Trong cơ chế bao cấp trước đây, vốn kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước hầu hết được nhà nước tài trợ thông qua cấp phát vốn, đồng thời nhà nước quản lý về giá cả và quản lý sản xuấ
Trang 1Lời nói đầu
Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, là nơi tổ chức kết hợp các yếu
tố của quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, tạo nguồn tích lũy cho xã hội phát triển
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước bằng phát luật, theo định hướng XHCN Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Mỗi loại hình doanh nghiệp có những đặc trưng khác nhau xuất phát từ quan hệ sở hữu và mục đích kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Sự phát triển, hưng thịnh, suy thoái hay tụt hậu của nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhưng đây chỉ là một chiều trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nền kinh tế Ở một chiều khác, trình độ phát triển của nền kinh tế với những đặc điểm riêng về môi trường kinh doanh cũng có tác dụng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng để tồn tại trong cơ chế cạnh tranh gay gắt này thì điều kiện đòi hỏi đầu tiên đối với các doanh nghiệp đó là phải có vốn kinh doanh Bởi vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và đứng vững phải quan tâm đến vấn đề tạo lập vốn, quản lý và sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả nhất, nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp Do đó, việc tổ chức và sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng, là điều kiện tiêu quyết
để các doanh nghiệp khẳng định được vị trí của mỡnh, tỡm chỗ đứng vững chắc trong cơ chế mới
Trong cơ chế bao cấp trước đây, vốn kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước hầu hết được nhà nước tài trợ thông qua cấp phát vốn, đồng thời nhà nước quản lý về giá cả và quản lý sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch, lãi nhà nước thu, lỗ nhà nước bù, do vậy các doanh nghiệp hầu như không quan tâm đến hiệu qủa sử dụng đồng vốn Nhiều doanh nghiệp đã không phát triển và bảo toàn được vốn, hiệu quả
sử dụng vốn thấp, tình trạng lãi giả lỗ thật ăn vào vốn xảy ra phổ biến trong các doanh nghiệp nhà nước Bước sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý điều tiết vĩ
mô của nhà nước, nhiều thành phần kinh tế song song cùng tồn tại, cạnh tranh lẫn
Trang 2nhau gay gắt Bên cạnh những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đứng vững trong cơ chế mới thì lại có một số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến phá sản hàng loạt Bởi trong cơ chế thị trường không chỉ riêng doanh nghiệp nhà nước mà còn nhiều doanh nghiệp khác cũng hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải tuân thủ theo các qui luật kinh tế vốn có: giá trị, cung cầu, cạnh tranh và khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải trả lời 3 câu hỏi lớn: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? đồng thời dể trả lới với điều kiện ràng buộc đầu tiên bao giờ cũng phải là vốn kinh doanh Qua đó, ta thấy được việc bảo toàn vốn kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn đối với các doanh nghiệp nhà nước nói riêng
và toàn bộ các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung
Sau thời gian học tập tại trường, qua gần 3 tháng thực tập ở Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Dung Thọ, được sự hướng dẫn của cô giáo bộ môn và sự giúp đỡ của ban lãnh đạo ở công ty Em đã có cơ hội vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, đồng thời từ thực tiễn đã làm sáng tỏ những lý luận đã học Vì vậy, với mong muốn được góp phần vào việc hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn của công ty em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Vốn kinh doanh và những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Dung Thọ”, từ đó thấy rõ được ý nghĩa và tầm quan trọng
của công tác tổ chức và quản lý tài chính trong công ty Nội dung chuyên đề tốt
nghiệp bao gồm 3 phần chính sau :
Chương I: Những vấn đề cơ bản về vốn khinh doanh và sự cần thiết nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn
Chương II: Thực trạng về tình hình tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
ở Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Dung Thọ
Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh tổ chức và nâng cao hiệu quả
quản lý,sử dụng vốn kinh doanh ở Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Dung Thọ.Trước những thay đổi về chất trong hoạt động của các công ty Việt Nam, cùng với việc áp dụng đầy đủ chế độ kế toán mới ở doanh nghiệp, vấn đề quản lí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đã thay đổi sâu sắc cả về phương pháp luận và chỉ tiêu
Trang 3đánh giá Do đó, tạo nên những khó khăn rất lớn trong quá trình nghiên cứu đề tài và những sai sót không thể tránh khỏi Vì vậy, em rất mong sự đóng góp của các thầy,
cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Bùi Văn Vần và cỏc cụ chỳ cán bộ ở Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Dung Thọ đó giỳp em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Hà Nội , ngày 10 tháng 4 năm 2011
Sinh viên: Nguyễn Tuấn Thành Lớp : CQ 46/ 11.09
Trang 4CHƯƠNG 1:
VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH
1.1 VỐN KINH DOANH VÀ NGUỒN VễN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm vốn kinh doanh
Phạm trù vốn kinh doanh (VKD) luôn gắn liền với khái niệm doanh nghiệp Theo điều 4 Luật doanh nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: sức lao động, dối tượng lao động và tư liệu lao động Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh
Như vậy, VKD của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
1.1.2 Đặc trưng của vốn kinh doanh
- Thứ nhất: Vốn được biểu hiện bằng một lượng giá trị tài sản thực, có nghĩa
là vốn được biểu hiện bằng giá trị những tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, bản quyền phát minh sáng chế,…
- Thứ hai: Vốn phải vận động sinh lời Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn Để trở thành vốn thì tiền phải được vận động sinh lời Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm khởi đầu và điểm kết thúc của một vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền
tệ với giá trị lớn hơn, tức là kinh doanh có lãi Điều này đòi hỏi trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp không thể bị ứ đọng vốn
- Thứ ba: Vốn chỉ được phát huy tác dụng khi được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định Đặc trưng này đòi hỏi doanh nghiệp cần lập kế hoạch để huy động
Trang 5đủ lượng vốn cần thiết và trong quá trình kinh doanh cần tái đầu tư lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh trạnh.
- Thứ tư: Vốn kinh doanh gắn liền với chủ sở hữu nhất định, phải được quản
lý chặt chẽ nhằm tránh hiện tượng lãng phí, thất thoát Tuỳ vào hình thức đầu tư mà chủ sở hữu có thể là người sử dụng vốn hoặc không, quyền sử dụng vốn và quyền
sở hữu vốn có thể được gắn với nhau nhưng cũng có khi tách rời nhau
- Thứ năm: Vốn có giá trị về mặt thời gian, tức là đồng vốn tại các thời điểm khác nhau có giá trị không giống nhau Do đó huy động và sử dụng vốn kịp thời là điều hết sức quan trọng
1.1.3.Qỳa trình luân chuyển của vốn kinh doanh
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên vốn kinh doanh của doanh nghiệp cũng vận động không ngừng tạo ra sự tuần hoàn và chu chuyển của vốn Sự vận động của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp được mô phỏng theo sơ đồ sau:
Tại sao nghiên cứu quá trình luân chuyển VKD lại quan trọng? Sở dĩ như vậy bởi vì nó đưa ra những chỉ dẫn hữu ích cho công tác quản lý VKD
Sơ đồ luân chuyển VKD đưa ra hai chỉ dẫn quan trọng sau:
- Thứ nhất, trong một khoảng thời gian nhất định, nếu vốn quay được
nhiều vòng hơn thì sẽ tạo ra được nhiều T’ hơn mà không cần tăng vốn Khi đó, lợi nhuận trong kỳ đó sẽ tăng lên Đó là lý do tại sao các doanh nghiệp luôn nỗ
Trang 6lực thực hiện nhiều biện pháp để tăng vòng quay vốn và sử dụng các chỉ tiêu vòng quay VKD như một chỉ dẫn quan trọng về hiệu quả sử dụng vốn.
- Thứ hai, nếu một giai đoạn nào đó trong quá trình luân chuyển bị gián đoạn
thì sẽ gây ra sự đình trệ hay rối loạn cho sự tuần hoàn VKD Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần dự trữ một lượng tiền mặt và hàng tồn kho nhất định nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thông suốt
1.1.4 Phân loại vốn kinh doanh
Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn, có thể chia vốn kinh doanh thành hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động
1.1.4.1 Vốn cố định
* Khái niệm vốn cố định
Để hình thành các tài sản cố định (TSCĐ) đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định, lượng vốn tiền tệ này được gọi là vốn cố định (VCĐ) của doanh nghiệp
Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên TSCĐ, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị.
* Đặc điểm chu chuyển của VCĐ trong quá trình kinh doanh.
VCĐ là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh Việc tăng thêm VCĐ trong các doanh nghiệp nói riêng và trong các ngành nói chung có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp và nền kinh tế Vì là số vốn ứng trước ra để mua sắm, xây dựng TSCĐ nên quy mô của VCĐ lớn hay nhỏ
sẽ quyết định đến quy mô của, tính đồng bộ của TSCĐ, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác, trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ thực hiện chu chuyển giá trị của nó Sự chu chuyển này của VCĐ chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế kỹ thuật của TSCĐ VCĐ cú cỏc đặc điểm chu chuyển sau:
- Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ chu chuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh
Trang 7- VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển
- VCĐ chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị - tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao TSCĐ Vì trong quá trình hoạt động sản xuất thì TSCĐ sẽ bị hao mòn, giá trị TSCĐ chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm Theo đú, thỡ VCĐ cũng bị tách ra một phần tính vào chi phí sản xuất tương ứng phần hao mòn đó, phần còn lại sẽ giữ lại trong TSCĐ Càng qua nhiều chu kỳ sản xuất sẽ giảm đi và sẽ hết khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng
Xuất phất từ đặc điểm luân chuyển như trên của VCĐ thì việc quản lý VCĐ phải luôn gắn với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là TSCĐ của doanh nghiệp
Vì vậy để quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ, ta cần nghiên cứu rõ hơn về TSCĐ
TSCĐ của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giá trị của nó được chuyển dịch dần dần, từng phần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ra trong các chu kỳ sản xuất, thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn của TSCĐ
Đứng trên góc độ tài chính, thì tài sản là TSCĐ phải thoả mãn 2 tiêu chuẩn định lượng sau:
+ Tiêu chuẩn về thời gian: có thời gian sử dụng từ một năm trở lên
+ Tiêu chuẩn về giá trị: phải có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành, hiện nay tại nước ta mức giá trị quy dịnh là 10 triệu đồng trở lên
* Phân loại tài sản cố định
VCĐ là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ Do TSCĐ có nhiều loại khác nhau, mỗi loại có những đặc điểm và yêu cầu quản lý khác nhau nên cần phân loại để có biện pháp quản lý phù hợp Phân loại TSCĐ là việc phân chia TSCĐ ra thành những nhóm, những loại khác nhau theo những tiêu thức phân loại nhất định Sau đây là một số biện pháp phân loại chủ yếu:
- Phân loại theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế
Theo phương pháp này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm 2 loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình
Trang 8+ TSCĐ hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh như: nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; thiết bị, dụng cụ quản lý; vườn cây lâu năm.
+ TSCĐ vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho các đối tượng khỏc thuờ phù hợp với tiêu chuẩn TSCĐ vô hình như quyền phát hành, nhãn hiệu hàng hoá, bản quyền, bằng sáng chế,…
Phương pháp phân loại này giúp cho nhà quản lý thấy được cơ cấu đầu tư vào TSCĐ theo hình thái biểu hiện, là căn cứ để quyết định đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp và có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại TSCĐ
- Phân loại theo mục đích sử dụng
Dựa theo tiêu thức này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm hai loại:
+ TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Là những TSCĐ đang dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của doanh nghiệp
+ TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: Là những tài sản cố định không mang tính chất sản xuất do doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động đảm bảo an ninh, quốc phòng
Cách phân loại này giúp nhà quản lý doanh nghiệp thấy được kết cấu TSCĐ theo mục đích sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và tính khấu hao TSCĐ có tính chất sản xuất, có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại TSCĐ
- Phân loại theo tình hình sử dụng
Căn cứ vào tình hình sử dụng có thể chia TSCĐ của thành các loại:
- TSCĐ đang dùng: đang tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp
- TSCĐ chưa cần dùng
Trang 9- TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý.
Dựa vào cách phân loại này người quản lý nắm được tổng quát tình hình sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp sử dụng tối đa các TSCĐ hiện có trong doanh nghiệp, giải phóng nhanh các TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý để thu hồi vốn
Như vậy, VCĐ là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh, thường chiếm tỷ trọng lớn, giữ vị trí then chốt và đặc điểm vận động tuân theo quy luật riêng Do đó việc tổ chức và sử dụng VCĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp
1.1.4.2 Vốn lưu động
* Khái niệm vốn lưu động
Trong doanh nghiệp, ngoài các TSCĐ, để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định Do đó, để hình thành nờn cỏc tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó Số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động (VLĐ) của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hỡnhh thành nờn cỏc tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục
* Đặc điểm của vốn lưu động
VLĐ là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ nên đặc điểm chu chuyển của VLĐ chịu sự chi phối của đặc điểm TSLĐ
TSLĐ sản xuất là những vật tư đang trong quá trình dự trữ sản xuất hay chế biến (nguyờn nhiờn vật liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang,…) có vai trò đảm bảo cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn
TSLĐ của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông, các TSLĐ này luôn thay thế chỗ cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi
Khác với TSCĐ, TSLĐ của doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện khi tham gia vào quá trình kinh doanh Giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần
Trang 10vào giá trị sản phẩm Vì vậy, đặc điểm luân chuyển của VLĐ cũng khác so với VCĐ VLĐ có những đặc điểm sau:
- VLĐ trong quá trình luân chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện
- VLĐ chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh
- VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
VLĐ của doanh nghiệp thường xuyên vận động, chuyển hoá lần lượt qua nhiều hình thỏi khỏc nhau.Đối với doanh nghiệp sản xuất, VLĐ từ hình thái ban đầu
là tiền được chuuyển hoá sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hoá, khi kết thúc quá trình tiêu thụ trở về hình thái ban đầu là tiền
Do quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách liên tục nên vốn lưu động cũng vận động không ngừng tạo ra sự chu chuyển vốn và tại một thời điểm, vốn lưu động có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, cả trong sản xuất và lưu thông hàng hoá
Đặc điểm chu chuyển của vốn lưu động đòi hỏi công tác tổ chức quản lý và
sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp phải thực sự có hiệu quả Muốn vậy trước hết doanh nghiệp phải xác định được sỏt đỳng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD Đây là một nội dung quan trọng trong công tác quản
lý tài chính của doanh nghiệp Đảm bảo vừa đủ nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất
sẽ giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng ứ đọng vốn cũng như không gây nên sự căng thẳng giả tạo về nhu cầu vốn, làm gián đoạn quá trình sản xuất Đồng thời doanh nghiệp phải có kế hoạch tổ chức khai thác triệt để các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả Luôn chú trọng nâng cao hiệu suất sử dụng vốn lưu động, sử dụng vốn tiết kiệm nhằm bảo toàn và phát triển vốn
* Phân loại vốn lưu động
Để quản lý tốt VLĐ cần phải phân loại VLĐ Dựa theo tiêu thức khác nhau
có thể chia VLĐ thành các loại khác nhau Thông thường có một số cách phân loại chủ yếu sau:
Dựa theo hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ của vốn
Dựa theo tiêu thức phân loại này có thể chia VLĐ thành:
Trang 11- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu
+ Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển + Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản tạm ứng
Dựa theo vai trò của VLĐ đối với quá trình sản xuất kinh doanh.
Căn cứ vào vai trò của VLĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh, VLĐ được chia thành các loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất, bao gồm: vốn nguyên vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật đóng gói, vốn công
Phương pháp này cho phép biết được kết cấu VLĐ theo vai trò Từ đó, giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ VLĐ trong cỏc khõu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần đối với quá trình kinh doanh Trên cơ sở
đó, đề ra các biện pháp tổ chức quản lý thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu VLĐ hợp
lý, tăng được tốc độ luân chuyển VLĐ
1.1.5 Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 12Trong nền kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hoá nhằm khai thác mọi nguồn vốn trong nền kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp huy động được vốn kịp thời, hợp lý, phù hợp với nhu cầu đặc điểm doanh nghiệp.
Trên thực tế hiện nay vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Tùy theo từng tiêu thức phân loại mà nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành nhiều loại khác nhau Cú cỏc cỏch phân loại như sau:
• Căn cứ theo quan hệ sở hữu vốn
Theo cách phân loại này nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành hai loại: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu
+ Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc chủ sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức sau:
Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản - Nợ phải trả
Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định cao, khẳng định mức độ độc lập tự chủ
về mặt tài chính của doanh nghiệp
+ Nợ phải trả: là biểu hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: nợ vay, các khoản phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho người lao động trong doanh nghiệp v.v
Nợ phải trả còn có thể tiếp tục được phân chia thành hai nguồn nhỏ hơn là nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Qua tiêu thức phân loại này cho thấy kết cấu vốn sản xuất kinh doanh được hình thành bằng vốn bản thân doanh nghiệp và từ các nguồn vốn huy động bên ngoài doanh nghiệp Từ đó giúp cho doanh nghiệp tổ chức tốt công tác tổ chức và
sử dụng vốn có hiệu quả và hợp lý, doanh nghiệp biết được khả năng của mình trong việc huy động vốn là cao hay thấp
Trang 13Thông thường mỗi doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn trên để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Sự kết hợp giũa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động cũng như quyết định của người quản lý doanh nghiệp trên cơ sở xem xét tình hình chung của nền kinh tế và tình hình thực tế tại doanh nghiệp, nhằm mục tiêu sử dụng
cơ cấu vốn hợp lý hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao
• Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng của nguồn vốn
Theo cách phân loại này nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
Mô hình nguồn vốn của doanh nghiệp theo cách phân loại này:
Tài sản lưu động Nợ ngắn hạn
Tài sản cố định
Vốn chủ sở hữu
+ Nguồn vốn thường xuyên
Nguồn vốn thường xuyên là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào các hoạt động kinh doanh Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn thường xuyên của DN = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
+Nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác
Việc phân loại nguồn vốn theo cách này sẽ giúp cho các nhà quản lý xem xét, huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian lập kế hoạch tài chính, đáp
Nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn thường xuyên
Trang 14ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, hình thành nên những dự định về tổ chức trong tương lai
Căn cứ theo phạm vi huy động
Với cách phân loại này nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành hai nguồn:
+ Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp
Nguồn vốn bên trong là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động được vào đầu tư từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra
Nguồn vốn này bao gồm: lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, khoản khấu hao TSCĐ, tiền nhượng bán tài sản vật tư không cần dùng hoặc thanh lý TSCĐ Khi sử dụng nguồn vốn bên trong này giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sử dụng vốn, chủ động đáp ứng được nhu cầu vốn của doanh nghiệp, nắm bắt kịp thời các thời cơ trong kinh doanh, tránh áp lực thanh toán đỳng kỡ hạn Tuy nhiên cũng bị giới hạn quy mô và đôi khi chính ưu điểm không tạo áp lực thanh toán mà làm cho hiệu quả
sử dụng không cao
+ Nguồn vốn bên ngoài: nguồn vốn bên ngoài thường gồm các nguồn chủ yếu sau: vay người thân, vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính chủ yếu khác, góp vốn liên doanh liên kết, tín dụng thương mại của nhà cung cấp, thuê tài sản, phát hành chứng khoán
Sử dụng nguồn vốn bên ngoài có ý nghĩa quan trọng với doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể khai thác ảnh hưởng tích cực của đòn bẩy tài chính để khuếch đại tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, tuy nhiên phải xem xét dựa trên tình hình thực
tế của doanh nghiệp
Từ việc nghiên cứu các phương pháp phân loại nguồn vốn ta có thể rút ra được:
- Việc phân loại giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp nắm được cơ cấu vốn trong doanh nghiệp, từ đó lựa chọn được nguồn bổ sung vốn thích hợp
- Phân loại nguồn vốn giúp cho công tác quản lý lập kế hoạch chính xác, sát với thực tế của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng
tối đa nguồn vốn đã huy động được với hiệu quả cao nhất
Trang 151.2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp
Vốn kinh doanh giỳp cỏc doanh nghiệp hoạt động liên tục, có hiệu quả Tương ứng với mỗi quy mô sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải có một lượng vốn nhất định Tuy nhiên có vốn là điều kiện cần nhưng chưa đủ để đạt được mục đích kinh doanh, điều quan trọng là việc sử dụng vốn đó như thế nào để vừa có hiệu quả, vừa bảo toàn vốn và phát triển vốn, đem lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất Hiệu quả là lợi ích kinh tế đạt được sau khi đã bù đắp các khoản chi phí bỏ ra cho hoạt dộng kinh doanh
Hiệu quả sử dụng nguồn VKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dung các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp sao cho lợi nhuận đạt được là cao nhất với tổng chi phí thấp nhất Đồng thời có khả năng tạo nguồn vốn cho hoạt
động kinh doanh của mình, đảm bảo đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị
và có phương hướng phát triển lâu dài, bền vững trong tương lai Như vậy, hiệu quả
sử dụng VKD được thể hiện trên hai khía cạnh mà đặc biệt là mức sinh lời của đồng vốn Sử dụng VKD có hiệu quả là biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng VKD đang trở nên rất cấp thiết đối với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay Sự cần thiết này xuất phát từ những lý do sau:
- Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Vốn là tiền đề, là xuất phát điểm của mọi hoạt động kinh doanh, là nền tảng vật chất để biến mọi ý tưởng kinh doanh thành hiện thực Vốn quyết định quy mô đầu tư, mức độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và quyết định cả thời cơ kinh doanh của doanh nghiệp Thực tế đã chứng minh, không ít những doanh nghiệp có khả năng về nhân lực, có cơ hội đầu tư nhưng thiếu khả năng tài chính mà đành bỏ lỡ cơ hội kinh doanh Với vai trò đó, việc sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng VKD trở thành đòi hỏi rất cấp thiết đối với mọi doanh nghiệp
- Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 16Mỗi doanh nghiệp khi tham gia và hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới mục đích tối đa húa gớa trị tài sản của chủ sở hữu dựa trên cơ sở nâng cao lợi nhuận Muốn vậy, doanh nghiệp phải phối hợp tổ chức, thực hiện đồng bộ mọi hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Trong đó, vấn đề tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng VKD có tính chất quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không chỉ mang lại lợi ích trước mắt cho doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa lâu dài với sự phát triển của doanh nghiệp Khi đồng vốn được sử dụng hiệu quả cũng đồng nghĩa với doanh nghiệp làm ăn có lãi, bảo toàn và phát triển được vốn Đú chớnh là cơ sở để doanh nghiệp tiến hành tái sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu
- Xuất phát từ thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng VKD trong các doanh nghiệp.
Trong thời kì bao cấp, mọi nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được huy động từ hai nguồn cơ bản: cấp phát của ngân sách nhà nước
và vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi của ngân hàng Vốn hầu như được tài trợ toàn
bộ, vai trò của tài chính doanh nghiệp trở nên mờ nhạt Do đó triệt tiêu tính linh hoạt của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Chuyển sang nền kinh tế thị trường,tham gia nhiều tổ chức kinh tế tài chính trên thế giới, các doanh nghiệp luôn phải tự chủ về mọi mặt để cạnh tranh Do đó muốn tồn tại và đứng vững, các doanh nghiệp luôn phải cố gắng phát huy hiệu quả của đồng vốn được đưa vào sử dụng, không những bảo toàn vốn mà còn làm cho đồng vốn lớn dần trong kinh doanh Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải làm tốt công tác tổ chức nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
- Xuất phát từ ý nghĩa đối với xã hội:
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ góp phần tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp là hết sức thiết thực, cấp bách đối với tất cả doanh nghiệp, có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay Khi hiệu quả sử
Trang 17dụng vốn của doanh nghiệp cao sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp,
mở rộng quy mô sản xuất, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
VKD của doanh nghiệp được huy động từ hai nguồn: nguồn vốn bên trong
và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp, do đó việc huy động và sử dụng VKD của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất cũng chịu tác động của nhiều nhân tố, cả những nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan
Xét về mặt khách quan
- Đặc thù ngành kinh doanh: Đây là nhân tố có ý nghĩa quan trọng cần
được xem xét khi quản lý và sử dụng vốn Đặc thù của ngành thường ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu nguồn vốn cũng như vòng quay vốn Do đó, việc so sánh các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp với chỉ tiêu trung bình của ngành là cần thiết nhằm phát hiện những ưu điểm và hạn chế trong việc quản lý và sử dụng vốn
- Khả năng cạnh tranh trên thị trường: Nếu doanh nghiệp có sức cạnh tranh trên thị trường, sản phẩm có sức tiêu thụ lớn thì Công ty sẽ có doanh thu và lợi nhuận lớn, từ đó tạo ra tỷ suất lợi nhuận trên vốn cao
- Lãi suất thị trường: lãi suất thị trường ảnh hưởng đến chi phí huy động bằng vốn vay Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi lãi suất thị trường tăng lên, tiền lãi doanh nghiệp phải thanh toán sẽ tăng lên, lợi nhuận giảm làm tỷ suất lợi nhuận trên vốn giảm xuống
- Lạm phát trong nền kinh tế: lạm phát ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua giá đầu ra và giá đầu vào Nếu giá đầu ra tăng trong khi giá đầu vào không đổi hoặc tăng ít hơn thì trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên, từ đó làm tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn Ngoài ra lạm phát còn ảnh hưởng lớn đến công tác trích khấu hao Do khấu hao được tớnh trờn giá trị sổ sách tại lúc đem vào sủ dụng nên giá trị khấu hao có thể không đủ để tái tạo TSCĐ mới khi đó trớch khấu hao đủ
- Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ: làm cho các TSCĐ bị lỗi thời
Trang 18lạc hậu nhanh chóng Tình trạng mất giá này của TSCĐ chính là hao mòn vụ hỡnh, ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, chính vì vậy nếu doanh nghiệp không thường xuyên đổi mới máy móc thiết bị để tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường thì doanh nghiệp sẽ mất đi khả năng cạnh tranh, hoạt động kinh doanh trì trệ hoặc rơi vào tình trạng thua lỗ.
- Các điều kiện tự nhiên và thiên tai như hoả hoạn, bão lụt… làm tài sản của doanh nghiệp bị tổn thất, giảm dần giá trị dẫn tới mất vốn của doanh nghiệp Mặt khác, yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp có sản phẩm chịu tác động của điều kiện tự nhiên như: ngành xây dựng, ngành nông nghiệp, khai thác mỏ…
- Cơ chế quản lý và các chính sách vĩ mô của Nhà nước: Các chính sách có ảnh hưởng rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: chính sách thuế, chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách khuyết khích đầu tư…
Xét về mặt chủ quan
Đây là nhân tố chủ yếu quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp bao gồm:
- Trình độ quản lý: nhà quản lý giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức,
quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp Do đó nếu nhà quản lý có trình độ cao, quản lý vốn hợp lý, biết nắm bắt cơ hội kinh doanh đầu tư có hiệu quả, tận dụng vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
- Trình độ tay nghề của người lao động: thể hiện ở khả năng tự tìm tòi sáng tạo trong công việc, tăng năng suất lao động… Đây là đối tượng trực tiếp
sử dụng vốn của doanh nghiệp quyết định lớn hiệu quả trong sử dụng vốn
- Trình độ tổ chức hoạt động kinh doanh: đây cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp Nếu doanh nghiệp bố trí sắp xếp bộ máy quản lý và tổ chức sản xuất phù hợp thì hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra nhịp nhàng, tiết kiệm thời gian, chi phí
- Sự lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh
Nếu doanh nghiệp lựa chọn phương án sản xuất tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng sẽ mang lại hiệu quả kinh
Trang 19tế lớn Ngược lại, sẽ là sự thất bại của phương án sản xuất kinh doanh và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
- Sự hợp lý của cơ cấu tài sản và nguồn vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
Cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn trong doanh nghiệp cần được xác định phù hợp với đặc điểm của ngành nghề kinh doanh và những đặc trưng riêng có của doanh nghiệp Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần xem xét đến sự phù hợp giữa tài sản và các nguồn tài trợ cho tài sản để VKD được sử dụng hiệu quả nhất
- Chi phí huy động vốn
Doanh nghiệp muốn sử dụng bất cứ nguồn tài trợ nào cũng phải chịu một chi phí huy động vốn nhất định Chi phí huy động vốn sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn
Trên đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu qủa sử dụng vốn của doanh nghiệp Để nâng cao hiệu quả sử dụng VKD, doanh nghiệp cần xem xét cụ thể từng yếu tố để từ đó đưa ra những biện pháp quản lý thích hợp
1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Để đánh giá trình độ tổ chức và sử dụng VLĐ của doanh nghiệp cần sử dụng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng VLĐ Hiệu suất sử dụng VLĐ của doanh nghiệp được biểu hiện qua các chỉ tiêu sau:
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Việc sử dụng hợp lý VLĐ biờu hiện ở tăng tốc độ luân chuyển VLĐ Tốc độ luân chuyển VLĐ nhanh hay chậm nói lên hiệu suất sử dụng VLĐ của doanh nghiệp cao hay thấp
Tốc độ luân chuyển VLĐ được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu: Số lần luân chuyển và kỳ luân chuyển VLĐ
- Số lần luân chuyển VLĐ (hay số vòng quay VLĐ)
Hiện nay, tổng mức luân chuyển VLĐ được xác định bằng doanh thu thuần bán hàng của doanh nghiệp ở trong kỳ
Số lần luân chuyển VLĐ
Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ
Số VLĐ bình quân sử dụng trong kỳ
Trang 20Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển VLĐ hay số vòng quay của VLĐ thực hiện được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.
Mức độ tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển vốn
Chỉ tiêu này phản ánh số VLĐ có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ ở kỳ so sánh (kỳ kế hoạch) so với kỳ gốc (kỳ báo cáo)
Hàm lượng vốn lưu động (mức đảm nhiệm VLĐ)
Chỉ tiêu này phản ánh để có một đồng doanh thu thuần về bán hàng cần bao nhiêu VLĐ
1.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định
Để phản ánh hiệu quả sử dụng VCĐ, người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu sau:
sánh Kỳ luân chuyển
VLĐ kỳ so sánh
=
Kỳ luân chuyển VLĐ kỳ gốc 360
Trang 21Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng VCĐ có thể tham gia tạo nên bao nhiêu đồng doanh thu thuần bán hàng trong kỳ Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng
VCĐ cần phải được xem xét trong mối liên hệ với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ:
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ có thể tham gia tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần, qua đó cũng cho phép đánh giá trình độ sử dụng VCĐ của doanh nghiệp
Hệ số hàm lượng vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh số VCĐ cần thiết để tạo ra một đồng doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = = Doanh thu thuần trong kỳ
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Số VCĐ hiện có của doanh nghiệp
Số VCĐ đang dùng trong hoạt động kinh doanh
Hệ số huy động VCĐ trong kỳ =
Số khấu hao kuỹ kế của TSCĐ ở thời điểm đánh giá
Tổng nguyên giá TSCĐ tại thời điểm đánh giá
Hệ số hao mòn TSCĐ =
Số VCĐ bình quân sử dụng trong kỳ Doanh thu thuần trong kỳ
Hàm lượng VCĐ =
Trang 22trong kỳ (hay nói cách khác : Để tạo ra một đồng doanh thu thuần trong kỳ cần bao nhiêu VCĐ) Hàm lượng VCĐ càng thấp, hiệu suất sử dụng VCĐ càng cao
Hệ số trang bị tài sản cố định cho một công nhân trực tiếp sản xuất.
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ trang bị gớa trị TSCĐ trực tiếp sản xuất cho một công nhân trực tiếp sản xuất cao hay thấp Hệ số này càng lớn phản ánh mức độ trang bị TSCĐ cho người công nhân trực tiếp sản xuất càng cao, điều kiện lao động càng thuận lợi
1.2.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Vòng quay toàn bộ vốn
Chỉ tiêu này phản ánh VKD trong kỳ chu chuyển được bao nhiêu vong hay mấy lần Vòng quay toàn bộ vốn càng cao, hiệu suất sử dụng VKD càng cao Chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng của ngành kinh doanh, chiến lược kinh doanh và trình độ quản lý sử dụng tài sản vốn của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh (hay
tỷ suất sinh lời của tài sản – ROA E )
Chỉ tiêu này phản ánh khă năng sinh lời của tài sản hay VKD, không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của VKD
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh T SV
Hệ số trang bị TSCĐ cho
một công nhân trực tiếp sản
Nguyên gía TSCĐ trực tiếp sản xuất
Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất
Vòng quay toàn bộ vốn
=
Số VKD bình quân sử dụng trong kỳ Doanh thu thuần trong kỳ
Tỷ suất sinh lời của tài sản
Tài sản hay VKD bình quân Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Trang 23Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng VKD bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA)
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng VKD bình quân sử dụng trong kỳ có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm
1.3 Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, doanh nghiệp cần căn cứ vào điều kiện tình hình kinh doanh cụ thể để đề ra các biện pháp thích ứng
để quản lý từng thành phần vốn kinh doanh.Sau đây là một số biện pháp chủ yếu mà doanh nghiệp cần chú ý trong quá trình quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
- Thứ nhất: tiến hành thẩm định và lựa chọn dự án đầu tư phù hợp với tình
hình doanh nghiệp, từ đó góp phần phát huy thế mạnh của doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn chỉ đạt được khi doanh nghiệp có khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Do vậy doanh nghiệp cần nghiên cứu thị trường trước khi đầu tư, giảm thiểu rủi ro kinh doanh, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận trước
VKD bình quân sử dụng trong kỳ Lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
VKD bình quân sử dụng trong kỳ
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ
Số chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ
Lợi nhuận sau thuế
Trang 24- Thứ hai: nâng cao trình độ cán bộ quản lý về vốn thông qua cỏc khoỏ đạo
tạo chuyờn sõu, đồng thời nâng cao tay nghề của người lao động trực tiếp
- Thứ ba: Xác định sỏt đỳng nhu cầu vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động
SXKD của doanh nghiệp Trên cơ sở đó lập kế hoạch huy động các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn Hạn chế tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn quá trình sản xuất hay phải đi vay bổ sung với lãi suất cao Nếu có vốn tạm thời chưa được sử dụng thì doanh nghiệp phải có biện pháp xử lý linh hoạt không để tình trạng ứ đọng vốn, không phát huy được hiệu quả của đồng vốn
- Thứ tư: Lựa chọn các hình thức, phương pháp huy động vốn tích cực; chủ
động khai thác triệt để các nguồn vốn bên trong để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và giảm được chi phí sử dụng vốn; đồng thời tận dụng linh hoạt các nguồn vốn thích hợp bên ngoài cho các phương án đầu tư lớn Vì thế đòi hỏi người quản lý phải xác định được mức độ sử dụng nợ vay có hiệu quả nhất Không để xảy ra tình trạng vật tư hàng hóa kém phẩm chất, tài sản không cần sử dụng chiếm tỷ trọng lớn trong khi doanh nghiệp vẫn phải đi vay vốn bên ngoài với lãi suất cao, làm giảm hiệu quả SXKD
Thứ năm: Tổ chức tốt quá trình sản xuất và đẩy mạnh công tác tiêu thụ,
không ngừng nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, tạo sự ăn khớp giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu, khai thác tối đa công suất máy móc thiết bị hiện có Bên cạnh đó phải tổ chức tốt công tác bán hàng, công tác thanh toán và thu hồi nợ, nhằm giảm tối đa thành phẩm trong kho
Thứ sáu: Quản lý chặt chẽ, huy động tối đa tài sản hiện có vào hoạt động
kinh doanh để góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh Có biện pháp quản lý thích hợp với từng loại vốn
+ Đối với VCĐ: phân cấp quản lý các phân xưởng, các bộ phận trong doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng vật chất trong quản lý, đặc biệt cần chú trọng đến công tác quản lý tài sản cố định, lựa chọn phương pháp khấu hao và mức khấu hao hợp lý.Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả quỹ khấu hao tài sản cố định.Thực hiện tốt việc sửa chữa lớn tài sản cố định cùng với việc hiện đại hóa tài sản cố định để tăng thêm sức cạnh tranh của doanh nghiệp.Doanh nghiệp được
Trang 25quyền cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản của doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp
+ Đối với VLĐ: quản lýchặt chẽ VLĐ, sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, quản lý khoản phải thu, xác định đúng thích hợp nhu cầu VLĐ, góp phần tăng tốc
độ luân chuyển VLĐ
Thứ bẩy: áp dụng nghiêm minh các biện pháp thưởng, phạt vật chất trong
việc bảo quản và sử dụng các tài sản kinh doanh để tăng cường ý thức trách nhiệm của người quản lý sử dụng để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Thứ tám: Chủ động phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh và thực hiện tốt
công tác thanh toán công nợ Doanh nghiệp phải chủ động có kế hoạch thu hồi tiền bán hàng, hạn chế tình trạng vốn bị chiếm dụng dẫn đến doanh nghiệp phải đi vay ngoài với lãi suất cao khi phát sinh nhu cầu vốn bổ sung Hơn nữa vốn bị chiếm dụng rất dễ trở thành nợ khó đòi khi khách hàng gặp rủi ro, làm thất thoát vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là kinh doanh trong cơ chế thì trường Do đó để chủ động phòng ngừa, doanh nghiệp cần mua bảo hiểm, lập quỹ dự phòng tài chính để có nguồn bù đắp khi có rủi ro xảy ra
Trên đây là một số biện pháp cơ bản có thể áp dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Song tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực kinh tế, tuỳ thuộc từng loại hình doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào điều kiện thị trường, căn cứ vào các biện pháp chung đó mỗi doanh nghiệp tự lựa chọn cho mình một phương hướng biện pháp cụ thể có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TỔ CHỨC, SỬ DỤNG
VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
DUNG THỌ
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ DUNG THỌ
Tên công ty: Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Dung Thọ
Tên giao dịch đối ngoại: : DUNGTHO trading and service company limited
Tên viết tắt : DUNGTHO CO.,LTD
Trụ sở chính của công ty đặt tại: Đường quốc lộ 2 – thôn Mậu Thông – Phường Khai Quang – Thành phố Vĩnh Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc
Giám đốc hiện nay: Đỗ Thị Lan
Điện thoại: 02113 843518 Fax: 02113 846799
Mã số thuế: 2500220198
Vốn điều lệ: 2 tỷ đồng
Người đại diện theo pháp luật của công ty: Đỗ Thị Lan
Chức danh: Giỏm đúc Giới tính: nữ
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Thanh Giã - Phường Khai Quang - Thành phố Vĩnh Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Côn ty TNHH thương mại và dịch vụ Dung Thọ được thành lập và hoạt đọng theo giấy chứng nhận kinh doanh số 1902000355 do sở kế hoạch đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 06/05/2003, đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 10/08/2009
Trụ sở chính công ty đặt tại thôn Mậu Thông phường Khai Quang thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc Vốn điều lệ của công ty theo giấy đăng ký kinh doanh là 2.000.000.000 đồng
Công ty chuyên kinh doanh, mua bán hàng hóa ô tô xe máy, xe có động cơ và dịch vụ đi kèm
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý và nhân sự của công ty
2.1.2.1 Đặc điểm về bộ máy tổ chức
Trang 27Từ những đặc điểm và chức năng của ngành nghề sản xuất kinh doanh, và
để đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến- gọn nhẹ Ban giám đốc gốm 2 người Giỏm đốc, người đại diện pháp nhân của công ty, chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh và hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước theo luật định, giúp việc cho giám đốc là 1 phó giám đốc Dưới ban giám đốc là hệ thống phòng ban, như: phòng vận tải tổng hợp, phòng nhân sự, phòng tài chính kế toán, văn phòng, phòng kế hoạch kinh doanh
Chức năng – nhiệm vụ của từng bộ phận trong doanh nghiệp
+ Ban Giám đốc: là người đại diện pháp nhân của Công ty, chịu trách nhiệm
về tình hình hoạt động kinh doanh, là người giữ vai trò lãnh đạo chung toàn Công
ty, chỉ đạo trực tiếp đến từng phòng ban của Công ty
+ Cỏc phũng ban chuyên môn:
- Phòng kế hoạch kinh doanh: nghiên cứu thị trường tiêu thụ thông qua việc khảo sát nhu cầu sở thích, thị hiếu khác hàng, nhu cầu về chất lượng, mẫu mó… nhằm đề xuất các giải pháp tổ chức cung ứng sản phẩm thỏa mãn tốt nhất cho khách hàng; xây dựng cơ chế chính sách tiêu thụ sản phẩm, cơ chế phối hợp với các đơn vị thành viên trong việc tổ chức thị trường tiêu thụ, tham mưu cho lãnh đạo trong việc chỉ đạo toàn bôn hệ thống tiêu thụ
- Phòng tài chính - kế toán: Tổ chức quản lý thực hiện công tác tài chính kế toán theo chính sách của Nhà nước, lập báo cáo hoạt động và kế hoạch tài chính, tổ chức phân tích các chỉ tiêu, chi phí thanh toán lợi nhuõn, tham mưu về giá, phương thức thanh toán, đôn đốc kiểm tra việc thực hiện quy chế tài chính
- Phòng nhân sự: phòng tham mưu cho giám đốc công tác xây dựng và chỉ đạo tổ chức cán bộ công nhân viên toàn Công ty Quản lý, đề bạt, bố trí lao động trong Công ty Phũng cú nhiệm vụ bố trí sắp xếp lao động trong Công ty về số lượng, trình độ tay nghề của từng phòng ban Ngoài ra phũng cũn tổ chức tuyển chọn đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công ty
- Văn phòng: Có nhiệm vụ tiếp khách và xắp xếp bố trí phòng làm việc cũng như trang thiết bị văn phòng của công ty
Trang 28- Phòng vận tải và tổng hợp: có nhiệm vụ quản lý xe là phương tiện chuyên chở hàng hóa của công ty đến với khách hàng
Ngoài các phòng ban trờn cũn cú cỏc cỏc cửa hàng và trung tâm bảo dưỡng xe
máy và kho
2.1.2.2.Đặc điểm lao động
Công ty có lực lượng lao động ổn định, tay nghề cao và có xu hướng tăng trong một số năm gần đây Hiện nay, tổng số cán bộ công nhân viên là 50 người Công
ty với đội ngũ quản lý giỏi, thợ lành nghề với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, sự đồng
lòng của các thành viên và sức sáng tạo đầy trí tuệ giúp cho công ty ngày càng khẳng
định vị trí của mỡnh trờn thị trường
2.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty
2.1.3.1 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh theo đăng ký kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh theo giấy đăng ký chứng nhận kinh doanh của công ty bao gồm:
Đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa;
Mua bán ô tô và xe có động cơ khác;
Mua bán phụ tùng và các bộ phận phụ trợ của ô tô và xe có động cơ khác;
Dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng ô tô và xe có động cơ khác;
Mua bán xe máy;
Mua bán phụ tùng và các bộ phạn phụ trợ của xe máy;
Dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng xe máy;
Mua bán máy móc, thiết bị và phụ tùng thay thế phục vụ ngành công nghiệp,
xây dựng, giao thông, lâm nghiệp;
Mua bán vật tư, hóa chất các loại phục vụ sản xuất theo quy định hiện hành của Nhà nước
2.1.3.2.Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty:
Công ty tnhh thương mại và dịch vụ Dung Thọ là một doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực :kinh doanh thương mại dịch vụ với 2 cửa hàng 1
trung tâm bảo dưỡng xe gắn máy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Thị trường tiêu thụ
- Tỉnh Vĩnh Phúc là một tỉnh phát triển ở vùng hà nội và có hơn 1 triệu dân( số liệu điều tra dân
số 2009)chủ yếu đang trong độ tuổi trẻ sẽ là nguồn khách hàng tiềm năng
Trang 29- Vĩnh phúc có nhiều khu công nghiệp phát triển như KCN Khai Quang, KCN Bỡnh Xuyờn… thu hút được lực lượng lao động từ nơi khác đến làm việc là một thì trường béo bở cho ngành thương mại và dịch vụ.
Vị thế cạnh tranh:
Với những chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư của tỉnh Vĩnh Phúc , Công ty đang có những lợi thế đáng kể so với những doanh nghiệp cùng ngành nghề trên địa bàn tỉnh Với những thành tích tốt trong sản xuất những năm qua, Công ty luôn được UBND, các ban ngành có liên quan của tỉnh Vĩnh Phúc tạo điều kiện cho việc tiếp cận mặt bằng đẹp thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại phát triển công ty như dự án trung tâm thương mại của công ty tại huyện Bỡnh Xuyờn Không những vậy công ty còn đặt trọng tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đội ngũ kỹ thuật lành nghề để cùng phát triển công ty Đây là một lợi thế đặc biệt quan trọng của Công ty trong quá trình hội nhập và phát triển trong thời gian tới
2.1.3.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh.
Trong những năm qua, Công ty luôn bám sát thị trường tiêu thụ xe gắn máy
và xe có động cơ tại tỉnh Vĩnh Phúc để đưa ra những chiến lược kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu của người dân trong địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và lân cận
Đặc điểm tổ chức nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị thành viên như sau:
- Hai cửa hàng là nơi trực tiếp trưng bày và giới thiệu sản phẩm tới khách hàng có nhu cầu trên địa bàn tỉnh được bố trí và trang trí theo tiêu chuẩn của cao nhằm giúp khách hàng dễ dàng chọn lựa và đây cũng là nơi tư vấn khách hàng về các sản phẩm của công ty
- Trung tâm bảo dưỡng xe gắn máy là đơn vị trực thuộc của công ty cú cỏc thợ lành nghề sửa chữa bảo dưỡng xe gắn máy của khách hàng giúp công ty có thể phục vụ khách hàng một cách tốt nhất
- Kho là nơi để hàng hóa của công ty giúp công ty có thể chủ động về nguồn hàng khi có biến động của thị trường
2.1.3.4 Tình hình trang thiết bị sản xuất của công ty
Từ khi thành lập đến nay, Công ty đó cú một hệ thống máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ tương đối đầy đủ và hiện đại Công ty đã xây dựng các cơ sở khang trang sạch đẹp
2.1.4 Kết quả kinh doanh của công ty trong một số năm gần đây.
Trang 30Dựa vào bảng 1 ta có thể nhìn nhận khái quát về tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm vừa qua như sau:
- Về doanh thu:
Doanh thu thuần nhìn chung cũng có sự tăng trưởng qua các năm, tuy nhiên
sự tăng trưởng đú cú sự biến động lớn qua các năm, đặc biệt là năm 2011, doanh thu thuần của Công ty tăng mạnh, tăng 37,25% so với năm 2010
Ta cũng thấy rõ, năm 2008 nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới gây ảnh hưởng lớn tới tất cả các chủ thể trong nền kinh tế Có thể thấy nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008 và những tháng đầu năm
2009 đã trải qua những trạng thái hoàn toàn trái ngược từ quỏ núng sang quá lạnh Nhưng doanh thu thuần của công ty năm 2008 đạt 72 tỷ đồng Năm 2009, doanh thu thuần đạt 137.809.267.277 (đồng) nhưng sang đến năm 2010 nú đó tăng lên đến 148.541.216.616 (đồng), với tỷ lệ tăng là 7,79% đặc biệt năm 20011 doanh thu thuần đạt 203.865.651.578 (đồng) tang 37,25% so với năm 2010 Đây là kết quả đáng mừng cho doanh nghiệp, doanh nghiệp không những vượt qua được khủng hoảng mà còn đạt được tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần cao Công ty đã đặc biệt quan tâm đến các đơn vị thành viên đặc biệt là những bộ phận quan trọng trong tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó là cơ chế khuyến mãi khuyến khích khách hàng tạo đòn bẩy để đẩy mạnh tiêu thụ, chính vì vậy thúc đẩy doanh thu bán hàng tăng mạnh.-Về lợi nhuận: Do doanh thu thuần có sự biến động lớn, do đó lợi nhuận trong
3 năm cũng có sự dao động lớn Lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2010 là 24.664.167 (đồng) giảm 61,93% so với năm 2009 do chi phí lãi vay tăng, năm 2011 lại là một năm khó khăn của nền kinh tế Việt Nam với việc thắt chặt tín dụng ngân hang và cỏc ngõn hang gia tăng lãi suất nên năm 2011 lợi nhuận sau thuế của công
ty chỉ đạt 6.114.729 (đồng) giảm 75,21% so với năm 2010
Doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế vừa nói trờn đó ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần Tỷ suất này biến động qua các năm , năm
2009 là 0.047% nhưng đến năm 2010 chỉ là 0,017%, và sang năm 2011 thì tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu giảm chỉ còn là 0,003% Năm 2011, doanh thu thuần tăng 37,25% và lợi nhuận sau thuế giảm 75,21% nên tỷ suất giảm Đây cũng
là dấu hiệu chưa tốt và phải xem xét tìm phương pháp nâng cao lợi nhuận sau thuế của công ty
Trang 31- Bảng 1: Tổng hợp kết quả kinh doanh trong những năm vừa qua
Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
1 Doanh thu
thuần đồng 137.809.267.277 148.541.216.616 203.865.651.578
2 Tỷ lệ tăng
4 Lợi nhuận sau
5 Tỷ lệ tăng Lợi
6 Tỷ suất lợi
nhuận sau thuế
trên doanh thu
Trang 32- VKD bình quân năm sau tăng nhanh hơn năm trước Năm 2010 là 16.662.349.999 (đồng), tăng 3% so với năm 2009, sang năm 2011 VKD bình quân
là 19.444.927.431 (đồng), tăng 16,7% so với năm 2010
- Số lao động sử dụng của công ty có tăng qua các năm, tuy nhiên số lượng tăng lên không nhiều Năm 2011 người, là 50 người tăng 10 người so với năm 2010 Thu nhập bình quân của người lao động cũng được cải thiện, nếu năm 2009 là 2.400.000 đ/người/thỏng thỡ đến năm 2010 đã là 2.800.000 đ/người/thỏng và năm 2011 tăng lên rõ rệt là 3.400.000 đ/người/thỏng Tuy rằng mức lương này chưa phải là cao so với nhiều doanh nghiệp khác nhưng nó cũng chứng tỏ rằng Công ty đã có rất nhiều nỗ lực trong việc nâng cao mức sống cho người lao động, tạo động lực kích thích người lao động hăng hái sản xuất hơn
Qua xem xét kết quả hoạt động của công ty trong thời gian vừa qua cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đạt hiệu quả tương đối tốt mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng công ty cũng đã đạt được một số thành tích nhất định Tuy nhiên để hiểu rõ hơn, chúng ta sẽ đi sâu xem xét hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty
2.2 THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ TỔ CHỨC, SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY
2.2.1 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của Công ty.
Hoạt động kinh doanh của công ty TNHH thương mại và dịch vụ Dung Thọ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố Nhận biết được những thuận lợi và khó khăn do các nhân tố gây ra sẽ giúp cho Công ty có nhiều biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từ đó thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
2.2.1.1 Thuận lợi
Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Dung Thọ là công ty TNHH hai thành viên trở lên hoạt động theo luật doanh nghiệp Đại diện theo pháp luật của Công ty
là giám đốc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty Giám đốc công
ty toàn quyền quyết định các vấn đề có lợi cho Công ty theo đúng pháp luật
Địa điểm hoạt động của công ty thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán
Trang 33Nền kinh tế hội nhập, tỉnh Vĩnh Phúc và các điạ phương lân cận ngày càng phát triển tạo điều kiện cho công ty phát triển trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ giúp doanh thu tăng, tăng được thu nhập cho cán bộ công nhân viên trong công ty
và tạo được nhiều công ăn việc làm cho người đang trong độ tuổi lao động của địa phương Công ty đã trang bị đầy đủ máy móc trang thiết bị, nhà xưởng khang trang
Đặc biệt, Công ty có bộ máy quản lý trình độ nghiệp vụ cao, còn có đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề với trình độ chuyên môn cao, tâm huyết và nhiệt tình, ham học hỏi là một thuận lợi lớn giúp Công ty tạo niềm tin với khách hàng
Vị trí kinh doanh cũng đóng góp một phần không nhỏ trong thành công của
công ty Trụ sở chính của công ty nằm tại trên quốc lộ 2 thuộc phường Khai Quang
thành phố Vĩnh Yên Đây là con đường chính của thành phố, là đường giao thông liên tỉnh kết nối thủ đô Hà Nội và các tỉnh miền tây bắc của tổ quốc, có mật độ dân
cư tập trung cao tạo điều kiện để quảng bá hình ảnh của công ty
Ngoài ra UBND thành phố Vĩnh Yên cũng như tỉnh Vĩnh Phúc luôn tạo điều kiện giúp đỡ công ty về chủ trương và tạo điều kiện cho công ty về tiền đề để xây dựng
và phát triển khẳng định mình
Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, đầu năm 2009 Chính phủ
đã đưa ra chính sách kích cầu góp phần giảm bớt ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, bao gồm nhiều biện pháp khác nhau từ chương trình hỗ trợ lãi suất đến đầu tư bổ sung Nền kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi từ quý II, sau khi “ngấm” gói kích thích kinh tế khá lớn này GDP đạt 5,2% vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra là 5%, trong khi đó Chính phủ cũng đã thực hiện tốt chính sách kiềm chế lạm phát, cụ thể lạm phát năm 2009 chỉ ở mức trung bình khoảng 7% Việt Nam được đánh giá là một trong ít nền kinh tế phục hồi tốt nhất trong khu vực Đây là dấu hiệu đáng mừng với nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng
2.2.1.2 Khó khăn
Là Công ty TNHH trong điều kiện hiện nay, khi sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường nói chung và sự cạnh tranh trong thị trường ngành sản xuất nói riêng, Công ty cũng gặp phải không ít khó khăn Phải tự lực cánh sinh trên thương trường, đối thủ cạnh tranh lại luôn tìm cách cạnh tranh giành giật thị trường
Trang 34đòi hỏi Công ty phải không ngừng đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng uy tín đối với khách hàng.
Thị trường tiêu thụ còn hẹp, chủ yếu ở thị trường Vĩnh Phúc và các tỉnh lân cận Việc tiêu thụ sản phẩm ở các tỉnh ngoài còn gặp nhiều khó khăn
Tình hình kinh tế xã hội có nhiều biến động làm cho giá cả các loại đầu vào không ổn định như vật tư, nguyên liệu, điên nước, vật liệu xây dưng… Hơn nữa Nghị quyết số 02/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, cuối cùng thì Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đó cú quyết định điều chỉnh tỷ giá chính thức (tỷ giá bình quân liên ngân hàng) áp dụng từ ngày 11/2/2011 làm cho các chi phí sản xuất kinh doanh của công ty tăng lên đáng kể, làm ảnh hưởng không nhỏ tới lợi nhuận của công ty
Việc đào tạo kỹ sư, công nhân về lĩnh vực sửa chữa máy móc, động cơ vẫn chưa được chú ý Chủ yếu chỉ được giảng dạy ở một vài trường đại học chuyên ngành và các trung tâm dạy nghề
2.2.2 Khái quát về vốn và nguồn vốn kinh doanh của công ty
2.2.2.1 Cơ cấu vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do vậy mà tùy từng loại hình doanh nghiệp và tùy tính chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà cơ cấu vốn kinh doanh có thể khác nhau.
Cơ cấu vốn và nguồn tài trợ có tác động lớn tới hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh Một cơ cấu vốn hợp lý, có sự kết hợp giữa nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay phù hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp không những giảm thiểu chi phí sử dụng vốn mà còn là đòn bẩy làm tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ
Để xem xét tình hình sử dụng vốn kinh doanh của công ty ta cần đánh giá
cơ cấu vốn hiện nay như thế nào Qua bảng 2 bảng cơ cấu tài sản và nguồn vốn 2 năm 2010 và 2011 ta nhận thấy: Tổng giá trị tài sản của công ty tại thời điểm ngày 31/12/2011 là 22.148.797.076 (đồng), tăng 5.407.739.290 (đồng) so với cùng kỳ năm ngoái với tốc độ tăng là 32,3% Trong đó, tài sản ngắn hạn là 19.464.730.208