Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giữa trung ương đối với chínhquyền địa phương là một nội dung lớn và phức tạp; mặt khác khả năng nghiêncứu của bản thân còn nhiều hạn chế, rất mong nh
Trang 1Với thời gian ba năm, được học tập và nghiên cứu ở Học viện hànhchính, chương trình đào tạo Thạc sĩ Tài chính ngân hàng, tôi đã được các thầy
cô truyền đạt nhiều kiến thức quý báu và thiết thực cho công tác chuyên môncũng như trong cuộc sống
Chương trình đào tạo Thạc sĩ Tài chính ngân hàng là một chuyên ngànhmới trong quản lý đào tạo thạc sĩ của Học viện hành chính, việc tìm tòi tài liệuhọc tập, nghiên cứu đối học viên khóa I là tương đối khó khăn Do đó để hoànthành bản luận văn này, tôi vô cũng biết ơn, sự quan tâm hướng dẫn tận tình củagiáo viên hướng dẫn: PGS TS Trần Đình Ty; Sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy
cô giảng dạy và quản lý của Học viện hành chính quốc gia; Sự quan tâm tạođiều kiện của cơ quan nơi công tác; Sự giúp đỡ của bạn bè và đồng nghiệp trongsuốt thời gian học tập
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giữa trung ương đối với chínhquyền địa phương là một nội dung lớn và phức tạp; mặt khác khả năng nghiêncứu của bản thân còn nhiều hạn chế, rất mong nhận được sự quan tâm góp ý củacác thầy cô trong Hội đồng khoa học để nội dung luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 11 năm 2011
Tác giả luận văn
Vũ Quang Huy
Trang 2Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp Đề tài “Hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trong giai đoạn hiện nay” là do tôi nghiên cứu,
xây dựng, các số liệu trong luận văn là trung thực, khách quan khoa học, dựatrên kết quả khảo cứu thực tế và các công trình nghiên cứu trước đây đã từngcông bố
Hà Nội, ngày 23 tháng 11 năm 2011
Tác giả luận văn
Vũ Quang Huy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH M C CÁC SỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU Ơ ĐỒ, BẢNG BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU ẢNG BIỂU, B NG BI UỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp khoa học mới của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6
1.1 Tổng quan về ngân sách nhà nước 6
1.1.1 Khái niệm Ngân sách Nhà nước 6
1.1.2 Vai trò của Ngân sách Nhà nước 7
1.1.3 Các mô hình quản lý ngân sách Nhà nước 10
1.1.4 Nội dung Ngân sách Nhà nước 13
1.2 Cơ sở lý luận về phân cấp quản lý NSNN 17
1.2.1 Khái niệm phân cấp quản lý NSNN 17
1.2.2 Nội dung phân cấp quản lý NSNN 19
1.2.3 Yêu cầu, nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN 25
1.3 Kinh nghiệm các nước về phân cấp quản lý NSNN 29
1.3.1 Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước của Trung Quốc 29
1.3.2 Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước của Malaysia 31
Trang 41.3.4 Những vấn đề rút ra từ kinh nghiệm về phân cấp quản lý Ngân sách
Nhà nước ở các nước trên thế giới 36
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN TẠI VIỆT NAM 39
2.1 Khái quát về phân cấp NSNN ở Việt Nam hiện nay 39
2.1.1 Cơ cấu các cấp chính quyền địa phương 39
2.1.2 Hệ thống NSNN ở Việt Nam 41
2.1.3 Căn cứ pháp lý cho phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước 44
2.2 Thực trạng phân cấp quản lý NSNN 44
2.2.1 Phân cấp về thẩm quyền ngân sách 44
2.2.2 Phân cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi 52
2.2.3 Phân cấp về quy trình ngân sách 59
2.3 Đánh giá về phân cấp quản lý NSNN 61
2.3.1 Những kết quả đạt được 61
2.3.2 Những mặt còn hạn chế 62
2.3.3 Nguyên nhân 65
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 69
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ HỆ THỐNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN Ở VIỆT NAM 70
3.1 Phương hướng 70
3.1.1 Quan điểm, định hướng của nhà nước về quản lý ngân sách 70
3.1.2 Mục tiêu hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước 74
3.1.3 Phương hướng đổi mới, hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN 75
3.2 Hệ thống giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN 78
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống Ngân sách Nhà nước phù hợp với sự đổi mới hệ
Trang 53.2.3 Hoàn thiện cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của các cấp
Ngân sách 80
3.2.4 Cải tiến các quy định về thời kỳ ổn định ngân sách và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới 83
3.2.5 Bỏ cơ chế thưởng vượt thu cho các địa phương như hiện nay 84
3.2.6 Quy định tỷ lệ dư nợ vốn vay trên tổng thu Ngân sách Nhà nước 84
3.2.7 Hoàn thiện chu trình Ngân sách Nhà nước 85
3.3 Kiến nghị: 87
3.3.1 Đối với Nhà nước 87
3.3.2 Đối với chính quyền các cấp 89
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6CNTB Chủ nghĩa tư bản
GDP Tổng thu nhập quốc nội
(Gross Domestic Product)GTGT Giá trị gia tăng
VAT Thuế giá trị gia tăng
(Value Added Tax)
Trang 7 SƠ ĐỒ:
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu ngân sách nhà nước……… 23
Sơ đồ 2.1: Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam……… 48
BẢNG BIỂU:
Bảng 2.1: Dự toán chi ngân sách nhà nước, chi NSTW, chi NSĐP theo cơ
cấu chi năm 2010 ……….50
Bảng 2.2: Dự toán chi ngân sách địa phương năm 2010 của UBND TP Hà
năm 2009 tại một số địa phương ……….… 61
Bảng 2.7: Tỷ lệ phân chia nguồn thu tại một số địa phương ………… 63 Bảng 2.8: Phân cấp thu chi tại Việt Nam ……… 64 Bảng 2.9: Bổ sung ngân sách cân đối từ ngân sách trung ương cho ngân
sách địa phương năm 2010.……… 69
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước là dự toán hằng năm về toàn bộ các nguồn tàichính được huy động cho nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó, nhằmbảo đảm thực hiện chức năng của Nhà nước do Hiến pháp quy định Đó lànguồn tài chính tập trung quan trọng nhất trong hệ thống tài chính quốc gia.Ngân sách nhà nước là tiềm lực tài chính, là sức mạnh về mặt tài chính củanhà nước Quản lý và điều hành ngân sách nhà nước có tác động chi phối trựctiếp đến các hoạt động khác trong nền kinh tế
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là một vấn đề luôn được Nhà nướcquan tâm để thường xuyên hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện phát triểnkinh tế xã hội của đất nước cũng như các địa phương Chính vì vậy việc nghiêncứu một cách hệ thống, toàn diện, cụ thể cả về lý luận lẫn thực tiễn về phân cấpquản lý ngân sách phù hợp với việc xây dựng nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa theo xu thế hội nhập quốc tế ở Việt Nam luôn là đòihỏi bức xúc
Là một cán bộ làm công tác quản lý tài chính đây là vấn đề tôi quantâm trong thời gian qua, do vậy sau khi học tập chương trình cao học Tài
chính ngân hàng ở Học viện hành chính tôi chọn vấn đề “Hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận
văn thạc sĩ Qua đó vận dụng lý luận để phân tích thực tiễn của đất nước nóichung và phục vụ đổi mới công việc tôi đang đảm nhận
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nghiên cứu quản lý ngân sách nhà nước được nhiều nhà nghiêncứu quan tâm, đặc biệt là sau khi Luật ngân sách nhà nước ra đời năm 2002
Trang 9Vì vậy, đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý ngân sách nhà nước ởnhững cấp độ và giác độ khác nhau, cụ thể:
Một số công trình nghiên cứu đã thực hiện:
Tác phẩm “Đổi mới ngân sách nhà nước” của Tào Hữu Phùng và
Nguyễn Công Nghiệp, do NXB Thống kê, Hà Nội, xuất bản năm 1992 đãkhái quát những nhận thức chung về NSNN, đánh giá những chính sáchNSNN hiện hành và đề xuất giải pháp đổi mới NSNN để sử dụng có hiệu quảtrong tiến trình đổi mới nền kinh tế đất nước
Phát huy vai trò của ngân sách nhà nước – góp phần phát triển kinh tế Việt Nam - Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Thao – Hà Nội 2007.
Luận án đã làm rõ vai trò của ngân sách nhà nước; đề xuất những đổi mớitrong việc gắn vai trò ngân sách với đổi mới cơ chế kinh tế, chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách nhà nước cho các cấp chính quyền địa phương – Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Đào Xuân Liên – TP.
HCM 2007 Luận văn đã đề cập sâu về vấn đề phân cấp ngân sách nhà nước,những mặt hiệu quả, chủ động, tích cực cũng như hạn chế, tồn tại của các chínhquyền cấp dưới sau phân cấp theo Luật ngân sách nhà nước ra đời năm 2002
Đổi mới quản lý ngân sách địa phương ở các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng - Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Quốc Vinh – 2009 Luận án đã
tập trung vào các giải pháp đổi mới quản lý ngân sách, như đổi mới nhận thức
từ các địa phương, đổi mới tổ chức bộ máy, phương tiện quản lý Đặc biệt,Luận án đã thu thập số liệu và đưa ra các giải pháp cho các địa phương trong
cả vùng, khu vực có tương đồng về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Hoàn thiện phân cấp quản lý thu chi ngân sách nhà nước đối với chính quyền địa phương qua thực tiễn khảo sát tại tỉnh Quảng Trị – Luận văn thạc
Trang 10sĩ quản lý hành chính công của tác giả Trần Hồng Hạnh – Hà Nội 2007 Luận văn
đã đề cập sâu về vấn đề phân cấp đối với lĩnh vực thu chi ngân sách nhà nước tạiđịa phương (Quảng Trị) từ khi áp dụng Luật ngân sách nhà nước năm 2002
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam – Luận văn thạc sĩ
quản lý hành chính công của tác giả Lê Toàn Thắng – Hà Nội 2006 Luận văn
đã hệ thống hóa ngân sách nhà nước qua từng giai đoạn, gắn hoàn thiện tổchức bộ máy hành chính với mô hình quản lý ngân sách, đồng thời đưa ra cácgiải pháp vận hành phân cấp giữa trung ương và các địa phương
Quản lý Tài chính công ở Việt Nam - Đề tài khoa học của tác giả
Nguyễn Ngọc Hiến – Hà Nội 2003 Đề tài đã đưa ra nhận thức, lý luận chung
về quản lý tài chính công, kinh nghiệm quản lý tài chính công ở một số nướctrên thế giới Thực trạng thu, chi ngân sách ở Việt Nam qua các thời kỳ Từ
đó tập tập trung vào các giải phảp đổi mới cơ chế phân cấp quản lý ngân sách;Hoàn thiện quy trình quản lý ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam – Bài viết của
PGS.TS Lê Chi Mai trên Tạp chí quản lý nhà nước đã tập trung vào thựctrạng phân cấp quản lý và đưa ra những định hướng tăng cường phân cấpquản lý ngân sách cho chính quyền địa phương
Tuy nhiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, cụ thể cả về lýluận lẫn thực tiễn về phân cấp quản lý ngân sách phù hợp với việc xây dựngnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo xu thế hội nhập quốc
tế thì đây là công trình nghiên cứu không trùng lặp
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa có bổ sung và hoàn thiện những cơ sở khoa học của phâncấp quản lý ngân sách nhà nước đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN theo xu thế hội nhập ở Việt Nam
Trang 11Trên cơ sở phân tích thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ởViệt Nam hiện nay, có tham chiếu với kinh nghiệm ở các nước, đề xuấtphương hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sáchnhà nước đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước trong giai đoạn sắp tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước từ Trungương xuống các địa phương
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu trong phạm vi cảnước, chủ yếu tập trung về cơ chế, quan hệ giữa các cấp chính quyền từ Trungương đến cơ sở, không đi vào quy định cụ thể, chi tiết
Thời gian khảo sát: Từ năm 2006 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta trong nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN theo xu thế hội nhập
Luận văn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu phổ biến:
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp duy vật lịch sử
- Phương pháp tổng hợp, so sánh
- Phương pháp thống kê
- Điều tra xã hội
Luận văn có sử dụng số liệu, tài liệu liên quan đến đề tài trong và ngoàinước đã công bố
Trang 126 Đóng góp khoa học mới của luận văn
- Về mặt lý luận:
Hoàn thiện cơ sở lý luận về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trongnền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo xu thế hội nhập quốc tế ở ViệtNam Theo đó đã đưa ra khái niệm, mối quan hệ, yêu cầu phân cấp, hệ thốngnội dung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Chương 2: Thực trạng phân cấp quản lý NSNN tại Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện phân cấp
quản lý NSNN ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan về ngân sách nhà nước
1.1.1 Khái niệm Ngân sách Nhà nước
Ngân sách nhà nước là dự toán hằng năm về toàn bộ các nguồn tàichính được huy động cho nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó, nhằmbảo đảm thực hiện chức năng của Nhà nước do Hiến pháp quy định Đó lànguồn tài chính tập trung quan trọng nhất trong hệ thống tài chính quốc gia.Ngân sách nhà nước là tiềm lực tài chính, là sức mạnh về mặt tài chính củanhà nước Quản lý và điều hành ngân sách nhà nước có tác động chi phối trựctiếp đến các hoạt động khác trong nền kinh tế
Tại Việt Nam, theo Luật Ngân sách Nhà nước được Quốc hội thông quangày 16/12/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004 thì "Ngânsách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quanNhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảođảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước"
Ngân sách nhà nước là kế hoạch tài chính cơ bản để hình thành, phânphối, sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, để mở rộng sảnxuất và thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Ngân sách nhà nước
là một công cụ tài chính để nhà nước phân phối thu nhập quốc dân, thực hiệnchương trình phát triển kinh tế xã hội, sử dụng hợp lý các tài nguyên trongcác ngành sản xuất xã hội
Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, cáckhoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ
Trang 14chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định củapháp luật, các khoản do nhà nước vay để bù đắp bội chi được đưa vào cân đốingân sách và bao gồm các khoản chi: chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảmquốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động bộ máy nhà nước; chi trả của nhànước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
1.1.2 Vai trò của Ngân sách Nhà nước
Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất trong nền kinh tế,
có mối quan hệ chặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân và cómối quan hệ khăng khít với tất cả các khâu của cả hệ thống tài chính, đặc biệt
là tài chính doanh nghiệp và tín dụng
Ngân sách nhà nước không thể tách rời với vai trò của nhà nước Nhà nướcquản lý và sử dụng ngân sách để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình.Vai trò của NSNN được thể hiện qua các điểm sau:
Thứ nhất: Vai trò NSNN trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, thể hiện
ở các mặt chủ yếu: Xác định một cách có khoa học, đặt ra một tỉ lệ huy độngtổng sản phẩm xã hội vào NSNN, lấy đó làm căn cứ điều chỉnh quan hệ nhànước với doanh nghiệp, dân cư trong phân phối tổng sản phẩm xã hội Thựchiện việc điều chỉnh này, vừa bảo đảm nhu cầu của nhà nước, vừa phải bảođảm nhu cầu của doanh nghiệp và dân cư, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, tiếtkiệm và đầu tư phát triển
Xác định quan hệ thuế trong tổng sản phẩm, bảo đảm nhà nước có nguồn thuthường xuyên, ổn định, thực hiện điều tiết hợp lý lợi ích trong nền kinh tế quốc dân.Xác định các hình thức huy động ngoài thuế trên thị trường tài chính, dướicác hình thức công trái quốc gia, trái phiếu kho bạc nhằm trang trải bội chi NSNN.Xác định vai trò quyền sở hữu tài sản công và tài nguyên quốc gia đểgiải quyêt nguồn huy động
Trang 15Thứ hai: Vai trò của ngân sách nhà nước trong ổn định và tăng trưởngkinh tế thể hiện:
+ Trong thu NSNN: Nhà nước thực hiện chính sách thuế như là công cụhữu hiệu trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, có tác dụng phục vụ và
có hiệu quả trong giải phóng các tiềm năng của các thành phần kinh tế, gópphần đổi mới cơ chế quản lý và cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sắp xếp lại sảnxuất, thúc đẩy hạch toán kinh tế, thực hiện sự bình đẳng và cạnh tranh lànhmạnh giữa các thành phần kinh tế để phát triển có lợi cho nền kinh tế
+ Trong chi NSNN: Ngân sách thực hiện việc đầu tư vào kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư khai thác tài nguyên, sứclao động, thị trường; đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn, các công trìnhtrọng điểm, các cơ sở kinh tế then chốt có khả năng tạo ra sự chuyển biến tốttrong phát triển kinh tế mà khu vực tư nhân không có khả năng hoặc khôngmuốn đầu tư
Thông qua quá trình chi ngân sách, Nhà nước kiềm chế đẩy lùi lạm phát vàbình ổn giá cả, ổn định tiền tệ, ổn định đời sống nhân dân Ngân sách nhà nướcđóng một vai trò quan trọng trong quan hệ cung cầu tiền tệ để ổn định và điều tiết
vĩ mô nền kinh tế; qua thu chi ngân sách tác động quan hệ cung cầu về tiền tệ Thứ ba: Vai trò của ngân sách trong ổn định chính trị, bảo vệ thành quảcách mạng, cụ thể:
Vai trò của ngân sách trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, trong ổnđịnh và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho ổnđịnh chính trị Thông qua thu chi ngân sách, không ngừng hoàn thiện bộ máynhà nước, phát huy vai trò của bộ máy nhà nước trong việc quản lý mọi lĩnhvực của đất nước, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ và phát triển nhữngthành tựu đạt được của sự nghiệp cách mạng
Trang 16Thứ tư là vai trò kiểm tra của ngân sách, thể hiện:
Thông qua ngân sách nhà nước kiểm tra quá trình phát triển kinh tế quốcdân, cũng như các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhằm thúc đẩy,phát hiện và khai thác tiềm năng kinh tế, kiểm tra bảo vệ tài sản quốc gia, tàisản nhà nước, chống thất thoát lãng phí, kiểm tra việc chấp hành luật pháp vềNSNN, kỷ luật tài chính, bảo đảm trật tự kỷ cương trong hoạt động tài chính.Thứ năm: Vai trò của ngân sách nhà nước là tiền đề vật chất quan trọngđối với hoạt động của nền hành chính quốc gia nói chung và đối với hoạtđộng của chính quyền mỗi cấp địa phương, thể hiện:
Ngân sách nhà nước trước tiên có thể thấy rõ là một công cụ tài chính bất
kỳ của một nhà nước nào, thực hiện sự tác động trực tiếp đến hoạt động của
bộ máy nhà nước vừa tác động gián tiếp đến nền kinh tế xã hội thông quanhững chủ trương, chính sách của Nhà nước Nền hành chính quốc gia với tưcách là một nhánh quyền lực nhà nước thực hiện chức năng hành pháp Vớichức năng ấy, nền hành chính có liên quan tới tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội và tới mọi công dân Để thực hiện sự tác động trực tiếp hay gián tiếp
ấy, công cụ được sử dụng đó là luật pháp và nguồn lực tài chính quốc giađược sử dụng chủ yếu để thực hiện đó là ngân sách nhà nước Không có ngânsách nhà nước, nền hành chính khó có thể thực hiện chức năng “phục vụ vàhướng dẫn” các công dân của đất nước mình Thu ngân sách nhà nước và chingân sách nhà nước đó là hai công cụ để các nhà quản lý hành chính thực hiện
sứ mạng: Thu NSNN là quá trình động viên nguồn lực trong xã hội vào taynhà nước và chi NSNN là quá trình phân bổ nguồn lực đã tập trung từ xã hội
ra xã hội để thực hiện các chức năng của nhà nước
Không có ngân sách nhà nước, nền hành chính không có công cụ để tácđộng đến xã hội để thực hiện các mục tiêu quản lý cũng như không có nguồnlực để thực hiện các mục tiêu đó
Trang 171.1.3 Các mô hình quản lý ngân sách Nhà nước
Hệ thống Ngân sách Nhà nước là tổng thể các cấp Ngân sách, giữachúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau đã được xác định bởi sự thống nhất về
cơ sở kinh tế - chính trị, bởi pháp chế và các nguyên tắc tổ chức của bộ máyhành chính Nhà nước
Hệ thống Ngân sách Nhà nước được tổ chức phù hợp với hệ thống hànhchính Có hai mô hình tổ chức hệ thống hành chính đó là: mô hình Nhà nướcthống nhất (hay phi liên bang) hoặc mô hình Nhà nước liên bang
Nhà nước thống nhất là Nhà nước có chủ quyền chung, có hệ thống cơquan quyền lực, cơ quan quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương và
có các đơn vị hành chính gồm tỉnh (thành phố) trực thuộc trung ương, huyện(quận), xã (phường, thị trấn), Mô hình Nhà nước này có tính tập trung quyềnlực cao ở cấp trung ương và thường tổ chức bộ máy thành hai cấp lớn là cấptrung ương và cấp địa phương
Nhà nước liên bang là Nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viênhợp lại Nhà nước liên bang có chủ quyền chung của Nhà nước liên bang vàđồng thời mỗi nước thành viên cũng có chủ quyền riêng Nhà nước liên bangkhông có tính tập trung bằng Nhà nước phi liên bang nhưng quyền lực chocác bang được mở rộng ra nhiều
Xuất phát từ đó, cũng tồn tại hai mô hình tổ chức hệ thống Ngân sáchNhà nước Hệ thống Ngân sách Nhà nước ở các nước có mô hình tổ chứchành chính theo thể chế Nhà nước thống nhất hay phi liên bang như Anh,Pháp, Ý, Nhật; hệ thống Ngân sách Nhà nước bao gồm 2 cấp Ngân sách đó là:
- Ngân sách trung ương
- Ngân sách địa phương
Trang 18Theo mô hình này, dựa trên quan điểm coi ngân sách nhà nước là duynhất và thống nhất Nhà nước chỉ có một ngân sách Ngân sách này do chínhphủ trung ương quản lý và quyết định sử dụng Tuy nhiên, để phục vụ chomục đích và yêu cầu quản lý ngân sách nhà nước, chính phủ trung ương cóthể ủy quyền cho các cấp chính quyền địa phương thực hiện một số nghiệp vụcần thiết Tuy nhiên, việc phê duyệt dự toán, quyết toán hoặc cân đối thu chingân sách nhà nước trên địa bàn vẫn do nhà nước trung ương đảm nhận Môhình này không thừa nhận sự tồn tại độc lập của ngân sách địa phương
Mô hình này có ưu điểm là:
- Tập trung được toàn bộ các nguồn thu vào tay nhà nước trung ương
để bố trí chi tiêu hợp lý cho các nhu cầu cần thiết cảu đất nước
- Khắc phục được các biểu hiện cục bộ địa phương và tình trạng bấthợp lý về các nguồn thu và nhiệm vụ chi của địa phương
Hạn chế của mô hình này là:
- Không phát huy được tính chủ động của địa phương trong việc khai thácnguồn thu và bố trí kinh phí phù hợp để giải quyết các nhu cầu chi trên địa bàn
- Tạo ra tư tưởng ỷ lại, thụ động, trông chờ của các địa phương vào sựphân bổ ngân sách của trung ương
- Khi bộ máy quản lý nhà nước trung ương yếu kém, bảo thủ, trì trệ, tệquan liêu nặng nề thì việc thực thi mô hình này sẽ kém hiệu quả
Ở các nước có mô hình tổ chức hành chính theo thể chế Nhà nước liênbang như Mỹ, Đức, Canađa, Thụy Sĩ, Malaysia; hệ thống Ngân sách Nhànước được tổ chức theo 3 cấp đó là:
- Ngân sách liên bang
- Ngân sách bang
- Ngân sách của các cấp phụ thuộc liên bang
Trang 19Mô hình này dựa trên quan điểm ngược lại, cho rằng mỗi cấp chínhquyền nhà nước phải có ngân sách riêng, độc lập trong hệ thống ngân sáchnhà nước thống nhất Tuy nhiên, sự thống nhất này là sự thống nhất của cáckhâu độc lập trong một hệ thống, chứ không phải là sự thống nhất trong một
cá thể duy nhất (nhà nước trung ương) Theo mô hình này, ngoài ngân sáchtrung ương do chính quyền Nhà nước trung ương quản lý và quyết định sửdụng, còn tồn tại các ngân sách địa phương do chính quyền địa phương cáccấp quản lý và sử dụng
Ưu điểm của mô hình này là:
- Chính quyền địa phương có thể thực hiện những khoản thu và chi cókhối lương nhỏ, phân tán tại các địa phương
- Phân cấp cho địa phương sẽ tạo điều kiện cho chính quyền trung ươngtập trung sức vào những nhiệm vụ quản lý tài chính vĩ mô và thực hiện nhữngnhiệm vụ thu chi quan trọng
- Tăng cường quyền hạn, trách nhiệm của chính quyền địa phươngtrong việc chủ động khai thác các nguồn thu và đảm nhận những nhiệm vụ chiđược giao
- Xóa bỏ tình trạng địa phương thụ động, ỷ lại hoặc trông chờ và trung ương.Hạn chế của mô hình này là:
- Bản thân việc xác định giao cho địa phương nguồn thu và nhiệm vụchi nào cũng rất phức tạp
- Việc phân cấp cũng có những nguy cơ như tạo ra sự bất bình đẳng,tình trạng địa phương cục bộ
Giữa hai mô hình trên là những nấc khác nhau của phân cấp ngân sách.Trên thực tế, mỗi nước tùy theo điều kiện cụ thể của mình để lựa chọn một mức
độ phân cấp phù hợp với đặc điểm chính trị, kinh tế và xã hội của nước mình
Trang 201.1.4 Nội dung Ngân sách Nhà nước
1.1.4.1 Thu Ngân sách Nhà nước
Về mặt pháp lý, thu ngân sách nhà nước bao gồm những khoản tiềnnhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của nhà nước
Theo cách phân loại phổ biến thì thu Ngân sách Nhà nước bao gồmthuế, lệ phí, phí và các khoản thu khác
- Thuế là hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập của cánhân, doanh nghiệp cho Nhà nước đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.Các cá nhân, doanh nghiệp là người được hưởng các lợi ích từ chi tiêu Ngânsách Nhà nước và họ có thu nhập nên có nghĩa vụ trích một phần thu nhậpnộp cho Ngân sách Nhà nước, có thể bằng hình thức trực tiếp (thuế đánh vàothu nhập) hoặc gián tiếp (thuế VAT, thuế xuất nhập khẩu, ) Thuế là khoảnđóng góp mang tính bắt buộc; không hoàn trả trực tiếp mà hoàn trả gián tiếpdưới hình thức người chịu thuế được hưởng các hàng hoá, dịch vụ Nhà nướccung cấp không mất tiền hoặc với giá trị thấp và không phân biệt giữa ngườinộp thuế nhiều hay ít
- Lệ phí là khoản thu do Nhà nước quy định để Nhà nước phục vụcông việc quản lý theo yêu cầu hoặc theo quy định của pháp luật Thu lệ phínhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc thu theo khả năng đóng góp trong chínhsách động viên vào Ngân sách Nhà nước và công bằng trong việc hưởng thụcác lợi ích từ chi tiêu của Ngân sách
- Phí là khoản thu do Nhà nước quy định nhằm bù đắp một phần chiphí của Ngân sách Nhà nước mà Nhà nước dùng để đầu tư xây dựng, muasắm, bảo dưỡng và quản lý tài sản, tài nguyên hoặc chủ quyền quốc gia; tàisản cho các tổ chức, cá nhân hoạt động sự nghiệp, hoạt động công cộng hoặclợi ích công cộng theo yêu cầu, không mang tính kinh doanh
Trang 21- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước bao gồm thu lợitức từ hoạt động góp vốn liên doanh, cổ phần của Nhà nước vào các cơ sởkinh tế, thu hối vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hối tiền cho vaycủa Nhà nước (cả gốc và lãi).
- Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản không dùng thuộc sở hữu Nhà nướctại các đơn vị hành chính, sự nghiệp
- Thu từ tiền thu sử dụng đất
- Thu từ tiền cho thuê đất, thuê mặt nước
- Thu từ các khoản vay trong nước, vay nước ngoài
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Về mặt bản chất, thu ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệkinh tế giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy độngcác nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nướcnhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của nhà nước
1.1.4.2 Chi Ngân sách Nhà nước
Chi ngân sách nhà nước (hay chi tiêu công) là những khoản chi tiêu doChính phủ hoặc các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêucông ích, chẳng hạn như : bảo vệ an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúpkinh tế, chống thất nghiệp
Về mặt bản chất, chi ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệphân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kếhoạch qũy tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế,từng bước mở mang các sự nghiệp văn hóa – xã hội, duy trì hoạt động của bộmáy quản lý nhà nước và bảo đảm an ninh quốc phòng
Trang 22Chi ngân sách nhà nước có quan hệ chặt chẽ với thu ngân sách nhà nước Thungân sách nhà nước là nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu chi ngân sách, ngượclại sử dụng vốn ngân sách để chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại là điềukiện để tăng nhanh thu nhập của ngân sách Do vậy, việc sử dụng vốn, chitiêu ngân sách một cách có hiệu quả, tiết kiệm luôn được nhà nước quan tâm.
Chi ngân sách nhà nước gắn liền với việc thực hiện các chính sáchkinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ Điều này chứng tỏcác khoản chi của ngân sách nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh
tế, chính trị, xã hội của một quốc gia
Chi ngân sách nhà nước có thể là chi thường xuyên hoặc chi đầu tư:
- Chi thường xuyên: Là những khoản chi có tính chất thường xuyênduy trì hoạt động của các cơ quan Nhà nước Các khoản chi này phải được tàitrợ bằng khoản thu trong cân đối của Ngân sách Nhà nước như: Chi liên quanđến hoạt động điều hành và duy trì hoạt động của cơ quan Nhà nước để thựchiện nhiệm vụ được giao như: Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y
tế, xã hội, văn hoá thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học
và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác; chi cho lĩnh vực an ninh, quốcphòng; chi thường xuyên thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự ánNhà nước và các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật
- Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi bao gồm: chi đầu tư xâydựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thuhồi vốn; đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổchức tài chính của Nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanhnghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước và các khoản chiđầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật
Trang 231.1.4.3 Cân đối Ngân sách Nhà nước
Cân đối Ngân sách Nhà nước là so sánh tổng thu vào của Ngân sáchNhà nước với tổng chi Ngân sách Nhà nước Nếu thu bằng tổng chi thì ngânsách cân bằng Nếu có chênh lệch giữa số thu lớn hơn số chi thì gọi là bội thu,ngược lại gọi là bội chi hay thâm hụt ngân sách
Thâm hụt Ngân sách Nhà nước đã và đang trở thành hiện tượng phổbiến ở các nước đang phát triển và những những nước có nền kinh tế chậmphát triển Có hai nhóm nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thâm hụt Ngân sáchNhà nước là nhóm nguyên nhân khách quan và nhóm nguyên nhân chủ quan.Nguyên nhân khách quan do diễn biến của chu kỳ kinh doanh, tác động củađiều kiện tự nhiên, của các yếu tố bất khả kháng; nguyên nhân mang tính chủquan thuộc về quá trình quản lý điều hành Ngân sách Nhà nước
Để khắc phục tình trạng thâm hụt Ngân sách Nhà nước, Chính phủ cácnước đã nghiên cứu và sử dụng nhiều giải pháp như phát hành tiền, sử dụng dựtrữ ngoại tệ, vay trong nước và ngoài nước Việc phát hành thêm tiền đã từngđược nhiều nước sử dụng để tài trợ cho thâm hụt Ngân sách Nhà nước nhưng
do hậu quả là dẫn đến lạm phát nên ngày nay hầu như các nước không sử dụng.Việc thực hiện tốt công tác quản lý và điều hành Ngân sách Nhà nước là biệnpháp tốt nhất cho các quốc gia để hạn chế, khắc phục tình trạng thâm hụt Ngânsách Nhà nước
Trang 24Sơ đồ 1.1: Cơ cấu ngân sách nhà nước 1.2 Cơ sở lý luận về phân cấp quản lý NSNN
1.2.1 Khái niệm phân cấp quản lý NSNN
Phân cấp là một sự chuyển giao quyền lực về chính trị và luật phápđối với công tác xây dựng chính sách, lập kế hoạch, quản lý và phân bổ cácnguồn lực tài chính từ chính quyền trung ương và các cơ quan của chínhquyền trung ương cho các chính quyền địa phương
và tài trợ của nước ngoài
Đóng góp khác của dân (tổ chức
và cá nhân)
Nguồn thu khác
Chi thường xuyên
Chi đầu tư phát triển
Chi trả
nợ Chính phủ cho vay tài trợ
Chi
bổ sung quỹ
dự trữ
Chi khác
Trang 25Các lĩnh vực phân cấp nhà nước ở nước ta đã được tiến hành mạnh mẽtheo tinh thần Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/06/2004 của Chínhphủ về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ vàchính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có thể thấy quyết tâm caocủa chính phủ về vấn đề trao quyền tự chủ, sáng tạo của chính quyền địaphương về các vấn đề:
- Phân cấp quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển
- Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
- Phân cấp quản lý đất đai, tài nguyên và tài sản nhà nước
- Phân cấp quản lý doanh nghiệp nhà nước
- Phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công
- Phân cấp quản lý về tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức
Trong số các lĩnh vực phân cấp quản lý nhà nước, phân cấp quản lýngân sách nhà nước là một nội dung quan trọng và phức tạp bởi đó là sựphân cấp có liên quan đến nhiều các lĩnh vực phân cấp khác nhau Trong quátrình thực hiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước đếu có liên quan đếnvấn đề tổ chức bộ máy, con người, các lĩnh vực quản lý khác của nhà nước
Tại các quốc gia trên thế giới, hệ thống ngân sách Nhà nước đều được
tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hành chính Nhà nước.Các quốc gia có hệ thống chính quyền Nhà nước được tổ chức theo thể chếLiên bang như Mỹ, Đức, Malaixia, hệ thống NSNN bao gồm ngân sách liênbang, ngân sách tiểu bang và ngân sách địa phương Còn các quốc gia đơnnhất như Việt Nam, Trung quốc, hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm:Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Tổ chức bộ máy của Nhànước Việt Nam là thống nhất từ trung ương đến địa phương Nguồn lực tài
Trang 26chính quốc gia được tạo ra từ trong một cơ cấu kinh tế thống nhất, đượcphân bổ trên các vùng, lãnh thổ của quốc gia, do đó, ngân sách nhà nước làthống nhất Do vậy, ngân sách nhà nước được quản lý tập trung thống nhấttheo nguyên tắc quản lý: tập trung – dân chủ, công khai, minh bạch, có phâncông, phân cấp quản lý gắn với quyền hạn và trách nhiệm Theo Luật NSNNnăm 2002, nguyên tắc đó thể hiện: NSNN được quản lý thống nhất theonguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấpquản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm.
Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sáchtrung ương, phê chuẩn quyết toán NSNN (Điều 3)
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là sự phân định phạm vi tráchnhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền Nhà nước từ trung ương tới cácđịa phương trong quá trình tổ chức tạo lập và sử dụng NSNN phục vụ choviệc thực thi các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
Phân cấp quản lý NSNN là việc xác định có bao nhiêu cấp ngân sách
và mối quan hệ lẫn nhau giữa các cấp đó như thế nào Điều quan tâm tiếptheo là từng cấp được quyền huy động những khoản thu nào cho riêng cấpmình, những khoản thu đó dùng để đáp ứng những nhiệm vụ chi nào mà cấp
đó phải đảm nhiệm, ai là người có toàn quyền quyết định đối với một cấpngân sách Phân cấp quản lý NSNN thực chất là việc xử lý các mối quan hệgiữa các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến các địa phương tronghoạt động của NSNN, từ đó hình thành một cơ chế phân chia ranh giới vềquản lý NSNN giữa các cấp chính quyền
1.2.2 Nội dung phân cấp quản lý NSNN
1.2.2.1 Phân cấp về thẩm quyền Ngân sách
Là sự phân định về quyền hạn, trách nhiệm của các cấp chính quyềntrong các vấn ban hành chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức về Ngân sách
Trang 27Đây là nội dung quan trọng của cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhànước Việc quy định cấp nào được ban hành chính sách, chế độ về Ngân sách rấtquan trọng, giúp hệ thống Ngân sách hoạt động theo đúng định hướng, mục tiêucủa từng quốc gia
Phân cấp về thẩm quyền Ngân sách sẽ phân định rõ ba quyền gồm quyềnquyết định, quyền quản lý, quyền sử dụng Ngân sách giúp cho các cơ quan, đơn
vị, cá nhân chủ động hơn, tránh sự trùng lắp, tăng cường trách nhiệm giữa cáccấp chính quyền Cơ sở pháp lý của nội dung này chủ yếu được xây dựng trênLuật cơ bản là Hiến pháp hoặc các đạo luật tổ chức hành chính, từ đó định rahành lang pháp lý cho việc chuyển giao các thẩm quyền gắn với trách nhiệmtương ứng với quyền lực đã được phân cấp đó
1.2.2.2 Phân cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi
Phân cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi là sự phân định từng nguồn thu,từng nhiệm vụ chi cho chính quyền các cấp Đây là vấn đề trọng tâm và cũng
là vấn đề cực nan giải, là hạt nhân của cơ chế phân cấp quản lý Ngân sáchNhà nước Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi căn cứ vào những đặcđiểm phân cấp quản lý hành chính kinh tế xã hội do Hiến pháp và pháp luậtcủa mỗi quốc gia, căn cứ vào những yếu tố có tính truyền thống của nền hànhchính, những yếu tố chính trị Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi nhằm giảiquyết các vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, xác định những nhiệm vụ chi mà chính quyền trung ương
phải đảm nhiệm, những khoản thu mà trung ương được quyền thu và sử dụngcho các hoạt động của mình Xác định những nhiệm vụ chi mà chính quyềnđịa phương phải lo, những khoản thu mà địa phương được quyền thu và sửdụng cho các mục tiêu của mình
Trang 28Có hai cách để phân định nguồn thu cho các cấp ngân sách là phươngpháp loại trừ và phương pháp không loại trừ Các phương pháp này thườngđược luật hoá trong các văn bản pháp quy của Nhà nước Theo phương pháp loạitrừ thì toàn bộ các nguồn thu đã giao một cấp nào đó hưởng thì các cấp kháckhông được hưởng nữa (chính là nguồn thu 100%) Theo phương pháp khôngloại trừ thì toàn bộ nguồn thu phát sinh được phân chia chung cho các cấp ngânsách theo một tỷ lệ nhất định (còn gọi là nguồn thu điều tiềt hay nguồn thu phânbổ) Phần lớn các nước sử dụng kết hợp hai phương pháp trong việc phân chianguồn thu, tức là có quy định nguồn thu hưởng 100% đồng thời có quy định cáckhoản thu phân chia giữa trung ương và địa phương.
Về phân cấp nhiệm vụ chi, thông thường các lĩnh vực quan trọng nhưquốc phòng, an ninh, ngoại giao đều do cấp chính quyền trung ương đảmnhiệm Các lĩnh vực khác như môi trường, hàng không, đường sắt, bảohiểm, có thể do cả chính quyền trung ương lẫn chính quyền địa phương đảmnhiệm Các lĩnh vực khác thì giao cho chính quyền địa phương
Thứ hai, với những khoản thu được phân cấp đó thì khả năng cân đối thu
chi Ngân sách Nhà nước ở mỗi chính quyền ra sao, nếu địa phương không cânđối được thu chi thì cách giải quyết thế nào? Các địa phương có điều kiện khácnhau thì xử lý thế nào về mặt ngân sách để đảm bảo công bằng trong sự pháttriển chung?
Cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước thường đẩy ngân sáchđịa phương vào thế không tự cân đối được ngân sách của mình Do vậy, sựhình thành cơ chế trợ cấp từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương
là tất yếu Điều đó nằm trong chủ ý của Chính phủ trong việc kiểm soát, chiphối các hoạt động của địa phương Tuy vậy, việc trợ cấp từ trung ương chođịa phương còn xuất phát từ yêu cầu khách quan khác là đảm bảo điều hoà
Trang 29nguồn lực giữa các địa phương có những điều kiện phát triển khác nhau Thực
tế, có những địa phương do đặc điểm tự nhiên xã hội nên còn khó khăn hơncác địa phương khác trong khi nhu cầu phát triển lại đòi hỏi nguồn lực lớn; vìvậy, việc trợ giúp từ trung ương cho các địa phương khó khăn là cần thiết
Thứ ba, cấp nào có thể được vay nợ để bù đắp thiết hụt và sử dụng
hình thức vay nào, nguồn trả nợ từ đâu?
Tình trạng phổ biến ở các nước kém phát triển thậm chí cả các nướcphát triển là hiện tượng thâm hụt Ngân sách Nhà nước diễn ra một cáchthường xuyên Thường thì các nước sử dụng nghiệp vụ vay nợ để giải quyếttình trạng thâm hụt ngân sách Ở cấp trung ương việc vay nợ để bù đắp thâmhụt Ngân sách Nhà nước được tiến hành bằng các cách chủ yếu là phát hànhcác loại chứng khoán và công trái có lãi
Vay của Ngân sách địa phương được thực hiện dưới hai hình thức làvay trên thị trường tài chính và vay từ ngân sách trung ương Vay nợ của cấpđịa phương thường được quản lý chặt chẽ bằng các chính sách của trungương Một số nước quy định giới hạn tổng số nợ của Ngân sách địa phương,đến giới hạn đó, chính quyền địa phương không được phép phát hành thêmtrái phiếu nữa Thông thường thì việc phát hành trái phiếu địa phương phải có
sự đồng ý của Ngân hàng trung ương hoặc Bộ Tài chính
1.2.2.3 Phân cấp về quy trình Ngân sách
Là việc phân định quyền hạn, trách nhiệm trong các khâu của quytrình Ngân sách từ khâu lập Ngân sách đến khâu chấp hành và quyết toánNgân sách
- Khâu lập Ngân sách nhằm ba mục tiêu là đảm bảo Ngân sách phùhợp với các chính sách kinh tế vĩ mô, giới hạn về nguồn lực và tạo điều kiện
để quản lý tốt quá trình hoạt động của các cơ quan hành chính
Trang 30Việc lập Ngân sách theo phương pháp truyền thống thường được thựchiện theo hai quy trình:
+ Quy trình từ trên xuống: Xác định tổng nguồn lực có thể chi tiêutrong kỳ Ngân sách, xác định các hạn mức chi tiêu cho các ngành và địaphương
+ Quy trình từ dưới lên: Các ngành và địa phương hoạch định và dựtrù kinh phí cho các chương trình chi tiêu của mình trong kỳ Ngân sách vàtrong khuôn khổ hạn mức chi tiêu đã được phân bổ
Hai quy trình này thực hiện đan xen nhau thông qua hàng loạt lần tínhtoán và tổng hợp Ngân sách giữa cơ quan phân bổ trung ương và các đơn vịcấp dưới cho đến khi đạt được sự thống nhất giữa các bên
Quá trình lập Ngân sách theo phương pháp truyền thống bộc lộ nhiềunhược điểm như: Hiệu lực quản lý thấp nếu trong thời gian lập dự toán cácvăn bản chế độ thường bị lạc hậu so với diễn biến kinh tế - xã hội; tính gắn kếtvới mục tiêu thấp do không gắn kết việc cấp phát Ngân sách với việc thựchiện các mục tiêu chính trị; có tầm nhìn ngắn hạn và thiếu chủ động do chỉquan tâm đến lợi ích trước mắt, từng năm một, chưa có tầm nhìn trung hạn
Để khắc phục những nhược điểm trên nhiều nước lập Ngân sách cuốnchiếu nhiều năm mà một công cụ rất phổ biến hiện nay là Khuôn khổ chi tiêutrung hạn gắn với kết quả đầu ra gồm bảy bước:
+ Dự báo khả năng nguồn lực dựa trên các dự báo kinh tế và dự báo tàichính gắn với bối cảnh kinh tế đó (tăng trưởng, giá cả, nguồn thu từ thuế, )
+ Xây dựng các mức trần sơ bộ cho các cấp bằng cách phân chia tổngnguồn lực dự báo cho các lĩnh vực trên cơ sở các ưu tiên của Chính phủ
+ Dự báo các nhu cầu chi tiêu trong trung hạn trên cơ sở các ưu tiên củaChính phủ và nhu cầu đối với các lĩnh vực Việc xác định các ưu tiên lĩnh vực
Trang 31đòi hỏi các cấp hành chính phải thực hiện một quy trình đánh giá lĩnh vực qua
đó sẽ đánh giá nhiệm vụ, mục đích, mục tiêu, sản phẩm đầu ra và các hoạtđộng của mình và thống nhất xác định các hoạt động cần thiết để đạt đượcmục tiêu đề ra
+ Tính toán chi phí và lựa chọn ưu tiên trong 3 năm: Lựa chọn cáchoạt động được ưu tiên phù hợp với mức trần nguồn lực; xác định nhữnghoạt động cần được tiếp tục, những hoạt động nên thu hẹp và những hoạtđộng cần được chấm dứt
+ Thảo luận chính sách và xem xét lại mức trần từng lĩnh vực Sau khitiến hành đánh giá lĩnh vực, các Bộ, địa phương sẽ trình bày trong các cuộcthảo luận chính sách và bảo vệ các mức trần lĩnh vực trung hạn được đem raxem xét Nếu những công việc này cho thấy một số mục tiêu lĩnh vực làkhông thể đạt được trong khuôn khổ các mức trần lĩnh vực thì có thể phảitiến hành tái phân bổ, điều chỉnh giữa các lĩnh vực
+ Các Bộ và địa phương sẽ xây dựng dự toán thống nhất chi tiết chotừng năm trong khuôn khổ ba năm của mình
+ Chính phủ thảo luận Ngân sách, đánh giá, hoàn thiện và thông quacác dự toán 3 năm Tuy nhiên, Quốc hội sẽ chỉ phê chuẩn dự toán một năm(năm thứ nhất) của quy trình khuôn khổ chi tiêu trung hạn
- Khâu tiếp theo của chu trình Ngân sách là chấp hành Ngân sách, đây
là quá trình thực thi các quyết định phân bổ Ngân sách đã được các cấp cóthẩm quyền phê chuẩn Tuy nhiên, chấp hành Ngân sách không chỉ đơnthuần là tuân thủ các quyết định về Ngân sách ban đầu mà phải có nhữngthích nghi phù hợp trong suốt quá trình thực hiện cho phù hợp với các chínhsách, chế độ nhằm mang lại hiệu quả, muốn vậy phải tuân thủ theo một sốnguyên tắc sau:
Trang 32+ Vốn phải được giải ngân nhanh, đúng tiến độ, đúng mục tiêu.
+ Bất kỳ khoản chi tiêu nào cũng phải xây dựng kế hoạch từ trước.+ Việc điều chỉnh Ngân sách phải được giám sát chặt chẽ và hết sứchạn chế
+ Có thể hoán chuyển giữa các mục tiêu chi nhưng phải có giải trình
cụ thể, chính đáng Nguyên tắc hoán chuyển giữa các mục tiêu phải đượcxây dựng sao cho vừa đảm bảo tính linh hoạt trong quản lý vừa kiểm soátđược các mục chi lớn và phải đạt được các mục tiêu lớn đã đặt ra
+ Khuyến khích việc tăng cường kiểm soát nội bộ đối với việc thực thiNgân sách để tránh sự can thiệp quá sâu của các cơ quan trung ương
+ Có thể cho phép chuyển các khoản Ngân sách trong năm chưa giảingân hết sang năm sau nhưng cần phải có giải trình rõ lý do
- Khâu cuối cùng của chu trình Ngân sách là quyết toán Ngân sáchNhà nước, đó là việc tổng kết, đánh giá việc thực hiện Ngân sách và chínhsách tài chính Ngân sách của quốc gia cũng như xem xét trách nhiệm pháp lýcủa các cơ quan Nhà nước khi sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia để thựchiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong một thời gian nhất định,được cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn
Quyết toán Ngân sách nhà nuớc trở thành một khâu quan trọng, lànhiệm vụ của nhiều cơ quan, đơn vị từ đơn vị sử dụng, cơ quan quản lý Ngânsách, cơ quan kiểm tra, kiểm soát Ngân sách cho đến cơ quan quyền lực tốicao của mỗi quốc gia
1.2.3 Yêu cầu, nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN
1.2.3.1 Phù hợp với phân cấp quản lý về hành chính - kinh tế - xã hội
Quản lý Nhà nước về hành chính - kinh tế - xã hội được tổ chức thànhmột hệ thống gồm nhiều cấp, mỗi cấp có nhiệm vụ và quyền hạn riêng Ngân
Trang 33sách Nhà nước là nguồn tài chính để đảm bảo thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của Nhà nước nên cũng phải được tổ chức cho phù hợp với cơ cấu
tổ chức của chủ thể sử dụng Việc phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nướccũng cần chú ý tới quan hệ giữa quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, đảmbảo sự phối hợp nhịp nhàng của tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh
tế Phân cấp quản lý Nhà nước phù hợp với phân cấp quản lý hành chính kinh tế - xã hội sẽ tạo điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ vật chất của cáccấp chính quyền Một quốc gia có sự phân cấp mạnh về hành chính – kinh tế
xã hội cũng đòi hỏi một sự phân cấp tương ứng về mặt tài chính để đảmbảo lực lượng vật chất thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
1.2.3.2 Đảm bảo vai trò chủ đạo của Ngân sách trung ương và tạo cho Ngân sách địa phương vị trí độc lập tương đối trong một hệ thống Ngân sách Nhà nước thống nhất
Ngày nay khi mà quá trình phân cấp đang diễn ra rất mạnh mẽ ở hầuhết các quốc gia, ngay cả đối với các nước Đông Á là những nước có nềnkinh tế tập trung cao cũng đang rất đề cao vai trò của chính quyền địaphương Trong lĩnh vực phân cấp quản lý Ngân sách, Ngân sách trung ươngphải giữ vai trò chủ đạo, Ngân sách trung ương thu các khoản thu tập trung,
có tỷ trọng lớn trong nền kinh tế và đảm nhiệm các nhiệm vụ chi quan trọngcủa quốc gia Xã hội càng phát triển thì vai trò của chính quyền trung ươngcàng quan trọng Tuy nhiên, việc tạo cho địa phương có sự độc lập tương đối
là rất cần thiết, nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của chính quyền địaphương trong việc thực thi những nhiệm vụ trực tiếp gắn với chính quyền địaphương Tạo cho Ngân sách địa phương vị trí độc lập tương đối trong một hệthống Ngân sách Nhà nước thống nhất có nghĩa là phân cấp cho chính quyềnđịa phương được hưởng những khoản thu Ngân sách và được quyết địnhnhững khoản chi tiêu, hay nói một cách khác là tạo cho chính quyền địa
Trang 34phương được thực quyền quyết định phương án điều hành Ngân sách của cấpmình, chỉ chịu sự ràng buộc ở cấp trên đối với những vấn đề mang tính địnhhướng chung.
1.2.3.3 Đảm bảo tính công bằng
Đảm bảo công bằng trong quá trình phân cấp quản lý Ngân sách Nhànước là phải dựa trên hai nguyên tắc nêu trên, tức là phải đảm bảo phù hợpvới phân cấp quản lý về hành chính - kinh tế - xã hội và đảm bảo vai trò chủđạo của Ngân sách trung ương, tạo cho Ngân sách địa phương vị trí độc lậptương đối trong một hệ thống Ngân sách Nhà nước thống nhất; chứ khôngnhất thiết địa phương nào cũng phải có những khoản thu, chi giống nhau.Tuy nhiên, trên thực tế là các vùng có nguồn tài nguyên không giốngnhau, chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng chênh lệch về nguồn tài chính ở các địaphương Ở một số nước như Trung Quốc, Việt Nam dựa vào hệ thống điềutiết Ngân sách thông qua Ngân sách trung ương với các hình thức như là bổsung cân đối hoặc bổ sung có mục tiêu cho các địa phương để giải quyếtnhững bất bình đẳng về Ngân sách
1.2.3.4 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phải đảm bảo tính hiệu quả, hạn chế những khâu trung gian không cần thiết
Đảm bảo tính hiệu quả là việc tìm kiếm mối quan hệ phù hợp nhấtgiữa mục đích cần đạt được và các nguồn lực được sử dụng
Nguyên tắc về tính hiệu quả bao hàm hai nội dung cơ bản là tính kinh
tế và tính hiệu suất Tính kinh tế đòi hỏi phải đạt được kết quả cụ thể với đầuvào và nguồn lực nhỏ nhất Tính hiệu suất thì yêu cầu đạt được kết quả tốtnhất có thể với nguồn lực đầu vào định trước
Tính hiệu quả trong phân cấp quản lý ngân sách thể hiện ở hai khíacạnh là hiệu quả chung do những quy định về phân cấp tạo ra và hiệu quảriêng khi xem xét phí tổn do thực hiện phân cấp gây ra
Trang 35Ở khía cạnh thứ nhất có liên quan chặt chẽ đến phạm vi phân giaoquản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi tiêu Đối với vấn đề phân định thu vàphân cấp quản lý thu phải làm sao đạt được mục tiêu thu đúng, thu đủ, thukịp thời các khoản thu theo pháp luật quy định với chi phí thấp.
Ở khía cạnh thứ hai cho thấy rõ ràng là thêm một cấp ngân sách là phátsinh thêm chi phí quản lý điều hành của bản thân cấp đó và của cả cấp khác
có liên quan Do vậy cần phải hạn chế đến mức thấp nhất các cấp ngân sáchtrung gian ít hiệu quả, thay thế bằng phương thức chuyển giao nguồn tàichính thích hợp hơn
1.2.3.5 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phải đảm bảo tăng cường hiệu lực kiểm soát độc lập và khách quan trong toàn hệ thống
Vấn đề quan trọng đối với bất kỳ hệ thống tài chính nào là phải giảmthiểu những thất thoát về nguồn lực có thể xảy ra khi thực hiện phân cấp quản
lý Đối với quản lý ngân sách nhà nước thì vấn đề này càng có ý nghĩa hơn
Để đảm bảo tăng cường hiệu lực kiểm soát thì cần xây dựng một thiếtchế kiểm soát có mức độ độc lập cũng như hiệu lực xử lý cao Thiết chế nàycho phép ngăn ngừa những tùy tiện và những sai lầm trong các quyết định vềngân sách của các cấp cũng như phát hiện các vi phạm dẫn đến lãng phí,tham nhũng trong quá trình thực hiện các quyết định và quản lý sử dụngngân sách nhà nước
Kiểm toán và thanh tra nhà nước là những cơ quan chức năng quantrọng nhất để thực hiện việc này Tuy nhiên để thanh tra và xử lý thực sự cóchất lượng thì những cơ quan này phải có cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt độngđặc biệt Các cơ quan này thường chịu sự chỉ đạo trực tiếp của người đứngđầu nhà nước hoặc cơ quan quyền lực nhà nước (quốc hội) Nếu không tìnhtrạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” rất có thể xảy ra, làm cho công tác này trởthành hình thức
Trang 361.3 Kinh nghiệm các nước về phân cấp quản lý NSNN
1.3.1 Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước của Trung Quốc
Hệ thống Ngân sách Nhà nước của Trung quốc được chia thành Ngânsách trung ương và Ngân sách địa phương Ngân sách các cấp ở địa phươngbao gồm:
- Ngân sách tỉnh (khu tự trị, thành phố trực thuộc)
- Ngân sách thành phố trực thuộc tỉnh (châu tự trị)
- Ngân sách huyện (huyện tự trị)
- Ngân sách xã (thị trấn)
Về cấp Ngân sách: theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà nhândân Trung hoa và Luật dự toán nước cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa,mỗi cấp chính quyền là một cấp Ngân sách Các cấp Ngân sách ở Trung quốcđược thống nhất chỉ đạo và phân cấp quản lý trên cơ sở thống nhất về chínhsách, chế độ và kế hoạch dự toán của trung ương, cho phép Ngân sách các cấp
ở địa phương được thực hiện quyền điều chỉnh dự toán, quyền sử dụng linhhoạt các nguồn lực tài chính, quyền thi hành những biện pháp tài chính cụ thểphù hợp với tình hình của địa phương
Về phân cấp nguồn thu:
- Các khoản thu 100% của Ngân sách trung ương bao gồm: Thuế thunhập doanh nghiệp trung ương quản lý, thuế thu nhập của các ngân hàng, thuếdoanh thu của ngành đường sắt, bảo hiểm, thuế tiêu thụ đặc biệt
- Các khoản thu 100% của Ngân sách địa phương bao gồm thuế thunhập doanh nghiệp của địa phương quản lý, thuế thu nhập cá nhân, thuế sửdụng đất, thuế giao dịch chứng khoán, thuế đặc sản nông nghiệp, thuế sátsinh, thuế hợp đồng
Trang 37- Các khoản phân chia giữa trung ương và địa phương bao gồm thuếVAT - trung ương 75%, địa phương 25%; thuế tài nguyên
Với phương pháp phân định này, Trung quốc thực hiện theo nguyên tắc
“4/6” có nghĩa là Ngân sách trung ương kiểm soát ít nhất 60% tổng thu Ngânsách Nhà nước, 40% (trong số 60% Ngân sách trung ương được hưởng) đượcchi ở cấp trung ương, còn lại 20% được phân bổ cho Ngân sách địa phươngtheo hình thức trợ cấp
Về phân cấp nhiệm vụ chi:
- Ngân sách trung ương đảm nhiệm các khoản chi như: Chi an ninh quốcgia, chi cho các hoạt động ngoại giao, chi cho bộ máy quản lý Nhà nước cấptrung ương, chi hỗ trợ phát triển các vùng, chi điều tiết vĩ mô hoặc phát triểncác hạng mục do trung ương trực tiếp quản lý, chi trả nợ trong và ngoài nước,
- Ngân sách địa phương đảm nhiệm những khoản chi cần thiết cho sựvận hành của các cơ quan chính quyền địa phương và sự phát triển kinh tế địaphương như: Chi quản lý hành chính địa phương, chi phí một phần cho lựclượng cảnh sát vũ trang, chi dân quân tự vệ, chi đầu tư các hạng mục cơ bảncủa địa phương, chi phát triển văn hoá, giáo dục , vệ sinh
Trung quốc lập Quỹ Hỗ trợ Ngân sách trung ương đối với các địaphương Nguồn hình thành Quỹ này được trích một phần trong số thu về Ngânsách trung ương Ngân sách trung ương hỗ trợ cho Ngân sách địa phương bằngnhiều hình thức như hỗ trợ chung, hỗ trợ có mục tiêu, bổ sung cho Ngân sáchđịa phương Hình thức bổ sung (trợ cấp) nhằm giúp cho các địa phương không
có khả năng cân đối được thu, chi Hỗ trợ có mục tiêu nhằm khuyến khích cácđịa phương phát triển những lĩnh vực chung của đất nước
Trong trường hợp bị mất khả năng cân đối thu, chi, Ngân sách địaphương chủ yếu thực hiện điều chỉnh lại các khoản thu chi thuộc cấp mình
Trang 38quản lý Nếu trong phạm vi điều chỉnh vẫn không có khả năng cân đối đượcthì sẽ được nhận trợ cấp từ Ngân sách cấp trên Ngân sách trung ương khi mấtkhả năng cân đối thu, chi có thể thực hiện bằng các hình thức vay nợ trongnước và ngoài nước.
1.3.2 Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước của Malaysia
Malaysia là nước đang phát triển trong cùng khu vực và có nhiều đặcđiểm kinh tế, tự nhiên tương đồng với Việt Nam và là Nhà nước liên bang
Hệ thống Ngân sách Nhà nước của Malaysia bao gồm 3 cấp là:
- Ngân sách Liên bang
- Ngân sách bang
- Ngân sách của chính quyền địa phương
Ngân sách liên bang, Ngân sách bang do Quốc hội xem xét, quyết định
và quyết định phần trợ cấp cho Ngân sách địa phương Trong quá trình thựchiện, phát sinh các nhu cầu về khả năng thu, chi có ảnh hưởng tới dự toán đềuphải được đưa ra xin ý kiến Quốc hội, do đó Ngân sách được xây dựng chặtchẽ và điều hành rất nghiêm Ngân sách các cấp chính quyền địa phương dochính quyền cấp đó quyết định, phải đảm bảo nguyên tắc cân đối thu, chi
Mối quan hệ giữa chính phủ liên bang với các bang về tài chính chủyếu thông qua:
- Tiền viện trợ của Ngân sách liên bang cho các bang theo hiến pháp
- Tiền trợ cấp của Ngân sách liên bang cho các bang theo luật pháp
- Tiền cho vay của Ngân sách liên bang cho các bang để thực hiện các
dự án
Việc xem xét các khoản viện trợ, trợ cấp của Ngân sách liên bang chocác bang do Hội đồng tài chính quốc gia quyết định; mức độ viện trợ, trợ cấp,
Trang 39công thức tính toán phụ thuộc vào mức độ giàu, nghèo của các bang và chỉtrợ cấp 50% số vốn cần thiết cho việc thực hiện chính sách xã hội, 50% cònlại do bang và địa phương tự cân đối Đối với vốn vay cho phát triển các dự
án, căn cứ đệ trình của các bang, Kho bạc Nhà nước sẽ xem xét, quyết địnhmức độ, hình thức và lãi suất cho vay
Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi Ngân sách cho địa phươngđược thực hiện thông qua hệ thống luật pháp liên bang và bang Cụ thể :
Nguồn thu của Ngân sách liên bang: bao gồm các khoản thu như: Thuếtrực thu gồm các loại thuế thu nhập dân cư, thuế thu nhập công ty, thuế thunhập từ dầu lửa, thuế phát triển Thuế gián thu bao gồm các loại như thuếnhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế VAT, thuế hàng hoá đặc biệt và các khoảnthu có tính chất thuế như thuế tài nguyên, phí cấp phép, thu dịch vụ
Nguồn thu của các bang và các cấp trực thuộc bang không giống nhau,mỗi bang có một nguồn thu riêng Các bang căn cứ vào Hiến pháp của bangđược tự quyết định một số loại thuế và các khoản thu của cấp trực thuộc bangbao gồm: Thu tiền thuê đất, nhà, thu cho thuê tài sản, thu từ các dịch vụ dođịa phương cung cấp như các hoạt động vui chơi giải trí Nhìn chung, nguồnthu của bang và cấp trực thuộc bang là các nguồn thu nhỏ, hạn hẹp
Theo quy định của Hiến pháp liên bang, không có khoản thu phân chiagiữa liên bang, bang và các cấp trực thuộc bang
Phân định nhiệm vụ chi: Các nhiệm vụ chi của 3 cấp Ngân sách về cơ bản
là giống nhau, thường bao gồm các khoản chi như: Chi thường xuyên cho bộ máyquản lý, chi đầu tư phát triển, chi bảo dưỡng các cơ sở hạ tầng Các nội dung chinày thuộc cấp nào quản lý thì dùng Ngân sách của cấp đó để trang trải
Tuy nhiên, nhiệm vụ chi của Ngân sách liên bang còn bao gồm tất cảcác khoản chi như y tế, giáo dục, an ninh, quốc phòng Các nhiệm vụ chi này
Trang 40đều do Ngân sách Liên bang đảm nhiệm, Ngân sách các bang và địa phươngkhông đảm nhiệm các nhiệm vụ chi này.
Giải pháp cho cân đối Ngân sách Nhà nước ở các cấp:
- Cấp liên bang: Các biện pháp chủ yếu để cân đối Ngân sách khikhông bù đắp được thu chi là vay trong nước (vay của dân, vay ngân hàngphát triển), sử dụng tiền nhàn rỗi của các quỹ (quỹ tạo công ăn việc làm, quỹbảo hiểm xã hội), vay nước ngoài
- Cấp bang, nguồn bù đắp bội chi chủ yếu là trợ cấp của Liên bang hoặcphải vay phải trả cả gốc và lãi của Ngân sách liên bang
- Cấp Ngân sách địa phương được bù đắp bội chi chỉ bằng hình thứcduy nhất là nhận trợ cấp từ Ngân sách bang và liên bang Malaysia chỉ trợ cấpcho các địa phương nghèo Số trợ cấp được xác định trên cơ sở dân số (địaphương có đông dân được nhận `trợ cấp nhiều hơn), số lượng đường xá, cầucống, các công trình cơ sở hạ tầng cần được xây dựng và sửa chữa
1.3.3 Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước của Cộng hoà Liên bang Đức
Cộng hoà Liên bang Đức là một quốc gia lập hiến, có tính dân chủ và
xã hội Theo hiến pháp, liên bang có 3 cấp hành chính: liên bang, tiểu bang(16 tiểu bang) và cấp xã (khoảng 16.000 xã); quyền lực Nhà nước nằm ở liênbang và các tiểu bang, mỗi cấp có chức năng riêng Hệ thống Ngân sách Nhànước được chia thành 3 cấp :
- Ngân sách liên bang
- Ngân sách các bang
- Ngân sách các xã trực thuộc bang
Về thẩm quyền quyết định về Ngân sách và chính sách thu, chi của các