Việc xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuấthợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nh
Trang 1NGUYỄN VĂN HÙNG
X¢Y DùNG N¤NG TH¤N MíI TRONG PH¸T TRIÓN
KINH TÕ - X· HéI ë TØNH B¾C NINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2NGUYỄN VĂN HÙNG
X¢Y DùNG N¤NG TH¤N MíI TRONG PH¸T TRIÓN
KINH TÕ - X· HéI ë TØNH B¾C NINH
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Ngư ờ i hư ớ ng dẫ n khoa họ c:PGS TS PHẠM QUỐC TRUNG
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận án
Nguyễn Văn Hùng
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
1.1 Những nghiên cứu ngoài nước về nông nghiệp, nông thôn,
1.2 Những nghiên cứu trong nước về nông nghiệp, nông thôn, nông
1.3 Những vấn đề về xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh
tế - xã hội ở địa phương cấp tỉnh cần tiếp tục nghiên cứu 16
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
2.2 Xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội 272.3 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế -
Chương 3: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH BẮC NINH 763.1 Tiền đề xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã
3.2 Xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh
3.3 Đánh giá quá trình xây dựng nông thôn mới trong phát triển
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Ở TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020 1224.1 Phương hướng xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế
- xã hội ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn đến năm 2020 1224.2 Giải pháp xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
Trang 5BĐKH : Biến đổi khí hậu
CNH,HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cữu Long
KT-XH : Kinh tế - xã hội
Trang 6Bảng 3.1: Huy động vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2009 - 2011 80
Bảng 3.2: Tình hình quy hoạch và thực hiện quy hoạch nông thôn mới 92
Bảng 3.3: Tình hình thực hiện tiêu chí giao thông 94
Bảng 3.4: Tình hình thực hiện tiêu chí thủy lợi 95
Bảng 3.5: Tình hình thực hiện tiêu chí về điện nông thôn 96
Bảng 3.6: Tình hình thực hiện tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa 98
Bảng 3.7: Tình hình thực hiện tiêu chí về bưu điện 99
Bảng 3.8: Tình hình thực hiện tiêu chí nhà ở dân cư 100
Bảng 3.9: Tình hình thực hiện tiêu chí về giáo dục 108
Bảng 3.14: Tình hình doanh nghiệp đang hoạt động theo ngành
kinh tế (thời điểm 31/12 hàng năm) qua 3 năm 119
Bảng 4.1: Chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2015
Bảng 4.2: Nhu cầu đào tạo cán bộ NTM tỉnh Bắc Ninh 138
Bi u 3.1: Thực trạng xây dựng nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh theo
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nông thôn mới là một mục tiêu quan trọng trong chủ trươngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, được
xác định trong Nghị quyết số 26 - NQ/TƯ ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ
7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X Không thể có một nước công nghiệpnếu nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân có đời sống văn hóa và vật chấtthấp Việc xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải có kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuấthợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp và dịch vụ; gắnphát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn
định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh
trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng
được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa Muốn thực hiện được nội
dung trên, đòi hỏi nền kinh tế - xã hội phải phát triển bền vững Một nền kinh
tế phát triển bền vững là cơ sở khoa học cho việc thực hiện thành công xâydựng nông thôn mới
Qua gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, ViệtNam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế quan trọng Tuy nhiên, nông thônhiện nay chủ yếu vẫn còn là sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún; với gần70% dân số hiện đang sống ở khu vực nông thôn và 47% số lao động cả nướctrong lĩnh vực nông nghiệp Bình quân mỗi hộ nông dân chỉ có 1,61 ha đấtcanh tác; trong đó, đồng bằng sông Hồng 0,35 ha/hộ; Trung du và miền núiphía Bắc 2,98 ha/hộ; Bắc Trung bộ 1,76 ha/hộ; Duyên hải miền Trung 2,13ha/hộ; Tây Nguyên 5,63 ha/hộ; Đông Nam Bộ 1,2 ha/hộ và đồng bằng sôngCửu Long 1,03 ha/hộ [39]
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước hiện
có khoảng 95 triệu mảnh đất nông nghiệp với tổng diện tích 9,4 triệu ha Sựmanh mún trong sản xuất nông nghiệp, nhất là manh mún về đất sản xuất làm
Trang 8cho sản xuất nông nghiệp thiếu bền vững Tỷ trọng vốn đầu tư xã hội chonông nghiệp có xu hướng giảm Bình quân giai đoạn 2006 - 2010, tỷ trọngvốn đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp chiếm 6,4% GDP nhưng đến giai
đoạn 2011 - 2013 giảm còn 5,4% GDP [88] Thu nhập của cư dân nông thôncòn rất thấp, bình quân hàng năm bằng 76,6% mức bình quân chung cả nước
và chỉ bằng 47,5% so với thu nhập của cư dân đô thị Cả nước có tới 84,5% số
hộ nghèo (trong tổng số hộ nghèo cả nước) sống ở nông thôn (nếu tính theochuẩn nghèo mới còn cao hơn nữa) [39] Mặt khác, do sản xuất nông nghiệpmang tính rủi ro cao, nên nguy cơ các hộ từ cận nghèo trở thành hộ nghèo rấtcao, hoặc hộ đã thoát nghèo nhưng nếu chỉ gặp rủi ro như trong năm có người
ốm; gia súc, gia cầm bị dịch bệnh lại gặp nguy cơ tái nghèo
Thực trạng trên đang hạn chế đà tăng trưởng của ngành nông nghiệp,tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái có chiều hướng gia tăng, nhất là ởnhững vùng nông thôn có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh, đã tác
động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội nói chung, theo đó tác động tiêu
cực làm chậm việc thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới Chính vìvậy, vấn đề đặt ra bức thiết hiện nay là cần phải có những nghiên cứu lý luận,
khảo sát và đánh giá thực tiễn, tìm giải pháp phù hợp cho phát triển kinh tế
-xã hội, tạo cơ sở vật chất để thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bànnông thôn cả nước nói chung, cũng như xây dựng nông thôn mới ở tỉnh BắcNinh nói riêng Với lý do trên và qua thực tiễn, kinh nghiệm công tác nhiều
năm trên địa bàn nông thôn của một tỉnh phía Bắc, vấn đề “Xây dự ng nông thôn mớ i trong phát triể n kinh tế - xã hộ i ở tỉ nh Bắ c Ninh” được lựa chọn
làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mụ c đích nghiên cứ u:
Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận, thực tiễn xây dựng nông thôn mới
trong phát triển kinh tế - xã hội, luận án phân tích, đánh giá thực trạng xây
Trang 9dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh theo cáctiêu chí, làm rõ những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyênnhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, luận án
đề xuất phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn
mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn tới năm 2020
- Nhiệ m vụ nghiên cứ u:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về xây dựng nông thôn mới trongphát triển kinh tế - xã hội của địa phương cấp tỉnh
+ Trên cơ sở xác định những tiềm năng cùng với những thuận lợi, khó
khăn ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh; đánh
giá thực trạng xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương theo 11 nội dung (19 tiêu chí), xác định những kết quả đạt được,
những hạn chế cũng như nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó
+ Phương hướng, giải pháp xây dựng nông thôn mới trong phát triển
kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh giai đoạn đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đố i tư ợ ng nghiên cứ u: xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế
-xã hội ở tỉnh Bắc Ninh Cụ thể là: mối quan hệ giữa xây dựng nông thôn mới vớiphát triển kinh tế - xã hội Trong mối quan hệ đó, kinh tế - xã hội là yếu tố quyết
định đến xây dựng nông thôn mới Ngược lại, nông thôn mới có tác động tích cực
trở lại kinh tế - xã hội, tạo môi trường, điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
Ngày nay, mối quan hệ giữa xây dựng nông thôn mới với phát triểnkinh tế - xã hội càng chặt chẽ hơn bao giờ hết Phát triển kinh tế - xã hội ổn
định nhanh, bền vững giữ vai trò quyết định cho xây dựng nông thôn mới; xây
dựng nông thôn mới tạo môi trường, điều kiện phát triển kinh tế - xã hộinhanh, bền vững Bởi vậy, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa xâydựng nông thôn mới với phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng điềukiện, giai đoạn lịch sử cụ thể trên từng địa phương
Trang 10- Phạ m vi nghiên cứ u:
+ Về nội dung: luận án nghiên cứu lý luận, thực tiễn xây dựng nông
thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, tập trung làm rõ mốiquan hệ giữa xây dựng nông thôn mới với phát triển kinh tế - xã hội
+ Về không gian: luận án nghiên cứu xây dựng nông thôn mới trong
phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn tỉnh Bắc Ninh
+ Về thời gian: luận án nghiên cứu xây dựng nông thôn mới trong phát
triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luậ n củ a luậ n án
Luận án được nghiên cứu dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng, Nhà nước Việt Nam
về xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội Những chủ trương, phương
hướng xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh; các chỉ
thị, nghị quyết của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, các báo cáo tổng kết, sốliệu thống kê của các cơ quan, sở, ban, ngành của Tỉnh; các công trình khoa học liên
quan đến đề tài đã được công bố; kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới trong phát
triển kinh tế - xã hội của một số địa phương tương đồng và kết quả điều tra khảo sátnghiên cứu thực tế có liên quan là cơ sở lý luận, thực tiễn của luận án
4.2 Phư ơ ng pháp nghiên cứ u củ a luậ n án
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử, luận án chú trọng sử dụng các phương pháp đặc thù của kinh tếchính trị học Mác - Lênin là phương pháp trừu tượng hoá khoa học, kết hợp lôgícvới lịch sử; phân tích với tổng hợp; thống kê so sánh… Trong đó, phương pháp trừu
tượng hóa khoa học được sử dụng và quán triệt trong toàn bộ luận án Trên cơ sởđưa ra những giả định khoa học, hợp lý luận án tập trung làm rõ đối tượng nghiên
cứu trong từng bối cảnh, điều kiện cụ thể nhằm làm rõ thực chất và bản chất kinh tế
- xã hội của quá trình xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội nóichung, ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng; làm rõ tính tương đồng và khác biệt của chúngvới các tiến trình xây dựng nông thôn mới khác… nhằm đảm bảo tính kế thừa, phát
Trang 11triển và bám sát định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế Các phương pháp kếthợp logic với lịch sử, phân tích với tổng hợp, thống kê so sánh được sử dụngtrong những nghiên cứu; đặc biệt là phân tích kinh nghiệm thực tiễn xây dựng nôngthôn mới của một số địa phương tương đồng và thực trạng xây dựng nông thôn mớitrong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua.
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn một số cơ sở khoa học về nông thôn mới,xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương cấptỉnh; trên cơ sở đó, làm rõ những nội dung và xu hướng xây dựng nông thônmới trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh
- Đánh giá thực trạng và nhận diện những vấn đề mới đang đặt ra đốivới xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nôngthôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn đến năm 2020
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luậ n củ a luậ n án
Luận án đã hệ thống hóa lý luận, trình bày rõ, đúng vai trò, nội dung, vị tríquan trọng của Chương trình xây dựng nông thôn mới và ảnh hưởng của nó đối vớiphát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cả nước nói chung, ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng
6.2 Ý nghĩa thự c tiễ n củ a luậ n án
Luận án đánh giá đúng thực trạng, những vấn đề đặt ra trong quá trình thựchiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và tác động của nó đối với phát triểnkinh tế - xã hội thời gian qua; từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, đưa ra nhữngkiến nghị phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm xây dựng nông thôn mới trongphát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: phần mở đầu; 4 chương, 11 tiết; kết luận; danh mục cáccông trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án;danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân là chủ
đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước.Liên quan đến đề tài xây dựng nông thôn mới trong phát triển KT - XH đã có
nhiều công trình khoa học, sách tham khảo, các luận văn, luận án, các bài báo,tạp chí đề cập đến nhiều góc độ khác nhau
1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN, NÔNG DÂN VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Đề cập đến vấn đề này có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu qua cácgiai đoạn khác nhau, điển hình là:
Cuốn sách “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển”của Frans Elltis [31] đã nêu lên những vấn đề cơ bản của chính sách nôngnghiệp ở các nước đang phát triển thông qua việc nghiên cứu lý thuyết, khảocứu thực tiễn ở nhiều quốc gia châu Á, châu Phi, Châu Mỹ La Tinh Cuốn
sách đã đề cập những vấn đề về chính sách phát triển vùng, chính sách hỗ trợđầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản,
những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa Điều đặc biệt đáng lưu ý làcông trình này đã xem xét nền nông nghiệp của các nước đang phát triểntrong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn liền với phát triển thươngmại nông sản trên thế giới; đồng thời, nêu lên mô hình thành công, thất bạitrong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân
Công trình “Một số vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở cácnước và Việt Nam” của Benedict J.tria Kerrkvliet, Jamesscott do Nguyễn
Ngọc và Đỗ Đức Định [40] sưu tầm và giới thiệu, đã nghiên cứu về vai trò,
đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và
những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam
Trang 13Những điểm đáng chú ý của công trình này có giá trị tham khảo cho việc giảiquyết những vấn đề của chính sách phát triển nông thôn nước ta hiện nay như:
tương lai của các trang trại nhỏ, nông dân với khoa học, hệ tư tưởng của nông
dân, các hình thức sở hữu đất đai, những mô hình tiến hóa nông thôn ở các
nước nông nghiệp trồng lúa
Lê Thế Cương với bài viết, “Thực tiễn hiện đại hóa nông nghiệp đặcsắc Trung Quốc và kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam” [19] đã phân tíchnhững nội dung mấu chốt từ thực tiễn con đường “hiện đại hóa nông nghiệp
đặc sắc Trung Quốc”, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm đối với
xây dựng nông thôn ở nước ta Những bài học được tác giả chỉ ra trên nhữngvấn đề cơ bản như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo chuyển biến mộtcách rõ rệt để nhận thức sâu sắc hơn vai trò, ý nghĩa của CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn trong cả hệ thống chính trị, đặc biệt chủ thể chính là cư dânkhu vực nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh đổi mới và hoàn thiện cơ chế
chính sách, đổi mới cơ chế kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thực hiện mộtcách đồng bộ, nghiêm túc, quyết liệt những chính sách và chương trình kế
hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn đó ban hành; đẩy mạnh phát triểnchất lượng nhân lực, nguồn lực kỹ thuật các trường, viện, trung tâm nghiêncứu nông nghiệp; phát triển công tác nghiên cứu khoa học ứng dụng; xâydựng, hỗ trợ, phát triển các tổ chức kinh tế nông nghiệp, nông thôn và đẩymạnh nguồn vốn đầu tư vào nông nghiệp
Dự án MISPA 2006 với vấn đề “Lý luận và thực tiễn xây dựng nôngthôn mới xã hội chủ nghĩa” do dịch giả Cù Ngọc Hưởng [88] đã nghiên cứuvấn đề xây dựng nông thôn mới XHCN ở Trung Quốc trên nhiều khía cạnh
Từ sự hình thành khái niệm, bối cảnh, nội hàm, ý nghĩa thực hiện của sựnghiệp xây dựng nông thôn mới XHCN Công trình tổng hợp ý kiến nhiềuchiều của các học giả trong nước trên những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
như hệ thống lý luận xây dựng NTM XHCN; mục tiêu, tiêu chuẩn đánh giá và
hệ thống chỉ tiêu đánh giá quá trình xây dựng NTM XHCN; hệ thống chỉ tiêu
Trang 14đánh giá quá trình xây dựng NTM XHCN và lựa chọn các chỉ tiêu cho từng
khu vực; Phạm vi, trọng điểm và phương án xây dựng NTM; lý thuyết,nguyên tắc, phương pháp và sự đảm bảo thực hiện các kế hoạch xây dựngNTM; thể chế quản lý, cơ chế trao vốn, các chỉ tiêu đánh giá hiệu ích kinh tế,
cơ chế giám sát và cơ chế đảm bảo của sự nghiệp xây dựng NTM Nhìnchung, kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo hữu ích khi tiếp cận đến kinhnghiệm của các quốc gia trong quá trình xây dựng NTM
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN, NÔNG DÂN VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Nguyễn Văn Bích, trong cuốn sách "Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại" [5] đã nhìn nhận một cách
khá toàn diện lịch sử phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước tatrong thế kỷ XX, nhất là 20 năm đổi mới Trong đó, nội dung nghiên cứu được
kết cấu theo các giai đoạn: thứ nhất, nông nghiệp; nông thôn Việt Nam dưới chế độ thuộc địa, nửa phong kiến (1901 - 1945); thứ hai, nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam từ khi ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước (1945 - 1975); thứ ba, nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước bước
vào thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH (1976 - 1986); thứ tư,
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới (1986 - 2006) Cuốn sách đãlàm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, vềquan hệ sản xuất, cơ chế quản lý Đặc biệt, đã nêu được bối cảnh về sự pháttriển của nền kinh tế nước ta nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng
Chu Hữu Quý, trong cuốn sách "Phát triển toàn diện kinh tế - xã hộinông thôn, nông nghiệp Việt Nam" [68] đã đánh giá thực trạng nông thôn nước
ta hiện nay trên hai khía cạnh: vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn; sựphát triển của các ngành, các lĩnh vực đối với việc chăm lo thúc đẩy phát triểnnông nghiệp, nông thôn Trên những đánh giá đó, tác giả nhận định một số vấn
đề về phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta, kể cả phát triển nông nghiệp,
Trang 15nông thôn bền vững; chủ trương, chính sách tiếp tục phát triển KT - XH nông
thôn nước ta Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở năm 1995
Đặng Kim Sơn, với cuốn "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam
hôm nay và mai sau" [72] đã nêu bật thực trạng các vấn đề nông nghiệp, nôngdân, nông thôn hiện nay; những thành tựu, khó khăn, vướng mắc còn tồn tại.Xuất phát từ thực tiễn, tác giả đã đề xuất những định hướng và kiến nghịchính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng phát triển
Nguyễn Ngọc Hà, trong cuốn sách "Đường lối phát triển kinh tế nôngnghiệp của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986-2011)" [32]
đã tập trung làm rõ những điều kiện lịch sử và quá trình hình thành nhữngquan điểm, chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với xây dựng xã hội
nông thôn Việt Nam văn minh hiện đại; nghiên cứu một cách toàn diện vềkinh tế nông nghiệp và những biến đổi trên các lĩnh vực của đời sống xã hộinông thôn trong thời kỳ đổi mới; quá trình triển khai thực hiện đường lối,chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và những thành tựu đạt được Trong
đó, tập trung vào nội dung trọng tâm là vấn đề Đảng lãnh đạo thực hiện đổi
mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, quản lý ruộng đất, giải phóng sức lao
động, phát huy sự năng động, sáng tạo của người nông dân
Nguyễn Thị Tố Quyên, trong cuốn sách "Nông nghiệp, nông dân, nôngthôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 - 2020" [66] đã đềcấp đến vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trước những bốicảnh, cơ hội và thách thức trong mô hình tăng trưởng kinh tế Trong đó, lýthuyết về nông nghiệp, nông thôn đã được phân tích qua ba trường phái chính
đó là: thứ nhất, đề cao vai trò của nông nghiệp, coi nông nghiệp là cơ sở hay
tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa; thứ hai, với quan điểm tiến thẳng vào công nghiệp hóa, đô thị hóa; thứ ba, với tư tưởng kết hợp hài hòa giữa nông
nghiệp và công nghiệp, nông thôn và đô thị trong quá trình phát triển Ngoài
ra, cuốn sách còn phân tích thực trạng một số điểm nổi bật về nông nghiệp,nông thôn, nông dân từ năm 2000 đến nay trên các mặt thành công và những
Trang 16vấn đề tồn tại chủ yếu của nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong mô hình
tăng trưởng kinh tế hiện nay
Đỗ Tiến Sâm, trong cuốn sách "Vấn đề tam nông ở Trung Quốc thực
trạng và giải pháp" [69] đã khái quát những vấn đề cơ bản như: khái niệm và
quan điểm cơ bản về tam nông; hiện trạng của nông thôn Trung Quốc kể cả
những thành tựu, những khó khăn trong giải quyết vấn đề nông thôn và phương
hướng, giải pháp xây dựng NTM XHCN Ngoài ra, cuốn sách còn phân tích thực
trạng nông dân Trung Quốc hiện nay và những chính sách, giải pháp cơ bản đốivới nông dân những kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo
Nguyễn Xuân Cường, trong cuốn "Quá trình phát triển kinh tế- xã hộinông thôn ở Trung Quốc" [20] đã đề cập đến phát triển nông thôn ở TrungQuốc Tác giả tập trung nghiên cứu KT - XH nông thôn Trung Quốc thời kỳ
trước cải cách mở cửa (1949 - 1978) cho đến quá trình cải cách và phát
triển nông thôn (1978 - 1991); trong đó, những vấn đề được làm rõ như:chuyển đổi thể chế kinh tế nông nghiệp, nông thôn (1978 - 1984), pháttriển công nghiệp nông thôn (1985 - 1991); quá trình giải quyết các vấn đề
xã hội nông thôn Các kết quả nghiên cứu tiếp theo về đẩy mạnh phát triểnnông thôn (1992 - 2003) trên các nội dung về đẩy mạnh phát triển kinh tếnông thôn thông qua xây dựng hệ thống thị trường nông thôn; điều chỉnh
sự phát triển của xí nghiệp Hương Trấn; đổi mới thể chế kinh doanh nôngnghiệp; quá trình đô thị hóa nông thôn và quá trình giải quyết các vấn đề
xã hội nông thôn Những vấn đề của xã hội nông thôn như: xóa đói giảmnghèo nông thôn, việc làm và chuyển dịch lao động nông thôn, giáo dụcnông thôn, hệ thống an sinh xã hội nông thôn Và xây dựng nông thônXHCN giai đoạn mới từ 2003 đến nay trên các phương diện thành tựu cảicách, phát triển nông thôn, về chuyển biến xã hội nông thôn, những khó
khăn trong cải cách, phát triển nông thôn Nhìn chung, bức tranh về quá
trình phát triển KT - XH nông thôn Trung Quốc giai đoạn 1978 - 2008 đượctác giả trình bày một cách khá đầy đủ
Trang 17Đào Thế Tuấn, trong bài viết: “Chính sách nông thôn, nông dân và
nông nghiệp mới ở Trung quốc” [90] khái quát tình hình nông thôn TrungQuốc từ năm 1978 đến năm 2005, chính sách xây dựng nông thôn XHCNmới: với mục tiêu giảm bớt khoảng cách giữa đô thị - nông thôn và tạo một sựphát triển bền vững Chính sách chủ yếu cuả Trung quốc là hiện nay thực lựckinh tế của Trung Quốc tăng phải thay “lấy nhiều cho ít” bằng “ lấy ít chonhiều” Năm 2004 đánh dấu một điểm ngoặt trong cải cách nông thôn củaTrung Quốc được thể hiện qua các văn kiện nhằm điều chỉnh chính sách nôngnghiệp và thúc đẩy việc xây dựng nông thôn mới; trong đó, đã chỉ rõ yêu cầu,mục tiêu nhiệm vụ của xây dựng nông thôn mới
Võ Chí Công, “Những vấn đề cơ bản trong đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế ở nước ta” [7] đã làm rõ những vấn đề: đổi mới quản lí xí nghiệp côngnghiệp quốc doanh, thực trạng quản lí kinh tế và yêu cầu của đổi mới cơ chếquản lý kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp và một số vấn
đề xây dựng nông thôn mới XHCN trong mối quan hệ đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế Tác giả nhấn mạnh, xây dựng NTM XHCN là sự nghiệp trọng đại, cónhiều khó khăn và đang là vấn đề đòi hỏi cấp bách; giải quyết vấn đề này phải
đồng bộ trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực Việc đổi mới quản lý, phát triển sản
xuất nông nghiệp phải gắn bó với việc giải quyết đúng đắn các vấn đề xã hội
và xây dựng NTM XHCN bằng những việc làm thiết thực: tổ chức làm tốt, cóchất lượng việc xây dựng quy hoạch tổng thể KT - XH của từng huyện, từng xãthể hiện sự thống nhất hài hòa giữa quy hoạch phát triển sản xuất nông - côngnghiệp, quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng , phải có kế hoạch và tổ chức thựchiện tốt kế hoạch xây dựng NTM XHCN, phải thực hiện dân chủ hóa, công khai
hóa đi đôi với đề cao kỷ luật và pháp luật trong quản lý kinh tế
Phạm Xuân Nam, với công trình “Phát triển nông thôn [48] là một côngtrình nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nông thôn Tác giả đã phân tích khásâu sắc một số nội dung về phát triển KT - XH nông thôn nước ta như: dân số,
lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vấn đề sử dụng và quản lý nguồn
Trang 18lực tài nguyên thiên nhiên, vấn đề phân tầng xã hội và xóa đói giảm nghèo Khiphân tích những thành tựu, yếu kém, thách thức đặt ra trong phát triển nôngnghiệp, nông thôn nước ta, tác giả đã chỉ ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống chínhsách và cách thức chỉ đạo của Nhà nước trong quá trình vận động của nông thôn.
Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, với kết quả
hội thảo lần thứ tư về “Vấn đề nông nghiệp nông dân nông thôn kinh nghiệmViệt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc” [27] đã tập trung vào những vấn đề lýluận, thực tiễn về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế của hai nước đã được làm rõ Những vấn đề của thựctiễn Việt Nam, Trung Quốc được các tác giả phân tích phản ánh những kinhnghiệm quý báu rút ra từ quá trình thực hiện chính sách đối với nông nghiệp,nông dân, nông thôn của hai nước Nhiều vấn đề liên quan đến xây dựng nôngthôn mới của Việt Nam được phân tích thông qua các góc độ khác nhau từ vaitrò và mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong phát triển
theo hướng hiện đại ở Việt Nam; phát triển kinh tế thị trường ở nông thôn;
xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, bảo vệ môi trường ở nông thôn hay xâydựng NTM ở Việt Nam - những vấn đề đặt ra và giải pháp
Trần Ngọc Ngoạn, trong cuốn sách "Phát triển nông thôn bền vữngnhững vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới" [52] đã tiếp cận đến những vấn
đề lý luận và kinh nghiệm trong phát triển nông thôn bền vững; làm rõ được
những vấn đề: phát triển nông thôn bền vững - một yêu cầu phát triển mới củacác quốc gia trên thế giới; khung khổ lý thuyết làm cơ sở cho phát triển bềnvững nông thôn và một số kinh nghiệm quốc tế trong việc ứng dụng cácphương pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn Trong đó, phát triển nông
thôn bền vững được đề cập thể hiện trên 3 trụ cột chính: một là, phát triển bền vững kinh tế nông thôn; hai là, phát triển bền vững xã hội nông thôn; ba là,
tăng cường bảo vệ, quản lý môi trường tự nhiên
Nguyễn Điền, trong cuốn sách "Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông
thôn các nước châu Á và Việt Nam" [29] đã trình bày những vấn đề có tính
Trang 19chất lý luận về công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, khái quát một số vấn
đề về nông thôn và công nghiệp hóa nông thôn như: khái niệm về nông thôn,
vấn đề phát triển nông thôn, công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn các
nước châu Á, công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Tác giả
khẳng định: định hướng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn nước ta do
Đại hội Đảng lần thứ VIII để ra có thể sắp xếp thành 3 nhóm cụ thể: thứ nhất,
phát triển nông nghiệp; thứ hai, phát triển công nghiệp theo hướng CNH,
HĐH; thứ ba, cải tạo, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng KT - XH nông
thôn Những nội dung đó có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong qúa trình tiếnhành CNH nông nghiệp và nông thôn như: phát triển các ngành nghề côngnghiệp nông thôn, phát triển nông nghiệp theo hướng HĐH, cải tạo, xây dựng
và phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn
Đặng Kim Sơn, trong cuốn sách "Công nghiệp hóa từ nông nghiệp - Lý
luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam" [70] đã điểm lại một số họcthuyết kinh tế trong phát triển nông nghiệp như: các lý thuyết phát triển nôngnghiệp theo giai đoạn, lý thuyết liên kết giữa các lĩnh vực kinh tế, lý thuyết vềvai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường giới thiệu thực tiễn thànhcông và thất bại của một số nền kinh tế châu Á điển hình như: Nhật Bản, ĐàiLoan, Hàn Quốc, Trung Quốc trong quá trình phát triển nông nghiệp và trongbối cảnh tiến hành CNH, từ đó tóm lược một số bài học kinh nghiệp và lý luậnphát triển chính thức rút ra từ CNH Đồng thời, nhìn lại quá trình phát triển nôngnghiệp Việt Nam từ năm 1945 đến nay, những thời cơ, thách thức, đề nghị vềchính sách, cách tiến hành để phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn tới
Đặng Kim Sơn, trong cuốn sách "Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp,
nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" [71] trên cơ
sở tổng hợp, phân tích vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trìnhCNH ở nhiều nước trên thế giới, tác giả có sự liên hệ vào điều kiện cụ thể củaViệt Nam những vấn đề mang tính lý luận, thực tiễn như: vai trò của nôngnghiệp trong CNH, vấn đề cơ cấu sản xuất, giải quyết những vấn đề đất đai, lao
Trang 20động, môi trường trong CNH đất nước Đây cũng chính là những vấn đề mà
Việt Nam đang lúng túng trong quá trình CNH, HĐH nhằm mục tiêu đến năm
2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Phạm Ngọc Dũng, trong cuốn sách "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay" [21] đã đánhgiá những thành tựu KT - XH trong thực hiện CNH, HĐH ở nông thôn Tác giảchỉ ra những nhân tố chi phối đến khả năng khắc phục, phát triển KT - XH bềnvững ở nông thôn Trong phần viết này, các nhà nghiên cứu chỉ ra hai nguyên
nhân: cơ chế chất lượng cao và bình đẳng trong phân phối thu nhập, nhưng quan
trọng nhất là cơ chế chất lượng cao Đây là nhân tố quan trọng nhất chi phối đếnkhả năng khắc phục, phát triển KT - XH bền vững ở nông thôn Việt nam hiện nay,
vì hoạt động kinh tế thị trường đi liền với rủi ro; phân công xã hội ngày càng cao,hội nhập với thế giới càng sâu thì chi phí giao dịch giữa các khâu càng cao
Lê Quốc Lý, trong cuốn sách "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn - Vấn đề và giải pháp" [44] khẳng định, bên cạnh nhữngthành tựu đã đạt được, tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn cũngphát sinh nhiều vấn đề phức tạp, chẳng hạn, sự bất cập trong các chính sáchphát triển nông nghiệp, nông thôn, giữa quá trình đô thị hóa với quá trình pháttriển nông thôn, xây dựng nông thôn; mâu thuẫn giữa lợi ích công nghiệp vớinông nghiệp; giữa thành thị với nông thôn, giữa quá trình đô thị hóa với quátrình phát triển nông thôn, xây dựng NTM; mâu thuẫn giữa nền nông nghiệpdựa trên tri thức khoa học với sự bảo tồn giá trị và tri thức nông nghiệp truyềnthống, giữa hàng hóa nông nghiệp hiện đại được sản xuất bởi những tiến bộkhoa học - kỹ thuật và cơ giới hóa với những sản phẩm nông nghiệp mang sắcthái vùng, miền tự nhiên có giá trị chênh lệch cao Cuốn sách nghiên cứu toàndiện về kết quả và tác động của tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thônViệt Nam, trong đó có những yếu tố hình thành nên diện mạo NTM
Vũ Văn Phúc, trong cuốn sách "Xây dựng nông thôn mới những vấn đề
lý luận và thực tiễn" [62] với nhiều bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo
Trang 21các cơ quan trung ương, các địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng
NTM, với những nội dung như: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệmquốc tế về xây dựng NTM, đặc biệt thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam
được trình bày khá phong phú về thực tiễn triển khai xây dựng NTM ở một số
tỉnh: Lào Cai, Nghệ An, Phú Thọ, Ninh Bình, Thái Nguyên, Lai Châu
Bài viết đăng trên trang http://htu.edu.vn: “Quan điểm của Đảng về xâydựng nông thôn mới” [64] khẳng định mô hình NTM được quy định bởi các tínhchất: đáp ứng yêu cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh
quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, cóthể phổ biến và vận dụng trên cả nước Cấu trúc của NTM được xác định dựatrên những tiêu chí như: đáp ứng yêu cầu phát triển hàng hóa, dân chủ ở nôngthôn mở rộng và đi vào trực tiếp, nông dân; nông thôn có văn hóa phát triển Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình NTM có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực
thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹthuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần Nhân dân tự nguyện thamgia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần đó, cácchính sách KT - XH sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình NTM
Hồ Xuân Hùng: “Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâudài của Đảng và nhân dân ta” [39] đã nêu rõ nội dung nông thôn và NTMXHCN Việt Nam được thể hiện ở ba chức năng: chức năng về sản xuất nôngnghiệp, gìn giữ bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc và bảo đảm môi trườngsinh thái Tác giả cũng nhấn mạnh một số biện pháp và điều kiện nhằm thựchiện 19 tiêu chí Quốc gia về xây dựng NTM trong giai đoạn hiện nay
Đoàn Phạm Hà Trang với bài viết: “Xây dựng nông thôn mới: Vấn đề
quy hoạch và huy động các nguồn tài chính” [86] khẳng định, quy hoạch xâydựng NTM nhất thiết phải được tính đến một cách tổng thể từ trên xuống, đểquy hoạch của mỗi làng xã phải nằm trong chỉnh thể toàn quốc, khu vực, địa
phương trong mối liên hệ với kinh tế, xã hội, môi trường, sinh thái, khí hậu,
Trang 22thổ nhưỡng, quốc phòng từ cấu trúc kiến trúc, cấu trúc dân cư, cấu trúc hạtầng kinh tế - kỹ thuật, hạ tầng xã hội, vừa phải đa dạng, bền vững trong xuthế phát triển chung của đất nước Để thực hiện tốt chương trình, nguồn vốn
sẽ được huy động bằng nhiều cách như: Nhà nước, nhân dân đóng góp, cácnguồn tài trợ, sự hỗ trợ vốn từ các ngân hàng với phương châm vẫn phảiphát huy nội lực là chính Chính phủ cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ
để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào đầu tư ở khu vực nông
nghiệp, nông thôn để thêm nguồn lực trực tiếp giải quyết các khâu chế biến,giải quyết việc làm cho nông dân trong quá trình xây dựng NTM
Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh với bài viết: “Xây dựng mô hình nông
thôn mới ở nước ta hiện nay” [74] phân tích chủ yếu ba vấn đề: thứ nhất, nông thôn Việt Nam trước yêu cầu mới; thứ hai, hình dung ban đầu về những tiêu chí của mô hình NTM; thứ ba, về những nhân tố chính của mô hình NTM
như: kinh tế, chính trị, văn hóa, con người, môi trường Các nội dung trên
trong cấu trúc mô hình NTM có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước
đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính
sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật,nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia,chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.3.1 Những vấn đề đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu
đã công bố
Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã xem xét nền nôngnghiệp của các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuấthàng hóa gắn liền với thương mại nông sản trên thế giới, thành công và thấtbại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nôngdân; vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thếgiới và Việt Nam; về quá trình xây dựng NTM ở Trung Quốc, những vấn đề lý
Trang 23luận còn tranh cãi Những công trình này có giá trị tham khảo cho việc giảiquyết những vấn đề của chính sách phát triển nông thôn nước ta hiện nay như:
tương lai của các trang trại nhỏ, nông dân với khoa học, hệ tư tưởng của nông
dân, các hình thức sở hữu đất đai, những mô hình tiến hóa nông thôn ở các nướcnông nghiệp trồng lúa Đồng thời, các giải pháp được các tác giả chỉ ra như: đẩymạnh công tác tuyên truyền; đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách, đổi mới
cơ chế kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thực hiện một cách đồng bộ, nghiêm túc,
quyết liệt những chính sách và chương trình kế hoạch phát triển nông nghiệp,
nông thôn để phát triển sản xuất nông nghiệp và khu vực nông thôn
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã nêu khái quát
đặc điểm, tình hình, quá trình thực hiện đường lối về nông dân, nông nghiệp,
nông thôn của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ khác nhau Các kết quảnghiên cứu thể hiện sự nhận định, đánh giá sắc đáng nhất là về những hạnchế, yếu kém trong quá trình thực hiện chính sách đối với nông nghiệp, nông
dân, nông thôn, qua đó gợi mở phương hướng, giải pháp nhằm thực hiện tốt
nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay
Với cách nhìn khái quát, các công trình đã phản ánh khá đầy đủ, toàndiện, có thống kê số liệu qua các thời kỳ lịch sử xây dựng, phát triển kinh tếnông nghiệp nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm sáng tỏ nhiều vấn đề lýluận và thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, về quan hệ sản xuất, cơ chếquản lý Đặc biệt đã nêu lên được bối cảnh về sự phát triển của nền kinh tế
nước ta nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng Đó là cơ sở lý luận
để khẳng định vị trí, vai trò của nông thôn trong phát triển KT - XH của đấtnước, đặt ra yêu cầu xây dựng NTM
Các công trình đã phân tích tình hình sản xuất nông nghiệp, đời sốngnông dân và một số đặc điểm về KT - XH nông thôn Việt Nam trong thời giangần đây phần nào cho thấy được những thuận lợi, khó khăn và xu thế pháttriển hiện nay Đây là những gợi ý ban đầu để luận án tiếp cận đến bức tranhtổng thể về nông thôn Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Trang 24Một số công trình đã tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cơchế quản lý, chính sách ruộng đất đã cung cấp những cứ liệu có giá trị chotác giả nhằm xác định phương hướng và những vấn đề ở nông thôn Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Nhiều công trình đã rút ra bài học cho quá trình CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn ở Việt Nam - một trong những yếu tố nhận diện nông thônmới Bài học cho thấy, trong suốt quá trình CNH, phải gắn kết chặt chẽ pháttriển công nghiệp, đô thị với nông nghiệp, nông thôn Công nghiệp phải phục
vụ nông nghiệp, nông thôn, lấy thị trường nông thôn nuôi công nghiệp pháttriển, thu hẹp khoảng cách thu nhập nông thôn và đô thị
Một số công trình nghiên cứu trực tiếp về vấn đề NTM tuy không nhiều
nhưng đã đề cập đến một số khía cạnh cơ bản như: khái niệm, đặc trưng của
NTM, kinh nghiệm xây dựng NTM ở một số nước châu Á, kinh nghiệm thựctiễn trong triển khai xây dựng NTM ở một số tỉnh trong thời gian gần đây về cácmặt: thành công, hạn chế, những khó khăn vướng mắc trong việc triển khai thựchiện các tiêu chí xây dựng NTM tại từng địa phương Đây là những tài liệu thamkhảo hữu ích khi phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn về xây dựng NTM
1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Mặc dù đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề nông nghiệp,nông thôn, nông dân; CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hay vấn đề NTMsau khi Nghị quyết số 26-NQ/TƯ được ban hành, nhưng trên thực tế các kếtquả nghiên cứu về vấn đề này còn khá khiêm tốn, trong khi đó từ lý luận đếnthực tiễn triển khai xây dựng NTM đang đặt ra nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ.Trong giới hạn, phạm vi nghiên cứu, luận án cần tiếp tục làm rõ những vấn đề
Trang 25điểm nông thôn trước khi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây
dựng NTM theo 19 tiêu chí
Thứ ba, những yếu tố tác động đến hoạt động xây dựng NTM, các chủ
thể trong xây dựng NTM và phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựngNTM hiện nay
Thứ tư, thực tiễn xây dựng NTM trong phát triển KT - XH ở tỉnh Bắc
Ninh, những kết quả đạt được, những vấn đề tồn tại, phát sinh và nguyên nhâncủa những tồn tại đó trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng NTM ởBắc Ninh Từ những tồn tại, nguyên nhân để đề xuất phương hướng và giảipháp cụ thể nhằm đẩy mạnh việc thực hiện xây dựng NTM ở tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn đến năm 2020
Trang 26Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Ở ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NÔNG THÔN MỚI
2.1.1 Quan niệm về nông thôn mới
Khi xây dựng lý luận về xã hội, Mác và Ăngghen đã khái quát quy luậtchung về hình thành đô thị, đó là kết quả của quá trình phân công lao động xãhội trong quá khứ, nhờ đó xã hội loài người tách thành hai phân hệ: đô thị vànông thôn Theo Mác, sự phân công lao động trong nội bộ của một dân tộc trướchết là do có sự tách rời giữa lao động công nghiệp với lao động nông nghiệp và
do đó gây ra sự tách rời giữa thành thị và nông thôn [45, tr.448] Sự hình thành
đô thị cũng là quá trình làm cho xã hội nông thôn được khẳng định; vì vậy, giữanông thôn và đô thị có những điểm khác biệt Tuy nhiên, quan niệm về nông
thôn có thể khác nhau ở mỗi quốc gia Vùng nông thôn có thể được định nghĩabởi quy mô định cư, mật độ dân số, khoảng cách đến những vùng thành thị, phânchia hành chính và tầm quan trọng của ngành công nghiệp
Theo tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), có thể định nghĩa
nông thôn theo hai phương pháp: Thứ nhất, thành thị được xác định bởi luật,
theo đó, là tất cả những trung tâm của tỉnh, huyện và các vùng còn lại được
định nghĩa là nông thôn Thứ hai, sử dụng mức độ tập trung dân sống thành
cụm quan sát được để xác định vùng thành thị Việt Nam theo phương phápthứ nhất để phân định thành thị, nông thôn Theo đó, nông thôn theo quy định
về hành chính và thống kê của Việt Nam là những địa bàn thuộc xã (những
địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị)
Nông thôn là một xã hội, là môi trường sống của người nông dân, nơidiễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều nét đặc thù và nói gọnlại: đó không phải là đô thị (về không gian sống, về cấu trúc và tổ chức xã
Trang 27hội, về quan hệ con người và sinh kế) nhưng cũng không hoàn toàn đối lập
với đô thị (nhất là về văn hóa) [62, tr.52] Như vậy, nông thôn theo quan niệm
này được hiểu là nơi sinh sống của người nông dân với các hoạt động kinh tế,văn hóa, xã hội đặc thù và không phải là đô thị
Theo truyền thống và phổ biến hiện nay thì nông thôn là nơi định cưcủa những người sống chủ yếu bằng nghề nông, đất đai là tư liệu sản xuất chủyếu, một số ít người sống bằng nghề phi nông nghiệp nhưng di động nghềthấp, thường là nghề do cha ông để lại và phân công lao động xã hội chưacao, trình độ chuyên môn thấp, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơcấu kinh tế nông thôn
Nông thôn đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái bao gồmcác tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng, sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ động
thực vật
Cư dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với
những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình Những người ngoài họ tộccùng chung sống luôn có tinh thần điều kiện giúp đỡ nhau tạo nên tình làng,nghĩa xóm lâu bền Trong mối quan hệ ứng xử giữa con người với con người
ở nông thôn Việt Nam, các hành vi của mỗi cá nhân thường được đặt trong
các thiết chế xã hội (gia đình, dòng họ, làng xóm ) làm cho vai trò của cộng
đồng trở nên mạnh mẽ và cá nhân trở nên nhỏ bé Sức mạnh của cộng đồng
làng xã thể hiện cả trong quan hệ giữa các thành viên và những thành viênngoài cộng đồng
Nông thôn là nơi lưu giữ và bảo tồn những di sản văn hóa quốc gia như
phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp vàngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắngcảnh Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hóa dân tộc; đồng thời, làkhu vực giải trí, du lịch sinh thái phong phú, hấp dẫn đối với mọi người
Thông tư hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM khẳng định:
nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị, các thành phố, thị xã,thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã
Trang 28Như vậy, nông thôn là một vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó
có nhiều nông dân Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa,
xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởngcủa các tổ chức khác, phân biệt với đô thị
Về NTM, các nhà nghiên cứu có nhiều tiếp cận khác nhau: tác giả VũTrọng Khải trong cuốn sách "Phát triển nông thôn Việt Nam: Từ làng xãtruyền thống đến văn minh thời đại" cho rằng, NTM là nông thôn văn minhhiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống Việt Nam Tô Văn
Trường cho rằng, NTM cũng phải giữ được tính truyền thống, những nét đặc
trưng nhất, bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết củacộng đồng, mức sống của người dân Mô hình nông thôn tiên tiến phải đượcdựa trên nền tảng cơ bản là nông dân có tri thức Họ phải có trình độ khoa học
về thổ nhưỡng, giống cây trồng, hóa học phân bón và thuốc trừ sâu, quản lýdịch bệnh, bảo quản sau thu hoạch, kinh tế nông nghiệp Có tác giả lại khẳng
định, NTM phải tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng làm đòn bẩy phát
triển các ngành nghề khác; NTM đạt được bộ tiêu chí do Chính phủ ban hành(19 tiêu chí); NTM phải cải tạo được cảnh quan, bảo vệ môi trường, phục vụ
CNH, HĐH đất nước; NTM phải áp dụng khoa học kỹ thuật mới, nâng cao
thu nhập cho người dân
Một số quan niệm khác cho rằng, NTM là nông thôn có kinh tế pháttriển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có quy hoạch,kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái trong lành, dân trí cao, giữ gìn
được bản sắc văn hóa dân tộc, an ninh chính trị được giữ vững
Như vậy, công thức NTM là: Nông thôn mới = Nông dân mới + Nền nông nghiệp mới.
Qua đó cho thấy, nhìn chung các học giả khá thống nhất khi khẳng địnhquan điểm về NTM đó là, nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân được nâng cao, dân trí cao, bản sắc văn hóa dân tộc
được gìn giữ và tái tạo
Trang 29Nghị quyết 26-NQ/TƯ xác định: NTM là khu vực nông thôn có kết cấu
hạ tầng KT - XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chứcsản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ;gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ,
ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an
ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngàycàng được nâng cao; theo định hướng XHCN [2]
Như vậy, mô hình NTM không phải là phép toán được hình thành bởi
những số cộng đơn thuần mà là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thànhmột kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho
nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với
mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt, thể
hiện ở 5 nội dung: Thứ nhất, làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Thứ hai, sản xuất phát triển bền vững theo hướng hàng hóa Thứ ba, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Thứ tư, bản sắc
văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Thứ năm, được quản lý tốt và dân
chủ ngày càng được nâng cao
Để xây dựng nông thôn với năm nội dung trên, Thủ tướng Chính phủ
đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao
gồm 19 tiêu chí, được khái quát thành 5 nhóm nội dung: nhóm tiêu chí về quyhoạch, về hạ tầng KT - XH, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về văn hoá, xã hội,
môi trường và về hệ thống chính trị Hiện nay, các xã đều được hướng dẫn vềnhóm tiêu chí để hướng dẫn tới từng người dân Khi xã đạt đủ 19 tiêu chí đó
thì được công nhận là xã NTM
Mô hình NTM được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu pháttriển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệuquả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn
so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vậndụng trên cả nước
Trang 30Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình NTM có mối liên hệ chặt chẽvới nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định
và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn,
kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần Nhân dân tự nguyệntham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần đó,các chính sách KT - XH sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình NTM
Ngoài những đặc điểm chung của nông thôn truyền thống, mô hìnhNTM hiện nay còn có một số đặc điểm riêng, điều đó được thể hiện ở một sốtiêu chí sau:
Một là, NTM đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, CNH, HĐH, chuẩn bị
những điều kiện vật chất, tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống, trở nên thịnh
vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời Trước hết, tạo cho ngườidân có điều kiện để chuyển đổi lối sống, canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ
truyền) sang sản xuất hàng hoá, dịch vụ, du lịch và những ngành nghề khác
Hai là, có khả năng khai thác hợp lý, nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt
tăng trưởng kinh tế cao, bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềmnăng du lịch được khai thác; làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công
nghiệp được khôi phục; ứng dụng công nghệ cao về quản lý, về sinh học ; cơcấu kinh tế nông thôn phát triển hài hoà, hội nhập địa phương, vùng, cả nước
và quốc tế
Ba là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được nâng
cao, sức lao động được giải phóng Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng,
xã trong công cuộc xây dựng NTM Người nông dân có cuộc sống ổn định,giàu có, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, tay nghề cao, lối sống văn minhhiện đại nhưng vẫn giữ được những giá trị văn hoá, bản sắc truyền thống, tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực mọi phong trào chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… nhằm vừa tự hoànthiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân cư dân ở nôngthôn, vừa góp phần xây dựng nông thôn ngày càng văn minh, giàu đẹp
Trang 31Bốn là, đơn vị cơ bản của mô hình NTM là làng, xã Làng, xã thực sự
là một cộng đồng; trong đó, quản lý của Nhà nước không can thiệp sâu vào
đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thôngqua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nước) Quản lý củaNhà nước và tự quản của nông dân, các giá trị truyền thống làng, xã được phát
huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cânbằng trong đời sống KT - XH ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội…nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn
Năm là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất Các chủ thể
nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi
chính phủ, nhà nước, tư nhân…) có khả năng, điều kiện, trình độ để tham giatích cực vào các quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn;thông tin minh bạch, thông suốt, hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan;phân phối công bằng Người nông dân tự lựa chọn phương án sản xuất kinhdoanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Khái quát lại, đặc điểm NTM được thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất, nông thôn được cấu trúc trên nền tảng của làng, xã truyền thống, có đời sống vật chất, tinh thần ngày càng cao Thứ hai, bên cạnh những ngành nghề
truyền thống, những ngành nghề gắn với quá trình CNH đang dần được hình
thành, phát triển Thứ ba, về văn hóa, xã hội, những giá trị văn hóa truyền
thống được gìn giữ và phát huy, tạo động lực mới cho phát triển KT - XH,
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn Thứ tư, hệ
thống kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường ngày càng được gìn giữ, tái tạo
Thứ năm, về dân chủ cơ sở ở nông thôn ngày càng được phát huy mạnh mẽ,
đi vào thực chất, người dân là một trong những chủ thể đóng vai trò quyết
định đối với việc xây dựng NTM Thứ sáu, chương trình xây dựng NTM hiện
nay được thực hiện chủ yếu theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng
làm”; trong đó, dân tự làm là chính, Nhà nước chỉ hỗ trợ Nhưng phải đáp ứng
Trang 32những mục tiêu của phát triển KT - XH và bị quyết định bởi quản lý nhà
nước, sự khéo léo, linh hoạt trong tổ chức thực hiện của địa phương Thứ bảy,
việc xây dựng NTM hiện nay bị ràng buộc bởi các tiêu chí chung của NTM
nhưng mang nặng tính đặc thù của từng địa phương (xã), do bị quy định, chi
phối bới đặc điểm làng, xã truyền thống, tập quán, điều kiện tự nhiên vànhiều ràng buộc khác bởi cơ chế dân chủ hóa ở cơ sở
2.1.2 Quan niệm về phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đếnrộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp [97, tr.769]
Phát triển KT - XH là mục tiêu đầu tiên của các quốc gia, là thước đo
sự tiến bộ của mỗi quốc gia qua các giai đoạn và trong xu thế chung của thếgiới Do đó, mỗi quốc gia tùy theo quan niệm khác nhau mà lựa chọn con
đường phát triển theo hướng ưu tiên tăng trưởng nhanh, coi trọng vấn đề bìnhđẳng hay công bằng xã hội và phát triển toàn diện
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nềnkinh tế [63, tr.22] Nội dung phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu
thức: Thứ nhất, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia
tăng thu nhập bình quân trên một đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá
trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mứcsống vật chất của một quốc gia và là điều kiện để thực hiện những mục tiêu
khác của phát triển Thứ hai, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế.
Đây là nội dung phản ánh sự biến đổi về chất nền kinh tế của một quốc gia, là
tiêu thức so sánh trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia so sánh với quốc
gia khác trong cùng một thời kì Thứ ba, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong
các vấn đề xã hội Được thể hiện ở sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, tỉ lệbiết chữ trong tổng dân số, chăm sóc sức khỏe, khả năng tiếp cận giáo dục,môi trường sống
Nhìn chung, phát triển kinh tế phản ánh một phạm vi rộng, được xem
như là quá trình biễn đổi cả về chất và lượng của cả vấn đề kinh tế và xã hội ở
Trang 33mỗi quốc gia Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển ở mỗi quốc gia không đơnthuần là sự tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà còn là việc xóa bỏ
nghèo đói, suy dinh dưỡng, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, nước
sạch Mục tiêu của sự phát triển là vì con người và sự hoàn thiện của các tiêuthức trên chính là quá trình biến đổi về chất xã hội của quá trình phát triển
Như vậy, có thể hiểu phát triển KT - XH là một quá trình biến đổi mọi
mặt của nền kinh tế và đời sống xã hội theo hướng ngày càng tiến bộ
2.2 XÂY D NG NÔNG THÔN M I TRONG PHÁT TRI N KINH T - XÃ H I
2.2.1 Khái quát về chương trình xây dựng nông thôn mới
2.2.1.1 Quan niệ m truyề n thố ng về xây dự ng nông thôn
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong quá trình phát triển có vị trí,vai trò to lớn trong lịch sử hình thành quốc gia dân tộc và trong sự nghiệp đấutranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Qua các
giai đoạn cách mạng, nông dân luôn là lực lượng hùng hậu, góp phần làm nên
những trang sử vẻ vang của dân tộc
Xây dựng nông thôn hay phát triển nông thôn là một tổ hợp các hoạt
động đa dạng, có sự tham gia của cá nhân, nhóm, tổ chức, đảm bảo sự phát
triển cho cộng đồng nông thôn
Theo quan niệm truyền thống, phát triển nông thôn là một phần của môhình HĐH, thể hiện trên 4 lĩnh vực: đầu tư vốn nâng cao năng suất; ứng dụngkhoa học vào sản xuất và dịch vụ; hình thành các tổ chức chính trị, kinh tếquy mô lớn cấp nhà nước và đô thị hóa
Nhìn chung, mô hình phát triển nông thôn cũ tập trung chủ yếu vàophát triển sản xuất và mở rộng kinh tế thị trường, ở các nước XHCN thì pháttriển sản xuất và dịch vụ do nhà nước kiểm soát Trong các chương trình pháttriển này thì tiêu chí kinh tế được đề cao hơn cả trong các quyết định, cácnhân tố xã hội, môi trường ít được chú trọng
Những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, các chương trình điều chỉnh
cơ cấu đó được áp dụng nhằm đem lại nhiều lợi ích cho xã hội và kinh tế
Trang 34nông thôn Tuy nhiên, kết quả của điều chỉnh cơ cấu trên thế giới vẫn cònnhiều tranh cãi bởi những kết quả và tác động của nó chưa được như mong
đợi đối với các nước nghèo, đặc biệt là dân cư sống ở các vùng nông thôn
Ở Việt Nam, xây dựng nông thôn cũng đã được tiến hành từ lâu trong
lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước của dân tộc Xây dựng NTM thể hiện
trước hết ở mục tiêu nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đề xuất phong trào thi đua xây dựng NTM ở vùng giải phóng với ba nội
dung: “Thi đua tăng gia sản xuất để diệt giặc đói; Thi đua học chữ quốc ngữ
để diệt giặc dốt; Thi đua giúp đỡ bộ đội, xây dựng dân quân du kích để diệt
giặc ngoại xâm” [46, tr.711]
Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất chú trọng xây dựng đời sống mới và coi đó là
biện pháp hiệu quả nhằm xóa bỏ tàn dư lạc hậu do chế độ cũ để lại Đây cũng
là biện pháp để từng bước nhằm giáo dục các tầng lớp nhân dân nhận thức
được tính ưu việt của chế độ xã hội mới và trách nhiệm của mình đối với việc
xây dựng xã hội mới Ủy Ban vận động đời sống mới Trung ương được thànhlập ngày 3 tháng 4 năm 1946 mục tiêu đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động xâydựng đời sống mới trong toàn dân và trên toàn quốc Để hướng dẫn các tầng lớpnhân dân thực hành xây dựng đời sống mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác
phẩm “Đời sống mới” Đó là những tiền đề đầu tiên để tiến hành xây dựng NTM
trong suốt quá trình đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược
Nội dung về xây dựng đời sống mới ở nông thôn còn được thể hiện vàgắn chặt với các chính sách phát triển nông nghiệp Giai đoạn 1954 - 1958, Nhà
nước thực hiện chính sách cải cách ruộng đất nhằm giao ruộng đất cho hộ nông
dân với mục tiêu người cày có ruộng và thực hiện công tác khuyến nông Sau
đó, mô hình hợp tác hóa nông nghiệp được tiến hành từ năm 1958 - 1985 vàđược triển khai rộng rãi trên cả nước từ những năm 1976 - 1980, trong đó nhiều
mô hình điểm cấp huyện được đầu tư xây dựng Tuy nhiên, sản xuất nông
Trang 35nghiệp vẫn chậm phát triển, đời sống của cư dân nông thôn gặp nhiều khó
khăn Từ năm 1981 đến năm 1985, cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm và ngườilao động được thực hiện Đây thực sự là bước đột phá quan trọng về chính sách
nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn Sau cơ chế khoán trong nông nghiệp,
đường lối đổi mới kinh tế được thực hiện, mô hình phát triển kinh tế nhiều
thành phần và luật đất đai được ban hành năm 1993 đã trở thành động lực thực
sự mạnh mẽ thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển Nghị Quyết Trung
ương VII khóa X khẳng định rõ ràng về vai trò của nông nghiệp, nông dân,
nông thôn và yêu cầu xây dựng NTM
Nhìn chung, chủ trương về xây dựng NTM hay phát triển nông thôn đã
được thực hiện từ khá lâu, chủ yếu gắn với nội dung gắn phát triển nông nghiệp
nói chung nhưng phạm vi mới dừng lại ở việc thí điểm ở một số địa phương
Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của
Đảng, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn:
- Cơ sở của kinh tế nông thôn là nông nghiệp đã chuyển từ nền sản xuất
tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, định hướngXHCN Kinh tế nông thôn không những góp phần giải quyết vấn đề an ninh
lương thực quốc gia mà còn trở thành một trong những nước có nhiều sản
phẩm nông sản xuất khẩu đứng đầu thế giới, bước đầu hình thành những vùngsản xuất hàng hóa chuyên canh quy mô lớn Bước chuyển này có ý nghĩaquan trọng tạo tiền đề cho việc xây dựng NTM
- Hệ thống kết cấu hạ tầng KT - XH ở nông thôn, tiền để đẩy mạnh
CNH, HĐH phát triển nhanh, các dịch vụ phục vụ cho sản xuất, kinh doanh,đời sống nông dân được cung cấp ngày càng tốt hơn, đáp ứng yêu cầu của sản
xuất, đời sống của người dân Hệ thống đường giao thông nông thôn được xâydựng, nâng cấp cả về số lượng, chất lượng Hệ thống thủy lợi đáp ứng ngàycàng tốt hơn cho yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp Công tác giáo dục
và đào tạo ở nông thôn đã được chú trọng, hệ thống trường học các cấp được
mở rộng, về cơ bản xóa trường, lớp tạm Cùng với giáo dục và đào tạo, hệ
Trang 36thống y tế nông thôn đã được quan tâm đầu tư xây dựng, trở thành tuyến
chăm sóc sức khỏe ban đầu quan trọng cho nhân dân Hệ thống mạng lướithông tin, văn hóa phát triển nhanh góp phần nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của dân cư nông thôn
- Trong công cuộc đổi mới, chính sách xã hội và an sinh xã hội đúng
đắn, hướng vào phát triển con người, vì hạnh phúc của nhân dân là động lực
to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân Nhà nước đã thực hiệnnhiều chính sách xã hội ở khu vực nông thôn, nhất là khu vực đặc biệt khó
khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi cao, biên giới, hải đảo Nhiều
nguồn lực để đầu tư cho chương trình giảm nghèo, chăm lo giúp các đối
tượng chính sách, người nghèo, người gặp khó khăn cơ nhỡ góp phần từngbước ổn định cuộc sống đã được triển khai và phát huy tác dụng tích cực
- Hệ thống Chính trị ở cơ sở thường xuyên được củng cố, hiệu quả hoạt
động ngày càng được nâng lên; thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở, sức mạnh
tổng hợp của quần chúng ngày càng phát huy; an ninh chính trị, trật tự xã hội
chưa cao, năng lực cạnh tranh thấp Mặc dù có sự chuyển dịch nhanh hơn cơ
cấu hộ nông thôn thời kỳ 2001 - 2006 nhưng kết cấu của nông thôn Việt Nam cơbản vẫn mang tính thuần nông Nông nghiệp vẫn là nguồn việc làm và thu nhậpchủ yếu của cư dân nông thôn Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp chỉ giảm
được 26% (từ 72,9% năm 1985 giảm xuống còn 46,9% hiện nay) [88, tr.35]
- Xu hướng phân hóa giàu nghèo gia tăng trong nội bộ khu vực nôngthôn và giữa nông thôn với thành thị trở thành vấn đề bức xúc hiện nay Hơnnữa, sản xuất nông nghiệp chịu nhiều rủi ro do thiên tai nên nguy cơ các hộ
Trang 37cận nghèo trở thành hộ nghèo rất cao, hoặc các hộ đã thoát nghèo nhưng nếugặp rủi ro dễ trở về hộ nghèo
- Quá trình phát triển nông thôn còn nhiều bất cập Nông thôn phát triểnthiếu quy hoạch, cơ bản vẫn là tự phát; kết cấu hạ tầng KT - XH tuy có nhữngbiến đổi tích cực về điện, đường, trường, trạm song vẫn lạc hậu; đời sống vậtchất, văn hoá, y tế, giáo dục của cư dân nông thôn được cải thiện một bước
nhưng còn ở mức thấp, đặc biệt ngày càng doãng cách xa so với đô thị Khu
vực nông thôn có nguy cơ ngày càng tụt hậu, khó có điều kiện tiếp cận việclàm, thu nhập, giáo dục, y tế, các dịch vụ văn hóa
- Môi trường tự nhiên ngày càng bị ô nhiễm, nhiều nơi ở mức báo động,
môi trường văn hóa - xã hội một số vùng ở nông thôn bị xuống cấp, chứa đựng
nhiều yếu tố phức tạp Tệ nạn xã hội, tiêu cực xã hội gia tăng Các giá trị vănhóa ở nông thôn chưa được khẳng định rõ rệt, một số giá trị văn hóa tích cực ở
nông thôn có xu hướng bị mai một Tình trạng khiếu kiện về đất đai, đền bù,
giải phóng mặt bằng chậm được giải quyết, gây bức xúc trong nhân dân
- Nhìn chung, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm
năng và lợi thế của nông thôn Những tồn tại hạn chế, bất cập hiện nay là
những mâu thuẫn tồn tại trong quá trình phát triển KT - XH nông thôn Khôngthể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu, đờisống nông dân còn thấp Vì vậy, xây dựng NTM là tất yếu, được xác định làmột trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước; đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thầncho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn
Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết vềphát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn, nâng cao đời sống của ngườinông thôn Ngày 5-8-2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông quaNghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó đề
ra mục tiêu xây dựng NTM Do đó, xây dựng NTM được xác định là mộtnhiệm vụ chiến lược
Trang 382.2.1.2 Quan điể m xây dự ng nông thôn mớ i hiệ n nay
Mục tiêu xây dựng NTM: Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT
-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triểnnông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàubản sắc văn hoá dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự
được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng đượcnâng cao; theo định hướng XHCN Đây là một chương trình tổng thể về phát
triển KT - XH, chính trị, an ninh, quốc phòng Chương trình mục tiêu quốcgia về xây dựng NTM bao gồm 11 nội dung, được cụ thể hóa trên 19 tiêu chí
- Nguyên tắc xây dựng NTM:
+ Xây dựng NTM hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được qui
định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
+ Xây dựng NTM theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng
đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban
hành các tiêu chí, quy chuẩn đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ, hướng dẫn.Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dânchủ để quyết định, tổ chức thực hiện
+ Được thực hiện trên cơ sở kế thừa, lồng ghép các chương trình mụctiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác
đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần
thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phầnkinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
+ Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH,đảm bảo an ninh, quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy
hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêuchuẩn kinh tế, kỹ thuật do các bộ chuyên ngành ban hành)
+ Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng,chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế
Trang 39hoạch, tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vận động “toàn dân xây dựng NTM”
do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọitầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng NTM
- Điểm mới của chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTMhiện nay: Xây dựng NTM hiện nay có những điểm khác biệt so với xây
dựng NTM trước đây: Thứ nhất, xây dựng NTM theo tiêu chí chung cả
nước, được định trước Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và
trong phạm vi cả nước, không thực hiện thí điểm, nơi làm nơi không, 9.121
xã trên cả nước cùng làm Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây
dựng NTM, không phải nhà nước hay các tổ chức Chính trị - xã hội, mà
người dân tự xây dựng Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm
11 chương trình mục tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêuđang diễn ra tại nông thôn
Như vậy, xây dựng NTM chính là thực hiện chương trình phát triển
toàn diện, vững chắc nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm nâng cao đờisống người dân và sự phát triển Đó là quá trình thay đổi toàn diện về kinh tế,
văn hoá, xã hội, môi trường; trong đó có hàm ý là tạo ra những “con người
mới” có văn hoá trong môi trường NTM
Xây dựng NTM bao gồm tất cả các vấn đề gắn với đời sống của người
dân và môi trường, không gian sống ở khu vực nông thôn (giáo dục, y tế, nhà
cửa, dịch vụ công cộng, cơ sở vật chất, năng lực lãnh đạo, quản lý, bảo tồn vàphát huy giá trị các di sản văn hóa cũng như các vấn đề kinh tế của địa
phương nói chung, kinh tế ngành nói riêng), là một quá trình ổn định, bền
vững với những thay đổi kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường hướng tới hộinhập bền vững trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường.Mục tiêu trọng tâm là nâng cao được đời sống dân cư tại cộng đồng và đượcsống trong một xã hội nông thôn năng động, văn hoá hiện đại nhưng vẫn giữ
được bản sắc văn hoá truyền thống, đồng thời ở đó môi trường được bảo vệ
và ngày càng được tôn tạo
Trang 402.2.2 Một số vấn đề đặt ra đối với chương trình xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội
2.2.2.1 Mố i quan hệ giữ a xây dự ng nông thôn mớ i vớ i phát triể n kinh tế - xã hộ i đị a phư ơ ng
- Nông thôn là địa bàn trọng yếu trong phát triển KT - XH NTM là nơisản xuất ra sản phẩm nông nghiệp có năng suất, chất lượng cao theo hướngsản xuất hàng hóa, phát huy được lợi thế của từng vùng, từng địa phương.Mặt khác, NTM còn là nơi lưu giữ, phát triển những ngành nghề truyềnthống, các sản phầm ngành nghề vừa chứa đựng yếu tố văn hóa vật thể và phivật thể của các làng nghề, đồng thời tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, nângcao chất lượng cuộc sống cho cư dân nông thôn Gần 30 năm đổi mới và pháttriển, khu vực nông thôn đã có bước phát triển đáng kể, các hình thức tổ chứcsản xuất kinh doanh ngày càng đa dạng, phong phú, đời sống vật chất, tinhthần của cư dân nông thôn ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, trong xu thếhội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay, sản xuất nông nghiệp, kinh tế
nông thôn đối mặt với nhiều rủi ro Hơn thế nữa, quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn đang đặt ra nhiều vấn đề lớn cần giải quyết Do đó, pháttriển KT - XH khu vực nông thôn để không ngừng nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của người dân nông thôn là một trong những nhiệm vụ cấp thiết
trong điều kiện phát triển mới hiện nay
- Nông thôn là thị trường đầu vào, đầu ra rộng lớn, đầy tiềm năng chophát triển KT - XH Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớncủa công nghiệp bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất Sự thay đổi vềcầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản
lượng ở khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao
thu nhập cho dân cư nông thôn, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽlàm cho cầu về sản phẩm công nghiệp và các sản phẩm dịch vụ tăng, thúc đẩycông nghiệp và các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế phát triển Mặt khác,nông nghiệp, nông thôn là nơi cung cấp những yếu tố đầu vào, nguồn nguyên