1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

146 804 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Nguyên Tắc Pháp Luật Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Thời Kỳ Đổi Mới Và Hội Nhập Quốc Tế
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi hệ thống pháp luật đều đwợc thiết lập dựa trên hệ các nguyên tắc pháp luật nhất định.

Trang 1

1

đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường

ììììì

Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Hà Nội

Hà Nội - 2005

Trang 2

2

Mục lục

Mở đầu

Một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc pháp luật

Khái niệm và đặc điểm của nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa

Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế

Các nguyên tắc kinh tế của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Các nguyên tắc chính trị của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Các nguyên tắc xã hội của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Các nguyên tắc đạo đức của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Các nguyên tắc tư tưởng của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Các nguyên tắc pháp lý của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Thực tiễn thực hiện các nguyên tắc pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Những phương hướng cơ bản hoàn thiện các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

Những ảnh hưởng của quá trình mở cửa, hội nhập và toàn cầu hoá đối với các nguyên tắc pháp luật Việt Nam

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 3

3

A mở đầumở đầumở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mỗi hệ thống pháp luật đều được thiết lập dựa trên hệ các nguyên tắc pháp luật nhất định Có thể nói, các nguyên tắc pháp luật như xương sống làm giá đỡ cho toàn bộ hệ thống pháp luật Các nguyên tắc pháp luật là những tư tưởng chỉ

đạo nội dung, quá trình xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật Ngoài ra chúng còn có tác dụng như chất kết dính tạo ra sự liên kết và thống nhất giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật Vì vậy, việc xác định và thực hiện các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa phù hợp sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của hệ thống pháp luật, tới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, quyền, lợi ích của nhân dân Ngược lại, nếu việc xác định hoặc thực hiện các nguyên tắc pháp luật không chính xác, không tốt sẽ có ảnh hưởng xấu đến các hoạt động xây dựng, thực hiện pháp luật và xét đến cùng sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển kinh tế, chính trị- văn hoá, xã hội của đất nước và đời sống của nhân dân

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam cho phù hợp với điều kiện và tình hình mới thì trước hết phải xác định đúng, chính xác nội dung các nguyên tắc pháp luật Do vậy, việc nghiên cứu những nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế là rất cần thiết, góp phần hoàn thiện những tư tưởng, quan điểm phù hợp để chỉ đạo quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật cũng như quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật trong tình hình và điều kiện mới Khi đã có một hệ thống các nguyên tắc pháp luật phù hợp, các quy phạm pháp luật sẽ được ban hành, thực hiện và áp dụng trên cơ

sở của những nguyên tắc đó, và điều đó cũng có nghĩa là hiệu quả điều chỉnh pháp luật sẽ cao hơn, công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc sẽ đạt được nhiều thành tích hơn vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới

và hội nhập quốc tế đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở những góc độ khác nhau Một số công trình như: Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư Pháp 2005; Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 2003; “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Công an nhân dân 2003 của

TS Lê Minh Tâm.v.v đã nghiên cứu, đề cập tới vấn đề này Các công trình nói trên đã tiếp cận và nghiên cứu về các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt

Trang 4

4

Nam ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu

đầy đủ và sâu sắc về các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Các phương pháp nghiên cứu được chú ý hơn là phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh

4 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu:

Đề tài được nghiên cứu với mục đích tìm hiểu một cách khách quan, khoa học và tương đối đầy đủ về những nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế

Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần hoàn thiện và phát triển hơn lý luận về nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng, lý luận về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa nói chung, giúp cho việc giảng dạy về bản chất, vai trò và những nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế được chính xác, khoa học và phù hợp hơn Kết quả nghiên cứu cũng đồng thời góp phần để hoạt động thực tiễn xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật ở nước ta đúng đắn và có hiệu quả cao hơn trong điều kiện hiện nay

Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài có nội dung nghiên cứu rộng và khá phức tạp, nhưng trong khuôn khổ của một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường nên các tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản sau:

+ Phân tích làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa và những đặc điểm của chúng trong thời kỳ đổi mới

và hội nhập quốc tế của Việt Nam

+ Xem xét thực tiễn thực hiện các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

+ Phương hướng hoàn thiện các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

+ Tìm hiểu khái quát nội dung các nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Trang 5

1.1 Khái niệm nguyên tắc pháp luật

Các nguyên tắc pháp luật là những tư tưởng cơ bản chỉ đạo toàn bộ hoạt

động xây dựng và thực hiện pháp luật của nhà nước và công dân, tư tưởng xuyên suốt nội dung của hệ thống pháp luật

Nguyên tắc pháp luật là những tư tưởng cơ bản do nhà nước xây dựng hoặc thừa nhận, do đó phản ánh ý chí của nhà nước, thuộc khái niệm thượng tầng kiến trúc Tính cơ bản của những tư tưởng tạo nên các nguyên tắc pháp luật, song sự phân biệt của nguyên tắc pháp luật so với các nguyên tắc khác là ở chỗ những tư tưởng cơ bản thuộc nguyên tắc pháp luật đặt nền tảng cho toàn bộ hoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật

Nguyên tắc pháp luật là nền tảng của hệ thống pháp luật, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hệ thống pháp luật Một hệ thống pháp luật từ đơn giản đến phức tạp, đều được thiết lập dựa trên những nguyên tắc pháp luật nhất định Hệ thống pháp luật được thiết lập dựa trên hệ thống các nguyên tắc pháp luật, do đó, nguyên tắc pháp luật như hệ thống xương cốt làm giá đỡ cho toàn bộ hệ thống pháp luật Trong hệ thống pháp luật luôn tồn tại những nguyên tắc pháp luật Montesquieu đã từng viết trong Lời tựa cuốn Bàn về tinh thần pháp luật: “Trước tiên, tôi xem xét người đời, và tôi tin rằng trong vô số luật lệ và phong tục rất khác nhau, con người không chỉ tuân theo nó một cách ngẫu hứng

Tôi đã đề ra những nguyên tắc, tôi thấy các trường hợp cá biệt đều theo nguyên tắc Lịch sử các dân tộc chỉ là những sự nối tiếp và mỗi luật lệ cá biệt đều liên quan đến một luật lệ khác, hoặc là luật lệ thuộc vào một quy luật chung hơn”1

1.2 Đặc điểm của nguyên tắc pháp luật

- Nguyên tắc pháp luật thể hiện tính chủ quan, đồng thời lại là sự phản

ánh những quy luật khách quan

1 Montesquieu, Bàn về tinh thần pháp luật, Nxb Lý luận chính trị, Hà nội, 2004, tr 31

Trang 6

6

Nguyên tắc pháp luật thể hiện tính chủ quan, bởi vì nguyên tắc pháp luật là những tư tưởng do con người đặt ra, làm cơ sở cho việc ban hành, xây dựng hoặc thực hiện pháp luật Trong mỗi thời kỳ, mỗi nhà nước, mỗi giai cấp lại thiết lập hoặc thừa nhận những nguyên tắc pháp luật khác nhau phụ thuộc vào ý chí của nhà nước, giai cấp đó Chẳng hạn, nguyên tắc pháp chế, bình đẳng hay bảo đảm các quyền con người không tồn tại hoặc có tồn tại nhưng chỉ được áp dụng một cách rất hình thức, đơn lẻ ở các nhà nước chiếm hữu nô lệ và phong kiến

Bản thân pháp luật đã phản ánh tính chủ quan, thì nguyên tắc pháp luật càng thể hiện tính chủ quan hơn, bởi vì nguyên tắc pháp luật có một vai trò rất quan trọng trong việc định hướng toàn bộ hệ thống pháp luật Do đó, các nhà nước thường rất quan tâm đặt ra hoặc thừa nhận những nguyên tắc pháp luật nhất định,

và ở những mức độ khác nhau, những nguyên tắc pháp luật đó phản ánh lợi ích, ý chí của nhà nước đó Chẳng hạn, trong nhà nước chủ nô nói chung, giai cấp chủ nô

có quyền quản lý nô lệ như một loại tài sản là một nguyên tắc cơ bản để xây dựng các quy phạm pháp luật có liên quan đến đời sống của người nô lệ Các nhà nước tư sản cũng đề ra hoặc thừa nhận những nguyên tắc pháp luật phản ánh ý chí chủ quan của nhà nước hoặc giai cấp thống trị ở nhà nước đó Xét trên phương diện về tính giai cấp, thì nguyên tắc pháp luật thể hiện tính giai cấp sâu sắc

Mặc khác, nguyên tắc pháp luật cũng phản ánh những quy luật chung của

đời sống xã hội Pháp luật là những quy tắc để điều chỉnh các quan hệ xã hội, do

đó pháp luật bao giờ cũng phản ánh các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Nhìn ở phương diện tổng quát hơn, những nguyên tắc pháp luật cũng phản ánh đối tượng

điều chỉnh là các quan hệ xã hội Sự thay đổi về bản chất trong xã hội dẫn đến sự thay đổi của pháp luật cũng như các nguyên tắc pháp luật Mối quan hệ này là quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó các nguyên tắc pháp luật thuộc khái niệm kiến trúc thượng tầng Do vậy, các điều kiện về kinh

tế, xã hội quyết định sự hình thành và phát triển của các nguyên tắc pháp luật Mỗi một chế độ kinh tế – xã hội trong một hình thái kinh tế xã hội sẽ xác lập những bản chất của hệ thống pháp luật cũng như những nguyên tắc pháp luật trong hệ thống đó Ngay cả trong một hình thái kinh tế – xã hội, nguyên tắc pháp luật cũng thường xuyên thay đổi phụ thuộc vào sự thay đổi của mối quan hệ

đó

Sự phản ánh của nguyên tắc pháp luật đối với các quy luật xã hội khách quan có đặc trưng so với sự phản ánh của các quy phạm pháp luật thông thường Các quy phạm pháp luật thông thường phản ánh rất cụ thể các quan hệ xã hội

đang tồn tại Trong khi đó, các nguyên tắc pháp luật lại thường phản ánh những quan hệ xã hội rất nền tảng, phản ánh những quy luật xã hội tương đối cơ bản Nếu những quan hệ xã hội nền tảng, những quy luật xã hội cơ bản làm nền tảng cho tổng thể các quan hệ xã hội, thì các nguyên tắc pháp luật lại làm cơ sở cho toàn bộ hệ thống pháp luật Do pháp luật phản ánh những quan hệ xã hội cụ thể, nên nó thường rất hay thay đổi Xã hội là hết sức đa dạng, thay đổi không ngừng,

Trang 7

7

nên các quy phạm pháp luật thường cũng rất hay thay đổi Trong trường hợp này, hoàn toàn không sai khi nói rằng pháp luật là cái đuôi của cuộc sống, hàm ý rằng pháp luật thường đi sau cuộc sống Có tác giả đã từng ví rằng, xã hội cần chỗ nào thì pháp luật điều chỉnh chỗ đó, và nhà làm luật như là người vá săm, thủng chỗ nào thì vá chỗ đấy, chứ ai đi vá những chỗ vẫn còn nguyên vẹn! Điều này tạo nên tính bất cập của hệ thống pháp luật, bởi vì tính không ổn định của pháp luật làm hạn chế vai trò điều chỉnh của nó trong xã hội Có nhiều cách thức để khiến hệ thống pháp luật trở nên ổn định hơn Một trong những cách đó là xây dựng hệ thống những nguyên tắc pháp luật Điều quan trọng nhất làm sao các nguyên tắc pháp luật này phản ánh được những mối quan hệ xã hội cơ bản nhất, những quan luật xã hội nền tảng nhất Khi mà xã hội không ngừng thay đổi, thì các quan hệ xã hội nền tảng đó vẫn ở đó, vẫn không thay đổi hoặc ít thay đổi Khi đó, các quy phạm pháp luật có thể thay đổi, nhưng những nguyên tắc pháp luật vẫn tồn tại, thay đổi một cách từ từ, làm nền tảng cho toàn bộ hệ thống pháp luật luôn biến

động không ngừng Do đó, các nguyên tác pháp luật luôn có tính ổn định, và nó làm cơ sở cho sự ổn định của hệ thống pháp luật Hệ thống pháp luật ổn định, bởi vì nó được thiết lập bởi hệ thống xương sống vững chắc làm nền tảng Hơn nữa, khi đã có một hệ thống các nguyên tắc pháp luật, các quy phạm pháp luật sẽ được ban hành, thực hiện và áp dụng trên cơ sở của những nguyên tắc đó, và điều đó cũng làm nên tính ổn định của hệ thống pháp luật

Nguyên tắc pháp luật cũng phụ thuộc vào các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, chính thể, chính trị, văn hóa Nhà nước luôn có vai trò đặc biệt trong việc xác lập hay thừa nhận các nguyên tắc pháp luật Trong giai

đoạn hiện nay, cùng là nhà nước dân chủ, song mỗi nhà nước lại vạch ra những nguyên tắc pháp luật khác nhau Vai trò của nhà nước với những ưu thế của quyền lực nhà nước thể hiện tính chủ quan trong việc xác lập các nguyên tắc pháp luật Trong các yếu tố thuộc khái niệm hình thức nhà nước, chính thể cũng

có vai trò ưu thể trong việc xác định các nguyên tắc pháp luật Trong cuốn Bàn về tinh thần pháp luật, Montesquieu đặc biệt lưu tâm về mối liên hệ của pháp luật với bản chất chính trị, trong đó chính thể là yếu tố cốt lõi ông nói pháp luật

được rút trực tiếp từ trong bản chất của chính trị, mà chủ yếu ở bản chất của ba chính thể khác nhau: Chính thể dân chủ, quân chủ và chuyên chế Các luật hay các nguyên tắc pháp luật cũng được rút ra từ những chính thể đó2

Ngoài ra, các nguyên tắc pháp luật còn có mối quan hệ với rất nhiều yếu tố khác nhau Trong cuốn Bàn về Tinh thần pháp luật, Montesquieu đã phác họa

“tinh thần pháp luật”, hay có thể được hiểu là các nguyên tắc pháp luật dựa trên rất nhiều mối liên hệ từ chính trị, chính thể, lực lượng phòng thủ, lực lượng tấn công, hiến pháp, công dân, thu nhập công cộng, khí hậu tự nhiên, đất đai, phong

2 Montesquieu, Sđd, tr 46-54

Trang 8

có là tiền đề cho toàn bộ hệ thống pháp luật Một nguyên tắc pháp luật tiêu cực sẽ làm cho cả hệ thống pháp luật bị ảnh hưởng Ngược lại, các nguyên tắc pháp luật phản ánh đúng các quy luật khách quan thì nó sẽ định hướng hệ thống pháp luật

đi theo quy luật đó, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội

- Các nguyên tắc pháp luật có thể được quy định trong pháp luật Nhưng cũng có thể các nguyên tắc không được quy định trực tiếp trong pháp luật mà tồn tại trong học thuyết pháp lý, trong thực tiễn đời sống chung của mọi người, được thực hiện như những phương châm chỉ đạo chung trong quá trình áp dụng pháp luật4

Trong nhiều nhà nước, các nguyên tắc pháp luật được ghi nhận rõ trong các văn bản pháp luật Chẳng hạn, Hiến pháp Việt Nam quy định các nguyên tắc cơ bản của pháp luật như nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, mọi người bình

đẳng trước pháp luật, nguyên tắc Đảng lãnh đạo Ngày nay, hầu hết các nhà nước đều ghi nhận những nguyên tắc cơ bản trong các văn bản pháp luật, đặc biệt

là hiến pháp Hiến pháp luật cơ bản của nhà nước, có giá trị pháp lý tối cao, do

đó, việc ghi nhận các nguyên tắc pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc làm cơ sở cho toàn bộ các hoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật, là cơ

sở cho toàn bộ hệ thống pháp luật Hầu hết Hiến pháp các nước hiện nay đều thừa nhận các nguyên tắc pháp luật cơ bản như nguyên tắc bảo đảm các quyền con người, xây dựng nhà nước pháp quyền, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc đảm bảo tính tối cao của hiến pháp Trong mỗi ngành luật, pháp luật lại có những nguyên tắc

cụ thể, do đó, các văn bản pháp luật trong từng ngành luật cũng ghi nhận các nguyên tắc trong từng ngành luật Thậm chí, trong từng văn bản pháp luật cũng xác định các nguyên tắc cụ thể cho từng chế định, từng nhóm các quan hệ xã hội cần phải được điều chỉnh Việc ghi nhận các nguyên tắc pháp luật tại các văn bản pháp luật có ý nghĩa tạo ra sự thống nhất trong việc xây dựng, thực hiện và

áp dụng pháp luật

Cũng có những nguyên tắc không được ghi nhận trong hệ thống pháp luật

mà chỉ được thừa nhận trọng các học thuyết pháp lý Nhiều nhà nước tư sản hiện nay không ghi nhận nguyên tắc phân quyền song trên thực tế đây là một học thuyết lý được thừa nhận phổ biến như một nguyên tắc cơ bản của luật hiến pháp

3 Montesquieu, Sđd

4 Nguyễn Cửu Việt (chủ biên), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà nội,

Hà nội, 2004, tr 217-218

Trang 9

9

Phần nhiều các nguyên tắc được thừa nhận chung trong thực tiễn xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật Những nguyên tắc pháp luật tiêu cực thường không được quy định trong hệ thống pháp luật Trong các nhà nước bóc lột, nguyên tắc bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị thường không được nhắc đến trong các văn bản pháp luật, song đây lại là một nguyên tắc cơ bản trong các nhà nước bóc lột ở nhà nước ta, mặc dù nguyên tắc quyền lực nhà nước được phân công, phối hợp giữa quyền lập pháp, quyền hành pháp và tư pháp chỉ được chính thức ghi nhận bởi Hiến pháp Việt Nam sửa đổi năm 2001, nhưng nguyên tắc này đã

được thể hiện từ Hiến pháp năm 1992 Những nguyên tắc này được hình thành từ thực tiễn pháp luật Có thể đến một thời điểm nào đó, nhà làm luật sẽ luật hóa các nguyên tắc này trong hệ thống pháp luật như là nguyên tắc phân công, phối hợp quyền lực trong Hiến pháp 1992 sửa đổi Mặc dù, các nguyên tắc pháp luật thể hiện tính chủ quan của nhà làm luật, nhưng hầu hết các nguyên tắc pháp luật

được hình thành từ thực tiễn chính trị, xã hội, pháp luật Các nguyên tắc này phản

ánh được những quy luật của xã hội, do đó có khả năng phù hợp với các quan hệ xã hội, nên cũng có đời sống dài hơn, thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển

- Các nguyên tắc pháp luật không bất biến mà thay đổi không ngừng Cũng giống như pháp luật, nguyên tắc pháp luật phản ánh sự tồn tại, phát triển của các quan hệ xã hội, do đó nguyên tắc pháp luật phải thay đổi để phù hợp với các quan hệ xã hội luôn thay đổi đó Cùng với sự phát triển của các quan hệ xã hội, nhiều nguyên tắc pháp luật mới ra đời Ngày nay, các nguyên tắc pháp luật hiện đại đã khẳng định ở nhiều hệ thống pháp luật như nguyên tắc công bằng, bình đẳng, pháp chế, bảo đảm tính tối cao của hiến pháp, bảo đảm các quyền con người Nhiều nguyên tắc được biết đến trong các nhà nước trước đây như bảo vệ giai cấp địa chủ, phong kiến quý tộc không còn được thừa nhận trong các nhà nước hiện đại nữa

Như trên đã phân tích, so với pháp luật thì nguyên tắc pháp luật có tính bền vững hơn, bởi vì nguyên tắc pháp luật phản ánh những mối quan hệ chung hơn, cơ bản hơn Việc thay đổi những nguyên tắc pháp luật thường diễn ra trong một thời gian dài với sự biến chuyển của nhiều học thuyết và thực tiễn pháp luật Việc thay

đổi chính trị, hay chính thể thường dẫn đến việc vạch ra những nguyên tắc pháp luật mới phù hợp với chế độ chính trị hay chính thể đó Sự thay đổi đó làm nhằm

đổi mới các nguyên tắc pháp luật đã lỗi thời, và các nhà khoa học pháp lý thường rất quan tâm đến việc nghiên cứu để đổi mới các nguyên tắc pháp luật phù hợp với

đời sống thực tiễn pháp luật đặt ra Việc đổi mới các nguyên tắc pháp luật thường

có ý nghĩa hơn là việc đổi mới bản thân một quy phạm hay một văn bản pháp luật, vì đổi mới một nguyên tắc có thể dẫn đến sự đổi mới của cả một hệ thống các quy phạm hay văn bản pháp luật, từ việc xây dựng cho đến việc thực hiện và áp dụng pháp luật Tuy thay đổi, nhưng cũng giống như pháp luật, sự thay đổi của nguyên tắc pháp luật luôn đảm bảo tính kế thừa, tức là nguyên tắc pháp luật sau thường kế thừa ít nhiều các nguyên tắc pháp luật trước đó Có nhiều nguyên tắc pháp luật

Trang 10

10

ngày nay được kế thừa từ trong thời kỳ cổ đại Nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, công bằng là những nguyên tắc pháp luật cơ bản ngày nay nhưng chúng được kế thừa từ thời kỳ sơ khai của pháp luật Nguyên tắc phân quyền cũng được kế thừa từ những tư tưởng pháp lý có từ trong nền dân chủ cổ đại Phương Tây

1.3 Các mối liên hệ cơ bản của các nguyên tắc pháp luật

- Quan hệ giữa nguyên tắc pháp luật và pháp luật:

Nguyên tắc pháp luật là cơ sở, tiền đề cho toàn bộ hoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật, tức là nó là kim chỉ nam cho các hoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật Hay nói cách khác pháp luật được ban hành, thực hiện và áp dụng trên tinh thần chung của nguyên tắc pháp luật Do đó, nguyên tắc pháp luật có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc hệ thống hóa pháp luật Trong những nhà nước đầu tiên như nhà nước chiếm hữu nô lệ và phong kiến, việc xây dựng một hệ thống pháp luật nhiều khi không theo những nguyên tắc pháp luật chặt chẽ, ổn định cũng là một nguyên nhân cơ bản khiến hệ thống pháp luật rất cục bộ, tản mạn và không thống nhất Điều này đã dần dần được cải thiện trong lịch sử phát triển hệ thống pháp luật Trong thời đại ngày nay, khi mà hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp, thì nguyên tắc pháp luật ngày càng có vai trò hơn Nếu thiếu các nguyên tắc pháp luật, hệ thống pháp luật sẽ khó mà được hệ thống hóa, và do đó sẽ gây rất nhiều khó khăn cho công tác xây dựng, thực hiện

và áp dụng pháp luật Để tạo ra sự thống nhất trong hệ thống pháp luật hết sức phức tạp, ngày nay nhiều nước đặt ra rất nhiều các nguyên tắc pháp luật: Nguyên tắc pháp luật chung cho toàn bộ hệ thống pháp luật; nguyên tắc pháp luật riêng cho từng ngành luật, từng chế định pháp luật, từng văn bản pháp luật; Nguyên tắc pháp luật áp dụng đối với chủ thể xây dựng pháp luật, chủ thể thực hiện pháp luật

và chủ thể áp dụng pháp luật

Bản thân các nguyên tắc pháp luật sẽ trở thành pháp luật nếu chúng được luật hóa Như trên đã phân tích, nhiều nguyên tắc pháp luật được quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật Tuy nhiên, khác với các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp luật thường không đặt rõ ràng các quy tắc xử sự của hành vi, mà thường làm cơ sở cho việc ban hành, thực hiện và áp dụng các quy phạm pháp luật Nói như thế không có nghĩa là nguyên tắc pháp luật không đặt ra quy tắc xử

sự của hành vi, vì nếu hiểu theo nghĩa khái quát, thì việc đặt ra cơ sở cho việc ban hành, thực hiện hay áp dụng các quy phạm pháp luật cũng là xác lập các quy tắc

xử sự của hành vi rồi Trong nhiều trường hợp, nguyên tắc pháp luật cũng có khả năng xác định rõ các quy tắc xử sự của hành vi Ví dụ, nguyên tắc bảo đảm dùng tiếng dân tộc thiểu số tại phiên tòa là một nguyên tắc cơ bản của ngành luật tố tụng của chúng ta Nguyên tắc này mang ý nghĩa của việc xác lập tắc xử sự rõ ràng Các nguyên tắc khác của ngành luật tố tụng hình sự như xét xử có hội thẩm, hội thẩm và thẩm phán ngang quyền; quyết định theo đa số; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, không ai bị coi là có tội cho tới khi có bản án kết tội của tòa án có hiệu lực pháp luật là những nguyên tắc pháp luật xác định rõ quy tắc

Trang 11

11

xử sự của hành vi Trong những trường hợp này, nguyên tắc pháp luật vừa là những quy phạm pháp luật, đồng thời lại đặt cơ sở cho việc ban hành, thực hiện hay áp dụng các quy phạm pháp luật khác, nói cách khác, trong nhiều trường hợp, một quy phạm pháp luật trở thành một nguyên tắc pháp luật

Như vậy, nhìn chung, nguyên tắc pháp luật có tính khái quát hơn là pháp luật nói chung, nhưng cũng có trường hợp nguyên tắc pháp luật là một quy phạm pháp luật Điều quan trọng nhất là ở chỗ các nguyên tắc pháp luật đặc cơ sở cho việc ban hành, thực hiện và áp dụng pháp luật Với ý nghĩa như vậy, nguyên tắc pháp luật có vai trò làm cho hệ thống pháp luật được ban hành, thực hiện và áp dụng một cách thống nhất Nguyên tắc pháp luật là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hệ thống pháp luật phức tạp và rộng lớn Một hệ thống pháp luật bao giờ cũng tồn tại những nguyên tắc pháp luật như là xương sống của hệ thống pháp luật đó Do

đó, nguyên tắc pháp luật là cơ sở làm cho việc ban hành, thực hiện và áp dụng pháp luật được dễ dàng, thống nhất và hiệu quả hơn

Nguyên tắc pháp luật còn được coi là những bổ khuyết quan trọng cho pháp luật nếu như không có quy phạm pháp luật điều chỉnh Hệ thống pháp luật không bao giờ là hoàn thiện, mà bao giờ cũng có những lỗ hổng, do đó cần phải công nhận áp dụng tương tự pháp luật Trong trường hợp không có quy phạm pháp luật, nhiều quốc gia chấp nhận áp dụng các nguyên tắc pháp luật thay thế cho sự khiếm khuyết của các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội bị bỏ ngỏ

Các nguyên tắc pháp luật trong các học thuyết cũng được viện dẫn như là một loại nguồn pháp luật quan trọng trong việc áp dụng pháp luật Ví dụ, trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common Law), các thẩm phán thường viện dẫn đến rất nhiều học thuyết pháp lý, đặc biệt là các học thuyết nổi tiếng đã được công nhận như là những nguyên tắc pháp luật để áp dụng cho một vụ việc Ngày nay, trong các hệ thống pháp luật khác, người ta cũng rất đề cao các nguyên tắc pháp luật trong các học thuyết như là một loại nguồn pháp luật quan trọng ở Việt Nam, việc

áp dụng nguyên tắc tương tự chỉ được thừa nhận trong các ngành luật như dân sự, hôn nhân và gia đình

Trong hệ thống pháp luật, các quy phạm hiến pháp thường trở thành những nguyên tắc pháp luật, vì hiến pháp là đạo luật cơ bản đặt cơ sở cho việc xây dựng các văn bản, các quy định pháp luật khác ở Nhà nước Việt Nam, đối tượng điều chỉnh của hiến pháp rất rộng, nên hiến pháp càng có cơ sở nền tảng cho toàn bộ

hệ thống pháp luật của chúng ta

- Nguyên tắc pháp luật và đạo đức, truyền thống:

Trong mối quan hệ với đạo đức, ở chừng mực nhất định, pháp luật là sự phản ánh đạo đức, là sự chắt lọc của đạo đức, hay nói cách khác thì pháp luật có nền móng là đạo đức Chính những nền mong cối lõi nhất của đạo đức đó trong

hệ thống pháp luật sẽ trở thành những nguyên tắc pháp luật quan trọng Những nguyên tắc pháp luật quan trọng được xã hội loài người biết đến phần lớn có

Trang 12

Nguyên tắc pháp luật cũng có quan hệ rất gẫn gũi với truyền thống Truyền thống có tác động rất lớn đến hệ thống pháp luật, mà thể hiện rõ nhất thông qua những nguyên tắc pháp luật Những truyền thống của một dân tộc, một nhà nước thường động lại ở các nguyên tắc pháp luật cơ bản Sự tồn tại của các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới là sự thừa nhận sự ảnh hưởng của truyền thống đối với pháp luật Hệ thống pháp luật Anh- Mỹ đặc trưng với nguyên tắc án lệ có nguồn gốc từ những truyền thống từ xa xưa Hệ thống pháp luật Châu âu với sự đề cao luật thành văn gắn liền với truyền thống pháp luật La mã cổ đại Pháp luật đạo hội gắn liền với Kinh Côran, một truyền thống tôn giáo lâu đời Xuất phát từ thực tiễn pháp luật như vậy, nhiều người đã đề nghị sử dụng các khái niệm như truyền thống pháp luật, văn hóa pháp luật thay cho khái niệm hệ thống pháp luật Điều

đó thể hiện mối quan hệ giữa pháp luật và truyền thống văn hóa, mà sự thể hiện

rõ ràng nhất trong pháp luật là các nguyên tắc pháp luật lớn

- Quan hệ giữa nguyên tắc pháp luật và nhà nước:

Nhà nước thường đặt ra hoặc thừa nhận các nguyên tắc pháp luật làm cơ sở cho hệ thống pháp luật Mặc khác, trong nhà nước dân chủ, các nguyên tắc pháp luật lại trở thành những giới hạn của quyền lực nhà nước Đây là sự khác nhau cơ bản giữa pháp luật của nhà nước dân chủ và pháp luật của nhà nước chuyên chế Nhà nước chuyên chế sử dụng pháp luật để cai trị xã hội, còn nhà nước dân chủ không chỉ dùng pháp luật để quản lý xã hội, mà pháp luật lại quay lại kiểm soát nhà nước Trong nhà nước dân chủ, pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân, tuy nhiên, nhân dân không thể kiểm soát được toàn bộ hệ thống pháp luật, do đó nhân dân trực tiếp hoặc thông qua người đại diện để đặt ra những nguyên tắc pháp luật, và những nguyên tắc pháp luật này trở thành cơ sở cho các quy phạm sau này Và như thế, nhà nước đã bị kiểm soát bởi các nguyên tắc pháp luật Thường thì nhà nước rất dễ dàng để sửa đổi một quy phạm pháp luật thông thường, nhưng đối với các nguyên tắc pháp luật thì lại khác Việc thay đổi hoặc

đưa ra những nguyên tắc pháp luật mới thường phải được thực hiện thông quan những thủ tục pháp lý rất chặt chẽ mà nhà nước phải tuân thủ Ví dụ, thủ tục sửa

đổi Hiến pháp thường phải được thực hiện thông qua những thủ tục rất ngặt nghèo – thông qua Quốc hội lập hiến hoặc quốc hội hai viện với tỷ lệ phiếu đa

số tuyệt đối, trưng cầu dân ý Những thủ tục ngặt nghèo như là những giới hạn

Trang 13

13

quyền lực nhà nước nhằm chống lại mọi sự lạm dụng quyền lực nhà nước để đảm bảo các quyền dân chủ của cá nhân

1.4 ý nghĩa của nguyên tắc pháp luật

Những đặc điểm của nguyên tắc pháp luật cũng đã thể hiện được ý nghĩa, vai trò của nguyên tắc pháp luật Để tổng hợp lại, có thể liệt kê một số ý nghĩa cơ bản sau của nguyên tắc pháp luật:

- Làm cơ sở cho việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật;

- Hệ thống hóa pháp luật làm tiền để đề thiết lập một hệ thống pháp luật chặt chẽ và thống nhất;

- Định hướng pháp luật hoặc hệ thống pháp luật theo những mục đích của nhà nước hoặc của những nhà làm luật;

- Bổ khuyết cho pháp luật với tính cách như là một loại nguồn pháp luật;

- Là những giới hạn (hạn chế) đối với quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền

2 Một số nguyên tắc pháp luật xuyên suốt lịch sử pháp luật và đặc

điểm của nguyên tắc pháp luật trong từng kiểu pháp luật

2.1 Một số nguyên tắc pháp luật xuyên suốt lịch sử phát triển của pháp luật

Sự ra đời của pháp luật là một hiện tượng xã hội đặc biệt trong sự phát triển của loài người Qua bao thời kỳ lịch sử, nội dung và diện mạo của pháp luật

đã thay đổi rất nhiều Tuy nhiên, có những nguyên tắc pháp luật tồn tại từ xa xưa cho đến ngày nay, có thể gọi là những nguyên tắc pháp luật xuyên suốt lịch sử pháp luật Sự tồn tại của những nguyên tắc pháp luật này xuất phát từ những đặc trưng chung, bản chất cơ bản của pháp luật Những nguyên tắc đó tồn tại và phát triển cho đến ngày nay, mặc dù tính chất, sự thừa nhận phổ biến của các nguyên tắc này có thể khác nhau trong các thời kỳ lịch sử Mặc dù có sự khác nhau, nhưng phải khẳng định rằng chúng đã và sẽ tồn tại

- Pháp luật thể hiện bản chất chính trị

Tính chính trị của pháp luật được hiểu là pháp luật được rút ra từ bản chất chính trị, là sự phản ánh các lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Trong

sự đa dạng, đấu tranh giữa các lợi ích, pháp luật luôn đại diện, phản ánh rõ ràng nhất cho lợi ích của những người cai trị trong xã hội, mà theo chủ nghĩa Mác, đó

được gọi là tính giai cấp của pháp luật Tính chính trị của pháp luật vừa là bản chất của pháp luật vừa là một nguyên tắc pháp luật Đây là một nguyên tắc pháp luật bởi vì nó là cơ sở cho toàn bộ việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật

Nguyên tắc này thường không được quy định trong hệ thống pháp luật, mà

nó được nhà nước thừa nhận một cách gián tiếp thông qua các hoạt động ban hành, thực hiện và áp dụng pháp luật Nhà nước ban hành pháp luật để thừa nhận những lợi ích của giai cấp thống trị, đồng thời bằng những biện pháp pháp lý để

Trang 14

Sự mâu thuẫn và tranh giành quyền lực giữa các tầng lớp, giai cấp khác nhau trong xã hội là một quy luật xã hội, và những mâu thuẫn đó được biểu hiện

ở kiến trúc thượng tầng, đặc biệt là nhà nước và pháp luật Pháp luật có dân chủ hay không, pháp luật có phục vụ xã hội và bảo vệ các quyền cá nhân hay không, pháp luật có công bằng hay không phụ thuộc rất nhiều vào bản chất của các quan hệ xã hội Trong những mối quan hệ mẫu thuẫn đó, Chủ nghĩa Mác cho rằng mối quan hệ giai cấp, mẫu thuẫn và đấu tranh giai cấp là quan hệ cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của nhà nước và pháp luật

Do đó, là một nguyên tắc pháp luật trong nhà nước, song sự biểu hiện của nguyên tắc này lại rất khác nhau, phụ thuộc vào từng kiểu nhà nước trong từng hình thái kinh tế xã hội Trong các nhà nước chiếm hữu nô lệ và phong kiến, tính chính trị của pháp luật được biểu hiện ở chỗ pháp luật công khai trong việc bảo

vệ lợi ích của giai cấp nắm quyền trong xã hội, do đó pháp luật thể hiện sự bất bình đẳng rõ rệt Cùng với các phong trào cách mạng đòi quyền dân chủ và sự phát triển của tri thức nhân loại, nhà nước ngày càng phản ánh tính dân chủ và công bằng hơn Trong nhà nước dân chủ tư sản, pháp luật đã có bước chuyển biến hết sức quan trọng trong việc đảm bảo dân chủ và sự công bằng trong xã hội Tính chính trị của pháp luật tư sản là thể hiện qua sự thỏa hiệp giữa các tầng lớp, giai cấp hết sức phức tạp và mâu thuẫn trong lòng xã hội Nhà nước bằng công cụ pháp luật bảo đảm trật tự pháp luật trong những quan hệ phức tạp và mẫu thuẫn

đó Pháp luật không thể chỉ phản ánh lợi ích của một tầng lớp, giai cấp này, mà pháp luật phải phản ánh được tính đa dang của các lợi ích trong xã hội Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời cùng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa đảm bảo quyền lực thống nhất thuộc về nhân dân

- Pháp luật thể hiện vai trò xã hội

Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật cũng bảo đảm lợi ích chung của toàn xã hội Nhà nước nào cũng quan tâm ở những mức độ khác nhau trong việc đảm bảo những lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng trong việc ban hành hay áp dụng pháp luật Tính xã hội là một nguyên tắc pháp luật hình thành ngay

từ khi pháp luật ra đời Nguyên tắc pháp luật này thể hiện bản chất của pháp luật Pháp luật đáp ứng những nhu cầu của xã hội với tính cách là các chuẩn mực cho

Trang 15

15

các hành vi trong xã hội, do đó pháp luật luôn phản ánh những lợi ích của xã hội Pháp luật ngày càng thể hiện vai trò xã hội nhiều hơn, tức là phản ánh lợi ích, nhu cầu của toàn xã hội nhiều hơn xuất phát từ bản chất của nhà nước và xã hội

- Nguyên tắc công bằng của pháp luật

Ngay từ khi pháp luật mới ra đời, người ta đã coi pháp luật là một đại lượng phân xử công bằng giữa con người với nhau Từ xa xưa, người ta đã nhờ

đến sự phán xét của pháp luật để giải quyết các tranh chấp, mẫu thuẫn trong xã hội Quan tòa, người sử dụng và áp dụng pháp luật để phán xét về các tranh chấp hoặc mâu thuẫn, được coi là biểu tượng của sự công bằng Vì lẽ đó, vai trò của các tòa án đã được khẳng định từ rất lâu trong lịch sử Để bảo đảm tính công bằng trong việc áp dụng pháp luật, người ta thường quan tâm đến sự công minh

và độc lập của thẩm phán trong xét xử

Pháp luật là khuôn mẫu của các hành vi, cách ứng xử trong xã hội Đã là khuôn mẫu, cách ứng xử phổ biến cho xã hội, thì pháp luật cần phải đảm bảo tính công bằng trong việc thực hiện và áp dụng pháp luật Ngay từ thời kỳ cổ đại, pháp luật đã được coi là một đại lượng công bằng Theo Aristot, “công lý chính là các quy phạm, pháp luật hành động một cách công bằng – tức là hành động theo pháp luật”5 Tuy vậy, Aristot cũng cho rằng pháp luật phản ánh bản chất nhà nước, do đó phản ánh những lợi ích khác nhau trong xã hội, ví như mối quan hệ giữa người giàu và người nghèo Trong hầu hết sự phân loại các thể chế nhà nước lúc bấy giờ, khi bàn về nhà nước cộng hòa dân chủ, các học giả cổ đại Phương tây đều cho rằng pháp luật phải phản ánh được sự công bằng, lợi ích của công dân và xã hội Trong trường hợp ngược lại, chế độ đó sẽ là độc tài Aristot cũng nói rằng chế độ dân chủ sẽ chuyển hóa thành chế độ độc tài nếu ý chí được điều tiết bằng pháp luật bị thay thế bởi ý chí cá nhân tùy tiện Các tư tưởng chính trị – pháp lý cổ đại Trung Hoa cũng được biết đến với tư pháp gia với các đại diện như Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi Tử Các nhà tư tưởng pháp gia cho rằng pháp luật là công cụ cai trị xã hội tốt nhất, và để làm được điều đó, pháp luật phải đảm bảo sự công bằng, thưởng phạt nghiêm minh Mặc dù còn có những hạn chế, song nhưng tư tưởng và một số thực tế chính trị – pháp lý đã cho thấy bình

đẳng là một nguyên tắc nguyên thủy từ thời kỳ cổ đại, cho dù nguyên tắc này chủ yếu thể hiện về mặt tư tưởng Tuy vậy, những tư tưởng đó đã đặt tiền đề hết sức quan trọng cho việc phát triển tư tưởng công bằng, dân chủ của pháp luật trong các thể chế sau này, đặc biệt là ở các thể chế dân chủ tư sản và xã hội chủ nghĩa

2.2 Đặc điểm của nguyên tắc pháp luật trong mỗi kiểu pháp luật

- Các nguyên tắc của pháp luật chủ nô:

Các nguyên tắc của pháp luật chủ nô có cơ sở từ chế độ chiếm hữu nô lệ, thừa nhận sự cai trị tuyệt đối của chủ nô đối với nô lệ Pháp luật chỉ coi chủ nô là công

5 Viện khoa học chính trị, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, “Tập bài giảng Chính trị học” (Hệ cao cấp lý luận chính trị), NXB Lý luận chính trị, Hà nội, 2004

Trang 16

16

dân có đầy đủ quyền hành, còn nô lệ chỉ là một loại tài sản của chủ nô Nhiều quy

định pháp luật ghi nhận rõ tình trạng bất bình đẳng giữa chủ nô và nô lệ Pháp luật

có những quy định rất nghiêm khắc để bảo vệ quyền tư hữu của chủ nô Tuy nhiên, nhiều nguyên tắc pháp luật không được ghi thành văn bản mà chủ yếu được nhà nước thừa nhận thông qua các tập quán bất thành văn Các nguyên tắc pháp luật thời

kỳ này còn lạc hậu phù hợp với chế độ kinh tế- xã hội lúc bấy giờ

- Các nguyên tắc của pháp luật phong kiến

Nhà nước phong kiến, về bản chất, vẫn là nhà nước chuyên chế, nên các nguyên tắc pháp luật trong kiểu nhà nước này vẫn thể hiện tính chuyên chế, bất bình đẳng và lạc hậu Pháp luật vẫn bảo vệ đặc quyền của giai cấp phong kiến, ghi nhận những hình phạt rất tàn bạo đối với những hành vi xâm phạm trật tự xã hội

- Các nguyên tắc của pháp luật tư sản

Có thể nói, pháp luật tư sản ra đời là một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của pháp luật So sánh với các kiểu pháp luật ở giai đoạn trước, pháp luật tư sản đã có rất nhiều những nguyên tắc, đặt nền móng cho sự phát triển của pháp luật cho tới tận ngày nay Hệ thống pháp luật tư sản được thiết lập dựa trên những

hệ thống các nguyên tắc pháp luật hết sức chặt chẽ Có những nguyên tắc pháp luật chung bao trùm toàn bộ hệ thống pháp luật, có những nguyên tắc pháp luật trong từng ngành luật, từng chế định pháp luật hoặc từng bộ luật Chẳng hạn, các nguyên tắc dân chủ, công bằng, bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc công dân

được làm tất cả những gì mà pháp không cấm, nhà nước chỉ được làm những gì

mà pháp luật cho phép

- Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa

Pháp luật xã hội chủ nghĩa là một kiểu pháp luật mới do vậy các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa ngoài việc kế thừa và phát huy những nguyên tắc pháp luật tốt đẹp, phù hợp của các thời kỳ trước còn có những sự phát triển rất mạnh vì lợi ích của nhân dân Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm cơ bản như: Bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; thể hiện tính nhân đạo, vì con người; thực hiện việc giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, sự bất công và những lệ thuộc khác; dân chủ rộng rãi đối với nhân dân; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Khái niệm và đặc điểm của nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa

TS Nguyễn Minh Đoan

1 Khái niệm nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa

Pháp luật của các nhà nước đều được thiết lập dựa trên những nguyên tắc nhất định, đó là những tư tưởng chỉ đạo có tính chất xuất phát điểm, thể hiện sự

Trang 17

17

toàn diện và có ý nghĩa bao quát, quyết định sự đúng đắn về nội dung, chất lượng

và hiệu quả của pháp luật, của quá trình xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật Các nguyên tắc pháp luật là nền tảng của hệ thống pháp luật luôn thấm nhuần xuyên suốt toàn bộ hệ thống pháp luật, nói cách khác, mỗi hệ thống pháp luật

đều được thiết lập dựa trên hệ các nguyên tắc pháp luật nhất định, do đó, hệ các nguyên tắc pháp luật như giá đỡ cho toàn bộ hệ thống pháp luật Ngoài ra chúng còn có tác dụng như chất kết dính tạo ra sự liên kết và thống nhất giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật

Các nguyên tắc pháp luật luôn giữ vai trò chỉ đạo, định hướng cho toàn bộ cơ chế điều chỉnh pháp luật, chúng có ảnh hưởng rất lớn tới ý thức pháp luật, pháp chế, trật tự pháp luật và văn hoá pháp lý trong xã hội Ngoài ra chúng còn

có ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của pháp luật và như vậy xét đến cùng thì các nguyên tắc pháp luật có ảnh hưởng tới địa vị, lợi ích của lực lượng cầm quyền nói riêng, sự tồn tại và phát triển của cả xã hội nói chung Do vậy, không chỉ là cơ sở cho việc ban hành pháp luật, các nguyên tắc pháp luật còn chỉ đạo cả việc thực hiện và áp dụng các quy phạm pháp luật Các nguyên tắc pháp luật là một bộ phận cấu thành quan trọng của pháp luật, chúng có tính ổn định, bền vững, ít thay đổi hơn so với các quy phạm pháp luật Bởi chúng gắn liền với bản chất của pháp luật, phản ánh những mối quan hệ giai tầng, những điều kiện kinh

tế, chính trị, xã hội… cơ bản của xã hội, những quy luật quan trọng nhất của hình thái kinh tế- xã hội tương ứng Chính sự ổn định của các nguyên tắc pháp luật sẽ tạo cơ sở cho sự ổn định của cả hệ thống pháp luật ở một góc độ khác, nguyên tắc pháp luật còn được coi như một loại nguồn của pháp luật, đặc biệt là khi thực tiễn áp dụng pháp luật thiếu hụt các quy phạm pháp luật cụ thể dẫn đến phải áp dụng pháp luật theo nguyên tắc tương tự pháp luật Trong trường hợp này nguyên tắc pháp luật đã thay thế cho các quy phạm pháp luật cụ thể để giải quyết những

vụ việc thiếu hụt pháp luật, mà những "lỗ hổng" trong pháp luật thì hầu như lúc nào cũng có, chúng ta chỉ có thể làm giảm bớt chứ không thể loại bỏ hoàn toàn chúng được

Các nguyên tắc pháp luật vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Chúng do nhà nước (con người) đặt ra và có vai trò rất quan trọng trong việc

định hướng xây dựng và phát triển của toàn bộ hệ thống pháp luật Các nhà nước luôn quan tâm tới việc đặt ra hoặc thừa nhận những nguyên tắc pháp luật nhất định cho phù hợp với mỗi thời kỳ phát triển và ở những mức độ khác nhau, những nguyên tắc pháp luật luôn phản ánh lợi ích và thể hiện ý chí nhà nước của lực lượng cầm quyền trong xã hội đó Tính khách quan của nguyên tắc pháp luật thể hiện ở chỗ chúng luôn phản ánh những quy luật chung của đời sống xã hội và nội dung của chúng do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội quyết định Nguyên tắc pháp luật thuộc thượng tầng kiến trúc pháp lý, nên các điều kiện về kinh tế, xã hội quyết định sự hình thành và phát triển của các nguyên tắc pháp luật Mỗi chế

độ kinh tế- xã hội sẽ xác lập cho mình một hệ các nguyên tắc pháp luật nhất

Trang 18

tế, chính trị, xã hội, tư tưởng…của xã hội hiện tại

Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống những tư tưởng cơ bản có liên quan chặt chẽ với nhau chỉ đạo nội dung, quá trình xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật xã hội chủ nghĩa vì lợi ích của nhân dân lao động

Kế thừa và phát triển những nguyên tắc pháp luật của các thời đại trước các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng mang tính khoa học nhất, chúng phản ánh những quy luật khách quan của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và những điều kiện khác của đất nước cần

được điều chỉnh bằng pháp luật ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định Những nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa thường được thể hiện thông qua nội dung đường lối chính sách của Đảng Cộng sản, trong nội dung, tinh thần các chính sách pháp luật, trong các học thuyết chính trị- pháp lý, các văn bản pháp luật, các quy định pháp luật mà nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành, trong đó tập trung nhất là hiến pháp và các văn bản luật quan trọng Những nguyên tắc pháp luật được quy định trong hiến pháp (những nguyên tắc hiến định) được xem là cơ sở để xây dựng và hình thành các nguyên tắc pháp luật trong các văn bản pháp luật khác

Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình thành và phát triển trên cơ sở của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh- "là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại"(1) Sự hình thành và phát triển của các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sự kế thừa, phát triển những nguyên tắc của pháp luật nói chung, những thành tựu, những nguyên tắc pháp luật tiến bộ mà loài người đã đạt được trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật ở các thời đại trước, đặc biệt là những nguyên tắc pháp lý tiến bộ của pháp luật tư bản chủ nghĩa Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ

IX đã nhấn mạnh: "Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ–"(1)Trong lĩnh vực pháp luật chúng

ta đã tiếp thu, kế thừa và phát triển các nguyên tắc của pháp luật tư sản như

(1) Đảng Cộng sản Việt nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H 2001, tr.83

(1) Đảng Cộng sản Việt nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H 2001, tr.21

Trang 19

19

nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bình đẳng của công dân trước pháp luật

Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn định hướng và được vận dụng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật ở tất cả các giai đoạn của quá trình điều chỉnh pháp luật từ hoạt động xây dựng pháp luật cho đến hoạt động thực hiện và

áp dụng pháp luật, kể cả hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý vì lợi ích của nhân dân lao động Chính nhờ sự chỉ đạo của các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa mà các quy định pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn có sự gắn kết chặt chẽ và

sự thống nhất nội tại rất cao, đồng thời thể hiện sâu sắc bản chất dân chủ, nhân

đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa Chúng làm cho các quy phạm trong một chế

định pháp luật thống nhất, các chế định pháp luật trong một ngành luật thống nhất, các ngành luật trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa thống nhất Mở rộng hơn các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng làm cho pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa nói chung có sự thống nhất căn bản với nhau Mặt khác, các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa cần được áp dụng linh hoạt trong mỗi lĩnh vực, mỗi thời kỳ sao cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mỗi nước khác nhau Trong quá trình thực hiện chúng thì không nên quá máy móc, cứng nhắc, tùy theo yêu cầu của vấn đề cụ thể đặt ra mà chú trọng đến nguyên tắc này hay nguyên tắc khác một cách hợp lý Chẳng hạn, đối với ngành luật này nguyên tắc này là quan trọng, song đối với ngành luật khác thì nguyên tắc khác lại quan trọng hơn hay ở giai đoạn này phải chú trọng nguyên tắc này nhiều hơn, ở giai đoạn khác lại nhấn mạnh nguyên tắc khác Trong quá trình phát triển và hoàn thiện phụ thuộc vào tình hình thực tế của mỗi nước mà nội dung các nguyên tắc của pháp luật sẽ có những thay đổi nhất định và cũng có thể xuất hiện thêm những nguyên tắc pháp luật mới

Việc xác định và thực hiện các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa phù hợp sẽ làm cho hệ thống pháp luật có hiệu quả cao, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt được nhiều thành tích, quyền, lợi ích của nhân dân được mở rộng và nâng cao Ngược lại, nếu việc xác định hoặc thực hiện các nguyên tắc pháp luật không chính xác, không tốt sẽ có ảnh hưởng xấu đến các hoạt động xây dựng, thực hiện pháp luật và xét đến cùng sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển kinh tế, chính trị- văn hoá, xã hội của đất nước và đời sống của nhân dân Chẳng hạn, nội dung của một số nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp được xây dựng và áp dụng một cách nóng vội, cứng nhắc, không phù hợp với thực tế đã làm cho nhiều quy

định pháp luật cao hơn so với tình hình, điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước, khó đi vào cuộc sống dẫn đến hiệu lực và hiệu quả pháp luật không cao Có thể nói ở thời kỳ này chúng ta đã “mắc sai lầm chủ quan, nóng vội, không tôn trọng, thậm chí làm trái quy luật khách quan, đồng thời lại bảo thủ, trì trệ, nên đã duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp–khiến cho nền kinh tế lâm vào

Trang 20

đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ Trong những lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ"(2) Vì vậy, những nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần được vận dụng một cách mềm dẻo, vì lợi ích thiết thực của đất nước, của những người dân lao động Việt Nam Chẳng hạn, trong điều kiện hiện nay chúng ta không thể

áp dụng một cách cứng nhắc là xác lập và củng cố chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân kế hoạch hoá tập trung mà phải "xuất phát

từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ"1), với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể,

sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng

Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế đã có những thay đổi cho phù hợp với tình hình mới nhằm chỉ

đạo quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam phát triển theo những phương hướng cơ bản là: Thừa nhận sự tồn tại và phát triển của nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ động hội nhập quốc tế; mở rộng hơn các thiết chế dân chủ, những hình thức dân chủ; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, trong đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; dân chủ hoá hoạt động của bộ máy nhà nước; nâng cao quyền tự chủ của

địa phương, của cấp dưới theo hướng phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn; ghi nhận ngày càng nhiều các quyền tự do dân chủ cho nhân dân; mở rộng phạm vi

điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội; công bằng, nhân đạo, vì con người; bảo vệ quyền công dân bằng con đường tư pháp; nâng cao an toàn pháp lý cho các tổ chức và các cá nhân trong và ngoài nước; đẩy mạnh pháp điển hoá pháp luật, hoàn thiện các ngành luật; mở rộng tính công khai, minh bạch của

(1) Trường Chinh, Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại, Nxb Sự thật, H 1987, tr 13-14

(2) Đảng Cộng sản Việt nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H 2001, tr.22

1) Đảng Cộng sản Việt nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H 1987, tr.56

Trang 21

21

pháp luật; mở cửa và hội nhập, hài hoà hoá pháp luật, từng bước thu hẹp và tiến tới xoá bỏ sự khác biệt về một số chính sách và quy định pháp luật của Việt Nam với pháp luật của các nước khác và với pháp luật quốc tế

Việc đổi mới, hoàn thiện các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay phải được thực hiện một cách sáng tạo, nhưng phải bảo đảm những yêu cầu cơ bản: thứ nhất, phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trên cơ sở giải phóng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của đất nước làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,

đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân; thứ hai, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự phát triển của đất nước trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá- xã hội

2 Đặc điểm của các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa

Xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội: "Do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới"(1) Do vậy, các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa

có những đặc điểm cơ bản sau:

2.1 Luôn đề cao chủ quyền nhân dân

Sự nghiệp cách mạng ở các nước xã hội chủ nghĩa là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Trong chủ nghĩa xã hội nhân dân là chủ thể của quyền lực do vậy, mọi công việc lớn, có ý nghĩa quan trọng phải do nhân dân quyết

định; các thiết chế chính trị trong xã hội do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp lập

ra và phải chịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân; các tổ chức này đều được thành lập và hoạt động để thực hiện quyền lực của nhân dân vì lợi ích của nhân dân Trong đó nhà nước xã hội chủ nghĩa là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực nhân dân, đồng thời là công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện chủ quyền nhân dân Nhân dân không chỉ tham tổ chức và thực hiện quyền lực mà còn có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của những người, những cơ quan thay mặt nhân dân

để thực hiện quyền lực nhân dân Khi nhà nước thực sự là của nhân dân, do nhân dân thì khi đó nhà nước sẽ vì nhân dân Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:

" bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân–"(1) Hiến pháp

và pháp luật của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều quy định nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước

(1) Đảng Cộng sản Việt nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, H 1991, tr.8-9

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Sự thật, H 1985, tr 299

Trang 22

2.2 Thực hiện việc giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công và những lệ thuộc khác

Mục đích bao trùm của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giải phóng con người khỏi mọi hiện tượng áp bức, bóc lột con người, xoá bỏ mọi sự bất công và phân biệt đối xử, thực hiện công bằng xã hội vì hạnh phúc con người Vì vậy, các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn thể hiện tư tưởng này thông qua việc: Củng cố và bảo vệ nền độc lập dân tộc, từng bước xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xóa bỏ các giai cấp bóc lột và tiến tới xoá bỏ mọi hiện tượng áp bức, bóc lột con người; từng bước xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất; tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của con người, phấn đấu vươn lên làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội

và làm chủ bản thân mình; mang lại cho mỗi người lao động khả năng như nhau trong cống hiến và hưởng thụ bằng chính năng lực, sự lao động và cống hiến của bản thân

Với tinh thần quốc tế vô sản, những người vô sản không chỉ mong muốn giải phóng người lao động trong đất nước mình mà luôn tích cực ủng hộ các phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc, của những người lao động trên phạm vi toàn thế giới Điều này càng thể hiện tính nhân đạo, tiến bộ của pháp luật xã hội chủ nghĩa trong việc góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

2.3 Luôn củng cố khối đại đoàn kết toàn dân vì hoà bình, độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Đoàn kết là truyền thống quý báu và là bài học lớn của cách mạng xã hội chủ nghĩa: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công" Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn ghi nhận và thể hiện tinh thần đại đoàn kết dân tộc, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh; thực hiện chính sách đối ngoại vì hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hoà bình,

độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản luôn là đảm bảo cao nhất cho chế độ xã hội chủ nghĩa bởi mục đích của Đảng là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộc

Trang 23

23

sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Sự nghiệp cách mạng mà nhân dân tiến hành sẽ không thể thắng lợi nếu không có vai trò lãnh đạo của Đảng Vì lẽ đó trong tất cả các hoạt động quan trọng của nhà nước và xã hội pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn ghi nhận, củng cố bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước và xã hội xã hội chủ nghĩa

2.4 Không ngừng phát triển, hoàn thiện vì các mục tiêu dân chủ, nhân

đạo, vì hạnh phúc của con người

Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn không ngừng được hoàn thiện và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa vì các mục tiêu dân chủ, nhân đạo vì hạnh phúc của con người Trong chủ nghĩa xã hội con người là giá trị cao quý nhất, mọi cố gắng của nhà nước và xã hội đều phải nhằm mục đích phục vụ con người, vì lợi ích và hạnh phúc của con người Do vậy, trong hoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật, nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo là bảo vệ tính mạng, danh dự, sức khoẻ

và nhân phẩm cho mỗi người Mọi người sống với nhau trong tình thân ái, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ trên tinh thần "mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người" Tạo mọi điều kiện để mỗi người có thể phát huy cao nhất và tốt nhất những khả năng của mình, tự quyết định hạnh phúc của mình Mục đích của pháp luật là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Các biện pháp trách nhiệm pháp lý được quy định không

có mục đích gây đau khổ về thể xác, hành hạ con người hoặc hạ thấp nhân phẩm của họ mà phải vừa đảm bảo sự trừng phạt phù hợp với những hậu quả mà họ đã gây ra cho xã hội, vừa đảm bảo sự giáo dục, cải tạo chủ thể vi phạm pháp luật để

họ có thể trở lại với cuộc sống lương thiện cùng các chủ thể khác trong xã hội

Có sự kết hợp giữa giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế trong các cách thức tác

động pháp luật lên các quan hệ xã hội

3 Phân loại các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa

Pháp luật xã hội chủ nghĩa có rất nhiều các nguyên tắc khác nhau nên cũng có rất nhiều cách để phân chia chúng thành các nhóm khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận của chủ thể phân chia Và đương nhiên sự phân chia và xác định tên gọi các nguyên tắc pháp luật theo cách nào thì cũng chỉ mang tính chất tương đối

mà thôi, vì: thứ nhất, giữa các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau, nội dung của chúng luôn đan xen nhau nhiều khi khó

có thể tách bạch một cách rạch ròi; thứ hai, các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn có sự vận động, phát triển không ngừng cho phù hợp với sự vận động, phát triển của xã hội và mức độ vận dụng các nguyên pháp luật ở mỗi nước, mỗi giai đoạn cũng khác nhau Chúng ta có thể phân loại các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa theo một số cách sau:

a) Theo tính chất và mục đích của các nguyên tắc có thể chia các nguyên tắc pháp luật thành: Các nguyên tắc chung mang tính chất chính trị- xã hội và các

Trang 24

24

nguyên tắc pháp lý đặc thù

+ Các nguyên tắc chung của pháp luật: là những nguyên tắc luôn phản ánh một cách trực tiếp chế độ xã hội chủ nghĩa, chúng được đặt ra nhằm xác định rõ những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa là thiết lập, củng cố và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, nhằm đưa lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân lao động Chẳng hạn, các nguyên tắc như bảo đảm sự lãnh

đạo của Đảng Cộng sản trong các hoạt động nhà nước, nguyên tắc xác lập và bảo

vệ chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa Các nguyên tắc chung của pháp luật luôn chỉ

đạo, quán xuyến toàn bộ hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa

+ Các nguyên tắc pháp lý đặc thù của pháp luật: là những nguyên tắc thể hiện rõ bản chất và những đặc trưng của pháp luật, chúng được đặt ra nhằm giải

đáp vấn đề có tính đặc thù là hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa sẽ củng cố và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa như thế nào Chẳng hạn, như nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, tính phù hợp, tính khả thi của hệ thống pháp luật Về cấu trúc, các nguyên tắc pháp lý đặc thù được phân chia theo phạm vi hiệu lực của pháp luật thành các nguyên tắc liên ngành luật (Chẳng hạn, nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; khi xét xử Thẩm phán

và Hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật…) và nguyên tắc của ngành luật (Chẳng hạn, nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng; nguyên tắc cá biệt hoá trách nhiệm hình sự…)

b) Nếu phân chia theo phạm vi chỉ đạo của các nguyên tắc pháp luật đối với hệ thống pháp luật sẽ có: Các nguyên tắc chung; các nguyên tắc liên ngành; các nguyên tắc của ngành luật, thậm chí có nguyên tắc của từng văn bản pháp luật

+ Các nguyên tắc pháp luật chung: là những nguyên tắc liên quan đến toàn

bộ hệ thống pháp luật, các hoạt động pháp luật ở bất kỳ một lĩnh vực nào Chẳng hạn, nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc công bằng xã hội, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa luôn liên quan đến tất cả các ngành luật trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa

+ Các nguyên tắc pháp luật liên ngành: là những nguyên tắc liên quan đến hai hoặc một số ngành luật Chẳng hạn, nguyên tắc việc xét xử ở toà án do Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thực hiện; nguyên tắc khi xét xử các thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật… là nguyên tắc của cả ngành luật tố tụng hình sự lẫn ngành luật tố tụng dân sự và pháp luật về tổ chức và hoạt

động của toà án…

+ Các nguyên tắc pháp luật của ngành luật: là những nguyên tắc chỉ liên quan tới một ngành luật Ngoài những nguyên tắc chung, mỗi một ngành luật trong hệ thống pháp luật còn được chỉ đạo bởi một số những nguyên tắc đặc thù của ngành luật đó Chẳng hạn, nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng; nguyên tắc tự nguyện kết hôn trên cơ sở tình yêu chỉ liên quan đến luật hôn nhân và gia

Trang 25

+ Nhóm nguyên tắc kinh tế của pháp luật: là những nguyên tắc liên quan

đến việc xác lập, củng cố và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhằm mục

đích làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất

và tinh thần của nhân dân Chẳng hạn, nguyên tắc xác lập và bảo vệ chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy quá trình xã hội hoá tư liệu sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân lao động; nguyên tắc "làm theo năng lực, hưởng theo lao động"…

+ Nhóm nguyên tắc chính trị của pháp luật: là những nguyên tắc liên quan

đến việc xác lập, củng cố chính quyền nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước và quản lý xã hội, tự quyết định lấy vận mệnh và xu hướng phát triển của đất nước mình Chẳng hạn, nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; nguyên tắc bảo đảm sự ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội…

+ Nhóm nguyên tắc đạo đức của pháp luật: là những nguyên tắc xác định

ý thức, trách nhiệm, bổn phận của mỗi con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa trước nhà nước, xã hội và nhân loại nói chung, trước gia đình và bản thân nói riêng Chẳng hạn, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ của nhà nước, xã hội và công dân; củng cố tinh thần quốc tế vô sản, tình yêu tổ quốc, lòng tự hào dân tộc, bảo vệ gia đình…

+ Nhóm nguyên tắc xã hội của pháp luật: là những nguyên tắc nhằm đề cao con người lao động, đảm bảo cho mỗi người có điều kiện phát triển toàn diện

về mọi mặt, thực hiện sự công bằng xã hội Chẳng hạn, nguyên tắc bảo vệ quyền, tự do, lợi ích chính đáng của người lao động, bảo đảm an toàn cho mỗi người, tôn trọng quyền con người, những giá trị nhân phẩm, đạo đức của mỗi người; tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân; nguyên tắc công bằng xã hội…

+ Nhóm nguyên tắc tư tưởng của pháp luật: là những nguyên tắc nhằm bảo

vệ những giá trị văn hoá, tinh thần trong xã hội, tạo điều kiện để mỗi người dân

có thể tiếp cận, tiếp thu và hưởng thụ những giá trị văn hoá, tinh thần của dân tộc

và nhân loại theo quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học Chẳng hạn, nguyên tắc tôn trọng tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng; xây dựng thế giới quan khoa học cộng sản chủ nghĩa trong pháp luật và trong các hoạt động pháp luật, chống mọi quan điểm cực đoan, giáo điều, xa rời thực tiễn và những quan điểm chống chủ nghĩa xã hội…

Trang 26

26

+ Nhóm nguyên tắc pháp lý của pháp luật: là những nguyên tắc thể hiện bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa, chúng bảo đảm cho quá trình điều chỉnh pháp luật được tiến hành thuận lợi, chính xác, có hiệu quả cao nhằm đạt được những lý tưởng của chủ nghĩa xã hội trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Chẳng hạn, nguyên tắc bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, phù hợp của hệ thống pháp luật và tính khả thi của các quy định pháp luật; bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa…

Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế

PGS.TS.Thái Vĩnh ThắngPGS.TS.Thái Vĩnh Thắng

1.KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI CÁC NGUYấN TẮC PHÁP LUẬT

Thuật ngữ nguyờn tắc cú nguồn gốc từ thời La Mó cổ đại là “ Principium”

cú nghĩa là cơ sở, cốt lừi, nền tảng Trong khoa học phỏp lý hiện đại, nguyờn tắc phỏp luật được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo, những định hướng cơ bản trong việc xõy dựng và hoàn thiện hệ thống phỏp luật Cú thể vớ nguyờn tắc phỏp luật

đối với việc xõy dựng và hoàn thiện hệ thống phỏp luật như phương của sợi dõy

dọi mà người thợ xõy sử dụng để kiểm tra phương thẳng đứng của bức tường Việc xỏc định đỳng đắn cỏc nguyờn tắc phỏp luật của một quốc gia giỳp cho quốc gia đú đỏnh giỏ chớnh xỏc thực trạng của hệ thống phỏp luật của quốc gia mỡnh, nhận rừ được những ưu điểm, hạn chế của hệ thống phỏp luật thực tại và xỏc định được những phương hướng đỳng đắn để nhanh chúng khắc phục những hạn chế, hoàn thiện hệ thống phỏp luật

Cỏc nguyờn tắc của phỏp luật thụng thường được xem xột trờn tất cả cỏc phương diện chớnh trị, kinh tế, văn húa - xó hội, đạo đức, phong tục tập quỏn, quan hệ đối nội và đối ngoại

Cú thể phõn chia cỏc nguyờn tắc phỏp luật thành ba loại : cỏc nguyờn tắc chung - nguyờn tắc của toàn bộ hệ thống phỏp luật , cỏc nguyờn tắc liờn ngành - nguyờn tắc ỏp dụng cho một số ngành luật và cỏc nguyờn tắc riờng - nguyờn tắc

đặc thự của từng ngành luật

1.1 Cỏc nguyờn tắc chung bao gồm:

- Phỏp luật phải thể hiện ý chớ của tất cả cỏc tầng lớp nhõn dõn lao động;

- Mọi cụng dõn bỡnh đẳng trước phỏp luật;

- Tụn trọng và bảo vệ cỏc quyền cụng dõn và quyền con người;

- Đảm bảo tớnh tối cao của Hiến phỏp;

- Đảm bảo vai trũ lónh đạo của Đảng cộng sản;

- Đảm bảo sự bỡnh đẳng và đoàn kết giữa cỏc dõn tộc;

- Đảm bảo tớnh cụng bằng xó hội của phỏp luật;

Trang 27

27

- Pháp luật phải được xây dựng và phát triển một cách toàn diện, đồng bộ, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá;

- Đảm bảo tính ổn định tương đối của hệ thống pháp luật;

- Đảm bảo tính minh bạch của pháp luật;

1.2 Các nguyên tắc liên ngành bao gồm các nguyên tắc như:

- Khi xét xử các thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật - nguyên tắc liên ngành hiến pháp, tố tụng hình sự , tố tụng dân sự và tố tụng hành chính

-Nguyên tắc bình đẳng và tự do thỏa thuận ý chí khi tham gia quan hệ pháp luật - nguyên tắc liên ngành của các ngành luật thuộc lĩnh vực tư pháp như luật dân sự, luật thương mại, luật lao động, luật hôn nhân và gia đình

- Nguyên tắc các cơ quan nhà nước cấp dưới phải thi hành các mệnh lệnh của các cơ quan nhà nước cấp trên - nguyên tắc liên ngành của các ngành luật thuộc lĩnh vực công pháp…

- Nguyên tắc không ai có thể bị bắt, nếu không có quyết định của toà án,

quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát - nguyên tắc liên ngành Luật hiến pháp và Luật tố tụng hình sự

- Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có một bản án kết tội của

cơ quan toà án đã có hiệu lực pháp luật - nguyên tắc liên ngành Luật hiến pháp

1.3 Các nguyên tắc riêng của từng ngành luật:

ngành luật Dưới đây là các nguyên tắc đặc thù của một số ngành luật

1.3.1 Luật hôn nhân và gia đình có các nguyên tắc đặc thù sau đây:

- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ;

- Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình;

- Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, giữa con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú

- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp

đở các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ

1.3.2 Luật lao động có các nguyên tắc đặc thù sau đây:

- Nguyên tắc bảo hiểm xã hội;

Trang 28

28

- Nguyên tắc bảo vệ người lao động;

- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động;

- Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động;

- Nguyên tắc giao kết thoả ước lao động tập thể;

- Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động

1.3.3 Luật đất đai có các nguyên tắc đặc thù sau đây:

- Nguyên tắc đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà nước;

- Nguyên tắc nhà nước thống nhất quản lý đất đai;

- Nguyên tắc sử dụng đất đai hợp lý và tiết kiệm;

- Nguyên tắc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn

định lâu dài vào mục đích nông nghiệp;

- Nguyên tắc nhà nước quan tâm sâu sắc đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

1.3.4 Luật hình sự có các nguyên tắc đặc thù sau đây:

- Nguyên tắc cộng toàn bộ hình phạt (nguyên tắc tổng hợp các hình phạt tù

có thời hạn cho phép cộng toàn bộ các hình phạt để có hình phạt chung Nguyên tắc này được áp dụng khi tổng các hình phạt không vượt quá 20 năm tù);

- Nguyên tắc truy tội khách quan;

- Nguyên tắc không áp dụng tương tự

135 Luật dân sự có các nguyên tắc đặc thù sau đây:

- Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng,quyền, lợi ích hợp pháp của ngưòi khác;

- Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc;

- Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền nhân thân;

- Nguyên tắc tôn trọng bảo vệ quyền sở hữu, các quyền khác đối với tài sản

- Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận;

- Nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc thiện chí, trung thực;

- Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự;

- Nguyên tắc hoà giải

Ngoài những nguyên tắc của các ngành luật đã nói trên các ngành luật khác đều có các nguyên tắc đặc thù của mình

2 CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Trang 29

Trong nhà nước chiếm hữu nô lệ và phong kiến do quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về hoàng đế và quyền lực của hoàng đế là vô hạn nên nhà vua

đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật, nguyên tắc mọi công dân bình đẳng

trước pháp luật chưa được thiết lập Chỉ sau khi có các cuộc cách mạng dân chủ

tư sản, nhà nước tư sản ra đời nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật mới được thiết lập.Ở Việt Nam trong thời kỳ phong kiến và thời kỳ thuộc

địa nửa phong kiến tính chất pháp luật đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị

làm cho đa số dân cư trong xã hội bất bình với pháp luật, chống đối hoặc khinh

bỉ pháp luật Sau khi cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân ra đời, nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật

được thiết lập Từ đó đến nay nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp

luật trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của pháp luật nước ta Nguyên tắc này lần đầu tiên được khẳng định trong Điều 6 Hiến pháp 1946: “ Tất cả mọi công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính tri, kinh tế, văn hoá” Hiến pháp còn khẳng định: “ Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc, tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình” ( Điều 7) Quyền bình đẳng nam

nữ cũng được bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta ghi nhận: “ Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) Các quy định trên đây được khẳng định lại trong các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 ( sửa đổi 2001) Hơn nữa

Trang 30

30

các Hiến pháp về sau quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật các

được quy định một cách cụ thể hơn Điều 23 Hiến pháp 1959 quy định: “ Công

dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam

nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử, trừ những người mất trí và những người bị toà án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử” Hiến pháp 1959 cũng quy định cụ thể hơn về quyền bình đẳng nam nữ: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế , văn hoá, xã hội

và gia đình Cùng làm việc như nhau phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn được hưỏng nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em , bảo đảm phát triển các nhà đở đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ.” (Điều 24) Hiến pháp 1980 đã phát triển thêm một bước trong việc cụ thể hoá hơn nữa quyền bình đẳng mọi của công dân Điều 63 Hiến pháp 1980 quy định: “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh

tế, văn hoá xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ, không ngừng nâng cao vai trò của phụ nữ trong xã hội Nhà nước có chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ Phụ nữ và nam giới có việc làm như nhau thì hưởng lương ngang nhau Phụ nữ có quyền nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương nếu là công nhân, viên chức, hoặc hưởng phụ cấp sinh đẻ nếu là xã viên hợp tác xã Nhà nước và xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, nhà trẻ, lớp mẩu giáo, nhà ăn công cộng và những cơ sở phúc lợi xã hội khác, tạo

điều kiện thuận lợi cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập và nghỉ ngơi” Hiến

pháp 1992 (sửa đổi 2001) một lần nữa khẳng định quyền bình đẳng của mọi công dân, đồng thời cũng đề cao quyền bình đẳng nam nữ Điều 63 Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) cũng đã khẳng định lại các quy định về quyền bình đẳng nam nữ trong Hiến pháp 1980, đồng thời còn bổ sung thêm quy định: “Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm của phụ nữ”

Quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật còn được hiểu trên một bình diện khác là sự bình đẳng của mọi công dân chịu trách nhiệm trước pháp luật Từ công dân bình thường đến nguyên thủ quốc gia nếu vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Việc xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi bất kỳ một cơ quan nhà nước hay một nhà chức trách nào đều ở trong sự kiểm soát của pháp luật Bất kỳ một quan chức nào dù là Thủ tướng hay là nguyên thủ quốc gia, nếu vi phạm pháp luật đều phải được xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật Ở Hoa Kỳ mặc dù Tổng thống có quyền lực rất lớn, vừa đứng đầu nhà nước, vừa đứng đầu Chính phủ, lại có quyền phủ quyết các dự luật đã được hai viện của Quốc hội thông qua, có quyền bổ nhiệm

Trang 31

31

các thẩm phán và các quan chức cao cấp trong bộ máy nhà nước, tuy nhiên nếu

vi phạm pháp luật Tổng thống có thể bị xét xử theo thủ tục đàn hạch (impeachment), theo đó Hạ viện sẽ buộc tội và Thượng viện sẽ xét xử Trong lịch sử Hoa Kỳ có ba đương kim Tổng thống đã bị xét xử theo thủ tục đàn hạch

Đó là Tổng thống Andrew Johnson bị xét xử vào năm 1868 và suýt bị mất chức (

chỉ thiếu 1 phiếu để đạt đủ 2/3 số nghị sĩ ở Thượng viện - số phiếu đủ để phế truất Tổng thống ); Tổng thống Richard Nixon bị đàn hạch vào năm 1974 vì vụ Oa-tơ-ghết (Watergate) và phải xin từ chức trước thời hạn; gần đây, năm 1999, Tổng thống Bill Clinton bị đàn hạch vì vụ gọi là bê bối tình dục với cô sinh viên thực tập Monica Lewinsky và được xử trắng án vì không đủ chứng cứ buộc tội Trong một quốc gia, nếu Tổng thống cũng bị buộc tội và bị đưa ra xét xử trước công đường thì rõ ràng không thể có ai có thể ở trên pháp luật, ở ngoài pháp luật

2.3 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền công dân và quyền con người

Pháp luật của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay luôn luôn tôn trọng và bảo vệ các quyền công dân và quyền con người, tuy nhiên do quan niệm giản đơn về quyền con người đã được thể hiện trong các quyền của công dân nên trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 quyền con người chưa được thể hiện Việc ghi nhận các quyền con người bên cạnh các quyền công dân trong Hiến pháp 1992 là một sự tiến bộ lớn trong hoạt động lập pháp ở nước ta So sánh khái niệm quyền công dân và quyền con người, chúng ta thấy hai khái niệm này không đồng nhất với nhau Bất kỳ công dân nào cũng là con người nên bất kỳ công dân nào cũng có quyền con người Tuy nhiên, không phải bất kỳ con người nào cũng là công dân, nên không phải bất kỳ con người nào cũng được hưởng quyền công dân Vì vậy, nếu trong Hiến pháp không xác lập nghĩa vụ của nhà nước bảo vệ các quyền con người thì một số chủ thể pháp luật sẽ không được Hiến pháp bảo vệ Ở nước ta, trong các chủ thể pháp luật là

cá nhân, chúng ta thấy có công dân Việt Nam, công dân nước ngoài và người không có quốc tịch Những người không quốc tịch có thể là người nước ngoài và người Việt Nam Những người Việt Nam ra nước ngoài trong một thời gian dài,

do cắt đứt quan hệ với Việt Nam từ lâu nên không còn mang quốc tịch Việt nam Tuy nhiên do không thông thạo ngôn ngữ quốc gia mà họ nhập cư, nên họ vẫn chưa nhập quốc tịch mới được1 Sống ở nước ngoài trong một thời gian dài trong tình trạng của người có hộ tịch là không quốc tịch, nay những người đó trở về Việt Nam trong tình trạng không quốc tịch Để được nhập quốc tịch Việt Nam những người trên đây phải chờ đợi một thời gian nhất định Trong thời gian chờ

đợi để được nhập quốc tịch, những người không có quốc tịch không được hưởng

các quyền và lợi ích hợp pháp dành cho công dân, nhưng họ được hưởng các

1 Ví dụ, ở Pháp, người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Pháp phải có thái độ chính trị tốt với nhà nước Pháp,

sống ở Pháp từ 5 năm trở lên và phải trải qua một kỳ sát hạch tiếng Pháp để có chứng chỉ về thông thạo tiếng Pháp

Trang 32

32

quyền và lợi ích hợp pháp dành cho con người Quyền con người là các quyền

mà pháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả các thể nhân2 Đó là các quyền tối thiểu mà các cá nhân phải có, những quyền mà các nhà lập pháp không được xâm hại đến3 Quyền con người lần đầu tiên được trang trọng ghi nhận trong Bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776: “ Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm hại

được,trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu

hạnh phúc” Bản Tuyên ngôn nhân quyền và công dân quyền của Pháp năm 1789 cũng khẳng định: “ Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn phải được tự do và bình đẳng về quyền lợi” Quyền con người được luật pháp quốc tế thừa nhận và bảo vệ Ngày 19/12/1966 Đại hội đồng liên hợp quốc đã thông qua hai Công ước quốc tế về quyền con người Công ước thứ nhất là Công

ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị có hiệu lực từ ngày 23/3/1976,

công ước thứ hai là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội có hiệu lực từ ngày 3/1/ 1976 Việt Nam đã gia nhập hai công ước này ngày 24 / 9 /

1982 Về công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cần lưu ý những quy định cơ bản sau đây:

- Mỗi người đều có quyền được sống Quyền này được pháp luật bảo vệ Không ai bị tước đoạt mạng sống một cách vô cớ (Khoản 1 Điều 6)

- Ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xoá bỏ thì chỉ được phép

áp dụng án tử hình đối với những tội ác nghiêm trọng nhất căn cứ vào luật pháp hiện hành ở thời điểm thực hiện tội ác và không được trái với những quy định của Công ước này và Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng Hình phạt tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản án đã có hiệu lực pháp luật do một toà án có thẩm quyền phán quyết ( Khoản 2 Điều 6)

- Bất kỳ người nào bị kết án tử hình phải có quyền xin ân giảm hoặc xin thay đổi mức hình phạt Việc ân xá, ân giảm hoặc chuyển đổi hình phạt tử hình

có thể được áp dụng đối với tất cả mọi trường hợp ( Khoản 4 Điều 6)

- Không được phép áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội dưới

18 tuổi và không được áp dụng đối với phụ nữ đang có thai (Khoản 5 Điều 6)

- Không một người nào có thể bị tra tấn, đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẩn, vô nhân đạo, hoặc nhục hình Đặc biệt không một người nào

có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không được sự

đồng ý tự nguyện của người đó ( Điều 7)

- Không được phép bắt giữ nô lệ bất cứ người nào; chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm ( Khoản 1 Điều 8)

3 Xem Droit civil – Alex Weill, Francois Terré, Edition: Dalloz, 11 Rue Soufflot, Paris 1983, p.19

Trang 33

33

- Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp có lý do

và phải theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định (Khoản 1 Điều 9)

- Bất cứ người nào bị bắt hoặc giam giữ vì một tội phạm hình sự, phải sớm

được đưa ra toà hoặc một cơ quan pháp luật có thẩm quyền để tiến hành tố tụng

và phải được xét xử trong một thời hạn hợp lý hoặc trả tự do (Khoản 3 Điều 9)

- Bất cứ người nào do bị bắt hoặc bị giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước toà án, nhằm mục đích để toà án đó có thể quyết định không chậm trể về tính hợp pháp của việc giam giữ hoặc trả lại tự do nếu việc giam giữ đó là bất hợp pháp (Khoản 4 Điều 9)

- Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam cầm bất hợp pháp đều có quyền yêu cầu được bồi thường (khoản 5 Điều 9)

- Những người bị tước tự do phải được đối xử nhân đạo và với sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của con người ( Khoản 1 Điều 10)

- Trừ những hoàn cảnh đặc biệt, bị can, bị cáo phải được giam giữ riêng , cách ly khỏi những người đã thành án và phải được đối xử theo chế độ riêng phù hợp với quy chế đối với người bị tạm giam; Những bị can chưa đến tuổi thành niên phải được tách khỏi người lớn và phải được xét xử càng nhanh càng tốt ( Khoản 2 Điều 100)

- Chế độ giam thi hành án phải nhằm mục đích chính yếu trong việc đối

xử với tù nhân là cải tạo và đưa họ trở lại với xã hội Những phạm nhân chưa

đến tuổi thành niên phải được tách riêng khỏi người lớn và phải được đối xử phù

hợp với lứa tuổi của họ ( Khoản 3 Điều 10)

- Không ai bị bỏ tù chỉ vì lý do không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng ( Điều 11)

- Bất cứ ai cư trú hợp pháp trong lãnh thổ của một nước đều có quyền tự

do đi lại và lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ đó ( Điều 12)

- Mỗi người đều có quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả đất nước của chính người đó (Khoản 2 Điều 12)

- Không được hạn chế những quyền trên đây (quy định tại điều 12), trừ những hạn chế do luật định do cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền và tự do của người khác và phải phù hợp với với những quyền khác đã được Công ước này công nhận ( Khoản 3 Điều 12)

- Không ai bị tước đoạt một cách độc đoán quyền trở về đất nước của người đó ( Khoản 4 Điều 12)

- Một người nước ngoài cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên của công ước này chỉ có thể bị trục xuất khỏi nước đó theo quyết định phù hợp pháp luật, trừ trường hợp khác do yêu cầu cấp thiết về an ninh quốc gia, người bị trục xuất được phép đệ trình những lý lẽ phản đối việc trục xuất và

Trang 34

34

được yêu cầu xem xét lại trường hợp của mình và được đại diện khi trường hợp

của mình được xem xét lại bởi nhà chức trách có thẩm quyền, hoặc một người hoặc những người do nhà chức trách có thẩm quyền đặc biệt cử ra (Điều 13)

- Tất cả mọi người đều bình đẳng trước toà án và cơ quan tài phán Bất kỳ người nào đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai do một toà

án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội trong vụ án hình sự hoặc xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong tố tụng dân sự Báo chí và công chứng có thể không được phép dự toàn bộ hoặc một phần của phiên xét xử vì lý do đạo đức, trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ hoặc nếu do lợi ích giữ kín đời tư của các bên tham gia quan hệ tố tụng đòi hỏi hoặc trong những hoàn cảnh đặc biệt,xét thấy đúng là việc xét xử công khai có thể làm phương hại đến việc tìm ra công lý Tuy nhiên các phán quyết trong vụ án dân sự hoặc hình sự phải được công bố trừ trường hợp lợi ích của người vị thành niên đòi hỏi cần làm khác hoặc việc xét xử liên quan đến những tranh chấp hôn nhân hoặc về quyền giám hộ trẻ em (Khoản 1 Điều 14)

- Người bị buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật ( Khoản 2 Điều 14)

- Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, theo Khoản 3 Điều 14, mỗi người đều có quyền đòi hỏi một cách hàn toàn bình đẳng những đảm bảo tối thiểu sau đây:

a) Được thông báo không chậm trể và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người

đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình;

b) Có đủ thời gian phù hợp và điều kiện và điều kiện thuận tiện để chuẩn bị bào chữa do chính mình lựa chọn;

c) Được xét xử nếu không có lý do chính đáng để trì hoãn;

d) Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ sự giúp đỡ về

pháp lý do mình chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ về pháp lý thì phải được thông báo về quyền này; trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi, phải bố trí cho người đó một sự giúp đỡ về pháp lý mà người đó không phải trả tiền nếu không có điều kiện trả;

e) Được thẩm vấn hoặc nhờ người thẩm vấn những nhân chứng buộc tội

mình và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên toà và thẩm vấn tại toà với những điều kiện như với người làm chứng buộc tội mình; f) Được giúp đỡ về phiên dịch không phải trả tiền, nếu người đó không hiểu

ngôn ngữ sữ dụng trong phiên toà;

g) Không bị ép buộc phải chứng minh chống lại chính mình hoặc buộc tự thú là mình có tội

Trang 35

35

- Bất cứ người nào bị kết án phạm tội đều có quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật ( Khoản 5 Điều 14)

- Khi một người qua một quyết định chung thẩm bị kết án về một tội hình

sự và sau đó bản án bị huỷ bỏ hoặc nếu người đó được tuyên là là vô tội trên cơ

sở tình tiết mới cho thấy rõ ràng có sự nhầm lẫn tư pháp thì người đã chịu hình phạt trên có quyền yêu cầu được bồi thường, trừ trường hợp việc không kịp thời làm sáng tỏ sự thật chưa biết hoàn toàn hoặc một phần là do bản thân người bị kết án gây nên (Khoản 6 Điều 14)

- Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo Quyền

tự do này bao gồm tự do theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự

do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và giảng đạo (Khoản 1 Điều 18)

- Mọi người có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào (Khoản 1 Điều 18)

- Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm cả quyền tự

do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới , hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng văn bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ (Khoản 2 Điều 19)…

Những quy định trên đây trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 19/12/1966 đã được pháp luật nước ta thể hiện khá đầy đủ trong Hiến pháp 1992 và trong Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự

và Bộ luật tố tụng dân sự cũng như trong các văn bản pháp luật khác

Bên cạnh việc thể chế hoá trong Hiến pháp và các luật các quyền công dân

và quyền con người trong lĩnh vực chính trị và dân sự, các quyền về kinh tế, văn hoá , xã hội cũng được thể chế hoá và từng bước hoàn thiện Đó là các quyền học tập, lao động, nghiên cứu khoa học nghệ thuật, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn

và tài sản khác trong doanh nghiệp, hoặc trong các tổ chức kinh tế khác…

Thực hiện nguyên tắc bảo vệ các quyền công dân và quyền con người nhà nước cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về các quyền cơ bản của công dân và con người trong Hiến pháp cũng như việc cụ thể các quyền

đó nhằm tạo ra một cơ chế để đảm bảo thực hiện Trước hết cần phải khôi phục

lại quyền tự do xuất bản của công dân Việt Nam đã được quy định trong Hiến pháp 1946 Chỉ trên cơ sở có quyền tự do xuất bản thì quyền tự do ngôn luận mới có thể hoàn thiện được Xã hội công dân cũng cần phải có các điều kiện để bình đẳng với nhà nước trong các quan hệ pháp luật Đồng thời gấp rút xây dựng luật trưng cầu dân ý để các vấn đề đặc biệt quan trọng của đất nước nhân

Trang 36

36

dân trực tiếp quyết định Cần đa dạng hoá các hình thức sở hữu đất đai để cho công dân Việt Nam cũng có quyền sở hữu đất đai Trên cơ sở có quyền sở hữu

đất đai thì quyền sở hữu nhà ở của công dân mới có thể hoàn thiện được

Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Hiến pháp được coi là đạo luật

cơ bản của nhà nước, được ban hành với một thủ tục đặc biệt và có hiệu lực pháp

lý cao nhất Ở Việt Nam theo quy định tại điều 146 Hiến pháp 1992 thi Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam là đạo luật cơ bản của nhà nước có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp

Nguyên tắc đảm bảo tính tối cao Hiến pháp là nguyên tắc chung của tất cả các nhà nước pháp quyền trên thế giới4 Trên thế giới có nhiều mô hình cơ quan bảo hiến, tuy nhiên chúng ta có thể sắp xếp chúng theo ba mô hình cơ bản sau đây:

- Toà án tối cao và toà án các cấp có chức năng bảo vệ Hiến pháp – Mô hình Hoa Kỳ ( gồm Hoa Kỳ, Argentina, Mexico, Hi Lạp, Úc, Ấn Độ, Nhật , Thụy Điển, Đan Mạch…) Trong mô hình này một số nước chỉ quy định Toà án tối cao có chức năng bảo vệ Hiến pháp (Gana, Namibia, Papua New Guinea, Srilanka, Estonia )

- Toà án Hiến Pháp (Constitutional Court) hoặc Hội đồng bảo hiến (Constitutional Counsil) là cơ quan chuyên biệt bảo vệ Hiến pháp – Mô hình lục

địa châu Âu (bao gồm các nước: Áo, Italia, Đức, Nga, Pháp, Ukrain, Balan, Thái

Lan, Campuchia ) Tuy nhiên, trong các nước lục địa châu Âu có hai nước là

Bồ Đào Nha và Switzerland là hai nước kết hợp cả hai mô hình là Hoa Kỳ và lục

địa châu Âu

- Cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan bảo hiến (Việt Nam, Trung Quốc,

Cu Ba…)

Việt Nam thuộc vào nhóm số ít các nước không có thiết chế chuyên biệt thực hiện chức năng bảo hiến Việc Quốc hội vừa là cơ quan lập hiến vừa là cơ quan bảo hiến dẫn đến một tình trạng thực tế là từ khi thành lập nước cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho đến nay chưa có luật nào bị bải bỏ vì được coi là

vi hiến Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta thấy đã có những luật không phù hợp với quy định của Hiến pháp nhưng không bị bãi bỏ Ví dụ, Hiến pháp 1946 tại

Điều 12 quy định vấn đề nhà nước bảo hộ quyền tư hữu tài sản cho công dân

Việt Nam nhưng Luật cải cách ruộng đất năm 1953 đã quốc hữu hoá ruộng đất

và tài sản của địa chủ và tư sản Nếu ban hành và áp dụng Luật cải cách ruộng

đất thì trước hết phải sửa đổi Điều 12 của Hiến pháp1946.Tuy nhiên, trên thực tế Điều 12 Hiến pháp 1946 không được sửa đổi nhưng Luật cải cách ruộng đất

1953 đã được ban hành và thực hiện Gần đây, Điều 14 Luật ban hành văn bản

học số 5/2004, tr.69- 76

Trang 37

37

quy phạm pháp luật năm 1996 ( sửa đổi năm 2002) đã quy định : “ Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Chủ tịch nước ban hành Lệnh, Quyết định” Với quy định trên đây, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã biến Chủ tịch nước thành cơ quan cấp dưới của Uỷ ban thưòng vụ Quốc hội Điều này không phù hợp với Hiến pháp 1992 ( Sửa đổi 2001) vì Hiến pháp quy định: “Chủ tịch nước

là nguyên thủ quốc gia là người thay mặt cho nước CHXHCN Việt Nam về mặt

đối nội và đối ngoại” ( Điều 101) “Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo hoạt động của

mình trước Quốc hội” ( Điều 102)

2.5 Nguyên tắc đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản

Nguyên tắc đảm bảo vai trò của Đảng cộng sản là một nguyên tắc đặc thù của pháp luật XHCN nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng Đây là nguyên tắc đặc thù vì hầu hết các nước phi XHCN đều áp dụng nguyên tắc đa nguyên chính trị và đa đảng trong bầu cử Nghị viện - cơ quan đại diện của các tầng lớp dân cư trong xã hội, có chức năng chủ yếu là lập pháp Ở các nước XHCN do có quy định trong Hiến pháp: Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội ( ở Liên Xô cũ quy định trong điều 6 Hiến pháp 1977, ở Việt Nam quy định tại Điều 4 Hiến pháp 1980 và Điều 4 Hiến pháp 1992) nên trung tâm của quyền lực chính trị không phải là Tổng thống như Hoa Kỳ, Pháp, Nga hoặc Thủ tướng chính phủ như nước Đức, Nhật, Italia, Anh quốc, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thái Lan…mà trung tâm của quyền lực chính trị chính là Tổng bí thư Đảng cộng sản - một thiết chế liên quan chặt chẽ đến nhà nước nhưng ở ngoài nhà nước Bản chất của chế độ dân chủ thể hiện bằng các hình thức cộng hoà dân chủ và quân chủ lập hiến chính là ở chỗ người dân được lựa chọn người lãnh đạo - người ở trung tâm của quyền lực chính trị Ở các nước cộng hoà Tổng thống thì nhân dân bầu Tổng thống và Nghị viện, ở các nước cộng hoà Nghị viện thì nhân dân bầu Nghị viện và thông qua bầu Nghị viện lựa chọn Thủ tướng ( Thủ lĩnh của Đảng chiếm

đa số ghế trong nghị viện) Ở các nước cộng hoà lưỡng tính thì nhân dân bầu

Tổng thống và Nghị viện ( thông qua bầu nghị viện lựa chọn Đảng cầm quyền

và Thủ tướng - thủ lĩnh của Đảng cầm quyền - chiếm đa số ghế trong Nghị viện Ở Việt Nam, từ trước đến nay nhân dân đều trực tiếp bầu cử các đại biểu quốc hội - những người có thẩm quyền lập pháp Quốc hội thay mặt nhân dân cả nước bầu ra các chức vụ cao nhất trong bộ máy nhà nước như Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Tuy nhiên, các thiết chế bầu cử trên

đây vẫn chưa hoàn toàn đầy đủ và đồng bộ Điểm đáng lưu ý nhất và đặc thù

nhất ở nước ta hiện nay mà chúng ta cần quan tâm đó chính là bầu cử cơ quan cũng như cá nhân nằm ở trung tâm quyền lực chính trị Đó là bầu cử Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Bộ chính trị và Tổng bí thư Đảng

Trang 38

38

cộng sản Việt Nam Do chúng ta đã thế chế hoá vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản trong Hiến pháp nên các Uỷ viên trung ương Đảng , Uỷ viên bộ chính trị và

đặc biệt là Tổng bí thư dù không giữ cương vị gì trong bộ máy nhà nuớc thì vẫn

là trung tâm của quyền lực chính trị Vì thế, bản chất của chế độ bầu cử hiện nay, mấu chốt của mọi vấn đề liên quan đến chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay

là bầu cử Ban chấp hành trung ương, Bộ chính trị và Tổng bí thư Đảng cộng sản

Vì vậy ở Việt Nam vấn đề bầu cử các cơ quan nói trên không còn chỉ là công việc của Đảng mà phải là công việc của mọi công dân Việt nam Vấn đề Hiến pháp theo pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia không chỉ là vấn đề của Đảng

mà còn là vấn đề của toàn thể nhân dân Thiết nghĩ rằng tiến đến một nền dân chủ thực sự thì mọi công dân Việt Nam không phụ thuộc vào giai cấp, địa vị xã hội và tôn giáo đều có quyền tham gia bầu cử lựa chọn người lãnh đạo cao nhất cho mình Với lý do trên đây, chúng ta phải biến ngày bầu cử Ban chấp hành trung ương Đảng, Bộ chính trị và Tổng bí thư Đảng cộng sản thành ngày bầu cử của toàn dân theo nguyên tắc bầu cử phổ thông, trực tiếp, bỏ phiếu kín

2.6 Nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc

Đây là nguyên tắc quán xuyến toàn bộ hệ thống pháp luật nhà nước ta, bởi nó được coi là hòn đá tảng trong chính sách đối nội của nhà nước ta Nguyên tắc đảm

bảo sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc được xác định tại Điều 5 Hiến pháp 1992 Nguyên tắc này được xây dựng trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc, một trong những yếu tố cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh Ngay từ Hiến pháp

1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước ta trong lời nói đầu đã xác định nguyên tắc thứ nhất trong ba nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp là: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp , tôn giáo Nhờ tinh thần đại đoàn kết dân tộc mà trong thời kỳ phong kiến chúng ta đã đánh thắng những kẻ thù xâm lược hung hãn, mạnh hơn chúng ta gấp nhiều lần như Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh và sau khi có Đảng cộng sản ra đời là giặc Pháp và giặc Mỹ Để thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc, trong cơ cấu Quốc hội của nước ta có Hội đồng dân tộc Hội đồng dân tộc có nhiệm vụ nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề

về dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoặch phát triển kinh tế- xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số Trước khi ban hành các quyết định về chính sách dân tộc, Chính phủ phải tham khảo ý kiến của Hội đồng dân tộc Chủ tịch Hội đồng dân tộc được tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn việc thực hiện chính sách dân tộc Trong cơ cấu của Chính phủ,

có Uỷ ban dân tộc và miền núi là cơ quan ngang bộ chuyên tham mưu cho Chính phủ các quyết sách về đồng bào dân tộc và miền núi Bản chất của chính sách đại

đoàn kết dân tộc ở nước ta không những là đảm bảo cho sự bình đẳng và thống nhất

ý chí giữa các dân tộc mà còn là sự tương trợ giúp đở lẫn nhau giữa các dân tộc

Trang 39

39

Pháp luật của nhà nước thể hiện chính sách ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số để

họ có điều kiện phát triển như các dân tộc miền xuôi như các chính sách ưu tiên trong công tác đào tạo cán bộ, chính sách miễn giảm thuế, chính sách đầu tư vốn xây dựng cơ sở hạ tầng

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật nhà nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới là đảm bảo tính công bằng xã hội của pháp luật Tại

Điều 3 Hiến pháp 1992 đã xác định mục tiêu của nhà nước ta là xây dựng một xã

hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ , văn minh Như vậy mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng như là một trong các tiêu chí cơ bản của xã hội ta Tính công bằng xã hội của pháp luật thể hiện ở việc pháp luật trước hết phải là thước đo cho sự công bằng của xã hội Muốn vậy hoạt động xây dựng pháp luật phải đảm bảo tính khách quan, tránh các hiện tượng vì lợi ích cục bộ của ngành, của địa phương trong quá trình xây dựng pháp luật Để tránh hiện tượng pháp luật thiếu sự công bằng thì cần phải có một quy trình xây dựng pháp luật khoa học và hợp lý, theo đó các dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật phải được thảo luận rộng rãi trong các tầng lớp dân cư trong xã hội Các lĩnh xã hội quan trọng như các quyền và nghĩa vụ của công dân, các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước cần phải được quy định bằng văn bản luật vì đối với các văn bản này quy trình soạn thảo và thảo luận thường kỷ càng và công phu hơn Nhà nước cần thường xuyên tiến hành điều tra xã hội học để tìm hiểu dư luận xã hội về các chính sách pháp luật nhất là các văn bản pháp luật không có hiệu quả hoặc kém hiệu quả Ngoài ra, phải gấp rút xây dựng thiết chế bảo hiến để đảm bảo không có văn bản pháp luật vi hiến nào được phép tồn tại trong thực tiễn

2.8 Pháp luật phải được xây dựng và phát triển một cách toàn diện,

nhập quốc tế và toàn cầu hoá

Nước ta đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, một xã hội có nền pháp luật phát triển thiếu toàn diện và đồng bộ Trong xã hội phong kiến và xã hội thuộc địa nửa phong kiến, đặc biệt là các nước phương đông hệ thống pháp luật chỉ chủ yếu phát triển trên lĩnh vực pháp luật hình sự Vì quan niệm phổ biến trong xã hội phong kiến là người ta đặt ra pháp luật để trừng trị kẻ phạm tội còn các quan hệ dân sự thông thường thì dùng các quy tắc đạo đức, phong tục tập quán để điều chỉnh Trong giai đoạn chúng ta xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và nền hành chính quan liêu bao cấp do kinh tế thị trường không có điều kiện phát triển nên mảng pháp luật về

điều tiết nền kinh tế thị trường cũng không được hình thành Khi đất nước ta

chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hệ thống pháp luật Việt Nam lần đầu tiên có điều kiện đầy đủ nhất để phát triển một cách toàn diện và đồng bộ Bắt

Trang 40

40

đầu từ tháng 12 năm 1986 khi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI

khẳng định đường lối đổi mới, pháp luật Việt Nam đã chuyển hướng từ chỗ chỉ nặng về pháp luật hình sự và nặng về các thiết chế nhà nước sang xu hướng cân

đối giữa hình sự và dân sự, giữa các thiết chế nhà nước và các thiết chế công

dân Nếu tính toàn diện thể hiện pháp luật phát triển đầy đủ các ngành luật và trong các ngành luật có đầy đủ các chế định và quy phạm pháp luật thì tính đồng

bộ thể hiện sự liên kết tương hổ chặt chẽ giữa các ngành luật và các chế định pháp luật Pháp luật phong phú và đa dạng vì chúng điều chỉnh nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nhưng vì sự phong phú và đa dạng đó có thể làm cho nhiều quy phạm của pháp luật có thể chồng chéo hoặc mâu thuẫn với nhau

Vì vậy, trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật giữa các bộ, ngành và các địa phương phải chú ý rà soát, đối chiếu, so sánh với các văn bản pháp luật khác, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn Phải đặc biệt coi trọng hoạt động kiểm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật của Bộ tư pháp, của các bộ, ngành và Văn phòng Chính phủ Bên cạnh tính toàn diện và đồng bộ, còn phải chú ý đến tính phù hợp của pháp luật với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước , xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá Pháp luật là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc xã hội luôn luôn phải phù hợp với hạ tầng cơ sở - điều kiện kinh tế xã hội của đất nước Nếu chúng ta không cân nhắc đến vấn đề này thì dù tư tưởng pháp luật có cao đẹp nhưng không thể thực hiện được trong đời sống thực tiễn Thí dụ, quy định tốc

độ xe chạy trên các quốc lộ phải căn cứ vào điều kiện đường sá được xây dựng

như thế nào, quy định mức nộp thuế thu nhập cao của công dân phải căn cứ vào mức lương thu nhập của cán bộ công nhân, viên chức trên thực tế Các quy định pháp luật về chế độ lương của cán bộ, công nhân, viên chức phải tuỳ thuộc ngân khố quốc gia Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá pháp luật Việt Nam phải hướng đến các chuẩn mực quốc tế, vì muốn phát triển kinh tế đất nước Việt Nam cần phải tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế cũng như các hoạt động mang tính toàn cầu khác Trong bối cảnh đó, luật pháp Việt Nam không thể trái ngược với pháp luật quốc tế và cũng không thể quá xa cách với tinh thần pháp luật chung của nhân loại

2.9 Phải đảm bảo tính ổn định tương đối của hệ thống pháp luật

Các hệ thống pháp luật muốn có có hiệu lực, hiệu quả cao đều phải đảm bảo tính ổn định tương đối của nó Nếu các văn bản pháp luật có hiệu lực cao như Hiến pháp và các luật thay đổi thường xuyên, người dân sẽ thiếu tin tưởng vào pháp luật, từ đó họ sẽ coi thường pháp luật và vi phạm pháp luật sẽ trở thành phổ biến trong xã hội Trên thế giới hiện đại ngày nay người ta thấy có một số văn bản pháp luật tồn tại trong một thời gian khá dài Chẳng hạn Hiến pháp Hoa

Kỳ đã tồn tại trên 200 năm, so với năm 1787 khi Hiến pháp mới ra đời Hiến pháp Hoa Kỳ ngày nay chỉ có thêm 27 tu chính án Một ví dụ nữa là Bộ luật dân

Ngày đăng: 09/04/2013, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Phan Văn Khải (1995), “Mấy ý kiến về xây dựng Nhà n−ớc pháp quyền Việt Nam”, Tham luận tại Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành trung −ơng khoáVII Đảng Cộng sản Việt Nam 21/4/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về xây dựng Nhà n−ớc pháp quyền Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Khải
Năm: 1995
29. Đỗ M−ời (1995), "Th− gửi cán bộ, nhân viên ngành t− pháp nhân dịp 50 năm thành lập ngành", Dân chủ và pháp luật số 12/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th− gửi cán bộ, nhân viên ngành t− pháp nhân dịp 50 năm thành lập ngành
Tác giả: Đỗ M−ời
Năm: 1995
37. Nguyễn Cửu Việt (2002), "Dân chủ trực tiếp và nhà n−ớc pháp quyền", Nghiên cứu lập pháp (2/2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ trực tiếp và nhà n−ớc pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Cửu Việt
Năm: 2002
3. Các Mác - Ph. Angghen (1995), K. Mác- Ph. Angghen toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
4. Các Mác (1973), T− bản, Quyển 1, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội 1973 Khác
5. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Khác
6. Trường- Chinh (1987), Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
7. Lê Duẩn (1976), Tác phẩm chọn lọc, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội 1976 Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chiến l−ợc ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết Hội nghị BCH trung −ơng lần thứ VII Khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung −ơng khoá VIII Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
16. Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về nhà n−ớc và pháp luật, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1997 Khác
17. Đại học quốc gia Hà Nội (2005), Việt Nam và tiến trình gia nhập WTO, Nxb Thế giới mới, Hà Nội Khác
18. Nguyễn Minh Đoan (2002), Hiệu quả pháp luật- những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
19. Hàn phi, Hàn Phi Tử, Nxb Văn học, Hà Nội 2001 (bản dịch của Phan Ngọc) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w