Tuy nhiên Bảo hiểm là một ngành kinh tế đặc biệt, một loại hìnhkinh tế bổ xung cho chính sách xã hội, với nhiệm vụ lập quỹ Bảo hiểm từ nguồnđóng góp của các tổ chức, cá nhân, do đó doanh
Trang 1Mục lục
Mục lục 1
Mục lục phần bảng 3
Mở đầu 4
Ch¬ng I - Nh÷ng lý luận chung về doanh thu kinh doanh Bảo hiểm 5
1.1 Nguyên tắc của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm 5 1.2 nội dung doanh thu kinh doanh Bảo hiểm 9 1.3 tăng doanh thu kinh doanh Bảo hiểm và nâng cao hiệu quả kinh doanh 10 Chương II -Thùc trạng doanh thu kinh doanh Bảo hiểm tại Bảo hiểm phi nhân thọ thái bình 15
2.1 Đặc điểm tình hình chung công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình (Bảo Việt phi nhân thọ Thái Bình) 15 2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và sự phát triển của Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình 15 2.2 Tình hình kinh doanh của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình từ năm 1999 đến 2001 18 2.2.1 Thực trạng doanh thu từ hoạt động kinh doanh Bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình 19 2.2.2 Doanh thu từ hoạt động khác 26 2.3 Đánh giá về tình hình doanh thu kinh doanh Bảo hiểm tại công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình 27 2.3.1 Các nhân tố khách quan: 27 2.3.2 Các nhân tố chủ quan: 27 2.4 Đánh giá tổng quát doanh thu của Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình 28 Chương III - Một số giải pháp tăng doanh thu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty Bảo hiểm phi nhân thọ TháI Bình 30
3.1 Phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch của công ty đến năm 2005 30
Trang 23.1.2 Đổi mới các nghiệp vụ Bảo hiểm, nâng cao năng lực kinh doanh 303.1.3 Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý: 31
3.2 Một số giải pháp nâng cao doanh thu kinh doanh Bảo hiểm tại công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình 31
3.2.1 Thúc đẩy khai thác Bảo hiểm 31
3.2.2 Triển khai các nghiệp vụ Bảo hiểm mới 32
3.2.3 Xây dựng kế hoạch tăng doanh thu kinh doanh Bảo hiểm 33
3.2.4 Hoàn thiện công tác kế toán doanh thu kinh doanh Bảo hiểm 333.2.5 Công tác giám định và bồi thường 34
3.2.6 Tin học hoá trong quản lý hồ sơ khách hàng 35
2.3.7 Tạo hành lang pháp lý để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữacác công ty 35
Kết luận 37 Tài liệu tham khảo 39
Trang 3Mục lục phần bảng
Bảng 2.1: Thực tế thu hoạt động kinh doanh tại công ty Bảo hiểm phi nhân thọ
Thái Bình từ năm 1999 đến 2001 19
Bảng 2.2 Nhóm nghiệp vụ hàng hoá 20
Bảng 2.3 Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm tầu 21
B ảng2.4 Nhóm nghiệp vụ hoả hoạn và rủi ro đặc biệt 21
Bảng 2.5 Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt 22
B ảng 2.6 Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới 23
Bảng 2.7: Doanh thu từ hoạt động khác 26
Trang 4Mở đầu
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, tiến trình toàn cầu hoá, nhất thể hoákinh tế diễn ra nhanh chóng các tổ chức, các tập đoàn kinh tế, các công ty đaquốc gia, xuyên quốc gia luôn tìm cách tận dụng mọi tiềm năng sẵn có xâmnhập vào các thị trường để tối đa hoá lợi nhuận Lợi nhuận là động lực mạnh mẽnhất thúc đẩy cho các nền kinh tế phát triển Quá trình toàn cầu hoá, nhất thểhoá kinh tế thế giới cũng là để cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế tìmkiếm lợi nhuận trên những thị trường mới
Trong điều kiện cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp có một chiến lược riêng đểtìm kiếm lợi nhuận, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng tìm cách quản lý và đẩy mạnhdoanh thu, nhằm đạt mức lợi nhuận tối đa Giải pháp tăng doanh thu luôn là mộtyếu tố quan trọng để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Song, giải pháp tăngdoanh thu như thế nào để có hiệu quả còn phụ thuộc vào mỗi nhà kinh doanh,mỗi doanh nghiệp trên thị trường
Cùng với nhịp độ phát triển kinh tế, nhu cầu bảo hiểm trong nước ngàycàng tăng cao công ty Bảo hiểm Thái Bình đã xây dùng cho mình một chiếnlược kinh doanh đúng đắn, đưa công ty ngày càng phát triển và khẳng định vị trícủa mình trên thị trường
Bằng những kiến thức đã học, kết hợp với những kinh nghiệm thực tế thuđược trong thời gian thực tập tại công ty Bảo hiểm Thái Bình, đặc biệt được sựtận tình chỉ bảo của thầy giáo Hoàng Trần Hậu tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Một số giải pháp tăng doanh thu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty Bảo Hiểm Thái Bình”
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương I: Những lý luận chung về kinh doanh bảo hiểm
- Chương II: Thực trạng kinh doanh tại công ty Bảo Hiểm phi nhânthọ Thài Bình
Trang 5- Chương III: Một số giải pháp tăng doanh thu nh»mn©ng cao hiệuquả kinh doanh bảo hiểm tại công ty Bảo Hiểm phi nhân thọ ThàiBình.
Chương I
Những lý luận chung về doanh thu kinh doanh Bảo
hiểm
1.1 Nguyên tắc của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm
Kinh doanh Bảo hiểm là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bảo hiểmnhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp phải chấp nhận rủi ro của ngườiđược Bảo hiểm Trên cơ sở bên mua Bảo hiểm đồng ý Bảo hiểm để doanhnghiệp Bảo hiểm trả tiền Bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường chongười được Bảo hiểm khi xảy ra sự kiện Bảo hiểm
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuấtkinh doanh đều phải xác định tầm xa mức doanh thu như tất cả các doanhnghiệp khác Tuy nhiên Bảo hiểm là một ngành kinh tế đặc biệt, một loại hìnhkinh tế bổ xung cho chính sách xã hội, với nhiệm vụ lập quỹ Bảo hiểm từ nguồnđóng góp của các tổ chức, cá nhân, do đó doanh thu Bảo hiểm mang những nétđặc trưng rất riêng, có tính chất đặc thù của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm.Đặc trưng kinh doanh bảo hiểm được thể hiện dựa trên các nguyên tắc chungnhất định
Những nguyên tắc chung trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
- Nguyên tắc số đông bù số ít: Về bản chất, hoạt động kinh doanh bảo hiểm
là nhận một khoản tiền mà người ta gọi là phí bảo hiểm để rồi có khả năng sẽphải trả cho bên đã đóng góp khoản tiền phí đó một số tiền (Bồi thường, chi trả)lớn hơn gấp nhiều lần Để làm được điều này hoạt động bảo hiểm phải dựa trênnguyên tắc số đông Đây là nguyên tắc xuyên suốt, không thể thiếu được trong
Trang 6một hoặc một số ít người sẽ được bù đắp bằng số tiền gom được từ rất nhiềungười có khả năng cùng gặp rủi ro như vậy Thông qua việc huy động đủ số phícần thiết để giải quyết chi bồi thường cho các tổn thất có thể xảy ra trong cộngđồng những người tham gia bảo hiểm, người bảo hiểm đã thực hiện việc bù trừrủi ro theo quy luật thống kê số lớn Nguyên tắc số đông bù số ít cho thấy rằng,càng nhiều người tham gia bảo hiểm thì quỹ bảo hiểm được tích tụ càng lớn,việc chi trả càng trở nên dễ dàng hơn, rủi ro được san sẻ cho nhiều người hơn.Thông thường, một nghiệp vụ bảo hiểm chỉ có thể được triển khai khi có nhiềunhu cầu về cùng một loại bảo đảm đó.
- Nguyên tắc lựa chọn rủi ro: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm cung cấpcác dịch vụ bảo hiểm cho những cá nhân và tổ chức có yêu cầu Tuy nhiênkhông phải trong mọi trường hợp, người bảo hiểm đều chấp nhận các yÒu cầubảo đảm Nguyên tắc lựa chọn rủi ro là một nguyên tắc không thể thiếu đượctrong hoạt động kinh doanh bảo hiểm của nhà bảo hiểm Theo nguyên tắc này,các rủi ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gần như chắc chắn sẽ xảy ra thì bị từ chốibảo hiểm: Hao mòn vật chất tự nhiên, hao hụt thương mại tự nhiên, xe vi phạmnghiêm trọng luật giao thông, cố ý tự tử … Nói cách khác, những rủi ro có thểđược bảo hiểm phải là những rủi ro bất ngờ, không lường trước được Để bảođảm nguyên tắc này, trong đơn bảo hiểm luôn có các rủi ro loại trừ tuỳ thuộcvào từng nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau; còn với các rủi ro được nhận bảo hiểmlại được xem xét để phân loại, sắp xếp theo từng mức độ khác nhau(nếu cầnthiết) và áp dôg các mức phí thích hợp Đối với các rủi ro có xác suất xảy ra lớnhơn thì mức phí phải nộp cao hơn Nguyên tắc lựa chọn rủi ro nhằm tránh chongười bảo hiểm phải bồi thường cho những tổn thất thấy trước mà với nhiềutrường hợp như vậy chắc chắn sẽ dẫn đến phá sản, đồng thời cũng giúp cho cáccông ty bảo hiểm có thể tính được các mức phí chính xác, lập nên được một quỹbảo hiểm đầy đủ để bảo đảm cho công tác bồi thường Không chỉ bảo đảmquyền lợi cho phía bên bảo hiểm mà ngay chính những người tham gia bảo hiểmcũng thấy công bằng hơn trong trường hợp có những rủi ro không thuần nhất(xác suất không bằng nhau) khi nguyên tắc này được áp dụng
Trang 7- Nguyên tắc phân tán rủi ro (không để trứng vào một giá): Là người nhâncác rủi ro được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm, nhà bảo hiểm lúc này
sẽ là người phải đối mặt với những tổn thất có thể rất lớn nếu rủi ro xảy ra Mặc
dù quỹ bảo hiểm là một quỹ tài chính lớn, được lập ra bởi sự đóng góp củanhiều người theo nguyên tắc số đông bù số ít và như vậy, với tư cách là ngườitập trung và quản lý quỹ, các công ty bảo hiểm có khả năng thực hiện nhiệm vụchi trả bảo hiểm Nhưng trên thực tế, không phải lúc nào người bảo hiểm cũngluôn đảm bảo được khả năng này, nhất là trong những trường hợp quỹ bảo hiểmtập trung được còn chưa nhiều mà giá trị bảo hiểm lại rất lớn hoặc trong nhữngtrường hợp có tổn thất lớn, liên tiếp xảy ra Một kinh nghiệm trong hoạt độngkinh doanh bảo hiểm là tránh nhận những rủi ro quá lớn, vượt quá khả năng tàichính của công ty Chính vì vậy, phải phân tán bớt các rủi ro đã nhận là nguyêntắc quan trọng giúp cho các nhà bảo hiểm có thể đảm bảo nhận các rủi ro lớn,tránh được điều tối kị là từ chối bảo hiểm, vừa vẫn bảo đảm được hoạt độngkinh doanh Để thực hiện nguyên tắc phân tán rủi ro, các nhà bảo hiểm đã sửdụng hai phương thức: đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm Nếu trong đồng bảohiểm, nhiều nhà bảo hiểm cùng nhận bảo đảm cho một rủi ro lớn thì tái bảohiểm lại là phương thức trong đó, một nhà bảo hiểm nhận bảo đảm cho một rủi
ro lớn,sau đó nhượng bớt một phần rủi ro cho một hoặc nhiều nhà bảo hiểmkhác
- Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Nguyên tắc này được thể hiện ngay từkhi người bảo hiểm nghiên cứu để soạn thảo một hợp đồng bảo hiểm đến khiphát hành, khai thác bảo hiểm và thực hiện giao dịch kinh doanh với khách hàng(người tham gia bảo hiểm) Nguyên tắc này đòi hỏi người bảo hiểm phải cótrách nhiệm cân nhắc các điều kiện, điều khoản để soạn thảo hợp đồng bảo đảmcho quyền lợi của hai bên Sản phẩm cung cấp của nhà bảo hiểm là sản phẩmdịch vụ nên khi mua người tham gia bảo hiểm kh«ngthÓ cầm nắm nó trongtaynhư các sản phẩm vật chất khác để đánh giá chất lượng và giá cả … mà chỉ cóthể có được một hợp đồng hứa sẽ bảo đảm Chất lượng sản phẩm bảo hiểm có
Trang 8người được bảo hiểm có đảm bảo đầy đủ, công bằng hay không … đều chủ yếudựa sự trung thực của phía bên bảo hiểm Nguyên tắc này cũng đặt ra một yêucầu với người tham gia bảo hiểm là phải khai báo rủi ro trung thực khi tham giabảo hiểm để giúp cho người bảo hiểm xác định mức phí thù hợp với rủi ro mà
họ đảm nhận Thêm vào đó các hành vi gian lận nhằm trục lợi bảo hiểm khithông báo, khai báo các thiệt hại để đòi bồi thường (khai báo lớn hơn thiệt hạithực tế; sửa chữa ngày tháng của hợp đồng bảo hiÓm…) sẽ được sử lý theopháp luật
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, trong mỗi một loại hình bảo hiểm sẽ cóthêm các nguyên tắc khác phù hợp với đặc điểm của từng loại:nguyên tắc bồithường, nguyên tắc khoán, …
Trên thị trường bảo hiểm thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay hoạt độngkinh doanh bảo hiểm rất phong phú và đa dạng (nhiều nghiệp vụ – sản phẩm –bảo hiểm khác nhau): bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tầu;bảo hiểm trách nhiªm dân sự chủ tầu; bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm tai nạn conngêi… các sản phẩm trên đều được phân loại theo từng đặc trưng riêng tuỳthuộc vào mục đích nghiên cứu và quản lý nghiệp vụ, sẽ có các tiêu thức khácnhau được lấy làm căn cứ phân loại Chẳng hạn, theo đối tượng được bảo hiểm,các nghiệp vụ được bảo hiểm có thể xếp vào: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tráchnhiệm dân sự hay bảo hiểm con người
Phạm vi hoạt động của bảo hiểm rất rộng (kinh doanh trên địa bàn rộng,vói nhiều dịch vụ khác nhau cho nhiều đối tượng) nên hoạt động kinh doanh bảohiểm thường gắn liền với các nguồn thu từ bảo hiểm gốc Từ đó xác định nênmột khoản bồi thường đền bù khách hàng khi xảy ra rủi ro, đó là nguồn thuchính của hoạt động kinh doanh bảo hiểm Do chu trình sản xuất kinh doanh bảohiểm là chu trình sản xuất ngược doanh thu được hình thành trước, chi phí xácđịnh sau, cho nên doanh nghiệp bảo hiểm phải hết sức thận trọng trong việc xácđịnh phí bảo hiểm cho các hoạt động Vì mức phí bảo hiểm bao giờ cũng là yếu
tố quan trọng quyết định sự thành công của sản phẩm và thành công của doanh
Trang 9nghiệp Vì vậy, giá cả(mức phí bảo hiểm) cũng là yếu tố cần thiết cho sự thắnglợi của các công ty trong lĩnh vực kinh doanh Nếu để mức phí quá thấp thì sẽdẫn tới nguy cơ thu không đủ chi, dẫn tới nguy cơ phá sản, còn nếu đặt mức phícao thì khó thu được khách hàng Trong xu thế cạnh tranh khốc liệt như hiện naythì việc đặt ra mức phí phù hợp với nhu cầu khách hàng là điều vô cùng khó vàquan trọng Vì có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm như: xác suất rủi
ro, chi phí trung bình cho một vụ tai nạn, chi phí quản lý, chi phí hoa hồng và cảkinh nghiệm tính toán của người bán nữa
Tóm lại, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ra đời đã đáp ứng được mọi nhucầu về bảo hiểm cho các cá nhân, các tổ chức trong xã hội Dịch vụ này đã đượcchấp nhận và tồn tại như một yếu tố quan trọng ngày càng không thể thiếu đượctrong cuộc sống con người Trong một xã hội ngày càng phát triển, việc thamgia bảo hiểm để bảo vệ tài sản, tính mạng và tình trạng sức khoẻ… sẽ trở thànhmột nhu cầu thiết yếu của mọi thành viên xã hội
1.2 nội dung doanh thu kinh doanh Bảo hiểm
Doanh thu kinh doanh Bảo hiểm là các khoản thu bằng tiền từ hoạt độngkinh doanh Bảo hiểm Khác với các doanh nghiệp khác, doanh thu kinh doanhBảo hiểm là những “khoản tiền ứng trước” của khách hàng để có được sự bảođảm của doanh nghiệp Bảo hiểm trước rủi ro và tổn thất Doanh thu kinh doanhBảo hiểm là yếu tố cơ bản quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệpBảo hiểm, doanh thu cao hay thấp ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh
Vì vậy việc xác định tăng doanh thu kinh doanh Bảo hiểm không những giúpcho việc tính toán giá cả sản phẩm Bảo hiểm hợp lý mà còn giúp cho việc xácđịnh hiệu quả kinh doanh được chính xác, trên cơ sở đó doanh nghiệp Bảo hiểm
có các biện pháp quản lý doanh thu để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranhtrong kinh doanh
Doanh nghiệp bảo hiểm hạch toán khoản thu phí bảo hiểm gốc vào thu
Trang 10luật kinh doanh bảo hiểm.Ngoài ra doanh nghiệp còn có những khoản thu từ phínhận tái bảo hiểm là những khoản doanh thu trong quá trình công ty bảo hiểmnhận lại một phần trách nhiệm của công ty bảo hiểm khác, đã chấp nhận vớingười được bảo hiểm trên cơ sở nhận lại một phần doanh thu qua hợp đồng táibảo hiểm, doanh thu từ thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và doanh thu từ hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm khác như thu phí về dịch vụ đại lý bao gồm: giámđịnh tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lýhàng bồi thường 100%, thu giám định tổn thất không kể giám định hộ giữa cácđơn vị thành viên hạch toán nội bộ trong cùng một doanh nghiệp bảo hiểm, hạchtoán độc lập trừ đi các khoản chi để giảm thu như: hoàn phí bảo hiểm, giảm phíbảo hiểm, phí nhượng tái bảo hiểm, hoàn phí nhận tái bảo hiểm, hoàn hoa hồngnhượng tái bảo hiểm, giảm hoa hồng nhượng tái bảo hiểm (áp dụng điều 19nghị định số 43/2001/N§-CP ngày 1/8/2001 của Chính phủ quy định chế độ tàichính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm).
Thu kinh doanh Bảo hiểm bao gồm:
- Thu phí Bảo hiểm gốc: Là toàn bộ chi phí Bảo hiểm thu từ các hoạt độngBảo hiểm đã ký kết trong kỳ kế toán
- Thu nhận tái Bảo hiểm: Là toàn bộ tiền phí nhận tái Bảo hiểm thu từ cáchoạt động tái Bảo hiểm trong kỳ kế toán
- Thu nhượng tái Bảo hiểm: Là toàn bộ các khoản tiền thu về hoa hồngnhượng tái và các khoản thu khác từ các hoạt động tái Bảo hiểm trong kỳ kếtoán
- Thu từ hoạt động cung cấp các dịch vụ khác: Là các khoản tiền thu vềdịch vụ đại lý giám định, tư vấn, đại lý xem xét bồi thường và đối với người thứ
3 xử lý hàng đã bồi thường tổn thất toàn bộ trong kỳ kế toán
Trang 111.3 tăng doanh thu kinh doanh Bảo hiểm và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Lợi nhuận là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đánh giá hiệu quả hoạt độngkinh doanh, phản ánh chất lượng kinh doanh, trình độ quản lý và khả năng củadoanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, bất kì doanh nghiệp nào muốn tồntại và phát triển luôn phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả kinh doanh, tối đa hoálợi nhuận Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp bổ sungthêm nguồn vốn kinh doanh trích lập các quỹ trong doanh nghiệp, từ đó có thể
mở rộng tái sản xuất kinh doanh Đặc biệt là đối với doanh nghiệp bảo hiểm, lợinhuận còn giúp doanh nghiệp củng cố khả năng tài chính là nguồn đảm bảo khảnăng thanh toán các trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền lợi của kháchhàng (lợi nhuận các năm chưa sử dụng)
Lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm được xác định bằng chênh lªch giữa tổng
thu kinh doanh bảo hiểm và tổng chi kinh doanh bảo hiểm:
Tổng thu kinh doanh bảo hiểm gồm có:
- Thu phí bảo hiểm gốc
- Thu phí nhận tái bảo hiểm
- Thu khác hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
Trang 12+ Thu nhận tái bảo hiểm: Doanh thu khác của hoạt động tái bảo hiểm + Thu nhượng tái bảo hiểm: doanh thu khác của hoạt động nhượng tái bảohiểm sau khi trừ đi khoản hoa hồng nhượng tái bảo hiểm
+ Thu khác: doanh thu khác của hoạt động như: giám định, đại lý … saukhi trừ đi các khoản giảm trừ
Tổng chi hoạt động kinh doanh bảo hiểm gồm có:
- Chi bồi thường bảo hiểm gốc
- Chi bồi thường nhận tái bảo hiểm
- Các khoản giảm trừ:
+ Thu hồi bồi thường nhận tái bảo hiểm
+ Thu đòi người thứ ba
- Chi bồi thường từ quỹ dự phong dao động lớn: Số chi bồi thường bảohiểm gốc và bồi thường nhận tái bảo hiểm trong năm được chi từ quỹ dựphòng dao động lớn theo quy định của bộ tài chính
- Tăng (+) giảm (-) dự phòng bồi thường: là số chênh lệch giøa số dựphòng phải trích trong năm tài chính với dự phòng năm trước chuyểnsang
- Số trích dự phòng dao động lớn trong năm: là số tiền dự phòng cho nhữngdao động lớn về tổn thất thuộc trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp
- Chi khác hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
+ Chi hoa hồng bảo hiểm gốc
+ Chi hoa hồng nhận tái bảo hiểm
+ Chi nhượng tái bảo hiểm: chi khác về hoạt động nhượng tái bảo hiểm
Trang 13+ Chi khác (giám định, đại lý …)
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở doanh thu và chi phí.Muốn tăng lợi nhuận cần phải tăng doanh thu và tiết kiệm chi phí Lợi nhuận làchỉ tiêu tổng hợp để đánh gÝa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhưngkhông phải là chỉ tiêu duy nhất Để đánh giá một cách đầy đủ, chính xác hiệuquả kinh doanh bảo hiểm ngoài chỉ tiêu tuyệt đối là lợi nhuận, còn phải sử dụngđến các chỉ tiêu: tû lệ chi phí / doanh thu, …
Nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty bảo hiểm là rất cần thiết
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, khối lượng sản phẩm dịch vụcủa xã hội sau bao giờ cũng lớn hơn xã hội trước Điều này đã hình thành quyluật khách quan Tuy nhiên, khả năng sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụcủa mỗi nền sản xuất là có hạn, nhưng nhu cầu của con người là vô hạn vàkhông ngừng biến đổi Chính vì vậy, vấn đề tăng số lượng sản phẩm địch vụ đãkhông còn là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả của quá trình sản xuất sản phẩmkinh doanh dịch vụ nữa Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để sản xuất đúng sảnphẩm dịch vụ mà khách hàng mong muốn, cung ứng với số lượng là bao nhiêuthì vừa đủ với yêu cầu của thị trường Có như vậy thì tránh được tình trạng lãngphí mà vẫn đáp ứng đúng và đủ yêu cầu của thị trường, đồng thời mang lại kếtquả cao trong kinh doanh Vì thực tế thì khi giảm được một đồng chi phí là tăngthêm một đồng lợi nhuận hay doanh thu Như vậy, hiệu quả kinh doanh caođược đánh giá dựa trên cơ sở so sánh giữa thu về với chi phí bỏ ra: nếu tû sốdoanh thu trên chi phí là cao thì hiệu quả kinh doanh cao và ngược lại Do đó,mỗi quốc gia khi tiến hành sản xuất sản phẩm hay cung ứng bất kỳ dịch vụ nào
Trang 14cũng phải tính toán các yếu tố: sản phẩm hay cung ứng sản phẩm dịch vụ gì ?sản xuất và cung ứng sản phẩm và dịch vụ như thế nào? khi nào? ở đâu?.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần như hiện nay, các doanh nghiệp luônphải đương đầu với cạnh tranh gay gắt Để tồn tại được trên thị trường buộc cácdoanh nghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp mình lên cao hơn các doanh nghiệp khác Điều đó cũng đồngnghĩa với việc tăng lợi nhuận ở mức tối đa Để làm được điều này thì biện pháphữu hiệu nhất đó là tiết kiệm yếu tố đầu vào Bởi vì, lợi nhuận bằng doanh thutrừ đi chi phí Do vậy tăng doanh thu là điều tất yếu phải đạt được, vì công táctăng doanh thu bảo hiểm nhiều khi còn tác dụng ngược trở lại làm chi phí thayđổi Song giảm đi một đồng chi phí cũng có nghĩa là tăng thêm một đồng lợinhuận, giảm chi phí làm tăng lợi nhuận bảo đảm sự tồn tại của công ty Giảm chiphí còn có tác dụng thứ hai là tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm bởi vì chi phíquyết định tới gÝa cả sản phẩm, khi chi phí giảm thì giá cả cũng giảm dần tớikhả năng tiêu thụ được thuận lợi hơn Công ty bảo hiểm cũng là một tổ chứckinh doanh dịch vụ bảo hiểm, vì vậy cũng như các tổ chức kinh doanh khác việcnâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty là điều cần thiết và mang tính kháchquan Để tăng doanh thu kinh doanh bảo hiểm đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểmphải thực thi một số yêu cầu như: công ty cần phải có kế hoạch sử dụng tàichính phù hợp đồng thời không ngừng mở rộng địa bàn hoạt động của mìnhthông qua các văn phòng trực thuộc tại tất cả các cơ sở, và cả mạng lưới đại lýrộng khắp Không những thế, công ty còn nghiên cứu triển khai nhiều nghiệp vụnhằm phục vụ nhu cầu bảo hiểm đa dạng các thành phần kinh tế khác trong xãhội Trước sự biến động của thị trường bảo hiểm, doanh nghiệp cần phải tìm mọibiện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của mình đảm bảo khả năng đứng vữngtrong cạnh tranh
Trang 15Chương II Thực trạng doanh thu kinh doanh Bảo hiểm tạI Bảo
hiểm phi nhân thọ thái bình
2.1 Đặc điểm tình hình chung công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình (Bảo Việt phi nhân thọ Thái Bình)
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và sự phát triển của Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình
Trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, những năm vừa qua,ngành Bảo hiểm là một trong những ngành mũi nhọn đã và đang góp phần vàoviệc tăng trưởng kinh tế của đất nước Công ty Bảo hiểm Thái Bình là một công
ty thành viên trực thuộc tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam được thành lập theoquyết định ngày 14/02/1981 Bộ tài chính Hơn 20 năm xây dựng và phát triển,công ty bảo hiểm Thái Bình đã trưởng thành nhanh chóng, lớn mạnh trên tất cảcác mặt hoạt động
Là một ngành kinh tế đặc biệt, 1 loại hình dịch vụ tài chính bổ xung chongân sách xã hội, với nhiệm vụ lập quỹ Bảo hiểm từ nguồn đóng góp qua các tổchức và cá nhân, giải quyết bồi thường để giúp dân nhanh chóng ổn định sảnxuất-đời sống là 1 trong những biện pháp quan trọng tăng cường tích kiệm trongnhân dân, tăng cường đề phòng và hạn chế tổn thất đối với con người và tàisản ý thức sâu sắc vai trò là lá chắn của sự phát triển kinh tế x¨ hội của địaphương và với phương châm: “Con người là vốn quý nhất, tất cả vì con người,cho con người”, hoạt động Bảo hiểm Thái Bình đã vươn ra khắp các địa
phương, địa bàn trong toàn tỉnh Từ hai nghiệp vụ ban đầu: Bảo hiểm trách
nhiệm dân sự chủ xe cơ giới và Bảo hiểm tai nạn hành khách Đến nay, Bảo
hiểm Thái Bình đã đa dạng hoá các loại hình Bảo hiểm, cung cấp gần 40 sản
Trang 16phẩm dịch vụ Bảo hiểm trên hai lĩnh vực: Bảo hiểm phi nhân thọ và phi nhân
thọ.
Tháng 2/2001 theo quyết định của Bộ tài chính số 197/2000/Q§-BTC ngày8/12/2000 về việc thành lập 27 công ty Bảo hiểm nhân thọ, trong đó có công ty
Bảo hiểm phi nhân thọ tỉnh Thái Bình, được tách ra từ công ty Bảo hiểm TháI
Bình Trong phạm vi đề tài luận văn chỉ nghiên cứu thực trạng doanh thu kinhdoanh Bảo hiểm của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình
Căn cứ vào chức năng quản lý và hoạt động kinh doanh của công ty, tổchức bộ máy của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình được uû quyền vàhoạt động như sau:
Trang 172.1.3 Chức năng của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình
Phòng bảo hiểm con người
Phòng Bảo hiểm khu vực
Các đại lýc¬ sở
Các đại lýC¬ sở
Các đại lýC¬ sở
Trang 18Chức năng cơ bản của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình là:
- Lập quỹ Bảo hiểm với nguồn đóng góp (phí Bảo hiểm) của các tổ chứcđơn vị sản xuất kinh doanh và cá nhân để bồi thường tổn thất cho người tham
gia Bảo hiểm không may bị thiệt hại, giúp các tổ chức, cá nhân này mau chóng
ổn định sản xuất và đời sống, giúp cho ngân sách Nhà nước ổn định không phảichi những khoản chi bất thường
- Mở rộng và hoàn thiện, phát triển các loại hình Bảo hiểm nhằm bổ sung
cho các chính sách xã hội và chế độ Bảo hiểm xã hội
- Cùng các cơ quan hữu quan tham gia công tác đề phòng, hạn chế tổn thấtđối với con người và tài sản
2.1.4 Nhiệm vụ của công ty
- Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình là công ty thành viên của tổng
công ty Bảo hiểm Việt Nam có đầy đủ tư cách pháp nhân, thực hiện chế độ hạch
toán báo sổ, có tài sản và trụ sở riêng
- Nhiệm vụ chính của công ty là tổ chức hoạt động kinh doanh Bảo hiểmtrên địa bàn tỉnh Thái Bình Công ty có nhiệm vụ triển khai các nghiệp vụ Bảo
hiểm thuộc lĩnh vực Bảo hiểm nhân thọ Hiện nay công ty triển khai gần 30 sản phẩm Bảo hiểm khác nhau, bao gồm: Bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu, Bảo hiểm
toàn diện học sinh, Bảo hiểm thân tàu biển
2.2 Tình hình kinh doanh của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình từ năm 1999 đến 2001
Do đặc điểm riêng của ngành kinh doanh Bảo hiểm, giá thành sản phẩm dotổng công ty quy định nên tû lệ doanh thu tăng hay giảm tû lệ thuận với khoảnchi phí Vì vậy để nâng cao hiệu quả kinh doanh công ty phải đẩy mạnh công táclàm tăng doanh thu Bảo hiểm
Trang 192.2.1.Thực trạng doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình
2.2.1.1 Doanh thu từ Bảo hiểm gốc.
Tình hình doanh thu từ hoạt động kinh doanh Bảo hiểm trong 3 năm 1999,
2000, 2001 tại công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình thể hiện qua bảng 2.1
Nhìn vào số tuyệt đối, thu kinh doanh Bảo hiểm đã tăng dần lên qua các
năm Năm 1999 là 6.250.000 triệu đồng, năm 2000 là 7780.684 triệu đồng, tăng
so với năm 1999 là: 1530.684 triệu đồng Việc tăng thu hoạt động kinh doanh
Bảo hiểm như vậy là do doanh nghiệp đã đa dạng hoá các loại hình sản phẩm
phù hợp với quyền lợi của khách hàng và phương hướng hoạt động kinh doanhđúng đắn của công ty
Trang 20Tình hình doanh thu hoạt động kinh doanh Bảo hiểm của từng loại nghiệp
vụ được thể hiện như sau:
2.2.1.2 Nhóm nghiệp vụ hàng hoá:
Bảng 2.2 Nhóm nghiệp vụ hàng hoá
n v :1000®Đơn vị:1000® ị:1000®
1999, 2000, 2001 không có trường hợp bồi thường nào, đặc biệt năm 2000 công
ty thu phí Bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu cũng tương đối lớn 228.876triệu đồng.Nguyên nhân nhóm nghiệp vụ này ít có tổn thất phải bồi thường còn docông ty quản lý rủi ro một cách chặt chẽ Công tác đánh giá rủi ro trước khi cấpđơn Bảo hiểm, công tác đề phòng hạn chế tổn thất, giám định và trả tiền bồithường được công ty thực hiện một cách chặt chẽ, đúng quy trình nghiệp vụ
2.2.1.3 Nhóm nghiệp vụ Bảo hiểm tàu:
Gồm có Bảo hiểm thân tàu, Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu Khác
với nhóm Bảo hiểm hàng hoá, nhóm nghiệp vụ này hay xảy ra tổn thất và chiếm
tû lệ tương đối lớn, đặc biệt năm 1999 tổn thất trung bình 34,24%, năm 2001thấp nhất 12,89% Với mức chi bồi thường như vậy ta thấy doanh nghiệp chưaquản lý chặt rủi ro nghiệp vụ này và doanh thu của loại hình sản phẩm khôngcao