Bước sang thế kỷ XXI, hòa cùng tốc độ phát triển của thế giới bộ mặt kinh tế nước ta cũng đã thực sự được cải thiện
Trang 1Lời mở đầu 5
Chương I: Vốn và huy động vốn của NHTM 7
1.1 Nguồn vốn và vai trò của nguồn vốn đối với NHTM 7
1.1.1 Ngân hàng thương mại và vốn kinh doanh của NHTM 7
1.1.2 Vai trò của nguồn vốn đối với ngân hàng thương mại 10
-1.2 Các nguồn hình thành nên nguồn vốn của và tác động của vốn trong kinh doanh ngân hàng 12
1.2.1 Các nguồn hình thành nên nguồn vốn 12
1.2.1.1 Vốn chủ sở hữu 12
1.2.1.2 Vốn nợ 15
1.2.2 Tác động của vốn trong kinh doanh ngân hàng 19
-1.2.2.1 Quy mô, cơ cấu nguồn vốn quyết định cơ cấu tài sản và ảnh hưởng tới khả năng sinh lời 20
-1.2.2.2 Sự ổn định của nguồn vốn có ảnh hưởng đến độ an toàn của ngân hàng thương mại 20
1.3 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại 24
1.3.1 Tiền gửi không kỳ hạn 24
1.3.1.1 Tiền gửi thanh toán 26
1.3.1.2 Tiền gửi không kỳ hạn (thuần túy) 27
1.3.2 Tiền gửi có kỳ hạn 28
1.3.2.1 Chứng chỉ tiền gửi (CD) 29
1.3.2.2 Kỳ phiếu 30
1.3.2.3 Trái phiếu 30
1.3.3 Tiền gửi ủy thác 31
Trang 21.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn của NHTM 32
1.4.1 Nhân tố chủ quan 32
1.4.1.1 Uy tín của Ngân hàng 32
1.4.1.2 Chiến lược huy động vốn của ngân hàng 33
1.4.1.3 Chính sách lãi suất 38
1.4.1.4 Cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng 40
1.4.2 Nhân tố khách quan 40
-Chương II: Thực trạng hoạt động huy động vốn của NHTM cổ phần An Bình ……… 44
2.1 Tổng quan về NHTM cổ phần An Bình 44
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 44
2.1.2 Tình hình kinh doanh 52
2.2 Thực trạng huy động vốn tại NHTM An Bình 54
2.2.1 Tình hình biến động vốn huy động 54
2.2.2 Chi phí vốn 63
2.3 Đánh giá huy động vốn tại NHTM An Bình 65
2.3.1 Những kết quả đạt được 65
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 66
Chương III: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại NHTM An Bình 70
3.1 Định hướng phát triển tại NHTM An Bình 70
3.2 Giải pháp tăng cường huy động vốn tại NHTM An Bình 71
-3.2.1 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và phát triển các hoạt động dịch vụ của ngân hàng 71
3.2.2 Xây dựng chính sách lãi suất hợp lý 73
Trang 3-3.2.3 Xây dựng chính sách tiếp cận và chăm sóc khách hàng hiệu quả753.2.4 Đào tạo và nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên 76
3.3 Kiến nghị 77
3.3.1 Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước và chính phủ 77
3.3.1.1 Với Chính phủ 77
3.3.1.2 Với Ngân hàng Nhà nước 78
3.3.2 Giải pháp với NHTM An Bình 79
KẾT LUẬN 81
Trang 4-DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ tổ chức 47
Bảng 1: Tóm tắt kết quả hoạt động giai đoạn 20042007 52
Bảng 2 : Kết quả kinh doanh giai đoạn 2004 2007 53
Bảng 3 : Tình hình biến động vốn tại ABBank 55
Bảng 4 : Sự tăng trưởng vốn điều lệ của ABBank 56
Bảng 5 : Cơ cấu vốn huy động phân loại theo tiền tệ 57
Bảng 6 : Cơ cấu vốn huy động phân loại theo hình thức huy động 60
Bảng 7 : Chi phí huy động vốn của ABBank qua các năm 63
-Biểu đồ 1: Kết quả hoạt động giai đoạn 2004 - 2007 53
Biểu đồ 2 : Kết quả kinh doanh giai đoạn 2004 - 2007……… 54
Biểu đồ 3 : Sự tăng trưởng vốn điều lệ của ABBank 56
Biểu đồ 4: Cơ cấu vốn huy động phân loại theo tiền tệ…… ………58
Biểu đồ 5: Cơ cấu vốn huy động phân loại theo hình thức huy độn 61
Trang 5Lời mở đầu
Bước sang thế kỷ XXI, hòa cùng tốc độ phát triển của thế giới bộ mặt kinh
tế nước ta cũng đã thực sự được cải thiện Hiện nay ở nước ta, vốn đầu tư chohoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế dựa chủ vào nguồn vốn tíndụng của hệ thống ngân hàng Với vai trò là một trung gian tài chính quantrọng nhất trong nền kinh tế, các Ngân hàng thương mại (NHTM) đã trởthành kênh cung ứng vốn hữu hiệu cho nền kinh tế Để có thể đạt được nhữngmục tiêu phát triển kinh tế mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra, thì vốn để phục vụcác hoạt động sản xuất kinh doanh quả thực là một câu hỏi lớn Vì vậy vấn đềcấp thiết đặt ra: phải tận dụng một cách triệt để mọi nguồn vốn trong nền kinh
tế Khi mà thị trường tài chính còn đang trong những bước phát triển ban đầuthì áp lực trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế còn đè nặng lên vai cácngân hàng thương mại
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn cũng như những khó khăn
mà các ngân hàng hiện nay đang gặp phai trong quá trình huy động vốn, em
mạnh dạn chọn đề tài : “ Giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần An Bình” Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo, chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương I : Vốn và huy động vốn của ngân hàng thương mại
Chương II : Thực trạng hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương
mại cổ phần An Bình
Chương III : Giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng thương
mại An Bình
Trang 6Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chuyên đề của em còn nhiều thiếu sót Emrất mong các thầy cô giáo nhiệt tình chỉ bảo, giúp em sửa chữa để chuyên đềđược hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị ThuThảo đã hướng dẫn cùng sự giúp đỡ, quan tâm của Ban lãnh đạo và cán bộphòng Nguồn vốn của ngân hàng An Bình đã giúp em hoàn thành chuyên đềtốt nghiệp này.
Sinh viên thực hiện Bạch Lan Chi
Trang 7Chương I: Vốn và huy động vốn của NHTM
1.1 Nguồn vốn và vai trò của nguồn vốn đối với NHTM
1.1.1 Ngân hàng thương mại và vốn kinh doanh của NHTM
Ngân hàng thương mại hình thành và phát triển qua một quá trình lâu dàigắn liền với sự phát triển của nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau Sự rađời và phát triển của ngân hàng gắn liền với sự ra đời và phát triển của nềnkinh tế thị trường Trong quá trình đó, hai hệ thống ngân hàng đã hình thành
và tồn tại với mối quan hệ tương hỗ, đó là hệ thống các ngân hàng trung ương
và hệ thống các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, ngân hàng thương mạithường chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng,nghiệp vụ của các ngân hàng ngày càng đa dạng và phong phú
Có nhiều cách tiếp cận với ngân hàng song cách dễ hiểu nhất là xem xéttrên các hoạt động của chúng Theo luật tổ chức tín dụng ở Việt Nam: “Ngânhàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả những hoạt độngkinh doanh tiền tệ, làm nhiệm vụ Ngân hàng và các hoạt động khác có liênquan”, trong đó: “hoạt động Ngân hàng là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngânhàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi, sử dụng sốtiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Trên cở sở khái niệm về Ngân hàng thương mại, ta có thể khái quát cáchoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại gồm 3 loại: hoạt động huy độngvốn, hoạt động cho vay, đầu tư và hoạt động trung gian
- Hoạt động huy động vốn: đây là hoạt động cơ bản đầu tiên, thể hiệntiềm lực và quy mô của một Ngân hàng Đồng thời, hoạt động này là cơ sở đểngân hàng mở rộng các hoạt động khác như cho vay, đầu tư và thực hiện hoạtđộng tài chính
Trang 8Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được hìnhthành hoạt động sản xuất kinh doanh Với một ngân hàng thương mại, một tổchức kinh doanh một hàng hóa đặc biệt- tiền tệ- thì đây chính là yếu tố đầuvào, là cơ sở để tạo ra các hoạt động khác của ngân hàng Hoạt động huyđộng vốn được thực hiện thông qua việc mở tài khoản để thực hiện thanh toáncho khách hàng hoặc huy động các loại tiền gửi của khách hàng (tiền gửikhông kỳ hạn, có kỳ hạn của tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm của dân cư),phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, vay các tổ chức tín dụng khác, vay ngân hàngtrung ương , huy động vốn chủ sở hữu (phát hành cổ phiếu ) Ngân hàngthương mại kinh doanh bằng nguồn vốn huy động là chủ yếu và tùy theo quyđịnh của mỗi quốc gia mà tỷ lệ huy động này là cao hay thấp Thông quanghiệp vụ này, các ngân hàng thương mại thu hút và tập trung được cácnguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng của các doanh nghiệp, các tầng lớpdân cư.
Nghiệp vụ huy động vốn là một khâu quan trọng trong chu trình hoạt độngkinh doanh của ngân hàng, hoạt động này càng được mở rộng thì uy tín và vịthế của ngân hàng càng được nâng cao Tuy nhiên việc mở rộng kênh huyđộng vốn cần được cân nhắc giữa khối lượng huy động được và chi phí vốn
bỏ ra phải hợp lý Khi đã có được nguồn vốn huy động, ngân hàng thươngmại tiến hành hoạt động kinh doanh để tạo lợi nhuận thông qua hoạt động chovay, đầu tư
- Hoạt động cho vay, đầu tư: là hoạt động rất quan trọng của ngân hàng.Ngân hàng thực hiện cho vay đối với các cá nhân, các tổ chức và hưởng tiềnlãi Số tiền này đem lại nguồn thu nhập lớn cho các Ngân hàng Bên cạnh đó,ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn huy động để tham gia vào các hoạt độngđầu tư khác như kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán, đầu tư vốntrực tiếp vàp các doanh nghiệp Hoạt động cho vay chính là hoạt động cung
Trang 9ứng vốn của ngân hàng trực tiếp cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêudùng xã hội Nghiệp vụ này sử dụng lượng vốn lớn nhất và tạo nhiều điềukiện thuận lợi nhất để ngân hàng có thể kiểm soát thường xuyên mục đích sửdụng tiền vay Nghiệp vụ đầu tư góp phần nâng cao năng lực thanh toán củangân hàng và bảo toàn được ngân quỹ Bộ phận vốn được ngân hàng sử dụngtrong nghiệp vụ này phải có tính ổn định cao Cho vay và đầu tư có hiệu quả,Ngân hàng sẽ mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và có điềukiện thuận lợi để huy động vốn khi cần thiết.
Hoạt động trung gian: Nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu của ngânhàng là trung gian thanh toán Ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụthanh toán không dùng tiền mặt như ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thanh toánséc, thanh toán bù trừ, chuyển tiền hộ, đồng thời tư vấn cho khách hàng, nhận
ủy thácm giữ hộ tài sản cho khách hàng… từ đó ngân hàng tạo ra doanh thucho mình bằng cách thu phí dịch vụ Để thực hiện thanh tóan nhanh chóngthuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng ngày càngnhiều hình thức thanh toán Nền kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, chínhđiều đó đã đặt ra yêu cầu là các dịch vụ của ngân hàng cũng phải được liêntục đổi mới và chính sự ra đời của ngày càng nhiều các sản phẩm dịch vụngân hàng đã mở ra nhiều cơ hội để ngân hàng có thể tiếp cận mọi đối tượngkhách hàng trong nền kinh tế
Hoạt động trung gian sẽ tạo cơ hội cho ngân hàng tăng thu nhập Hiện nay,các ngân hàng không chỉ tìm kiếm nguồn thu trong hoạt động cho vay, mànguồn thu từ dịch vụ cũng ngày càng có xu hướng tăng Bên cạnh đó, hoạtđộng trung gian còn gáp phần làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn,tăng tốc độ chu chuyển vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông do đó tiếtkiệm được chi phí lưu thông trong xã hội và đóng góp vào sự tăng trưởng củanền kinh tế… Thực hiện tốt hoạt động này, ngân hàng sẽ thu hút được ngày
Trang 10càng nhiều khách hàng, tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn và cho vay,đầu tư của ngân hàng.
Ba hoạt động trên có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Vì vậy, để đứngvững trên thị trường và để đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của nền kinh
tế, ngân hàng phải thực hiện một cách đầy đủ và đồng bộ cả ba hoạt động này
1.1.2 Vai trò của nguồn vốn đối với ngân hàng thương mại
- Là cơ sở để tổ chức hoạt động kinh doanh
Ngân hàng thương mại cũng như đối với bất kỳ doanh nghiệp nào muốnhoạt động kinh doanh đều phải có vốn Bởi vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu
để quyết định khả năng kinh doanh Riêng đối với ngân hàng, vốn là cơ sở đểngân hàng tổ chức hoạt động kinh doanh của mình Nói cách khác ngân hàngkhông có vốn thì không thể thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh Bởi vìvới đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là điều kiện để kinhdianh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại.Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt trên thị trường tàichính (thị trường vốn ngắn hạn và dài hạn) Những ngân hàng nhiều vốn làngân hàng có nhiều thế mạnh trong kinh doanh Chính vì thế có thể nói : vốn
là điểm đầu tiên trong chu ky kinh doanh của ngân hàng Do đó ngoài vốn banđầu cần thiết, thì ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởngvốn, tức tạo vốn trong suốt quá trinh hoạt động của minh
- Quyết định qui mô hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác củangân hàng thương mại
Thông thường, so với các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có khoảnmục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn và phạm vi cho vay cũng nhỏ hơn.Thêm vào đó vốn của ngân hàng nhỏ không nhạy bén với sự biến động về giá
cả trên thị trường, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng
Trang 11lớp dân cư và các thành phần kinh tế Hoặc nếu vốn nhỏ cũng không thể chovay được khách hàng có nhu cầu vốn lớn Ngược lại, nếu nguồn vốn của ngânhàng đó dồi dào, chắc chắn ngân hàng sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn cho vay,
có đủ điều kiện mở rộng thị trường kinh doanh của mình Các hoạt động khácnhư kinh doanh ngoại hối, vàng-bạc, bảo lãnh, thanh toán, dịch vụ tư vấn, đầu
tư, liên doanh…cũng không thể thoát ly được yếu tố vốn của ngân hàng
- Quyết định năng lực thanh toán
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng qui môhoạt động, đòi hỏi các ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường là điềutrọng yếu Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanhtoán chi trả cho khách hàng của mình Nếu loại trừ các nhân tố khác, khả năngthanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng Với tiềm năngvốn lớn, tiến hành kinh doanh có hiệu quả, uy tín được đảm bảo và nâng cao,tăng vị thế của ngân hàng trên thị trường
- Một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh
Qui mô vốn, trình độ nghiệp vụ, trình độ công nghệ và năng lực quản lý,điều hành của ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn Đồng thời,nguồn vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với các thành phần kinh tế, xét về cảquy mô với khối lượng tín dụng,chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậmchí quyết định mức lãi suất cho vay thấp cho khách hàng Điều đó sẽ thu hútngày càng nhiều khách hàng cho ngân hàng Đồng thời từ đó sẽ có điều kiệnlàm cho doanh số ngày càng tăng lên nhanh chóng và sẽ có nhiều thuận lợihơn cho kinh doanh
Vốn của ngân hàng càng lớn sẽ giúp cho ngân hàng có đủ khả năng tàichính để kinh doanh đa năng trên thị trường, giúp ngân hàng khẳng định được
vị thế của mình đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập hiện nay
Trang 121.2 Các nguồn hình thành nên nguồn vốn của và tác động của vốn trong kinh doanh ngân hàng
1.2.1 Các nguồn hình thành nên nguồn vốn
1.2.1.1 Vốn chủ sở hữu
Bất kì một ngân hàng nào bắt đầu hoạt động đều phải có một lượngvốn nhất định, gọi là vốn chủ sở hữu hay vốn tự có Nguồn vốn này tuy chỉchiếm một phần nhỏ trong tổng nguồn nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng
Nó được coi là đệm chống rủi ro, bảo đảm an toàn cho sự hoạt động của tất cảcác ngân hàng Vốn chủ sở hữu là căn cứ để tính toán các tỷ lệ đảm bảo antoàn trong hoạt động của ngân hàng, là nguồn có thể sử dụng lâu dài hìnhthành nên trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngân hàng.Đồng thời quy
mô nguồn vốn cho thấy thực lực của ngân hàng, là cơ sở để thu hút các nguồnvốn khác Một ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu lớn sẽ được dân chúngtin tưởng hơn so với ngân hàng có quy mô vốn nhỏ, nếu các điều kiện khácgiống nhau Khi khách hàng có thông tinh vêg ngân hàng, tất yếu sẽ lựa chọngiao dịch với ngân hàng nào có khả năng tài chính vững mạnh, vốn chủ sởhữu là một yếu tố nói lên điều đó Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thànhloại vốn này rất đa dạng, tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường Vốn chủ sở hữu bao gồmcác thành phần sau:
Nguồn vốn hình thành ban đầu( vốn tự có ban đầu )
Nguồn vốn ban đầu hay Vốn pháp định của mỗi ngân hàng được hìnhthành do tính chất sở hữu của ngân hàng quyết định
Đối với các NHTM quốc doanh thì 100% vốn pháp định ban đầu là vốn doNhà nước cấp
Trang 13Đối với các NHTM cổ phần thì vốn pháp định (vốn điều lệ) hình thành do
sự đóng góp của các cổ đông dưới hình thức phát hành cổ phiếu
Đối với các NHTM liên doanh thì vốn pháp định là vốn đóng góp của cácbên liên doanh Còn vốn của ngân hàng tư nhân lại chính là vốn thuộc sở hữucủa chủ ngân hàng
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Gia tăng vốn chủ sở hữu là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối vớimỗi ngân hàng Các ngân hàng gia tăng vốn chủ bằng nhiều phương thứckhác nhau tùy từng trường hợp cụ thể Các ngân hàng thường lấy từ nguồnsau:
Nguồn từ lợi nhuận: Khi lợi nhuận ròng lớn hơn không thì lãnh đạongân hàng gia tăng vốn chủ sở hữu bằng cách chuyển một phần thu nhập ròngthành vốn đầu tư Việc này có ý nghĩa tích cực với mọi ngân hàng Tự tài trợbằng lợi nhuận không chua là phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng vàkhá hấp dẫn bởi nó giúp ngân hàng giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộcvào bên ngoài, đồng thời tránh được tình trạng suy giảm quyền lực của chủngân hàng Tùy thuộc vào chính sách và khả năng sinh lời trong kinh doanhcủa ngân hàng mà lãnh đạo ngân hàng sẽ lựa chọn tỷ lệ tích lũy thích hợp
Nguồn vốn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm để
mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng hoặc đáp ứng yêu cầu gia tăng vốnchủ do Ngân hàng nhà nước quy định Đối với Ngân hàng nhà quốc doanh,việc được cấp thêm vốn tùy thuộc vào chính sách của nhà nước mỗi năm Cònđối với các Ngân hàng cổ phần có thể tiến hành phát hành cổ phiếu ra côngchúng lần đầu hoặc phát hành cổ phiếu bổ sung Các cổ phiếu phát hành là cổphiếu thường hoặc cổ phiếu ưu đãi Tùy thuộc vào chính sách cảu Ngân hàng
và tình hình thị trường vốn mà Ngân hàng lựa chọn loại cổ phiếu để phát
Trang 14hành Hình thức huy động này có đặc điểm là không thường xuyên, song giúpNgân hàng có được lượng vốn lớn vào lúc cần thiết Tuy nhiên, không phảilúc nào một Ngân hàng cũng có thể phát hành thêm cổ phiếu vì nó tạo ranhiều tác động không tốt như: chủ ngân hàng có thể bị chia sẻ quyền lực khicác cổ dông khác nắm giữ cổ phiếu nhiều hơn, giá cổ phiếu ngân hàng trên thịtrường giảm và chi phí huy động theo phương thức này thường tương đốicao.
Các quỹ
Các quỹ của ngân hàng được lập với nhiều mục đích, nhằm hỗ trợ cho cáchoạt động khác nhau của ngân hàng Những quỹ này đều được hình thành từthu nhập của ngân hàng
Quỹ dự phòng tổn thất: được trích lập hàng năm và được tích lũy lạinhằm bù đấp những tổn thất đã và sẽ xảy ra
Quỹ bảo toàn vốn: nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác động củalạm phát
Quỹ thặng dư: là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệchgiữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới
Ngoài ra, các ngân hàng còn có thể có quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹđào tạo, quỹ nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Đây là thành phần khá đặc biệt trong nguồn vốn chủ sở hữu bởi nó đượchình thành tyừ nguồn vay nợ trung và dài hạn của ngân hàng Một số ngânhàng phát hành các trái phiếu có thời hạn lâu năm nhằm huy động vốn, ngườinắm giữ những trái phiếu này đến một thời hạn nhất định sẽ chuyển thành cổđông của ngân hàng sắp và được hưởng lợi tức thay vì tiền lãi Nguồn vốn
Trang 15này xuất hiện ở các ngân hàng sắp cổ phần hóa có tác dụng làm tăng lượngvốn chủ sở hữu trong tương lai Tại Việt Nam khá nhiều ngân hàng thươngmại cũng đã phát hành những trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phần.Những trái phiếu này rất hấp dẫn nhà đầu tư vì họ có cơ hội trở thành đồng sởhữu một ngân hàng rất mạnh trong tương lai.
Tóm lại, vốn tự có càng lớn thì khả năng chịu đựng của ngân hàng càng tốtkhi tình hình hoạt động của ngân hàng trải qua những giai đoạn khó khăn.Tuy nhiên nếu vốn tự có quá lớn thì lợi nhuận chia cho các cổ đông có thểgiảm xuỗng Ngược lại nếu vốn tự có quá nhỏ sẽ cản trở nhiều hoạt động củangân hàng Vì vậy, một tỷ lệ thích hợp của vốn tự có trên tổng nguồn và cơcấu nguồn vốn phù hợp sẽ giúp cho ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn
Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của Ngân hàng Đây
là khoản mục duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân hàngvới các loại dình doanh nghiệp khác Trong cơ cấu vốn của các ngân hàng,tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng lớn và có nhiều ảnh hưởng nhất tới các hoạt độngcủa ngân hàng Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó, nó lànguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng
Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, Ngân hàng thương mạicung cấp nhiều loại hình tiền gửi khác nhau để huy động nguồn vốn cần thiết.Các công cụ huy động tiền gửi mà ngân hàng đưa ra có những đặc điểm riêngnhằm làm phong phú thêm sự lựa chọn của khách hàng
Trang 16 Huy động bằng cách vay
Bên cạnh việc huy động vốn từ nhận tiền gửi, các ngân hàng còn đi vay đểtăng lượng vốn nắm giữ nhằm đảm bảo và phát triển hoạt động kinh doanhcủa mình Nguồn vốn vay chỉ chiếm tỷ trọng vừa phải trong kết cấu nguồnsong nó rất cần thiết và quan trọng đối với các ngân hàng.Vì ngân hàng trungương thường quy định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động được của Ngân hàngthương mại với vốn chủ sở hữu của Ngân hàng đó, nên khi khả năng huyđộng bị hạn chế, ngân hàng phải đi vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chitrả và nhu cầu vay vốn của khách hàng Vốn vay của ngân hàng có thể cóđược từ nhiều nguồn khác nhau như: vay từ Ngân hàng nhà nước, vay từ các
tổ chức tín dụng khác hoặc vay trên thị trường vốn
Vay Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng, là cứu tinhcủa các ngân hàng trong các trường hợp khó khăn nhất, là người cho vay saucùng Bất kì ngân hàng thương mại nào và một số tổ chức tài chính khác trongnước được Ngân hàng nhà nước cấp giấy phép hoạt động đều được vay vốntại Ngân hàng nhà nước trong trường hợp thiếu hụt dự trữ hoặc quá kẹt vốn.Đối với các NHTM thì vay mượn tại Ngân hàng nhà nước là một dịch vụ hếtsức tiện lợi và hấp dẫn vào lúc nó hạ lãi suất tái chiết khấu trong chính sáchcung ứng tiền nới lỏng để kích thích đầu tư Nhưng trường hợp không maydiễn ra là khi các ngân hàng đến vay vào lúc Ngân hàng nhà nước khôngmuốn khuyến khích sự bành trướng của tín dụng hay đang muốn thắt chặtcung ứng tiền tệ chống lạm phát Lúc đó lãi suất chiết khấu được đẩy lên cao
và với những khoản lỗ trông thấy khi vay vốn của Ngân hàng nhà nước thìcác ngân hàng chỉ miễn cưỡng vay trong những tình huống ngặt nghèo và tìmcách trả nợ rất nhanh Những khi ấy, các khoản vay từ Ngân hàng nhà nước
Trang 17chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tài sản nợ của các ngân hàng Dù ít haynhiều, thường xuyên hay thình thoảng thì vay Ngân hàng nhà nước vẫn là mộtkhoản mục hiển nhiên trong tài sản nợ.
Hình thức cho vay chủ yếu của Ngân hàng Nhà nước là tái chiết khấu haycòn gọi là tái cấp vốn Các thương phiếu đã được các ngân hàng thương mạichiết khấu (hoặc tái chiết khấu) sẽ trở thành tài sản của họ Khi thiếu vốn,ngân hàng thương mại có thể mang các thương phiếu này lên Ngân hàng Nhànước để chiết khấu Việc cho vay tái chiết khấu đối với các Ngân hàngthương mại được giới hạn trong mức cho phép, và chỉ chiết khấu cho cácthương phiếu có chất lượng (có thời hạn đáo hạn ngắn và khả năng trả nợcao) Thông thường khi cho vay, Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét có nên chocác Ngân hàng thương mại vay hay không, bởi việc này sẽ có ảnh hưởng đếnkhối lượng tiền trong lưu thông Khoản vay này có ảnh hưởng đến lượng tiềncung ứng của ngân hàng trung ương, đến việc thực hiện chính sách tiền tệquốc gia Ngân hàng Nhà nước điều hành việc vay mượn này một các chặtchẽ, các ngân hàng thương mại phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểmsoát nhất định
Vay các tổ chức tín dụng khác
Khi vay tiền từ NHNN để đáp ứng thiếu hụt dự trữ hay chi trả cấpbách quá khó khăn (lãi suất chiết khấu cao, điều kiện vay mượn chặt chẽ )các NHTM thường vay mượn lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng Quátrình vay mượn này rất đơn giản Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp vớingân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lí (hoặc NHNN ) Khoảnvay có thể không cần bảo đảm hoặc được bảo đảm bằng các chứng khoán củakho bạc Thông thường, các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết
dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ sẵn
Trang 18lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn Ngược lại, cácngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảothanh khoản Việc vay mượn giữa các ngân hàng là hoạt động thường xuyên
và là một kênh huy động vốn tốt cho các ngân hàng trong những trường hợpkhẩn cấp
Vay trên thị trường vốn
Để huy động được lượng vốn dồi dào đáp ứng nhu cầu cho vaythường xuyên (đặc biệt là cho vay trung và dài hạn), bên cạnh việc thu húttiền gửi, các Ngân hàng thường chủ động đi vay trên thị trường vốn Cũnggiống như các doanh nghiệp, Ngân hàng vay mượn bằng cách phát hành cácgiấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu ) trên thị trường Thông thường đây làcác khoản vay không có đảm bảo, nên những ngân hàng lớn có uy tín hoặc trảlãi suất cao hơn thì sẽ vay được nhiều hơn Các ngân hàng nhỏ thường khóvay mượn trực tiếp bằng cách đó mà phải thông qua ngân hàng đại lí hoặcđược sự bảo lãnh của ngân hàng Đầu tư Để việc huy động trên thị trường vốnđạt hiệu quả cao, các ngân hàng thương mại cần nghiên cứu kỹ thị trường đểquyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn thích hợp Ngoài ra, ngânhàng cần quan tâm đến các vấn đề về chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất
Trang 19quả hơn, mang lại thu nhập cho khách hàng đồng thời thu lời cho chính mìnhqua phí dịch vụ Trong tương lai, dịch vụ Uỷ thác đầu tư hứa hẹn rất pháttriển, là một nguồn thu hút vốn khá tốt và trở thành một sản phẩm cạnh tranhhấp dẫn không kém sản phẩm tiền gửi.
Nguồn trong thanh toán
Ngân hàng có thể huy động vốn thông qua các hoạt động thanhtoán không dùng tiền mặt (séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ để mởL/C ) Đây là nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng, mang tính chất khôngthường xuyên Hoặc các ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ
có kết dư tiền gửi từ tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để cho vay.Hình thức hiu động vốn này thường chỉ phổ biến ở các nước phát triển, nơi cóhoạt động thanh toán không dùng tiền mặt chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thanhtoán của nền kinh tế Đặc điểm của nguồn này là thời gian tồn tại ngắn vìphần lớn chúng đều ở trong trạng thái chờ luân chuyển, do đó các ngân hàng
ít khi chỉ sử dụng chúng để cho vay lâu dài mà chỉ để bổ sung thêm nguồn ởthời điểm hiện tại
Nguồn khác
Các khoản nợ khác như Thuế chưa nộp, lương chưa trả…Đây lànguồn mà ngân hàng tạm thời chiếm dụng, không có ảnh hưởng đáng kể tớinguồn vốn cũng như hoạt động huy động vốn của ngân hàng
1.2.2 Tác động của vốn trong kinh doanh ngân hàng
Trong bảng cân đối kế toán, nguồn vốn nằm bên phần tài sản nợ của ngânhàng thương mại Nhìn chung, các ngân hàng thương mại kinh doanh thu lợinhuận bằng cách bán những tài sản nợ để mua những tài sản có Nguồn vốn
có vai trò quan trọng trong việc quyết định quy mô kinh doanh, khả năng sinhlời và các rủi ro tiềm tang với mỗi ngân hàng
Trang 201.2.2.1 Quy mô, cơ cấu nguồn vốn quyết định cơ cấu tài sản và ảnhhưởng tới khả năng sinh lời
Tài sản của các ngân hàng hình thành bằng cách chuyển hóa nguồn vốnthành các loại tài sản như: ngân quỹ, tín dụng, chứng khoán và tài sản kháctheo một phương thức thích hợp nhằm thỏa mãn các muc tiêu mà ngân hàng
đề ra Quy mô của các nhóm tài sản này được xác định một phần căn cứ vàoquy mô và cơ cấu nguồn vốn Một ngân hàng có nguồn vốn phong phú và huyđộng dài hạn có thể tham gia cho vay dài hạn những dự án lớn Nói chungmngân hàng phải căn cứ vào tính ổn định của nguồn vốn, chi phí và thời hạncua nguồn để quyết định phải dự trữ bao nhiêu tiền, đầu tư ngắn hạn hay dàihạn với lãi suất và thời hạn bao nhiêu… Như vậy, các ngân hàng có thể theođuổi lãi suất huy động cao để có được nguồn tiền quy mô lớn, lãi suất cho vaycũng vì thế sẽ cao và thu hẹp thị trường đầu ra Hoặc nếu phải chấp nhận lãisuất cho vay trên thị trường thì ngân hàng phải nỗ lực tìm kiếm nguồn vốn cóchi phí thấp hơn Nếu là ngân hàng không đủ mạnh để tham gia quyết định lãisuất thị trường thì buôc phải tự điều chỉnh cơ cấu cả nguồn vốn và tài sản để
Trang 21Nguồn vốn và độ an toàn của ngân hàng
Kinh doanh ngân hàng thường xuyên phải đối đầu với rủi ro Các khoảntổn thất của ngân hàng sẽ được bù đắp bằng vốn chủ sở hữu Tuy vốn chủ sởhữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng lại là cái đệm chống đỡ
sự sụt giảm giá trị của tài sản có Hầu hết các nước quy định mức tổng tài sảntối đa ngân hàng có thể có so với vốn chủ sở hữu, giới hạn khả năng huy độngvốn tiền gửi, khả năng hùn vốn, mua chứng khoán công ty so với vốn củachủ… Nếu quy mô vốn chủ sở hữu lớn thì người gửi tiền và người cho vay
sẽ cảm thấy an toàn hơn Hệ số giữa nguồn vốn nợ so với vốn chủ sở hữu gọi
là hệ số đòn bẩy và là một trong những tiêu thức đánh giá độ an toàn
Tổn thất đến với ngân hàng chủ yếu từ các tài sản rủi ro: các khoản chovay không thu hồi được, chứng khoán bị giảm giá… Các tổn thất này làmgiảm quy mô tổng tài sản và trực tiếp làm giảm quy mô vốn chủ sở hữu Dovậy, ngoài một số phương pháp xác định vốn chủ sở hữu trong quan hệ vớitiền gửi và với tổng tài sản, một số phương pháp xác định vốn chủ sở hữutrong quan hệ với tiền gửi và với tổng tài sản, một số cơ quan quản lý ngânhàng tìm kiếm sự liên hệ giữa vốn chủ sở hữu và các loại tài sản rủi ro nhằmxác định quy mô vốn chủ sở hữu và các tài sản rủi ro nhằm xác định quy môvốn chủ sở hữu một cách chính xác hơn Theo phương pháp này, tài sản củangân hàng được phân loại theo mức độ rủi ro (khả năng tổn thất) dựa trênkinh nghiệm nhiều năm, có tính đến các nhân tố mới Thông qua các hệ sốchuyển đổi tính cho từng loại tài sản rủi ro, các ngân hàng tính được tổng tàisản rủi ro đã chuyển đổi và vốn chủ sở hữu sẽ được các nhà chức trách tiền tệtìm kiếm sao cho thỏa mãn nhu cầu sinh lời và an toàn
Hệ số an toàn vốn = Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản điều chỉnh theo hệ sốrủi ro
Trang 22Hiệp ước Basle quy định hệ số này phải lớn hơn 8% Đây là tiêu chuẩnquốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.
Đây là phương pháp xác để xác định vốn chủ sở hữu cần thiết và có căn cứkhoa học Vốn chủ sở hữu được tính toán trong mối lien hệ với mức độ rủi rocủa các loại tài sản Một ngân hàng có thể tăng quy mô tài sản (bằng cáchtăng các khoản nợ) mà không cần tăng vốn chủ sở hữu nếu thay đổi cấu trúcdanh mục đầu tư Với quy mô đầu tư như nhau nhưng nếu ngân hàng nào cónhiều tài sản chuyển đổi theo hệ số rủi ro hơn thì hệ số an toàn vốn sẽ thấphơn và cần có vốn chủ sở hữu nhiều hơn
Tuy nhiên phương pháp dùng hệ số an toàn vốn này cũng có những hạnchế nhất định Một là, việc quy định chi tiết tỷ lệêr cho danh muc tài sảnkhông dễ dàng mà phải dựa theo nghiên cứu thực tế nhiều năm của toànngành ngân hàng Hai là, có thể cùng cho vay không có đảm bảo, song rủi rocủa mỗi ngân hàng cũng khác nhauu do môi trường kinh doanh khác nhau.Nhìn chung, các ngân hàng thương mại ở Việt Nam có quy mô vốn nhỏ
bé, vốn chủ sở hữu thấp Đây cũng là hạn chế lớn nhất để có thể mở rộng việcxây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và hiện đại hóa hoạt động các tổ chức tíndụng Do vốn chủ sở hữu thấp, nên nhiều ngân hàng thương mại không có đủkhả năng đảm bảo an tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Đây là hạn chế lớn nhất để cóthể mở rộng việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và hiện đại hóa hoạt độngcác tổ chức tín dụng Do vốn chủ sở hữu thấpm nên còn nhiều ngân hàngthương mại không có đủ khả năng đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Đây làhạn chế lớn nhất trong việc mở rộng hoạt động nghiệp vụ, trước hết là hoạtđộng cho vay và bảo lãnh tín dụng, cho vay khách hàng lớn…
Trang 23Nguồn vốn và rủi ro kinh doanh
Quy mô và chất lượng nguồn vốn cũng liên quan tới các rủi ro của ngânhàng do không có sự tương thích với quy mô và cơ cấu tài sản Khi quyếtđịnh đầu tư vào các danh mục tài sản, ngân hàng phải xét tới: thời hạn, mức
độ nhạy cảm của tài sản với sự thay đổi lãi suất, quy mô các loại tiền tệ đầutư… Một số rủi ro mà chúng ta quan tâm khi nghiên cứu vấn đề này là rủi rolãi suất, rủi ro thanh khoản
Rủi ro lãi suất xảy ra khi có sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tàisản, sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến ngân hàng và ngânhàng phải sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng Để tránh rủi ro dokhông phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản, Nh phải nỗ lực tìm kiếmnguồn có kỳ hạn phù hợp với kỳ hạn của tài sản Đối với các ngân hàng nhỏ,các khoản cho vay thong thường là ngắn hạn, việc tìm kiếm các nguồn ngắnhạn thường thuận tiện hơn các nguồn trung và dài hạn Đối với các ngân hànglớn, việc tìm kiếm càng khó hơn do nhu vầu cho vay, đầu tư trung và dài hạnthường xuyên của lãi suất và sự biến xuất hiện của nhiều sản phẩm mới trênthị trường tiền gửi và thị trường tiền tệ nên nguồn vốn của các ngân hàng trởnên rất nhạy cảm với lãi suất Xu hướng người ta thích đầu tư vào các tài sảntài chính ngắn hạn nhằm tránh rủi ro lãi suất Do đó các ngân hàng buộc phảitrả lãi suất hấp dẫn hơn để có được các nguồn trung và dài hạn Rủi ro lãi suất
sẽ làm giảm lợi nhuận ngân hàng, vậy quản lý rủi ro lãi suất liên quan chặtchẽ đến quản lý vốn và sự dụng vốn
Tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán(nhu cầu chi trả tiền gửi, nhu cầu vay hợp pháp của khách hàng…) được tạolập trên cơ sở tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn.Một ngân hàng có tính thanh khỏan cao nếu có nhiều tài sản có tính lỏng và
Trang 24có khả năng mở rộng nguồn nhanh với chi phí thấp Rủi ro thanh khoản ngàycàng gắn chặt với cơ cấu và tính chất vận động của nguồn vốn Nếu lãi suấtcao, chất lượng dịch vụ tốt thì ngân hàng sẽ duy trì được quan hệ dài hạn vớikhách hàng và có được nguồn vốn ổn định Nhìn chung, với việc phát triểncủa thị trường công cụ nợ, các ngân hàng có thể phát triển việc huy động đểđáp ứng nhu cầu thanh khoản Phương pháp này tạo ra nguồn cung thanhkhoản từ phía nguồn Do đó, ngân hàng phải phân tích thời gian và chi phí để
mở rộng nguồn, có them được các công cụ nợ mới đáp ứng nhu cầu thanhkhoản Rủi ro thanh khoản gia tăng cùng với mức độ cạnh tranh ngày càngcao giữa các trung gian tài chính Người gửi tiền có nhiều cơ hội hơn để lựachọn ngân hàng và buộc các ngân hàng phải quản lý cá thành phần của nguồnvốn chặt chẽ hơn
1.3 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.3.1 Tiền gửi không kỳ hạn.
Là các loại tiền gửi hoàn toàn theo quy tắc khả dụng, nghĩa là người gửi cóquyền rút tiền vào bất cứ lúc nào họ muốn Ngân hàng sẽ sắp xếp loại tiền gửinày vào nhóm tiền gửi không kỳ hạn, nghĩa là các khoản gửi với thời giankhông xác định Người vừa mới gửi tiền vào sáng nay, nếu cần anh ta có thểrút ra ngay vào buổi chiều cùng ngày Nếu không có nhu cầu sử dụng, anh ta
có thể một thời gian sau mới rút ra Tính bất định về thời gian gửi, cùng vớiđịa điểm có thể rút ra bất cư lúc nào đã làm cho loại tiền gửi này có tên gọitheo tiếng Anh là tiền gửi theo yêu cầu
Tiền gửi không kỳ hạn vào mỗi thời điểm trong các tài khoản không kỳhạn của các NHTM tạo khả năng có thể viết séc để chi tiền hoặc chuyểnnhượng khi cần Vì vậy, tiên gửi không kỳ hạn còn được gọi là tiền trong tàikhoản séc Khách hàng không có ý định để dành và cũng không chú trọng đến
Trang 25tiền lãi Khách hàng chỉ muốn đổi hình thức tiền tệ này bằng một hình thứctiền tệ khác và thích thanh toán bằng séc hơn là bằng tiền mặt Khả năng tiệnlợi của tiền gửi không kỳ hạn trong thanh toán phụ thuộc vào tổ chức và hoạtđộng của NHTM đã phát hành ra nó Nếu gửi tiền vào tài khoản này ở mộtNHTM có chi nhánh ở khắp nơi trên lãnh thổ kể cả những vùng xa xôi hẻolánh nhất, thì séc do chủ tài khoản viết ra có hiệu lực thanh toán và được chấpnhận nhanh chẳng kém gì tiền mặt Đó là lý do để tiền gửi không kỳ hạn đượcxem là loại hình gần tiền mặt nhất trong tất cả các loại tiền của NHTM Khảnăng chuyển đổi từ nó sang tiền mặt là nhanh nhất vào bất cứ lúc nào và vìthế ở các nước phát triển, người ta xem nó như là một loại tiền mạnh Tuynhiên, nếu ngân hàng mà chúng ta gửi tiền vào có quá ít chi nhánh hoặckhông quan hệ tốt với các ngân hàng khác, séc của nó do chúng ta viết rađược chấp nhận trong thanh toán ở vùng này, nhưng chưa chắc đã được chấpnhận ở các vùng khác Có lẽ vì lý do này mà ở các nước mới phát triển, tiềnséc vẫn chưa được xem là tiền mạnh.
Trước thập niên 70, tiền trong tài khoản không kỳ hạn không được hưởnglãi suất Nói khác đi, phiếu nợ loại này không có lãi vì người ta xem nó chẳngkhác nào tiền mặt, hiệu năng của nó ở chỗ thanh toán bằng sec rất thuận tiện,chứ không phải là lãi suất mà nó được hưởng từ ngân hàng.Cuối thập niên 70nhiều NHTG đã bắt đầu trả lãi trên loại tiền gửi này, Tuy nhiên, cho đến hiệnnay, lãi suất của nó vẫn là thấp nhất trong hệ thống lãi suất của các loại giấy
nợ Mặc dù vậy, các doanh nghiệp sản xuất và thương mại rất thích loại tàikhoản này Tiền của họ gửi vào hôm nay, có thể cần phải chi vào bất cứ lúcnào trong ngày mai, lúc đó lãi suất của một ngày là không đáng phải suy tính
so với những tiện lợi, an toàn và nhanh chóng của thanh toán bằng những tờsec thay cho hàng đống tiền giấy cồng kềnh, mà chỉ có việc đếm tiền khôngthôi đã có thể mất nửa ngày
Trang 26Tiền gửi loại này có thể phát xuất từ khách hàng là một thương nhân hay
từ một công dân bình thường Việc phân biệt giữa các tài khoản vãng lai(current account) mở cho thương nhân và các tài khoản sec (checkingaccount) mở cho công dân rất cần thiết cho ngân hàng không những về mặtpháp lý mà cả về mặt kỹ thuật Khoản tiền khách hàng gửi vào thực chất làmột khoản khách hàng cho ngân hàng vay Ngân hàng sẽ phải trả lãi chokhách hàng hàng tháng mặc dù rất thấp Do đó, đối với ngân hàng nó là mộtkhoản nợ, khoản nợ này sẽ được trả theo nhu cầu của người gửi
Ở Việt Nam, tiền gửi không kỳ hạn được hiểu là loại tiến gửi mà kháchhàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thực hiện theo yêu cầunày Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm:
1.3.1.1 Tiền gửi thanh toán
Là loại tiền gửi được ký thác vào ngân hàng để thực hiện các khoản chi trảtrong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Đây là một bộ phận tiềnđang chờ thanh toán mà không phải là tiền để dành, do vậy khách hàng gửitiền không mất quyền sử dụng số tiền này Họ có thể rút ra, chuyển nhượnghoặc chi trả trong thanh toán bất kỳ lúc nào theo yêu cầu
Đối với ngân hàng, tiền gửi thanh toán là một khoản nợ mà ngân hàng phảitrả cho khách hàng gửi tiền vào bất kỳ lúc nào họ yêu cầu, nếu chậm trễ hoặckhông đầy đủ coi như ngân hàng vi phạm thỏa thuận và phải chịu phạt theoqui định của luật pháp Ngân hàng có thể sử dụng loại tiền gửi thanh toán đểcho vay, tuy nhiên việc cho vay phải có mức độ, phải có dự trữ nhằm đáp ứngkịp thời, chính xác yêu cầu của khách hàng
Tiền gửi thanh toán được thể hiện ở ngân hàng trên hai loại tài khoản:
Trang 27Tài khoản tiền gửi thanh toán (hay còn gọi là tài khoản giao dịch hoặc tàikhoản sec), tài khoản này dư có, khách hàng chỉ được sử dụng trong phạm vitiền gửi của mình.
Tài khoản vãng lai: tài khoản này có thể dư có hoặc dư nợ, nghĩa là kháchhàng ngoài việc sử dụng số tiền gửi của mình còn dược dùng khoản tiền dongân hàng cho vay theo sự thỏa thuận trước giữa ngân hàng và khách hàng.Trong việc sử dụng tiền gửi thanh toán, khách hàng thường dùng các công
cụ thanh toán để chi trả như sec, lệnh chuyển tiền
1.3.1.2 Tiền gửi không kỳ hạn (thuần túy)
Đây là loại tiền gửi thể hiện khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng,
họ gửi tiền vào ngân hàng không mang tính chất để thanh toán mà nhằm mụcđích an toàn tài sản, khi cần khách hàng đến ngân hàng rút tiền để chi tiêu.Tóm lại, tài khoản tiền gửi thanh toán là tiền gửi không kỳ hạn, bao gồmtiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi của các tổ chức xã hội, tiền gửi cua
cá nhân Đây là tài khoản được chi trả khi xuất hiện các công cụ chuyểnnhượng được mà phần lớn là dưới hình thức phát hành séc Đây là nguồn tiềngửi có chi phí thấp nhất, đồng thời làm tăng thu phí dịch vụ thanh toán chongân hàng Tuy nhiên chi phí tài khoản tiền gửi này ngày càng tăng vì cácngân hàng thực hiện nhiều biện pháp cạnh tranh để giành được nguồn tiền gửinày, cụ thể ngân hàng qui định nếu doanh nghiệp duy trì một mức tiền gửibình quân nào đó thì được giảm lãi suất vay vốn khi có nhu cầu tín dụng hoặcđược cung ứng dịch vụ ngân hàng với mức chi phí thấp Trong những nămgần đây, do các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội đã quản
lý nguồn tiền kinh doanh của mình hiệu quả hơn, và do xuất hiện các công cụcạnh tranh như tiền gửi qua đêm, v.v nên tiền gửi thanh toán của một doanhnghiệp không còn duy trì mức số dư cao như trước đây Nguồn tiền gửi được
Trang 28hưởng lãi suất không kỳ hạn của một khách hàng bao gồm: tiền gửi thanhtoán, tiền ký quỹ mở thư tín dụng, tiền ký quỹ bảo lãnh, phát hành thẻ tíndụng, thẻ nợ để mua hàng, để đảm bảo trả nợ có số dư tương đương với một
số kỳ hạn trả nợ, v.v
1.3.2 Tiền gửi có kỳ hạn.
Là loại tiền gửi được ủy thác vào ngân hàng mà có sự thỏa thuận về thờigian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng Như vậy, về nguyên tắc, kháchhàng gửi tiền chỉ được rút tiền ra, khi đến hạn đã thỏa thuận
+ Tên gọi "có kỳ hạn" có nghĩa là khoản tiền được gửi sẽ có thời gian gửi
tối thiểu theo thỏa thuận giữa ngân hàng và thân chủ, và không được rút ratrước hạn kỳ đã định nói trên Nếu vì lý do đặc biệt phải rút tiền ra trước hạn
kỳ, NHTM có một trong ba cách xử lý:
1) Từ chối vì khi khách hàng đòi lại trước thời hạn, điều đó sẽ gây thiệthại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên, thông thường ngânhàng áp dụng hai cách mềm dẻo hơn
2) yêu cầu khách hàng phải báo trước, ít nhất một khoảng thời gian nào đó
về ý định rút tiền
3) với những yêu cầu rút tiền đột xuất như vậy, khoản lãi suất mà ngânhàng trả cho tiền gửi của khách hàng sẽ rất thấp, do khách hàng phải chịu lãisuất phạt vì đã làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng
+ Tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cố định Tuy nhiên, giữa các loại
tiền gửi có kỳ hạn khác nhau lãi suất được trả sẽ khác nhau Tiền gửi có kỳhạn với thời gian càng lâu, lãi suất sẽ càng lớn bởi vì ngân hàng hoàn toàn cóthể dùng tiền gửi này đem đầu tư vào những dịch vụ hoặc sản xuất có tính lâudài hơn, lợi tức cao và ổn định hơn; Lãi suất mà ngân hàng trả cho tiền gửi có
Trang 29kỳ hạn thường là cao hơn nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn Lý do ở đây là,ngân hàng hoàn toàn yên tâm sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay vớithời hạn ổn định và sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Vì thế tiền thù lao nótrả cho khách hàng cũng phải cao hơn để kích thích sự gửi tiền nhiều nữa.Khác với tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán), tiền gửi định kỳ làtiền tạm thời chưa sử dụng hoặc là tiền để dành của cá nhân, vì vậy mục đíchgửi tiền vào ngân hàng là nhằm tìm kiếm lợi tức Tiền gửi có kỳ hạn thườngphụ thuộc vào ba thông số chính:
1) Lãi suất do các NHTM trả cao hay thấp
2) lãi suất của các loại hình đầu tư khác như trái phiếu, cổ phiếu
3) thu nhập của nhân dân
Thông số đầu tiên là quan trọng nhất Vì thế việc đưa ra chiến lược lãi suấtnhư thể nào để thu hút được vốn nhiều và kinh doanh có lãi là điều quan trọnghàng đầu, phản ánh khả năng quản trị của các NHTM
Tiền gửi có kỳ hạn thường dưới các dạng:
có và của chính phủ CD là một giấy biên nhận có hưởng lãi về số tiền gửi tại
NH phát hành trong một khoảng thời gian nhất định với lãi suất xác định hoặcvới một phương pháp xác định lãi cụ thể
CDs có thể chuyển nhượng thường mang kỳ hạn ngắn, hầu hết từ 7 ngàyđến 1 hoặc 2 năm, nhưng chủ yếu là tập trung vào loại có kỳ hạn từ 1 đến 6
Trang 30tháng để tạo điều kiện thuận lợi cho phần lớn người mua CDs có thể chuyểnnhượng - nghĩa là có thể bán trên thị trường cấp 2 vào bất kỳ thời điểm nàotrước khi mãn hạn - cung cấp cho các khách hàng một công cụ có tính thanhkhoản trong trường hợp các khoản thặng dư tiền mặt của họ nhỏ hơn hoặckém ổn định hơn so với dự đoán ban đầu Để có thể bán các chứng chỉ trướckhi đến hạn dễ dàng hơn, người ta phát hành chúng dưới hình thức vô danh.Với một NH, kết quả của việc bán CDs cho những khách hàng lớn thườngchỉ đơn giản là sự chuyển vốn từ một tài khoản tiền gửi này sang một tàikhoản tiền gửi khác trong cùng một ngân hàng Ngân hàng bán chứng chỉ tiềngửi có thể tăng được lượng vốn dùng để cho vay chỉ bằng việc chuyển đổiđơn giản này bởi vì hiện nay các ngân hàng không phải dự trữ bắt buộc chochứng chỉ tiền gửi Ngoài ra, chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn và thường không bịrút ra trước kỳ hạn nên vốn huy động theo hình thức này có tính ổn định caohơn.
1.3.2.2 Kỳ phiếu
Là loại chứng từ có giá được ngân hàng phát hành để huy động tiết kiệmtrong xã hội nhằm mục đích phục vụ cho việc kinh doanh trong thời kỳ nhấtđịnh Thời hạn của kỳ phiếu còn phụ thuộc vào chính sách huy động vốn củangân hàng, có thể là: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, trên 12 tháng
1.3.2.3 Trái phiếu
Trái phiếu ngân hàng là công cụ huy động vốn dài hạn vào ngân hàng, nó
là một loại chứng khoán có thể dùng để mua bán trên thị trường chứng khoán
Ở nước ta, trái phiếu có kỳ hạn trên một năm Khi ngân hàng phát hành tráiphiếu thì ngân hàng có mục đích dùng số vốn đó để đầu tư vào các dự ánmang tính chất dài hạn như: đầu tư vào các công trình, dự án liên doanh, chovay dài hạn…
Trang 31Đối với khách hàng, trái phiếu ngân hàng là một khoản đầu tư mang lại thunhập ổn định và ít rủi ro so với cổ phiếu doanh nghiệp Với các ngân hàng thương mại, phát hành trái phiếu là tạo ra một kênh huy động vốn mới, nhất làtrong thời buổi cạnh tranh ngày càng gay gắt Tuy nhiên, một chuyên gia nhậnđịnh rằng việc nhiều ngân hàng phát hành trái phiếu là hệ quả của chính sách tăng dự trữ bắt buộc lên gấp đôi mà NHNN.
Dự trữ bắt buộc tăng nhưng thực chất các ngân hàng thương mại vẫn được hưởng lãi trên phần tiền gửi bắt buộc Nếu không bị "bắt buộc" thì chắc chắn
số tiền kia sẽ được sử dụng hiệu quả hơn
Điều này có nghĩa, mặc dù được hưởng lãi nhưng rõ ràng chi phí huy động vốn giờ đây đã tăng lên, và để tránh dự trữ bắt buộc các ngân hàng “bèn” xin phát hành trái phiếu
Không chỉ có thế, các ngân hàng sẵn sàng trả lãi cao cho trái phiếu để thu hút người mua vì, nhìn xa hơn về tương lai, lãi suất tiền gửi dự báo sẽ theo xu hướng tăng dần và như thế, đến một lúc nào đó thì chi phí huy động vốn bằng trái phiếu kia “tự nhiên” trở nên rẻ đi
Quan trọng hơn, phát hành trái phiếu làm tăng tổng tài sản của các ngân hàng.Giờ đây, có thể nói, tổng tài sản lớn đang là một thế mạnh mà các ngân hàng rất quan tâm khai thác
1.3.3 Tiền gửi ủy thác
Bộ phận tiền gửi tín thác là một nguồn tiền gửi quan trọng với ngân hàng.Phòng tín thác cung cấp một lượng tiền gửi rất lớn cho ngân hàng bởi họ quản
lý tài sản của khách hàng (bao gồm cả tiền gửi), trong đó khách hàng có thể lànhững doanh nghiệp, các cơ quan thuộc chính phủ, các cá nhân, hộ gia đình,các tổ chức nhân đạo và từ thiện
Trang 32Trong lịch sử hoạt động ngân hàng, tín thác được coi như một trong nhữngloại hình dịch vụ cần thiết dem lại lợi nhuận cho khách hàng của ngân hàng.Song hoạt động tín thác thường không đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàngbởi vì nghiệp vụ này đòi hỏi một số lượng lớn các cán bộ có trình độ cao Tuynhiên, cùng với quá trình phi quản lý hóa hoạt động ngân hàng và xu hướngtăng cường đánh phí đối với các dịch vụ, hoạt động kinh doanh tín thác ngânhàng đã trở thành một nguồn thu phí dịch vụ ngày càng phổ biến Ví dụphòng tín thác tính phí quản lý tài sản trên cơ sở giá trị tài sản mà khách hàngyêu cầu quản lý Ngày nay, các khoản phí này trở nên rất phổ biến đối vớingân hàng bởi vì chúng thường không quá nhạy cảm với lãi suất như cácnguồn thu nhập khác.
Đối với các ngân hàng hiện đại, phòng tín thác đóng vai trò sống còn vớikhả năng sinh lợi cao bao gồm cả việc thu hút một lượng đáng kể tiền gửi.Hơn nữa nhiều ngân hàng sử dụng phòng tín thác để tạo ra các quỹ đầu tưnhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng tín thác cũng như cho phépngân hàng tăng quy mô vốn đầu tư nhanh hơn
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn của NHTM
tư Thậm chí, ngân hàng có uy tín đưa ra mức lãi suất thấp hơn đôi chút so vớicác ngân hàng khác Mức độ thâm niên và uy tín của ngân hàng còn tạo điều
Trang 33kiện cho khách hàng của mình có thể giao dịch rộng rãi với các đối tác, vì đốitác hoàn toàn tin tưởng uy tín vào ngân hàng đặc biệt trong nghiệp vụ bảolãnh hay thanh toán quốc tế Vì vậy, một ngân hàng lớn sẵn có uy tín trongnhiều năm sẽ có ưu thế trong huy động vốn và giúp ngân hàng có khả năng ổnđịnh lượng vốn huy động, tiết kiệm chi phí huy động Uy tín không chỉ ảnhhưởng đến quá trình huy động vốn mà nó còn ảnh hưởng tới tất cả các hoạtđộng khác của ngân hàng Vì vậy, ngân hàng phải không ngừng nâng cao uytín đồng thời với việc tăng cường quan hệ khác hàng thông qua các phươngtiện thông tin đại chúng, không chỉ tiếp cận thị trường trong nước mà cácngân hàng còn có thể nâng cao uy tín của mình trên cả thị trường quốc tế và
mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
1.4.1.2 Chiến lược huy động vốn của ngân hàng
a Đa dạng hoá sản phẩm huy động vốn.
Để thu hút được nhiều tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế, các ngânhàng thương mại không ngừng đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn củamình Các NHTM có thể tiến hành phát triển, đa dạng hoá sản phẩm dựa trênnhiều tiêu chí như sau:
Theo kì hạn và lãi suất:
Với các sản phẩm tiền gửi, NHTM thường chia ra nhiều kì hạn khác nhau
để khách hàng có thể chọn lựa các kì hạn gửi tiền phù hợp với nhu cầu củamình
- Đối với tiền gửi ngắn hạn (< 12 tháng): ngân hàng phân loại tiền gửitheo thời gian từng quý: không kì hạn, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng
- Đối với tiền gửi trung và dài hạn (> 12 tháng): các kì hạn tiền gửi đượcchia ra thành: 18 tháng, 24 tháng, 36 tháng và 60 tháng
Trang 34Hầu hết các NHTM hiện nay đều phân loại tiền gửi theo các kì hạn trên;
do đó, để tạo sự khác biệt thu hút khách hàng gửi tiền, nhiều ngân hàng đãchia nhỏ thời gian của kì hạn hoặc đưa ra nhiều kì hạn mới như: kì hạn 1tháng, 2 tháng và 13 tháng Các kì hạn mới này sẽ tạo cho người gửi tiền sựlinh hoạt trong khi rút và gửi tiền, đồng thời tăng thêm mức thu nhập từ lãisuất tiền gửi
Tương ứng với các kì hạn tiền gửi là các mức lãi suất khác nhau, tăngdần theo thời gian của kì hạn gửi tiền Biên độ giữa các mức lãi suất này daođộng trong khoảng 0,1%/tháng và rất khác nhau giữa các ngân hàng thươngmại Sự cạnh tranh về lãi suất tiền gửi luôn diễn ra gay gắt ở từng mức lãi suấttiền gửi cho các kì hạn Mỗi một NHTM đều xây dựng những chiến lược lãisuất riêng dựa trên mặt bằng lãi suất chung Sự chênh lệch lãi suất giữa cácNHTM cổ phần và NHTM quốc doanh thường khá rõ ràng; điều này cũng dễhiểu vì: các NHTM quốc doanh có uy tín và thâm niên hoạt động lâu năm hơn
so với các NHTM cổ phần, để cạnh tranh thu hút vốn các NHTM cổ phần sẽphải tăng lãi suất của mình cao hơn mới hấp dẫn được khách Chênh lệch lãisuất giữa các NHTM luôn ảnh hưởng tới tâm lý của người gửi tiền, dù khoảngcách đó nhiều khi không lớn Nhiều khách hàng luôn thích gửi tiền ở nhữngngân hàng có lãi suất cao nhất để được hưởng tiền lãi nhiều hơn
Bên cạnh đó, các NHTM hiện nay cũng phát triển các chứng chỉtiền gửi tương ứng với nhiều lượng tiền gửi khác nhau và áp dụng biểu lãisuất bậc thang cho các chứng chỉ tiền gửi loại này để khuyến khích kháchhàng gửi nhiều tiền vì càng gửi nhiều càng được hưởng lãi cao
Theo tiện ích của sản phẩm.
Nói chung, những sản phẩm huy động vốn đều giống nhau về bản chất nên
để tạo sự khác biệt các NHTM thường tăng thêm nhiều tiện ích cho các sản
Trang 35phẩm khiến cho khách hàng ưa thích chúng hơn Việc làm này đòi hỏi sự sángtạo của bộ phận phát triển sản phẩm trong mỗi ngân hàng Các ngân hàngthường đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn của họ dựa trên 2 cách:
Một là, đưa thêm các tiện ích mới vào các sản phẩm huy động truyền
thống Chẳng hạn như đối với thẻ ATM,thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng ngoài chứcnăng chính là cho phép khách hàng rút tiền mặt tại máy ATM, ngân hàng cóthể đưa thêm một số tiện ích mới như: Thanh toán các loại cước phí (điện,nước, điện thoại ), trả lương, quản lý chi tiêu cá nhân, được ưu đãi ở một sốcửa hàng Đối với các loại tiền gửi có kì hạn, hiện nay ngân hàng có thể chophép người gửi rút tiền trước kì hạn, dễ dàng chuyển đổi kì hạn theo ýmình Chi phí cho việc tăng thêm các tiện ích mới cho các sản phẩm truyềnthống cũng chiếm một phần đáng kể trong chi phí huy động vốn chung Do
đó, tuỳ thuộc vào khả năng của từng ngân hàng mà số tiện tích mới của cácsản phẩm huy động vốn của chúng ít hay nhiều
Hai là, phát triển sản phẩm hoàn toàn mới với những tiện ích nổi trội Đây
là công việc rất khó khăn đối với hầu hết các ngân hàng thương mại Hiệnnay, các loại sản phẩm huy động vốn được phát triển đã khá đầy đủ, đa dạng,việc tạo ra một sản phẩm mới hoàn toàn khác biệt những sản phẩm cũ là điều
ít ngân hàng nào dám nghĩ tới, mà hầu hết họ đều đa dạng các sản phẩm huyđộng vốn theo cách thứ nhất (dựa trên nền tảng các sản phẩm cũ)
Tóm lại, việc đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn, chú ý phát triển
sản phẩm riêng biệt sẽ tạo dựng cho các ngân hàng thương mại những dấu ấnnhất định đối với khách hàng gửi tiền, khuyến khích họ gửi tiền nhiều hơn,làm tăng lượng vốn huy động cho các ngân hàng thương mại
Trang 36b Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, khuyến mại sản phẩm.
Bên cạnh việc đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn, các NHTM đềukhông ngừng đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, khuyến mại sản phẩm của mìnhđến với khách hàng Đây là chiến lược huy động vốn rất hiệu quả trong điềukiện cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng Các hoạt động tiếp thị sản phẩmhuy động vốn được các ngân hàng tiến hành bằng nhiều phương thức khácnhau, chủ yếu là thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: truyềnhình, báo chí, tờ rơi, thư tay Nội dung của các chương trình quảng cáo nàycũng được các ngân hàng thiết kế sao cho sản phẩm cũng như hình ảnh củangân hàng mình thật hấp dẫn người xem nhất Bên cạnh hoạt động tiếp thị sảnphẩm, các ngân hàng cũng tổ chức các đợt khuyến mại để tăng cường huyđộng vốn Các đợt khuyến mại này thường được triển khai vào các thời điểmtrong năm như: đầu năm, giữa năm hay cuối năm, hoặc cũng có khi tuỳ thuộcvào chiến lược huy động vốn của mỗi ngân hàng Thông thường các NHTMtriển khai chương trình khuyến mại lớn bằng các đợt huy động vốn dự thưởngvới tổng giá trị giải thưởng khá lớn, rất thu hút được sự tham gia của kháchhàng Ngoài những đợt huy động dự thưởng lớn đó, các ngân hàng cũng triểnkhai xen kẽ các đợt khuyến mại nhỏ với từng loại sản phẩm huy động vốn củamình như: tặng quà khách hàng thân thiết, khách hàng gửi tiền với số lượnglớn
Những chi phí cho hoạt động tiếp thị và khuyến mại này cũng chiếm phầnkhá lớn trong chi phí huy động vốn, đòi hỏi các ngân hàng phải tính toán, cânnhắc kĩ lưỡng trước khi triển khai, để tránh việc lượng vốn huy động đượcnhiều nhưng cho phí huy động lại quá lớn, thì hiệu quả huy động vốn khôngcao
Trang 37c Mở rộng mạng lưới chi nhánh; nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho cán bộ.
Mở rộng mạng lưới chi nhánh.
Để thu hút được nhiều vốn từ dân cư, các ngân hàng thương mại cònkhông ngừng mở rộng mạng lưới chi nhánh của mình Quy mô, khả năng tàichính của ngân hàng nào càng lớn thì số lượng chi nhánh của nó càng nhiều
và trải rộng trên nhiều nơi, khả năng thu hút càng lớn Với những ngân hàngsát địa bàn dân cư hoặc gần với những trung tâm thương mại thì sẽ có thuânlợi khi thu hut vốn Lẽ tự nhiên, khi dân chúng có tiền nhàn rỗi họ sẽ đến cácchi nhánh ngân hàng gần nhà mình nhất để gửi, như thế vừa tiết kiệm thờigian đi lại vừa đảm bảo an toàn Ngày nay, các ngân hàng đều cố gắng mởthật nhiều chi nhánh để thu hút tiền gửi của người dân cũng như đẩy mạnh cáchoạt động kinh doanh khác Với một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đấtnước, đến cả những vùng sâu vùng xa, các ngân hàng sẽ có điều kiện cấp cácdịch vụ của mình cho người dân một cách chu đáp và tiện lợi nhất Tuy nhiêntrước khi lập thêm chi nhánh các ngân hàng phải tìm hiểu rõ địa bàn đặt chinhánh, dự đoán được khả năng phát triển của chi nhánh trong tương lai, nếukhông việc lập thêm chi nhánh sẽ không có tác dụng thu hút vốn mà còn làmtăng chi phí hoạt động cho ngân hàng
Nâng cao trình độ và thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng
Con người vẫn là yếu tố quyết định đến viêch thành công hay thất bại củamột ngân hàng, chính con người gây dựng uy tín của Nh với khách hàng Mộtngân hàng với đội ngũ nhân viên có trình độ nghiệp vụ cao, mọi thao tác đượcthực hiện chính xác, hiệu quả, tác phong làm việc vui vẻ, lịch sự, thái độ phục
vụ tận tình, chu đáo thì sẽ gây ấn tượng tốt đẹp đối với khách hàng Nhân viêngiao dịch được coi là “bộ mặt” của ngân hàng, hình ảnh của họ ltrong con mắt
Trang 38khách hàng phản ánh hình ảnh của ngân hàng Khách hàng là những người cóquyền lựa chọn, vì vậy họ sẽ lựa chọn nơi làm họ kài lòng nhất để gửi tiền,vay tiền và sử dụng các dịch vụ khác do ngân hàng cung ứng.
Đối với nhà quản lý thì năng lực và trình độ cảu họ là yếu tố quyết địnhhàng đầu đến tất cả hoạt động của ngân hàng, trong đó có huy động vốn.Quản lý tốt thì quá trình hoạt động của ngân hàng có thể đảm bảo an toànvốn, tăng uy tín từ đó có thể thu hút được nhiều khách hàng được nhiều kháchhàng hơn Để có thể đáp ứng nhu cầu kịp thời, có hiệu quả các yêu cầu caotrong hoạt động ngành ngân hàng nói chung thì cần phải tuyển chọn nguồnnhân lực có đạo đức nghề nghiệp tốt, có trình độ chuyên môn giỏi, đặc biệt làthái độ, cách cư xử của cán bộ nhân viên Chính những điều đó sẽ tạo nên sựthành công của ngân hàng nói chung và hiệu quả huy động vốn nói riêng.Hiện nay các ngân hàng đều cố gắng lựa chọn cũng như đào tạo các cán bộcủa mình thành thạo về nghiệp vụ cũng bồi dưỡng nâng cao các kiến thức vềmarketing và ngân hàng Bên cạnh việc đào tạo trực tiếp cán bộ tại nơi làmviệc, các NHTM thường tổ chức các khoá bồi dưỡng, nâng cao kiến thứcnghiệp vụ cho cán bộ ở các cơ sở trong nước và nước ngoài Đây là việc làm
có ý nghĩa khá quan trọng cho công tác huy động vốn trong hiện tại cũng nhưtương lai của ngân hàng
Trang 39đầu tư của ngân hàng Vì vậy, ngân hàng phải giữ lãi suất ở mức vừa đảm bảoquyền lợi cho khách hàng, vừa đảm bảo lợi ích của ngân hàng Lãi suất huyđộng phụ thuộc vào lãi suất cho vay, mặt bằng lãi suất trên thị trường, mức lãisuất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước qui định, thời hạn khác nhau thì lãi suấtcũng sẽ khác nhau, từng nhóm khách hàng… Đối với người gửi tiền là kháchhàng doanh nghiệp, họ gửi tiền vào các ngân hàng với mục đích thanh toánnên lãi suất không phải vấn đề họ quan tâm Điều họ quan tâm nhất là việc sửdụng các dịch vụ từ ngân hàng và loại tiền này gọi là tiền gửi không kì hạn,lãi suất cho loại này rất thấp Bên cạnh đó thì bộ phận tiền gửi có kì hạn củadoanh nghiệp và tiền gửi tiết kiệm của dân cư lại rất nhạy cảm với lãi suất.
Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, mỗi ngân hàng phải đưa
ra một chính sách lãi suất huy động mềm dẻo, linh hoạt Khi ít có sự khác biệttrong chất lượng dịch vụ giữa các ngân hàng thì khách hàng gửi tiền thườngđến ngân hàng có mức lãi suất huy động cao hơn Tuy nhiên, cạnh tranh bằnglãi suất là sự cạnh tranh có giới hạn Lãi suất tác động đến nguồn vốn huyđộng, đồng thời làm thay đổi chi phí huy động vốn của ngân hàng Vì vậy,việc tính toán chính xác lãi suất huy động vốn được coi là yếu tố cơ bản đểxác định mức lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ nhyững tài sản sinh lời củamình, từ đó, ngân hàng sẽ định giá cho mỗi sản phẩm dịch vụ Có thể nói rằnglãi suất là nhân tố tác động có tính chất quyết định đến quá trình huy độngvốn của ngân hàng thương mại Do đó để gia tăng nguồn vốn các ngân hàngthường áp dụng chính sách đa dạng hóa lãi suất, các nhóm lãi suất sẽ phânbiệt theo từng loại tiền, kỳ hạn, nhóm khách hàng, mục đích gửi tiền và theoquy mô… để đáp ứng được nhu cầu khách hàng Một chính sách lãi suất phùhợp với các hình thức khuyến mại như quay số trúng thưởng, quà tặng sẽ thuhút được ngày càng nhiều khách hàng đến giao dịch với ngân hàng: gửi tiền,vay tiền, thanh toán góp phần gia tăng nguồn vốn của ngân hàng
Trang 401.4.1.4 Cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng
Hoạt động của ngân hàng gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của côngnghệ thông tin Hầu hết tất cả các ngân hàng đều muốn áp dụng các côngnghệ tiên tiến vào hoạt động của mình vì những công nghệ này sẽ giúp ngânhàng rút ngắn thời gian giao dịch, tăng khả năng cung cấp các dịch vụ tiện íchcho khách hàng như: Ngân hàng tự động, máy rút tiền tự động, chuyển tiềnnhanh Nếu ngân hàng ứng dụng và sử dụng công nghệ một cách có hiệu quảthì ngân hàng đó sẽ mở rộng về không gian hoạt động, thời gian phục vụ vàcung cấp được những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng Đây chính là nhữngnhân tố phụ trợ thúc đẩy khả năng thu hút được nguồn vốn khi khách hàng đãthấy được rằng khi mình gửi tiền vào ngân hàng không chỉ được hưởng lãi màcòn sử dụng được rất nhiều dịch vụ tiện ích khác của ngân hàng
Công nghệ ngân hàng đã làm thay đổi căn bản các hoạt động của ngânhàng và làm cho chúng dễ dàng hơn Trong những năm qua, nhờ sự tiến bộcủa công nghệ thông tin, chúng ta đã chứng kiến sự ra đời của nhiều sản phẩmdịch vụ mới như: sự phát triển mạng lưới máy tính đã cho phép ngân hàngcung cấp dịch vụ ngân hàng 24/24 giờ, dịch vụ ngân hàng tại nhà (HomeBanking), máy rút tiền tự động ATM, thẻ tín dụng, hệ thống thanh toán điệntử… Giới hạn thị trường trong và ngoài nước mất đi nhờ mạng thông tin toàncầu Internet
1.4.2 Nhân tố khách quan
Tình hình nền kinh tế: Một nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái được thể
hiện thông qua các chỉ tiêu: tốc độ tăng trưởng, GDP, thu nhập bình quân đầungười, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp Ngành ngân hàng là một bộ phận nằmtrong nền kinh tế quốc dân, hơn nữa nó lại kinh doanh trong một lĩnh vực hếtsức nhạy cảm là tiền tệ, do vậy các hoạt động của ngân hàng chịu ảnh hưởng