Trong cuộc sống ngày nay, chúng ta có thể thấy rằng hoạt động của những sự vật như máy móc
Trang 2MỤC LỤC
trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 4
NỘI DUNG
A/ Một số vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại(BTTH) do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra :
I, Một số khái niệm cơ bản : 4
II, Đặc điểm của trách nhiệm BTTH do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra : 5
1 Cơ sở pháp lý : 6
2 Về chủ thể phải BTTH : 6
3 Điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra : 6
III, Những quy định của pháp luật hiện hành về BTTH do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra :
1 Các quy định của pháp luật về nguồn nguy hiểm cao độ : 8
2 Các dấu hiệu để xác định
nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại : 9
3 Các quy định của pháp luật về trách nhiệm của
chủ thể trong BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra : 10
4 Ý nghĩa pháp lý của quy định về bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra : 13
B/ Thực tiễn về bồi thường thiệt hại do
Trang 3nguồn nguy hiểm cao độ gây ra : 14
I, Vụ việc thứ nhất : 14
II, Vụ việc thứ hai : 16 C/
Một vài ý kiến nhằm bổ sung và khắc phục những điểm
còn thiếu sót trong quy định của pháp luật về
BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra : 18 KẾT LUẬN 20 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuộc sống ngày nay, chúng ta có thể thấy rằng hoạt động củanhững sự vật như máy móc, phương tiện, các hệ thống sản xuất trong cácnhà máy, xí nghiệp…đã và đang đóng vai trò vô cùng quan trọng, thay đổimột cách căn bản cuộc sống của con người Lợi ích mà những sự vật trênmang lại cho con người là hết sức to lớn Tuy nhiên, cái gì cũng có mặt tráicủa nó, khi hoạt động, vận hành, những sự vật kể trên luôn ẩn chứa trongmình nguy cơ gây thiệt hại, đe dọa tới sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tàisản của con người Những thiệt hại trên hoàn toàn mang tính khách quan,nằm ngoài sự kiểm soát của con người, dù cho con người đã tìm cách để vậnhành, điều khiển chúng một cách an toàn nhất có thể Chính từ nguyên nhân
này, trong khoa học pháp lý xuất hiện thuật ngữ “nguồn nguy hiểm cao độ”
dùng để gọi chung cho các sự vật tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại như trên.Trên cơ sở đánh giá mức độ tiềm ẩn nguy cơ, mối liên quan giữa hành vi củacon người với thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, pháp luật đã đềcập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Dưới đây chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu “bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” dưới hai góc độ lý luận và thực tiễn, để có thể hiểu rõ
hơn về trách nhiệm pháp lý đặc biệt này
NỘI DUNG A/ Một số vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại(BTTH) do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra :
I, Một số khái niệm cơ bản :
* Bồi thường thiệt hại : là sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc
bù đắp tổn thất cho người khác 1
1 (1) : Theo http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/04/05/4702-2/
Trang 5* Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra : BTTH donguồn nguy hiểm cao độ gây ra được hiểu là trách nhiệm của chủ sở hữuhoặc người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệthại cho người khác, phải bồi thường thiệt hại kể cả trong trường hợp chủ sởhữu hay chiếm hữu hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ đó không có lỗi.
* Nguồn nguy hiểm cao độ : là những vật chất nhất định do pháp luậtquy định luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho con người, con người khôngthể kiểm soát được một cách tuyệt đối 2 Khoản 1 điều 623 Bộ luật dân
sự(BLDS) 2005 có nêu : “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”3 Theo quy định này,nguồn nguy hiểm cao độ là những vật, thú dữ… có tiềm ẩn những nguy cơgây thiệt hại mà không phải bao giờ con người cũng có thể lường trước được
1 Cơ sở pháp lý :
Trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một loạitrách nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, được quy
2 (2) : Theo Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 2, TS Lê Đình Nghị (chủ biên), Nxb Giáo dục.
3 (3) : Trích khoản 1 Điều 623 BLDS 2005, Nxb Lao Động – Xã Hội.
Trang 6định trong (BLDS) 2005 tại điều 623 và tại Mục III Nghị quyết HĐTP của Hội đồng Tòa án Nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một
03/2006/NQ-số quy định của BLDS 2005 về BTTH ngoài hợp đồng và các văn bản pháp
luật khác có liên quan
2 Về chủ thể phải BTTH :
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải BTTH do nguồn nguy hiểmcao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu (mượn,thuê…), sử dụng (giao ô tô cho lái xe theo hợp đồng với chủ sở hữu) thìnhững người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nhữngthỏa thuận này không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạođức của xã hội
3 Điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độgây ra :
* Có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật do chính nguồn nguy hiểmcao độ gây ra :
Việc gây thiệt hại trái phát luật là những thiệt hại do sự hoạt động củanguồn nguy hiểm cao độ tạo ra, pháp luật không cho phép Những thiệt hại
về tài sản của các tổ chức, của nhà nước ; những thiệt hại về tài sản, sứckhỏe, tính mạng của cá nhân là nhóm khách thể được pháp luật bảo vệ.Những thiệt hại về quyền, lợi ích chính đáng của chủ thể trong xã hội dochính sự hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra làm phát sinh tráchnhiệm bồi thường của các chủ thể có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ
đó Ngay ở tên của điều 623 BLDS “Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” đã cho thấy thiệt hại ở đây là do chính nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra, do những hoạt động chủ quan nội tại của nguồn nguyhiểm đó dẫn đến thiệt hại, nếu thiệt hại liên quan đến nguồn nguy hiểm cao
độ mà không phải do tự thân nguồn nguy hiểm đó gây thiệt hại thì trách
Trang 7nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không phát sinh mà đây làtrách nhiệm BTTH thông thường Ta có thể thấy một số ví dụ về hoạt động
tự thân nguồn nguy hiểm cao độ như xe ô tô đang đi trên đường thì bị mấtphanh, cần cẩu đang bốc dỡ hàng thì bị gãy trục… Cũng phải nhìn nhận rằng
để phát sinh trách nhiệm trên , nguồn nguy hiểm cao độ phải đang ở trạng
thái “đang hoạt động”, vì khi ở trạng thái hoạt động, vận hành thì nguồn
nguy hiểm cao độ mới có khả năng gây thiệt hại do những hoạt động nội tại
Ví dụ như một chiếc ô tô đang để trong gara (không hoạt động) bị đứt phanhvới cũng chiếc ô tô ấy bị đứt phanh trên đường đi thì ở trường hợp sau mức
độ nguy hiểm mà ô tô gây ra sẽ là rất lớn, còn mức độ nguy hiểm ở trườnghợp trước gần như bằng không
* Có thiệt hại xảy ra :
Trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cũng là mộtloại trách nhiệm BTTH, và vì vậy thiệt hại xảy ra được coi là điều kiện tiênquyết để phát sinh trách nhiệm BTTH Nếu không có thiệt hại xảy ra thì sẽkhông phát sinh trách nhiệm bồi thường Tuy cũng là một loại trách nhiệmBTTH nhưng trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có điểmkhác so với trách nhiệm BTTH chung, đó là không có trách nhiệm bồithường liên quan đến danh dự, nhân phẩm, vì nguồn nguy hiểm gây thiệt hại
là do hoạt động của chúng, do vậy những thiệt hại gây ra chỉ có thể là tàisản, sức khỏe hay tính mạng Nguồn nguy hiểm cao độ do tính chất nguyhiểm của nó có thể gây thiệt hại cho bất kỳ ai: chủ sở hữu, người đang chiếmhữu, vận hành, những người không có liên quan đến nguồn nguy hiểm caođộ… Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ chỉ được
đặt ra khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho những “người xung quanh”, là những người khi xảy ra thiệt hại không có quan hệ lao động hoặc
Trang 8sở hữu liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ nhằm để bảo vệ quyền đượcbồi thường cho những người này
* Có mối quan hệ nhân quả giữa sự hoạt động của nguồn nguy hiểmcao độ và thiệt hại xảy ra :
Quan hệ giữa sự hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hạixảy ra phải mang tính chặt chẽ, hoạt động của nguồn nguy hiểm là nguyênnhân trực tiếp gây thiệt hai, không có yếu tố lỗi của con người Mối quan hệnhân quả này chính là cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữunguồn nguy hiểm cao độ
* Về điều kiện lỗi trong trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra không đặt ra bởi đây là trách nhiệm pháp lý đặc biệt, vẫn phát sinhkhi có đủ 3 điều kiện ở trên mà không cần yếu tố lỗi, và chủ sở hữu, ngườiđược chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồithường cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp quy định tại khoản 3 điều
623 BLDS : “ a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”4
III, Những quy định của pháp luật hiện hành về BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra :
1 Các quy định của pháp luật về nguồn nguy hiểm cao độ :
Đoạn 1 khoản 1 điều 623 BLDS không đưa ra một định nghĩa kháiquát về nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ có quy định mang tính liệt kê nhưgồm các phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máycông nghiệp đang hoạt động… Khái niệm cụ thể của các loại nguồn nguyhiểm trên được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau,như Luật Giao thông đường bộ 2008, Bộ Luật Hàng hải 2005, Luật Điện
4 (4) : Trích khoản 3 điều 623 BLDS 2005, Nxb Lao Động – Xã Hội.
Trang 9lực… Do không mang tính khái quát nên điều 623 còn đề cập đến “nguồn nguy hiểm cao độ khác” do pháp luật quy định Đây là quy định mang tính
mở của pháp luật, vì nguồn nguy hiểm cao độ trên thực tế rất đa dạng, khó
có thể liệt kê hết được Ở đây, theo điều 623 BLDS chúng ta có thể hiểunguồn nguy hiểm cao độ là những vật đang tồn tại hiện hữu mà hoạt độngvận hành, sản xuất, vận chuyển, bảo quản… chúng luôn chứa đựng khả nănggây thiệt hại cho môi trường và những người xung quanh Tính nguy hiểmcủa nó thể hiện ở chỗ con người không thể kiểm soát được một cách tuyệtđối nguy cơ gây thiệt hại Trên thực tế có những sự vật chưa được pháp luậtquy định là nguồn nguy hiểm cao độ mặc dù có đặc điểm của nguồn nguyhiểm cao độ là ẩn chứa nguy cơ gây thiệt hại khi hoạt động, ví dụ như xeđạp điện, xe máy có dung tích xi lanh nhỏ hơn 50cm3, các loài ong độc, rắnđộc… Theo đó, việc xác định một vật có được coi là nguồn nguy hiểm cao
độ hay không ngoài căn cứ vào các quy định của pháp luật thì cũng cần căn
cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của vật đó
Ở đoạn 2 khoản 1 điều 623 BLDS quy định : “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.”5, do tính chất tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao
độ, quy định này đòi hỏi chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuyệt đốituân thủ các quy định của pháp luật trong từng trường hợp, điều kiện vàhoàn cảnh cụ thể
2 Các dấu hiệu để xác định nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại :Căn cứ quy định tại điều 623, trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểmcao độ gây ra khi thỏa mãn hai dấu hiệu:
5 (5) : Trích khoản 1 điều 623 BLDS 2005, Nxb.Lao Động – Xã Hội.
Trang 10Một là, những sự vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ phải đang
trong tình trạng vận hành, hoạt động, ví dụ như nhà máy công nghiệp đangsản xuất, hệ thống tải điện đang cung cấp điện… vì nguồn nguy hiểm cao độkhông hoạt động , không vận hành thì không có khả năng gây thiệt hại
Hai là, phải có thiệt hại thực sự xảy ra do chính sự tác động của bản
thân nguồn nguy hiểm cao độ Việc xác định nguyên nhân gây thiệt hại là dohành vi có lỗi của con người hay do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ có ýnghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định trách nhiệm BTTH, vì tráchnhiệm được áp dụng trong hai trường hợp này là hoàn toàn khác nhau
3 Các quy định của pháp luật về trách nhiệm của chủ thể trong BTTH
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra :
* Trường hợp chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường là chủ sở hữu,người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ :
Khi có thiệt hại xảy ra do nguồn nguy hiểm cao độ, trước tiên phảinghĩ đến nghĩa vụ của chủ sở hữu hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ trongviệc tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị thiệt hại, vìvậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ratrước hết được đặt ra cho chủ sở hữu, trừ trường hợp chủ sở hữu chứng minhđược trách nhiệm thuộc về người khác Trong trường hợp chủ sở hữu đangtrực tiếp chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, căn cứ khoản khoản
2 Điều 623 BLDS 2005 cũng như khoản a Điều 2 Mục III Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chủ sở hữu hợp pháp của nguồn nguy hiểm
cao độ phải bồi thường thiệt hại
Trong trường hợp chủ sở hữu chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụngnguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật cho người
Trang 11khác, áp dụng quy định tại khoản 2 điều 623 BLDS và khoản b điều 2 Mục III Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP, những người được chuyển giao quyền phải chịu trách
nhiệm bồi thường khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, trừ khi có thỏathuận khác không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc nhằm trốn tránh việcbồi thường
Trên thực tế, có nhiều trường hợp chủ sở hữu đã chuyển giao quyềnchiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác nhưng thực tếvẫn là người khai thác công dụng, hưởng lợi từ tài sản đó mang lại, nhưtrong trường hợp công ty vận tải chuyển giao xe cho các tài xế thuộc biênchế của công ty để thực hiện công việc, do đó, trường hợp nguồn nguy hiểm
đã được chủ sở hữu giao cho người khác thì cần phải xác định trong trường
hợp cụ thể đó người được giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải là ngườichiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hay không để xác định ai là
người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản đ Điều 2 Mục III Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP Trong trường hợp này nếu lái xe gây thiệt hại trong lúc
thực hiện nhiệm vụ do công ty giao thì công ty vận tải ở đây là chủ thể phảichịu trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (chiếc xe), cònnếu lái xe gây thiệt hại không liên quan đến nhiệm vụ được giao thì lái xephải chịu trách nhiệm BTTH theo điều 623 BLDS
Nếu chủ sở hữu hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ đã chuyển giaoquyền chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác nhưng
sự chuyển giao này không tuân theo đúng các quy định của pháp luật vàthông qua các giao dịch dân sự như cho thuê, cho mượn thì khi có thiệt hạixảy ra trên thực tế do hoạt động nội tại của bản thân nguồn nguy hiểm cao
độ thì căn cứ khoản b Điều 2 Mục III Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán
Trang 12Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP, thì chủ sở hữu nguồn nguy
hiểm cao độ sẽ là người phải chịu trách nhiệm bồi thường Bởi khi chuyểngiao nguồn nguy hiểm cao độ, chủ sở hữu đã biết trước tính nguy hiểm màtài sản của mình có thể gây ra, đồng thời, về ý chí, chủ sở hữu hoàn toànnhận thức được việc chuyển giao là trái pháp luật
* Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong tìnhthế cấp thiết, sự kiện bất khả kháng hoặc do lỗi cố ý của người bị thiệt hại :
Lại nhắc lại về điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do nguồn nguyhiểm cao độ gây ra, thiệt hại xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả với sựhoạt động tự thân của nguồn nguy hiểm cao độ, tuy nhiên trong trường hợptình thế cấp thiết, sự kiện bất khả kháng hay do lỗi cố ý của người bị hại thìthiệt hại xảy ra hoàn toàn không bắt nguồn từ hoạt động của nguồn nguy
hiểm cao độ Do đó, theo khoản 3 điều 623 và khoản c điều 2 Mục III Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ- HĐTP, trong trường hợp thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong
tình thế cấp thiết, sự kiện bất khả kháng hoặc do lỗi cố ý của người bị thiệthại, chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp phápnguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường thiệt hại
* Bồi thường thiệt hại trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bịchiếm hữu, sử dụng trái pháp luật :
Chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ là hành vichiếm hữu không có căn cứ pháp luật quy định tại Điều 183 BLDS 2005 ví
dụ như: chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản thông qua giao dịchdân sự vi phạm các điều kiện có hiệu lực theo Điều 122 BLDS 2005; nguồnnguy hiểm cao độ có được do trộm, cướp, hoặc các hành vi chiếm đoạt tàisản khác; Khi nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp
luật, khoản 4 Điều 623 BLDS 2005 và khoản d Điều 2 Mục III Nghị quyết