Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nước ta, đánh dấu sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mạithế giới WTO có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nước ta, đánh dấu sự hộinhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới Điều đó đã tạo điều kiện thuậnlợi cho việc phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên cũng đặt ra không ít khó khăn,thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam Ngành ngân hàng cũng như cácnghành kinh tế khác trong nền kinh tế đang trong bối cảnh tình hình kinh tế
xã hội trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp Giá dầu liên tụctăng mạnh hay cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp ở Mỹ… Trong nước nềnkinh tế cũng phải đối mặt với nhiều thử thách mới: nhập siêu tăng mạnh làmthâm hụt cán cân vãng lai
Bên cạnh phải đối mặt với những khó khăn chung của nền kinh tế, Ngânhàng Công Thương cũng như các nghành ngân hàng khác phải đối mặt với sựxuất hiện của các ngân hàng mới như ngân hàng liên doanh, ngân hàng nướcngoài
Như chúng ta đã được biết hoạt động ngân hàng gồm hai hoạt động chính làHuy động vốn và Sử dụng vốn Trong Sử dụng vốn chủ yếu là nghiệp vụ Chovay và đây cũng là nguồn mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Làm thếnào để có được một nguồn thu nhập ổn định và ngày càng hiệu quả Với
những vấn đề đặt ra như trên trong bài viết này xin được đề cập đến : “Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế tại SGDI-NHCTVN”
Bài viết gồm ba chương:
Chương 1: Tổng Quan về cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại đối
với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trang 2Chương 2: Thực trạng về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiêp
tại SGDI-NHCTVN
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại
SDGI-NHCTVN
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, Ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên
Sở Giao Dịch I đã hướng dẫn hỗ trợ em trong quá trình thực tập và tìm hiểu
số liệu để hoàn thiện đề tài này
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Cô giáo PGS.TS.Nguyễn Thị Thu Thảo
đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiêm giúp đỡ hoàn thiện đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất củanền kinh tế Ngân hàng có nhiều hình thức tổ chức nó tùy thuộc vào sự pháttriển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngânhàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần
và số lượng các ngân hàng Là nơi gửi tiền của cá nhân, gia đình, doanhnghiệp và các tổ chức kinh tế trong xã hội Ngân hàng cũng chính là nơi chocác chủ thể trên vay khi có nhu cầu
Chính vì tầm quan trọng của ngân hàng mà hầu hết mọi người đều muốn hiểubiết về ngân hàng trước hết là một khái niệm đầy đủ, các ngân hàng có thểđược định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiệntrong nền kinh tế, vấn đề là các yếu tố trên đang không ngừng thay đổi Thực
tế có rất nhiều tổ chức tài chính, bao gồm cả các công ty kinh doanh chứngkhoán, quỹ tương hỗ và các công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắngcung cấp các dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạtđộng bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ môi giớichứng khoán khác.Tuy nhiên, cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét
các tổ chức này trên phương diện những loại hình mà chúng cung cấp: “Ngân
hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều dịch vụ tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nên kinh tế” Ngoài ra, còn một số định nghĩa dựa trên các hoạt động chủ yếu của
ngân hàng Ví dụ, luật các tổ chức tín dụng của nước cộng hòa xã hội chủ
Trang 4nghĩa Việt Nam ghi: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ
và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng
số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán” Khái niệm
này chủ yếu là phục vụ công tác quản lý trong một thời gian nhất định
Hoạt động của ngân hàng
Gồm: Huy động vốn và sử dụng vốn
- Huy động vốn bao gồm: các hoạt động như nhận tiền gửi từ các tổ chức dân
cư, doanh nghiệp; tiền đi vay từ ngân hàng thương mại khác, ngân hàng nhànước, các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường vốn; các nguồn tiền uỷthác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát
- Hoạt động sử dụng vốn như đầu tư vào các loại tài sản như chứng khoán,tiền gửi tại các ngân hàng khác, cho vay, tài trợ mang lại lợi nhuận cho ngânhàng, là nguồn thu nhập để duy trì hoạt động của ngân hàng Trong các hoạtđộng đó, hoạt động cho vay là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lạilợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng
Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng có thể phân loại theo nhiều cách thứckhác nhau:
- Phân loại theo thời gian: - Tín dụng ngắn hạn
- Cho thuê tài sản
- Phân loại theo tài sản đảm bảo: - Tín dụng có tài sản đảm bảo
- Tín dụng không có tài sản đảm bảo
Trang 51.1.2 Khái niệm cho vay ngắn hạn & Đặc trưng cho vay ngắn hạn.
Cho vay là một khoản mục tài sản lớn nhất và quan trọng nhất trong hoạtđộng sử dụng vốn của ngân hàng, nó có tính quyết định sự sống còn cũng như
sự vững mạnh của ngân hàng
Khái niệm: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng
giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi.
Có rất niều hình thức phân loại cho vay, một trong những phương thức chovay theo thời hạn vay vốn: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vaydài hạn
Khái niệm cho vay ngắn hạn: Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời
hạn dưới một năm, thường được dùng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt.
Đặc trưng của hình thức cho vay ngắn hạn:
-Bất kì doanh nghiệp nào tồn tại trên thị trường đều sử dụng hình thức vay
vốn này, các doanh nghiệp kinh doanh thường có tình trạng thiệu hụt vốn tạm
thời để thanh toán các nguồn nguyên liệu đầu vào, các loại thuế khi đến hạn
mà lúc đó doanh nghiệp không đủ nguồn tài chính để thanh toán
- Vốn tín dụng gắn liền với quá trình luân chuyển vốn của khách hàng, chu kì
kinh doanh của doanh nghiệp rất ngắn thường là một quý, ba đến bốn thángnên nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp không phải lúc nào cũng có thểđáp ứng được nhu cầu chi tiêu thường các khoản này doanh nghiệp thườngdựa chủ yếu vào vốn vay của ngân hàng, nên nguồn vốn tín dụng gắn liền vớiquá trình luân chuyển vốn của khách hàng
- Là nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng: hoạt động sử dụng vốn gồm nhiều
nghiệp vụ nhưng nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng là cho vay, trong cho vaybao gồm cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn Cho vay
Trang 6ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn tạm thời của doanh nghiệp cũng như nhucầu chi tiêu của khách hàng cá nhân Dư nợ cho vay tại một thời điểm của chovay ngắn hạn có thể nhỏ hơn cho vay trung và dài hạn nhưng tổng dư nợ chovay của ngắn hạn tại một thời kì kinh doanh lại lớn hơn tổng dư nợ cho vaycủa trung hạn và dài hạn Mặt khác lợi nhuận mang lại từ cho vay ngắn hạnchiếm tỷ trọng chủ yếu trong lợi nhuận thu được từ cho vay.
- Thời gian thu hồi vốn nhanh: Cho vay ngắn hạn nhằm để đáp ứng nhu cầu
vốn tạm thời của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu của khách hàng cá nhânnên thời gian thu hồi lại vốn nhanh thường là ba bốn tháng đến dưới mộtnăm Đối với các doanh nghiệp các khoản vay này được luân chuyển thườngxuyên, tức là doanh nghiệp vay và thanh toán nguồn ngắn hạn cũ rồi tiếp tục
mở các khoản vay mới, đối với các khách hàng cá nhân thường thể hiện dướihình thức thấu chi
-Mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng: trong các hoạt động sử dụng vốn
thì hoạt động cho vay là hoạt động mang lại lợi nhận chủ yếu cho ngân hàng,trong đó cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận thu được
Vì các nguồn cho vay ngắn hạn có thời gian ngắn nên tổng dư nợ cho vaytrong một thời kì là rất lớn nên nguồn thu nhập từ đó cũng rất lớn và chiếm tỷtrọng cao trong tổng nguồn thu nhập của ngân hàng
1.2 Những vấn đề chung về doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp, phân loại.
Khái niệm:Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản , có trụ sở
giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằmmục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Phân loại:
- Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ,
thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật này
Trang 7Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập,tổng công ty nhà nước.
- Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các
công ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổchức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp
- Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách
nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý
và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp
- Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên là công ty
trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nướchoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức đượcNhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định củaLuật doanh nghiệp
- Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp
mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhànước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó
- Doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước là doanh nghiệp mà phần vốn
góp của Nhà nước trong vốn điều lệ chiếm từ 50% trở xuống
1.2.2 Vai trò và vị trí của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có vai trò và hết sức quan trọng trong nền kinh tế, là chủ thểkinh doanh đa số chiếm phần lớn trong nền kinh tế Doanh nghiệp góp phầntạo nên sự thịnh vượng cho sự phát triển của nền kinh tế và tăng trưởng GDPcủa đất nước Thực tế trong năm 2007 vừa qua cho thấy, kinh tế đất nướctăng trưởng ,nhanh GDP đạt 8,5%, trong đó giá trị sản xuất toàn nghành côngnghiệp tăng 17,1%; nông lâm ngư nghiệp và thuỷ sản tăng 3,41%
Trang 8Trong một nền kinh tế, doanh nghiệp đóng vai trò là nơi cung cấp các sản
phẩm cho xã hội Các sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất chủ yếu nhằm đáp
ứng cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội Một số doanh nghiệp sản xuất ra cácsản phẩm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng như ô tô, xemáy,máy lạnh Một nhóm doanh nghiệp khác lại sản xuất ra các sản phẩmphục vụ nhu cầu sản xuất ra các tư liệu sản xuất như công cụ sản xuất trongnông nghiệp như máy cày, máy cắt cỏ, máy tuốt lúa Hay một số doanhnghiệp khác lại sản xuất ra các nguyên liệu để cung ứng cho các doanh nghiệpkhác chế tạo ra các sản phẩm phong phú hơn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đadạng của con người như cao su, gỗ
Là nơi thu hút nguồn lao động, giải quyết công ăn việc làm cho số đông dân
số của đất nước cũng như của thế giới Doanh nghiệp tuỳ theo quy mô và
hình thức tổ chức đã thu hút được một lượng lớn nguồn lao động trong nềnkinh tế Các doanh nghiệp nhỏ sản xuất ra các sản phẩm đơn giản thu hútnguồn nhân công có trình độ đủ đáp ứng cho công việc như các doanh nghiệpthủ công mỹ nghệ, đan lát Các doanh nghiệp sản xuất ra các thiết bị máymóc cao hơn thì giải quyết công ăn việc làm cho số công nhân có trình độ đãqua đào tạo như sản xuất ô tô, tủ lạnh máy vi tính, thiết bị điện Một số doanhnghiệp khác sản xuất kinh doanh các mặt hàng cấp cao thì giải quyết việc làmcho những người đã được đào tạo qua trình độ cao như đại học cao đẳng vàtrên đại học
Ngoài ra doanh nghiệp còn đóng vai trò là kênh phân phối hiệu quả, doanh
nghiệp nhập nguồn nguyên liệu từ các công ty chế biến hay khai thác nguyênvật liệu sau đó chế tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường, doanh nghiệpvừa làm nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm, vừa là nơi cung cấp sản phẩm khác chothị trường Không những vậy mà những người công nhân sản xuất sản phẩmcũng có thể chính là những người dùng các sản phẩm mà mình đã làm ra,
Trang 9cũng có thể là từ tiền lương nhận được lại dùng số tiền lương đó trang trải chocuộc sống của họ bằng cách tiêu thụ các sản phẩm khác trên thị trường Nhưvậy doanh nghiệp đã góp phần quan trọng trong quá trình phân phối hiệu quảcủa nền kinh tế
1.3 Nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và vai trò của nguồn vốn ngắn hạn đối với doanh nghiệp.
1.3.1 Nhu cầu vốn ngắn hạn của doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp cần đầu tư vốn vào tài sản lưu động
và tài sản cố định Về nguyên tắc, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốnngắn hạn hoặc dài hạn để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động Tuynhiên, do nhu cầu vốn dài hạn để đầu tư vào tài sản cố định rất lớn nên thôngthường doanh nghiệp khó có thể sử dụng nguồn vốn dài hạn để đầu tư vào tàisản lưu động Do vậy, để đầu tư vào tài sản lưu động, doanh nghiệp thườngphải sử dụng nguồn vốn ngắn hạn
Nhìn vào bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp chúng ta có thể dễ dàng nhận
ra nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp thường sử dụng để tài trợ cho các tàisản lưu động gồm có:
Các khoản nợ phải trả cho người bán
Các khoản ứng trước của người mua
Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
Các khoản phải trả công nhân viên
Các khoản phải trả khác
Vay ngắn hạn từ ngân hàng
Về nguyên tắc, doanh nghiệp nên tận dụng và huy động tất cả nguồn vốnngắn hạn mà doanh nghiệp có thể tận dụng được Khi nào thiếu hụt sẽ sử
Trang 10dụng nguồn vốn tài trợ ngắn hạn của ngân hàng Sự thiếu hụt nguồn vốn ngắnhạn của doanh nghiệp có thể do chênh lệch về thời gian và doanh số giữa tiềnthu bán hàng và tiền đầu tư vào tài sản lưu động hoặc do nhu cầu gia tăng đầu
tư tài sản lưu động đột biến theo thời vụ Do vậy, nhu cầu tài trợ ngắn hạn củadoanh nghiệp có thể chia thành: nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên và tàitrợ nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ Nhu cầu tài trợ thường xuyên do đặcđiểm luân chuyển vốn của doanh nghiệp quyết định trong khi nhu cầu tài trợthời vụ do đặc điểm thời vụ của ngành sản xuất kinh doanh quyết định
1.3.1.1 Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên
Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên xuất phát từ sự chênh lệch hoặc không
ăn khớp nhau về thời gian và quy mô tiền vào và tiền ra của doanh nghiệp.Khi doanh nghiệp tiêu thụ hàng hoá và thu tiền về thì doanh nghiệp có dòngtiền vào Ngược lại, khi doanh nghiệp mua nguyên vật liệu hoặc hàng hoá dựtrữ cho sản phẩm kinh doanh, doanh nghiệp có dòng tiền ra Nếu dòng tiềnchi ra lớn hơn dòng tiền thu vào, doanh nghiệp cần bổ sung khoản thiếu hụt.Khoản thiếu hụt này trước hết bổ sung từ vốn chủ sở hữu và các khoản phảitrả khác mà doanh nghiệp có thể huy động được Phần còn lại doanh nghiệp
sẽ sử dụng tài trợ ngắn hạn của ngân hàng
1.3.1.2 Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ
Ngoài nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên, doanh nghiệp còn có nhu cầutài trợ ngắn hạn theo thời vụ Nhu cầu vốn thời vụ xuất phát từ đặc điểm thời
vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh khiến cho nhu cầu vốn ngắn hạn tăngđột biến
Những khó khăn chủ yếu của doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay là vốn, đấtđai, cơ sở hạ tầng, chất lượng lao động Ngoài ra, theo điều tra của Bộ Kếhoạch và Đầu tư tại 30 tỉnh thành phố thì mới có 32,28% doanh nghiệp vừa và
Trang 11nhỏ trong tổng số doanh nghiệp vừa và tiếp cận được nguồn vốn vay của ngânhàng.
1.3.2 Vai trò của nguồn vốn ngắn hạn đối với các doanh nghiệp:
-Đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp trong cả một chu kỳ kinh doanh Đối với các doanh nghiệp rất khó có thể tiếp cận được các
nguồn vốn dài hạn của ngân hàng vì phải trải qua thẩm định rất chặt chẽ thờigian giải ngân vốn thưòng dài, bên cạnh đó thường thì chu kỳ hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp rất ngắn thường là ba đến sáu tháng.Các khoản vayngắn hạn từ ngân hàng thường qua thẩm định nhưng mức độ kĩ càng khônglớn, và thời gian giải ngân nhanh, và rất nhanh chóng đối với các khách hànglàm ăn lâu dài với ngân hàng Nên các khoản vay ngắn hạn có thể đáp ứngnhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp duy trì chu
kỳ hoạt động kinh doanh được liên tục
-Nguồn vốn ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp rất đa dạng và phong
phú, nhất là đối với các hình thức như kinh doanh thời vụ, vốn ngắn hạn cóthể giúp cho doanh nghiệp thời giao dịch với đối tác, tận dụng được cơ hộikinh doanh giảm được một lượng không nhỏ chi phí đầu vào, làm giảm giáthành sản phẩm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp trên thịtrường, giúp cho doanh nghiệp thu được doanh thu tối đa Từ đó doanhnghiệp, có nhiều cơ hội để mở rộng quy mô sản xuất, phát triển sản phẩmtăng về cả sản lượng cũng như chất lượng và chủng loại, càng tăng thêm sứcmạnh cạnh tranh cho doanh nghiệp
-Góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với đối tác kinh doanh.
Nguồn vốn vay ngắn hạn từ ngân hàng giúp cho doanh nghiệp thanh toán kịpthời các khoản phải trả phải nộp khi đến hạn cũng như các khoản phải thanhtoán khác khi có nhu cầu
Trang 121.4 Mở rộng cho vay ngắn hạn
1.4.1 Khái niệm mở rộng:
Mở rộng là quá trình doanh nghiệp sử dụng vốn để tăng thị phần tiêu thụ dựa trên tăng quy mô của doanh nghiệp hoặc bằng cách đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp có thể cung cấp
1.4.2 Chỉ tiêu đánh giá mở rộng:
Đối với doanh nghiệp chỉ tiêu đánh giá mở rộng hoạt động kinh doanh là sốlượng, chất lượng sản phẩm và quy mô sản xuất Với hình thức là một doanhnghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng cũng có các đặc tính nhưtrên
Số lượng và chủng loại sản phẩm dịch vụ cung cấp:
Một trong các chỉ tiêu đánh giá sự mở rộng của một doanh nghiệp là sốlượng sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp trên thị trường Một khisản phẩm của doanh nghiệp đã có chỗ đứng trên thị trường, thì lúc đó doanhnghiệp bắt đầu quan tâm đến vấn đề sản lượng bán ra Và khi sản phẩm củadoanh nghiệp sản xuất ra được thị trường tiêu thụ một cách thuận lợi, thì lúc
đó doanh nghiệp bắt đầu thực hiện tăng lượng sản phẩm cung cấp trên thịtrường Mà muốn có sản phẩm để doanh nghiệp cung cấp trên thị trường buộcdoanh nghiệp phải mở rộng được quy mô sản xuất cũng như thị trường tiêuthụ sản phẩm Như vậy, khi doanh nghiệp có số lượng sản phẩm dịch vụ cungcấp tăng lên chứng tỏ doanh nghiệp đã thực hiện mở rộng hoạt động kinhdoanh, đây cũng là chỉ tiêu đánh giá mở rộng hoạt động của doanh nghiệp Đối với các ngân hàng thương mại, thì chỉ tiêu này được đánh giá qua sốlượng các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp trên thị trường, sự tăngtrưởng số lượng các hợp động tín dụng thực hiện
Trang 13Bên cạnh số lượng sản phẩm dịch vụ thì chủng loại sản phẩm cũng có ý nghĩaquan trọng trong quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpnhất là đối với nghành ngân hàng mọi hoạt động của dịch vụ thường hay bịsao chép, nhưng nếu như ngân hàng có sự linh hoạt trong cách thức phục vụ,chất lượng sản phẩm dịch vụ ngày càng được nâng cao sẽ tạo ra được sứcmạnh cạnh tranh cho ngân hàng cũng như phân tán các rủi ro khi đa dạng hoácác loại hình dịch vụ.
Chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp
Một trong các yếu tố quan trọng trong quá trình mở rộng sản phẩm của mộtdoanh nghiệp là chất lượng sản phẩm dịch vụ, doanh nghiệp có chất lượngsản phẩm tốt hơn thì sẽ dễ được thị trường chấp nhận hơn, như vậy nó sẽ rấtthuận lợi trong quá trình mở rộng sản phẩm dịch vụ Một doanh có chất lượngsản phẩm dịch vụ tốt là đã góp phần quan trọng trong quá trình tiến hành mởrộng hoạt kinh doanh của doanh nghiệp
Trong hoạt động của ngân hàng cũng như hoạt động của doanh nghiệp chấtlượng của sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp đóng vai trò quan trongtrong quá trình tiêu thụ cũng như thu hút thêm các khách hàng mới đối vớingân hàng Sự an toàn của tiền gửi khách hàng, thanh toán tiền gửi đúng thờihạn, thanh toán hộ, thu hộ các khoản nợ kịp thời là một trong các yếu tố thuhút khách hàng Cũng như thế một hợp đồng tín dụng thành công có thể manglại lợi nhuận cho ngân hàng mà nó còn mang lại lợi nhuận cho cả khách hàngcủa ngân hàng, kết quả này giúp cho mối quan hệ giữa khách hàng và ngânhàng ngày càng bền chặt, bên cạnh đó số lượng khách hàng đến với ngânhàng ngày càng nhiều hơn Đây cũng là chỉ tiêu không kém phần quan trọng
để đánh giá khả năng mở rộng hoạt động cho vay, mở rộng quy mô tín dụngcủa ngân hàng, một ngân hàng có chất lượng của sản phẩm dịch vụ tốt sẽ thu
Trang 14hút được rất nhiều khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi trong qua trình mởrông khi tiến hành.
Quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp
Quy mô sản xuất của doanh nghiệp là chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng, sốlượng các mặt hàng của doanh nghiệp có thể được nâng cao nhưng như thêchưa đủ, sản phẩm của doanh nghiệp vẫn chưa đạt được hiệu quả tối đa Đểđạt được hiệu quả tối đã doanh nghiệp cần mở rộng hoạt động quy mô sảnxuất kinh doanh, tức là đầu tư các thiết bị mới hoặc cải tiến kĩ thuật máy mócthiết bị Đồng thời với hoạt động mở rộng quy mô sản xuất doanh nghiệpcũng cần hoạt động đi kèm theo là hoạt động tiêu thụ sản phẩm, nhằm tạođược đầu ra cho sản phẩm khi sản xuất ra
Trong hoạt động của ngân hàng cũng vậy, cơ sở vật chất của trụ sở hay chinhánh cũng như phòng giao dịch có ảnh hưởng đến số lượng khách hàng, nếu
là một vị trí thoáng bảng hiệu của ngân hàng dễ thấy ở nhiểu vị trí là mộttrong yếu tố thúc đẩy khách hàng đến với ngân hàng, nếu ngân hàng có sơ sởvật chất thiều thốn như không có chỗ để xe cho khách hàng thì số lượngkhách hàng đến với ngân hàng sẽ không nhiều Bên cạnh có cơ sở vật chất,hoạt động quảng cáo tìm thị trường mới cũng có vai trò quan trọng để ngânhàng có thể nmở rộng được quy mô hoạt động của mình, ngoài thị trường sẵn
có ngân hàng nên tìm kiếm và khai thác các thị trường tiểm ẩn nhằm tăngthêm số lượng khách hàng đến với ngân hàng Thị trường tiêu thu của ngânhàng ngày càng rộng cùng với chất lượng dịch vụ cung ứng tốt, sản phẩmdịch vụ có sự đa dạng về chủng loại cho sự lựa chọn của khách hàng thì khithực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh không mấy khó khăn, không nhữngthế mà sẽ rất thuận lợi
Trang 151.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay của ngân hàng.
1.5.1 Nhân tố chủ quan.
1.5.1.1 Chính sách tín dụng của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm của ngân hàng, với tầm quan trọng
và quy mô lớn, hoạt động này được thực hiện theo một chính sách rõ ràngđược xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm, đó là chính sách tín dụng Chínhsách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành hướngdẫn chung cho cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàng Toàn bộ các vấn đềliên quan đến cấp tín dụng nói chung và đều được xem xét và đưa ra trongchính sách tín dụng của ngân hàng như:
Trang 161.5.1.2 Hoạt động Marketing của ngân hàng
Trong mỗi giai đoạn, mỗi ngân hàng đều có chiến lược Marketing riêng biệtphù hợp với những điều kiện hiện tại Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, ngânhàng có thể nắm bắt toàn bộ các thông tin về môi trường kinh doanh, vềkhách hàng trên cơ sở này, các ngân hàng sẽ sử dụng một cách linh hoạt, mềmdẽo các chính sách để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng từ đó mà đạtđược mục tiêu đề ra
1.5.1.3 Mạng lưới của ngân hàng
Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng cuả công nghệ thôngtin, thì việc một ngân hàng hiện hữu ngay trong nhà khách hàng là một điềutrở nên bình thường Tại bất kỳ đâu khách hàng cũng có thể tiến hành kiểmtra tài khoản hay thực hiện các giao dịch của với ngân hàng Tuy nhiên trênthực tế, hầu hết các khách hàng đều muốn được trực tiếp đến giao dịch vớingân hàng, nơi mà họ có thể trực tiếp nói chuyện hay được nghe những lờikhuyên từ nhân viên tín dụng, do đó cùng với việc xây dựng các tiện ích từcác loại hình ngân hàng trực tuyến, các ngân hàng cũng chú trọng phát triểnmột mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch nhằm phục vụ khách hàng được tôthơn, đặc biệt là trong điều kiện công nghệ đang trên đà phát triển
1.5.1.4 Công nghệ của ngân hàng
Công nghệ của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong các sản phẩm dịch
vụ của ngân hàng, các tiện ích, tốc độ xử lý thông tin và đưa ra các quyết địnhphù hợp với khách hàng luôn đảm bảo sự thành công trong công việc tíndụng Ngân hàng không chỉ cung ứng những sản phẩm có trình độ kĩ thuậtphù hợp với môi trường kĩ thuật tại địa phương mà cón phải luôn đi trước xãhội một bước trong ứng dụng về khoa học kĩ thuật Chỉ có như thế ngân hàng
Trang 17mới có thể phục vụ đối với hầu hết mọi tầng lớp dân cư và có thể kiểm soátđược mặt trái của khoa học kĩ thuật.
1.5.1.5 Hệ thống dịch vụ cung cấp và tư vấn của ngân hàng
Một ngân hàng hiện đại là một ngân hàng đa năng với nhiều tiện ích từ nhiềusản phẩm dịch vụ, trên thực tế, nhiều ngân hàng đã tự hào vì họ là bách hóatài chính Một số quan điểm cho rằng loại hình ngân hàng chuyên doanh cũng
có ưu điểm vì sự chuyên môn hóa của họ, tuy nhiên đa số quan điểm lại ủng
hộ hơn một hệ thống dịch vụ đa dạng có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau để đemlại cho khách hàng sự thỏa mãn tối đa
Bên cạnh đó, nếu ngân hàng có hệ thống tư vấn cho khách hàng về cách thứclàm việc với ngân hàng, giải đáp khúc mắc, tư vấn về hoạt động tài chính chokhách hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng hơn, từ đónguồn thu nhập của ngân hàng cũng được tăng thêm
1.5.1.6 Khả năng đánh giá và kiểm soát các khoản cho vay của ngân hàng
Một ngân hàng với khả năng thẩm định, phân tích tốt các khoản vay có thểgiúp ngân hàng loại bỏ được những khoản cho vay có vấn đề và giảm thiểuđược những trường hợp từ chối những khoản cho vay tốt Ngoài ra làm tốtcông tác kiểm soát các khoản vay sẽ giúp ngân hàng có được cái nhìn chínhxác nhất về tình hình của các khoản vay, giúp ngân hàng đưa ra được cácphán quyết đúng đắn giảm thiểu mọi tổn thất có thể xảy ra
1.5.1.7 Giá của dịch vụ cung cấp ( lãi suất):
Chi phí để có thể vây được nguồn vốn là một trong các yếu tố hàng đầu đượcdoanh nghiệp quan tâm hàng đầu, vì nó giảm thiểu chi phí cho hoạt động sảnxuất kinh doanh, giảm giá thành của sản phẩm trên thị trường, tạo thế cạnhtranh cho sản phẩm Mặt khác nguồn thu nhập từ đó cũng tăng lên
Như vậy, ngân hàng nào có giá dịch vụ hay lãi suất cho vay thấp hơn sẽ thuhút được nhiều khách hàng đến với mình hơn Đây cũng là yếu tố quan trọng
Trang 18để ngân hàng cạnh tranh trên thị trường, nó góp phần quan trọng trong quátrình mở rộng thị trường cho vay của ngân hàng.
1.5.2.2 Môi trường dân cư
Mỗi địa phương có đặc điểm riêng về nhân khẩu, đó là độ tuổi trung bình, thunhập bình quân, trình độ dân trí, thói quen tiêu dùng Đối với hoạt động chovay ngắn hạn thì môi trường kinh tế xã hội phát triển, nhu cầu đầu tư thườngxuyên hay tiêu dùng lên cao có ảnh hưởng lớn đến số lượng các khoản chovay của ngân hàng
1.5.2.3 Môi trường kinh tế
Xu hướng vốn ngắn hạn thường có ảnh hưởng từ xu hướng từ sự phát triểncủa nền kinh tế Một nền kinh tế có xu hướng phát triển thì nhu cầu vê đầu tưngắn hạn tăng, cũng như nhu cầu về tiêu dùng tăng Các doanh nghiệp kỳvọng vào các khoản đầu tư, người tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sốngngày càng tăng Điều này rất thuận tiện cho ngân hàng thực hiện các khoảncho vay ngắn hạn Ngược lại, nền kinh tế có xu hướng thu hẹp thì nhu cầu đầu
Trang 19tư cũng giảm đáng kể, cũng như nhu cầu tiêu dùng tăng chậm, là nguyên nhânhạn chế các khoản cho vay từ ngân hàng.
1.5.2.4 Môi trường kĩ thuật
Đó là sự phát triển của khoa học kĩ thuật, công nghệ sự sáng tạo của conngười trong lĩnh vực kỹ thuật và mức độ áp dụng thành tựu khoa học vàocuộc sống đời thường Các nhà ngân hàng phải luôn nắm bắt sự thay đổi củamôi trường kĩ thuật, tạo điều kiện áp dụng những thành tựu khoa học kĩ thuậtvào hoạt động kinh doanh
1.5.2.5 Môi trường cạnh tranh
Trong một môi trường cạnh tranh ngày càng có nhiều sự cạnh tranh như thờiđại ngày nay thì sự thành công chỉ có thể khi đã là người chiên thắng trongcạnh tranh Với việc hàng loạt các ngân hàng với quy mô khác nhau đangngày càng chú ý tới lĩnh vực cho vay tiêu dùng như một nguồn lợi nhuậnkhông thể thiếu trong tương lai thì hiển nhiên mức độ cạnh tranh trong lĩnhvực này đang ngày càng tăng lên Để có thể mở rộng hoạt động cho vay tiêudùng, các ngân hàng phải liên tục làm mới về hình thức cũng như chất lượngcủa các dịch vụ cung ứng nhằm tăng cường sức cạnh tranh
Trang 20CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI SỞ GIAO DỊCH I NGÂN
HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về SGDI-NHCTVN.
2.1.1 Giới thiệu đôi nét về SGDI-NHCTVN.
Sở giao dịch I – Ngân hàng Công Thương Việt Nam là một trong hai Sở Giaodịch lớn của hệ thông ngân hàng công Thương Việt Nam Đặt trụ sở tại số 10
Lê Lai là nơi tập trung nhiều thành phần kinh tế của thủ đô Hà Nội, với vị tríthuận lợi của mình Sở Giao Dịch I có một vị thế vững mạnh và ngày càngphát triển
Ngày 1/7/1988, Ngân hàng Công Thương ra đời và đi vào hoạt động trên cơ
sở nghiệp vụ Tín dụng Công nghiệp và vụ Thương nghiệp của Ngân hàngNhà Nước Việt Nam cùng với các phòng tín dụng Công nghiệp và Tín dụngthương nghiệp của 17 chi nhánh Ngân hàng Nhà Nước ở các địa phương Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam số 235/QĐ-HN5ngày 21/9/1996 về việc thành lập lại Ngân hàng Công Thương Việt Nam trên
cơ sở Ngân hàng Công Thương đã được thành lập trước đây theo QĐ 67/ HN5 ngày 27/3/1993 Ngân hàng Công Thương Việt Nam hoạt động theo môhình tổng công ty nhà nước quy định tại quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994của Thủ tướng chính phủ
Ngày 30/3/1995 Sở Giao Dịch I – NHCT được thành lập theo quyết định số83/NHCT-QĐ CTHĐQT
Trang 21Ngày 30/12/1998,Chủ tịch hội đồng quản trị NHCTVN kí quyết định số 134–
QĐ HĐQT- NHCT về sắp xếp tổ chức hoạt động của SGDI-NHCTVN theođiều lệ của NHCTVN
Ngày 20/10/2003 Chủ tịch hội đồng quản trị NHCTVN đã ban hành quyếtđịnh số 153/QĐHĐQT về mô hình tổ chức mới của SGDI-NHCTVN theo dự
án hiện đại hoá Ngân hàng và công nghệ thanh toán do Ngân hàng thế giới tàitrợ
Sở Giao Dịch I có các nhiệm vụ cơ bản: Sử dụng vốn hiệu quả, bảo toàn,phát triển nguồn vốn và các nguồn lực của NHCT Việt Nam; Tổ chức thựchiện hoạt động kinh doanh đảm bảo an toàn, hiệu quả phục vụ phát triển kinh
tế xã hội; Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật và củaNgân hàng Công Thương
Hiện tại, Ngân hàng Công Thương có 2 Sở Giao Dịch, 137 chi nhánh hoạtđộng đã trở thành kênh điều hoà vốn cho nhiều ngành của nền kinh tế Vớitổng tài sản đạt 170 tỷ, tổng nguồn vốn huy động đạt gần 145 ngàn tỷ, tổng dư
nợ cho vay nền kinh tế trên 148 ngàn tỷ đồng, chất lượng tín dụng ngày càngđược nâng cao, nợ xấu chiếm tỷ trọng 1,6% Vốn điều lệ của Ngân hàng CôngThương đạt 10.000 tỷ đồng, chỉ số an toàn vốn tự có đạt 11%
Nằm trong hệ thống ngân hàng như vậy, trong 20 năm qua Ngân hàng CôngThương gặp không ít khó khăn, thử thách của buổi đầu quá trình chuyển đổinền kinh tế Đến nay, Sở Giao Dịch I-NHCTVN đã giành được nhiều thànhtích góp phần không nhỏ trong sự vững mạnh của hệ thống ngân hàng CôngThương và sự phát triển kinh tế đất nước Vừa qua, Ngân hàng Công Thường
đã được nhà nước trao tặng Huân chương lao động hạng nhì
Trang 22Các sản phẩm dịch vụ chủ yếu của Ngân hàng Công Thương.
Nhận tiền gửi:
- Nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn bằng VND và ngoại tệ
- Nhận tiền gửi tiết kiệm với nhiều hình thức phong phú và hấp dẫn: Tkkhông kỳ hạn, có kỳ hạn; Tk dự thưởng, Tk bậc thang
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
Cho vay và bảo lãnh
- Cho vay ngắn hạn bằng VND và ngoại tệ
- Cho vay trung, dài hạn bằng VND và ngoại tệ
- Tài trợ xuất nhập khẩu; chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất khẩu
- Đồng tài trợ uỷ thác theo chương trình: Đài Loan, Việt Đức và các hiệpđịnh tín dụng khung
- Thấu chi cho vay tiêu dùng
- Bảo lãnh tái bảo lãnh (Trong nước và quốc tế): Bảo lãnh dự thầu; bảo lãnhthực hiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh toán
Tài trợ thương mại:
- Phát hành thanh toán thư tín dụng, thông báo xác nhận, thanh toán thư tíndụng xuất khẩu;
- Nhờ thu xuất nhập khẩu; nhờ thu hối phiếu trả ngay và nhờ thu chấp nhậnhối phiếu
Dịch vụ thanh toán:
- Chuyển tiền trong nước và quốc tế;
- Uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc
Trang 23- Quản lý vốn;
- Chi trả lương cho doanh nghiệp qua tài khoản, qua ATM
- Chi trả kiều hối
- Internet Banking, Phone Banking, Mobile Banking
Hoạt động đầu tư
- Hùn vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức tín dụng và các định chế trongnước và ngoài nước
- Đầu tư hùn vốn trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ trong và ngoài nước
Dịch vụ khác:
- Khai thác Bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ
(Xem sơ đồ tổ chức trang sau)
Trang 24Sơ đồ tổ chức của SGDI:
2.1.2 Kết quả hoạt động của SGDI-NHCTVN 2007
2.1.2.1 Huy động vốn
Phát huy thế mạnh truyền thống, liên tục trong nhiều năm qua, công tác huyđộng vốn của SGDI vẫn duy trì và phát triển Bằng sự kết hợp hài hòa và sửdụng các công cụ huy động vốn và các biện pháp hỗ trợ hợp lí, nghiên cứuphân tích đặc điểm của từng loại nguồn vốn, từng đối tượng khách hàng để ápdụng chính sách hợp lí, chủ động trong chiến lược huy động mọi nguồn vốnđặc biệt là nguồn vốn dài hạn Với kết quả nguồn vốn huy động đến31/12/2007 đạt 16.718 tỷ đồng, tăng 2.113 tỷ đồng so với năm 2002, chiếm tỷ
Giám
đốc
Phòng khách hàng số 1Phòng khách hàng số 2
Phòng tài trợ thương mạiPhòng kế toán giao dịch
Phòng tiền tệ kho quỹPhó Giám đốc
Phó Giám đốcPhó Giám đốc
Phòng khách hàng cá nhân
Trang 25trọng 11% trên tổng nguồn vốn của toàn hệ thống ngân hàng Công Thương vàchiếm 5% thị phần huy động vốn của các ngân hàng trên địa bàn Hà Nội,SGDI đã góp phần quan trọng vào việc cân đối nguồn vốn chung để thanhtoán, cho vay và đầu tư trên phạm vi cả nước.
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn
Đơn vị: tỷ đồng
Chi tiêu 2004 2005 2006 2007
I.Phân theo đối tượng
II.Phân loại theo tiền tệ
- Dự án cho vay Vinasat của tập đoàn BCVT Việt Nam
- Các dự án về lưới điện của tập đoàn điện lực Việt Nam
- Các dự án về đổi mới đầu tàu của tổng công ty đường sắt Việt Nam
- Các dự án khí điện Cà Mau của tập đoàn Dầu Khí Việt Nam
Trang 26Đặc biệt, SGDI đã hướng mạnh vào cho vay phát triển đối với các doanhnghệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, cá thể, hộ gia đình khi khaithác được thị trường đa dạng và đầy tiềm năng, phù hợp với chủ trươngphát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng, Nhà nước và của ngành.Đến nay đã có hàng nghìn khách hàng phát triển sản xuất kinh doanh từvốn vay của ngân hàng.Dư nợ cho vay DNV&N; DN tư nhân; hộ gia đìnhcác thể Năm 2002 chỉ chiếm 10% trong tổng dư nợ cho vay, đến nay đãchiếm 25% Có thể khẳng định rằng, chiến lược phát triển hoạt động tíndụng SGDI đúng hướng, chất lượng và an toàn, đến 31/12/2007 không có
nợ quá hạn
Bảng 2.2 Dư nợ cho vay
Đơn vị: tỷ đồng
( Nguồn: Báo cáo tài chính của SDGI-NHCTVN)
Tổng dư nợ và cho vay qua các năm đều có sự biến đổi Trong khi tổng
dư nợ cho vay và đầu tư tăng lên 559 tỷ đồng (14.2%) trong năm 2006, và lạigiảm 140 tỷ đồng (tức là 3,1%), trong năm 2007 thì dư nợ cho vay có xuhướng tăng lên.Con số này giảm khoảng 12 tỷ trong năm 2006 so với 2005nhưng lại tăng 324 tỷ trong năm 2007 so với 2006 Đến 31/12/2007, dư nợcho vay và đầu tư đạt 4.359 tỷ đồng Trong đó dư nợ cho vay nền kinh tế đạt3.101 tỷ đồng, tăng 11,7% so với đầu năm, đạt 97% kế hoạch năm 2007NHCT giao
2.1.2.3 Kết quả kinh doanh.
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của SGDI –NHCTVN qua các năm.
Trang 27( Nguồn: Báo cáo tài chính của SGDI-NHCTVN )
Trong những năm vừa qua, SGDI –NHCTVN luôn cố gắng để phục vụ tốtkhách hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của sở Tình hình kếtquả kinh doanh của sở được thể hiện ở các chỉ tiêu đã đạt được trong năm2007
Tổng thu nhập năm 2007: 1.456 tỷ đồng Trong đó:
- Thu lãi cho vay chiếm tỷ trọng 22%
- Thu lãi tiền gửi: 3,2%
- Thu lãi điều hoà vốn: 75%
Tổng thu phí dịch vụ cả năm: 15,7 tỷ đồng, đạt kế hoạch NHCT giao trongnăm 2007
- Tổng chi phí năm 2007: 1.128 tỷ đồng, trong đó: chi trả lãi tiền gửichiếm tỷ trọng 90,5% Lợi nhuận cả năm 2007: Đạt 328 tỷ đồng, đạt 117% kếhoạch năm 2007 NHCT giao
Lợi nhuận của ngân hàng ngày càng tăng lên chứng tỏ hoạt động ngân hàngngày càng được mở rộng Lợi nhuận cao, tốc độ tăng trưởng ở mức độ cao,phản ánh thế mạnh về cạnh tranh của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Là một ngân hàng với bề dày kinh nghiệm SGDI luôn phát triển tạo dựng mộthình ảnh ngày càng vững chắc đối với khách hàng cũng như nền kinh tế nóichung
2.2 Thực trạng mở rộng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại SGDI-NHCTVN.
Trang 282.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng tại SGDI-NHCTVN.
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàngthương mại nói chung cũng như đối với SGDI - Ngân hàng Công ThươngViệtNam Tình hình hoạt động tín dụng của SGDI được thể hiện qua các số liệu:
2.2.1.1 Tỷ trọng tài sản là các khoản vay trong tổng tài sản.
Bảng 2.4 Tổng tài sản và dư nợ cho vay qua các năm.
(Nguồn báo cáo tài chínhcủa SGDI- NHCTVN)
Theo bảng trên chúng ta có thể thấy rằng, các khoản cho vay luôn là nhữngkhoản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của ngân hàng Năm 2005, dư nợcác khoản cho vay là 2.788 tỷ đồng chiếm 18% trong tổng tài sản, đến năm
2006 số dư nợ cho vay này giảm xuống còn 2.777 chiếm tỷ trọng 15,3%, vàhiện nay 2007 con số này là 3.101, tăng hơn hẳn so với hai năm trước vàchiếm tỷ trọng 14,7% trong tổng tài sản của ngân hàng
Nguồn dư nợ cho vay của ngân hàng đã được tăng lên về số lượng, ngânhàng cần chú ý tới việc cân đối nguồn vốn huy động và cho vay để ngày càng
mở rộng về các khoản cho vay, tăng thêm nguồn thu nhập cho ngân hàng.Muốn vậy, ngân hàng cần chú trọng thêm về nhu cầu về vốn của các doanhnghiệp hiện nay trên thị trường,và cách thức để mở rộng quy mô cho vay củamình
2.2.1.2 Tăng trưởng tín dụng qua các năm.
Hoạt động tín dụng các năm qua đã có sự biến động đáng kể, mở rộng cho vay
là mục tiêu của các ngân hàng, và SGDI cũng không ngoại lệ.Qua số liệu thực tếcủa năm vừa qua cho thấy hoạt động tín dụng đã có sự tăng lên đáng kể thể hiện
Trang 29qua chỉ tiêu dư nợ cho vay và doanh số cho vay của Sở giao dịch trong thời gianqua Trong năm 2006 có sự giảm nhẹ so với năm 2005,nhưng qua đến năm 2007kết quả mang lại khẳng định sự ổn định và tăng trưởng chất lượng tín dụng củaSGDI, dư nợ cho vay đã vượt hơn hẳn so với năm 2006
Bảng 2.5 Dư nợ cho vay và doanh số cho vay
Đơn vị: tỷ đồng
TT Chỉ tiêu 2005 2006 2007
1 Dư nợ 2.778 2.777 3.101
2 Doanh số cho vay 3.940 4.499 4.359
(Nguồn báo cáo tài chính SGDI-NHCTVN)
Tốc độ tăng trưởng tín dụng qua các năm thể hiện ở biểu đồ sau:
0 1,000
Trong năm 2005 doanh số cho vay là 3.940 tỷ đồng nhưng con số này đãvượt lên đáng kể trong năm 2006 là 4.499 tỷ đồng và có gia nhẹ trong năm2007.Còn dư nợ cho vay cũng có sự biến động nhẹ, vào năm 2005 con số dư
nợ cho vay là 2.778 tỷ đồng nhưng qua đến năm 2006 con số này giảm xuống2.777 tỷ đồng và đã vượt lên ngoạn mục với số dư hiện tại là 3.101 tỷ đồng.Tốc độ tăng trưởng cho thấy mức độ tăng trưởng về doanh số cho vay và dư
nợ cho vay của SGDI Ngân hàng Công Thương là rất tốt Khẳng định một lần
Trang 30nữa sự vững chắc của SGDI trên thị trường liên ngân hàng và vai trò quantrọng của nó đối với sự phát triển kinh tế khu vực Phía Bắc nói chung và HàNội nói riêng.
Doanh số cho vay và dư nợ cho vay của SGDI qua các năm tăng, chứng tỏthu nhập của SGDI qua các hoạt động tăng lên Nhưng vấn đề đặt ra ở đây lànhân tố tác động để SGDI có được các doanh số và như nợ như trên, cái màchúng ta cần quan tâm ở đây là qui mô và chất lượng của các khoản cho vay.Nguồn thu nhập của ngân hàng chỉ có thể tăng lên khi ngân hàng có qui môtăng lên và chất lượng các khoản cho vay của ngân hàng được nâng cao Đểđược như vậy ngân hàng cần chú trọng quan tâm đến nhu cầu về vốn của cácdoanh nghiệp trong thị trường, các đối tượng mà ngân hàng cần hướng tới vàcác chính sách cần thiết để các doanh nghiệp có thể tiếp cận được nguồn vốncho vay của ngân hàng, cũng như các chính sách cần thiết như huy động đủnguồn vốn để có thể đáp ứng nhu cầu cho vay trong thời gian tiếp theo Thực
tế có rất nhiều khách hàng vay vốn ở SGDI-NHCTVN, gồm khách hàng cánhân và khách hàng là doanh nghiệp, do có chính sách phân theo đối tượngcho vay, vốn được hướng vào đối tượng có những mặt hàng chiến lược nênthời gian qua đã có hiệu quả rất tốt
Ngoài duy trì quan hệ tín dụng với các khách hàng cá nhân, SGDI luôn chútrọng đầu tư đối với các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước làkhách hàng tiềm năng, tốc độ tăng nhanh về số lượng cũng như quy mô vàcũng là thành phần chính của nền kinh tế, góp phần trong sự phát triển củanền kinh tế đất nước Việc cho vay thành phần kinh tế này không những làmcho cơ cấu tín dụng bền vững, an toàn hơn và phát triển được các loại hìnhdịch vụ, góp phần quan trọng trong thu nhập của ngân hàng
Tuy nhiên, kết quả cho vay đối với các doanh nghiệp trong thời gian quachưa có tốc độ tăng trưởng cao Vì vậy trong thời gian tới SGDI cần phát triển
Trang 31hơn nữa các chính sách hoạt động phù hợp để mở rộng hoạt động cho vay đốivới doanh nghiệp Đây chính là thành phần có tốc độ tăng trưởng nhanh trongthời gian tới, nhất là khi chúng ta vừa mới gia nhập các tổ chức kinh tế lớn, dovậy việc mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp là chiến lược mà Ngân hàngCông Thương cần chú ý quan tâm.
2.2.1.3 Kết cấu dư nợ cho vay.
Kết cấu dư nợ cho vay theo thời hạn cho vay
Bảng 2.6 Kết cấu dư nợ cho vay theo thời hạn cho vay
Qua số liệu và biểu đồ cho chúng ta thấy được mức độ tăng trưởng của cáckhoản cho vay trong thời gian qua Dư nợ cho vay trung và dài hạn năm 2005
Trang 32là 64,5% tăng nhanh lên 67,8% trong năm 2006, nhưng tỷ số này lại có xuhướng giảm xuống trong năm 2007 là 51,8% Còn tỷ trọng dư nợ ngắn hạn có
xu hướng giảm xuống từ 35,5% năm 2005 xuống 32,2% trong năm 2006 vàtăng trở lại lên 48,2% Từ những quan sát trên chúng ta cũng có thể thấy rằngSGDI đã có sự điều chỉnh hợp lí về tỷ trọng cho vay ngắn hạn, trung và dàihạn Trên thực tế khi xem xét các số liệu trên biểu đồ 2.2 chúng ta có thể thấyđược rằng, các khoản cho vay trung và dài hạn ngày càng tăng Năm 2005 là1.801 tỷ đồng, tăng lên 1.881 tỷ đồng trong năm 2006 và tiếp tục tăng lên tới2.093 tỷ đồng trong năm 2007 Nhưng đối với số dư của các khoản cho vayngắn hạn có sự biến động nhỏ Năm 2005 con số dư nợ cho vay ngắn hạn là
987 tỷ đồng, giảm xuống còn 895 tỷ đồng và tiếp tục tăng trở lại với con số là1.008 tỷ đồng Nhìn chung SGDI đã có sự điều chỉnh đáng kể trong tỷ trọng
dư nợ ngắn hạn trong tổng dư nợ của Sở Sự điều chỉnh này là rất hợp lí, vìcác khoản cho vay ngắn hạn có độ rủi ro nhỏ hơn so với các khoản cho vaytrung và dài hạn, mặt khác các khoản cho vay trung và dài hạn có thời gianthu hồi vốn dài, lợi nhuận thu được trong cả một thời kỳ không thể thu bằnglợi nhuận mà các khoản cho vay ngắn hạn mang lại
Kết cấu dư nợ theo thành phần kinh tế.
Để thuận tiện trong việc quản lí mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay chúng
ta thường phân dư nợ theo thành phần kinh tế để dễ theo dõi hơn
Bảng 2.7 Kết cấu dư nợ theo thành phần kinh tế
Dư nợ
Tỷ VND
Tỷ lệ (%)
Dư nợ
Tỷ đồng
Tỷ lệ (%) Kinh tế QD 2.066 74% 2.082 75% 2171 70% Kinh tế ngoài QD 722 26% 695 25% 930 30%
(Nguồn:Phòng TT&TH)
Theo kết cấu thành phần kinh tế, chúng ta có thể thấy các khoản cho vay đốivới thành phần kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho
Trang 33vay của Sở Quan sát qua các năm chúng ta có thể thấy tỷ trọng dư nợ cho vayđối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng lên Ở năm 2005 con số dư
nợ của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh là 722 tỷ đồng, có biến độnggiảm nhẹ xuống còn 695 tỷ đồng vào năm 2006 và tăng lên nhanh chóng 930
tỷ đồng vào năm 2007 Đối với thành phần kinh tế quốc doanh thì khác, cáccon là này là 2.066 tỷ đồng vào năm 2005, tiếp tục tăng lên 2.082 tỷ đồng vàonăm 2006 và đạt 2.171 tỷ đồng vào năm 2007 Nhìn theo tỷ trọng dư nợ củacác khoản cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tếquốc doanh, thì tỷ trọng của các khoản cho vay đối với thành phần kinh tếngoài quốc doanh có xu hướng giảm nhẹ từ 26% năm 2005 xuống 25% năm
2006 và tăng trở lại 30% vào năm 2007 Tỷ trọng của các thành phần kinh tếquốc doanh có tăng nhẹ từ năm 2005 là 74% lên 75% vào năn 2006 và giảmxuống còn 70% Như vậy, SGDI đã có sự điều chỉnh trong cơ cấu cho vay đốivới các thành phần kinh tế do sự cổ phần hóa của các doanh nghiệp nhà nước
và sự xuất hiện một lượng khách hàng mới là các doanh nghiệp ngoài quốcdân được thành lập trong một số năm gần đây Sự điều chỉnh về cơ cấu chovay đối với các thành phần kinh tế của SGDI rất phù hợp với xu hướng pháttriển của nên kinh tế, cũng nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanhnghiệp ngoài quốc doanh, đa dạng hóa thành phần khách hàng trong nền kinh
tế Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển cũng như nâng cao thếmạnh và khẳng định được vị thế của ngân hàng trong nền kinh tế, đây cũng làmột trong các bước nhằm mở rộng qui mô của ngân hàng trong thời gian tới
Kết cấu dư nợ theo nghành sản xuất kinh doanh:
Một trong những cách quản lí các khoản cho vay nhằm hạn chế rủi ro tíndụng là quản lí các khoản cho vay theo ngành nghề kinh doanh, theo cách này
Trang 34ngân hàng vừa quản lí được quy mô vay vốn của từng ngành sản xuất vừa đadạng hóa được các khoản cho vay.
Bảng 2.8 Kết cấu dư nợ theo nghành nghề
( Nguồn báo cáo tài chính SGDI-NHCTVN)
Xem xét theo nghành nghề sản xuất kinh doanh, đối tượng cho vay của SGDIbao gồm: nghành Công nghiệp, Thương nghiệp, Dịch vụ, các ngành khác vàtiêu dùng Trong đó tập trung và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số dư nợ chovay là nghành công nghiệp và thương nghiệp Trong một vài năm trở lại đây
do sự phát triển nền kinh tế đã thúc đẩy sự xuất hiện của các doanh nghiệpsản xuất các mặt hàng Công nghiệp, cũng như các nhu cầu về Tiêu dùng vàDịch vụ tăng lên nhanh chóng Nắm bắt được nhu cầu của nền kinh tế và khảnăng đáp ứng của mình ngân hàng đã điều chỉnh chính sách cho vay tăngcường thêm các khoản cho vay đối với tiêu dùng và dịch vụ, đồng thời cũngtăng các khoản cho vay đối với các doanh nghiệp mới thành lập nhằm đápứng nhu cầu về vốn, đóng góp một phần trong sự phát triển của đất nướctrong thời gian vừa qua
2.2.2 Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại SGDI-NHCTVN.
2.2.2.1 Tình hình chung của doanh nghiệp trong nền kinh tế và xu hướng phát triển.
2.2.2.1.1 Tình hình chung của doanh nghiệp.
Trong những năm gần đây, vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp là đất đai,nguồn vốn huy động nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp