đốt rừng làm nương rẫy ở đới nóng ?”.

Nội dung Rừng nguyên

sinh

Cây bụi Trảng cỏ Đất bạc

màu

.2: Phương pháp giảng giải:

Chủ yếu của phương pháp này là dùng lời nói, để giải thích các vấn đề vạch ra bản chất của mối quan hệ và nguyên nhân của chúng

Ví dụ: “Khi dạy bài dân số và sức ép dân số tới tài nguyên môi trường ở đới

nóng”_ Địa lí 7 Nói đến hiện tượng cạn kiệt tài nguyên cần phải hình thành các

khái niệm:Tài nguyên phục hồi là tài nguyên có khả năng trở lại bình thường nếu biết cách khai thác, bảo vệ( Tài nguyên rừng, tài nguyên đất ) Còn tài nguyên không phục hồi là tài nguyên được hình thành trong thời gian dài và không có khả năng phục hồi ( Tài nguyên khoáng sản năng lượng, khoáng sản kim lọai )

3: Phương pháp đàm thoại:

Phương pháp này thường được sử dụng nhiều trong giảng dạy, với những câu hỏi giả định “ Sẽ ra sao, nếu như, chẳng hạn như ”

Ví dụ: Khi dạy bài“ Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa”-Địa lí 7.

Cho học sinh quan sát hình: 17.3 “ Thủy triều đen ”, giáo viên sử dụng

phương pháp vây quanh “ Nguyên nhân - hậu quả ” Ta có thể hình thành sơ

đồ như sau:

Không có hoạt động công nghiệp

Cần nguồn năng lượng mới

Hình thành công nghiệp khác

Cần nguồn năng lượng mới

ít ô nhiễm Công việc

nhiễm

Trang 7

4: Phương pháp sử dụng phương tiện trực quan:

Bao gồm các phương tiện trực quan: Biểu đồ, bản đồ, tranh, ảnh, băng hình ( Nếu có điều kiện sử dụng ) sẽ gây hứng thú cho học sinh Tùy thuộc vào nội dung bài dạy mà có thể sử dụng những phương tiện trực quan thích hợp

Ví dụ : Khi dạy bài 8 “ Các hình thức canh tác trong nông nghiệp ở đới

nóng” – Địa lí 7, với hình: 8.1 “ Đốt rừng làm nương rẫy” Nếu có điều kiện

nên cho học sinh xem phim tư liệu, băng hình với các bước sau:

+ Định hướng cho học sinh nắm được: Mục đích yêu cầu của bài

+ Bước sử dụng: Giáo viên nên chia làm nhiều đoạn phim, một đoạn tương ứng với một ý ghi bảng

+ Bước kết thúc: Giáo viên nêu lại nội dung và đặt câu hỏi kiểm tra trí nhớ học sinh bằng câu hỏi suy luận “ Hậu quả của việc phá rừng làm rẫy ?”

Hậu quả Rừng bị tàn

phá

Đất bị xói mòn

Thiên tai Cả 3 hậu

quả trên Phương án

lựa chọn

( Hãy chọn phương án đúng nhất).

5: Phương pháp thí nghiệm:

Dựa trên những kiến thức đã học để minh họa cho một vấn đề đặt ra

Ví dụ: Dạy bài 17 “ Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa” – Địa lí 7 Nếu

để lí giải cho nguồn nước ở gần nhà máy bị ô nhiễm thì học sinh sẽ ghi nhớ một cách thụ động, hãy để học sinh khám phá bằng một thí nghiệm tự làm ở nhà :Lấy hai lọ nước đựng vào hai lọ thủy tinh chiều dài 20 cm, đường kính rộng 10 cm ở hai vị trí khác nhau ( Một lọ gần lò gạch, một lọ xa lò gạch), hai

lọ để gần nhau sau 2 đến 3 giờ đồng hồ cho học sinh quan sát kĩ dưới đáy 2 lọ Học sinh xác định được lọ nào nước sạch lọ nào nước bẩn

Không khai thác dầu

Thất nghiệp Công ti dầu phá sản

Đói nghèo Các vấn đề xã hộixảy ra

Trang 8

6: Phương pháp thảo luận:

Đây là quá trình trao đổi ý kiến về một chủ đề giữa giáo viên và học sinh với nhau Để thực hiện phương pháp này thành công giáo viên hơn ai hết cần chủ động tiến hành theo bốn bước sau:

Bước 1: Chọn nội dung, chọn bài để thảo luận, thông thường nội dung không quá khó nhưng lại là vấn đề đang được nhiều người quan tâm

Bước 2: Giao việc về nhà cho mỗi nhóm hoc sinh

Bước 3: Tiến hành thảo luận

Các nhóm làm việc theo sự phân công về nhà, bầu nhóm trưởng thư kí và đi đến thảo luận báo cáo kết quả

Bước 4: Tổng kết thảo luận

Phần này giáo viên giám sát hướng dẫn trên ý kiến các nhóm đã trình bày

Ví dụ: Trong bài 10 “ Dân số và sức ép dân số tới tài nguyên môi trường

ở đới nóng”- Địa lí 7 Đây là một nội dung không thực sự khó lắm nhưng liên

quan trực tiếp tình hình trên địa bàn Do đó chọn phương pháp thảo luận là phù hợp, khi giao việc nên phân nhóm theo tổ dân cư hoặc xóm với công việc: Tìm hiểu trong tổ( hoặc xóm) có bao nhiêu hộ gia đình ? Bao nhiêu hộ sinh 1 đến 2 con, bao nhiêu hộ sinh từ 3 con trở lên? Để làm việc này với giáo viên tới văn phòng thống kê lưu trữ của xã lấy số liệu liên quan “ Số dân của xã trong thời gian gần đây, tỉ lệ kết hôn dưới độ tuổi (Tảo hôn), tỉ lệ sinh con vượt kế hoạch ”

Tùy phần thảo luận nên đưa nội dung vào cuối phần 1 “ Dân số ” để mang

tính chất liên hệ và chuyển ý sang mục sau

7: Phương pháp thực địa.

Đây là phương pháp đặc thù của môn Địa Lí, được thực hiện qua các hoạt động hoạt động ngoài lớp theo nhóm của học sinh Giúp học sinh thấy được mối quan hệ hòa hợp hơn với môi trường đang sống Yêu cầu của phương pháp này

là học sinh phải quan sát, ghi chép, tập hợp thông tin, kết luận Đồng thời khơi dậy ở mỗi học sinh ý thức về môi trường và khuyến khích tham gia hoạt động BVMT ở nhà trường

Ví du: Với bài 9 “ Hoạt động sản xuất nông nghiệp ơ đới nóng”- Địa lí 7

Giáo viên tổ chức thực địa để hiểu môi trường theo quá trình sau

- Giáo viên chọn nơi thực địa ( Gần trường )

- Phân công:

Nhóm 1 thu thập các mẫu vật ( Đất, đá, nước )

Nhóm 2 thu thập các loài mẫu vật (Cây,côn trùng)

Nhóm 3 ghi chép

Thảo luận giữa các nhóm đi đến kết luận: Môi trường sống có nhiều đối tượng: Vô cơ, hữu cơ.Các đối tượng đang bị đe dọa dưới tác động của con người

Trên đây là tập hợp 7 phương pháp GDMT mà bản thân tôi nhận thấy có khả năng thực hiện được trong chương trình địa lí lớp 7 và đem lại kết quả cao

Trang 9

ở địa bàn đang công tác Ngoài ra còn có một số phương pháp khác mà các quí bạn đọc có thể tham khảo thêm: Phương pháp gạn lọc giá trị, phương pháp động não, phương pháp giao việc về nhà, phương pháp nghiên cứu tình huống, phương pháp đóng vai

II/ Hoạt động ngoại khóa:

Đây là một hình thức mang tính chất tự nguyện của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên, để mở rộng bổ sung kiến thức GDMT đã được dạy trong nội khóa bao gồm các hoạt động sau:

1/ Báo cáo ngoại khóa về môi trường.

2/ Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu môi trường địa phương đất nước 3/ Tổ chức nghiên cứu môi trường địa phương.

4/ Tổ chức tham quan môi trường.

5/ Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường ở nhà trường và địa phương.

6/Tổ chức các câu lạc bộ môi trường

III/ KẾT QUẢ:

GDMT qua môn địa lí là một điều kiện hết sức thuận lợi so với phân môn khác Với môn Địa Lí lớp 7 tôi cũng đã áp dụng từ năm 2005 – 2006 Với năm học 2006 – 2007 tôi cũng tiếp tục triển khai ở phạm vi rộng hơn

Để thấy được hiệu quả của bài tôi đã dùng hai bài kiểm tra với hình thức khác nhau để đánh giá chất lượng học sinh của 3 lớp 7 trong 2 khóa học 2005 – 2006,

2006 – 2007

- Bài kiểm tra thứ nhất: Bằng câu hỏi trắc nghiệm sau tiết học

- Bài kiểm tra thứ hai: Kiểm tra viết 15 phút kết quả thu được như sau:

* Trong năm học 2005 – 2006:

Khối 7

biết

Có nhận biết

Có ý thức Biết vận

dụng

Tỉ lệ

(%).

Trang 10

* Trong năm học 2006 – 2007:

Khối 7

biết

Có nhận biết

Có ý thức Biết vận

dụng

7c

Tỉ lệ

(%).

* Chênh lệch tỉ lệ giữa 2 năm học là:

biết

Có nhận biết

Có ý thức Biết vận

dụng

Như vậy: Kết quả của bài kiểm tra đã cho thấy được sự tiến bộ của học

sinh trong vấn đề nhận thức về môi trường cụ thể là khóa học 2006 – 2007 so với khóa học 2005 – 2006 tỉ lệ học sinh chưa nhận biết giảm 22,7 % còn tỉ lệ có

ý thức tăng 22,4% đặc biệt là số học sinh đã biết vận dụng, tăng lên 16,0 % Những kết quả trên tuy chỉ mới bước đầu trong quá trình thực hiện việc gắn kết GDMT trong việc dạy và học tập địa lí cũng như trong quá trình theo dõi thực nghiệm của bản thân tại địa phương nhưng với tôi nhận thấy đây là một kết quả đáng mừng

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.

Ngày đăng: 09/04/2013, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w