Hai người nam nữkhi chưa bước vào hôn nhân,họlà những người có tài sản riêng,
Trang 1
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM: 2008
Tên công trình:
TỪ CHIA TÀI SẢN CHUNG ĐẾN THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN
Thuộc nhóm chuyên ngành khoa học: XH2b
Dân tộc: Kinh
Lớp: Dân sự 31B Năm thứ: 2/ Số năm đào tạo: 3.5
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIA TÀI SẢN
CHUNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN
hôn nhân
thời kì hôn nhân
HÔN NHÂN THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
QUA CÁC THỜI KÌ
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986
năm 2000
MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Theo Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan
1.3.3 Qui ước về tài sản trong Luật Hôn nhân của Cộng hòa 13
nhân dân Trung Hoa năm 2001
Chương 2 QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN
CHUNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN
Trang 42.3 ĐIỀU KIỆN CHIA 25
Chương 3 VẤN ĐỀ THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỢ HOẶC CHỒNG VÀO TÀI SẢN CHUNG
3.2 THỎA THUẬN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 33
TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN
qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
3.2.2 Hạn chế về mặt xã hội của việc chia tài sản chung 37
3.3 THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG 38
THỜI KÌ HÔN NHÂN
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Hai người nam nữ khi chưa bước vào hôn nhân, họ là những người có tài sản riêng, hoàn toàn tự do trong việc định đoạt tài sản của mình Khi bước vào hôn nhân, điều đó đã khác
Trong thời kì hôn nhân, hai người phải ràng buộc với nhau bởi rất nhiều bổn phận, nghĩa vụ và quyền lợi Lợi ích của họ vì thế đã hòa làm một để trở thành một thứ có tên là lợi ích gia đình Thời trước, khi xác lập, thay đổi, chấm dứt một giao dịch, họ chỉ nhân danh lợi ích gia đình Tài sản chung là thứ cần có để tạo điều kiện cho việc nhân danh lợi ích gia đình khi tham gia các giao dịch Suy cho cùng, tài sản chung hay là tài sản riêng của vợ, chồng cũng phải được khai thác để nhằm bảo đảm cho sự tồn tại, duy trì và phát triển của gia đình Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, diện mạo của gia đình đã thay đổi đáng kể, chức năng kinh tế của gia đình đã chuyển từ sản xuất sang tiêu dùng Cùng với điều đó việc mỗi người có đủ tài sản riêng để đặt cơ sở vật chất cho các hoạt động nghề nghiệp
và các giao dịch do mình thực hiện không phụ thuộc nhiều vào người còn lại
là rất cần thiết Qui định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một giải pháp cho vấn đề đó trong bối cảnh chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và Gia đình hiện nay là chế độ cộng đồng tạo sản Theo thời gian gần đây, số lượng án phải giải quyết về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trong cả nước đang có chiều hướng gia tăng: năm 2004 là 159 vụ, năm 2005 là 398 vụ, năm 2006 là 404 vụ, năm
2007 là 452 vụ* Qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã cụ thể hơn so với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 song vẫn tồn tại nhiều vấn đề cần có quan điểm thống nhất về lí luận cũng như thực tiễn xét xử Hơn nữa còn có một vấn đề là việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân thường được coi là đi kèm với những mâu thuẫn về tình cảm của vợ chồng, vì thế mọi người nghĩ chia tài
*
Theo thống kê xét xử sơ thẩm các vụ án hôn nhân và gia đình (thống kê theo báo cáo của các tòa sơ thẩm trong cả nước) - tài liệu từ Vụ Thống kê tổng hợp - Tòa án nhân dân tối cao
Trang 6sản chung trong thời kì hôn nhân là một việc không tốt Điều đó cho thấy cần thiết phải có sự nghiên cứu sâu về vấn đề chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân của vợ chồng cũng như có giải pháp cho việc chia tài sản chung mà vẫn
có thể giữ được hạnh phúc gia đình Chính vì lí do đó mà người viết chọn đề
tài “Từ chia tài sản chung đến thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong
thời kì hôn nhân” để nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, người viết muốn đề cập, phân tích toàn bộ các qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân và chứng minh được tính hợp pháp cũng như sự hợp lí của việc tồn tại một thỏa thuận
về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân với nội dung, hình thức và phạm vi phù hợp, kiến nghị về việc cụ thể hóa thỏa thuận này để tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng nó
Hiện tại, việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân được nhiều tác giả đề cập đến trong nhiều công trình, bài viết, tuy nhiên chỉ là đề cập tới nó như một phần của một vấn đề khác hoặc là chỉ đề cập tới một phần của nó Việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng cũng được nhiều tác giả đề cập tới nhưng là đề cập dưới góc độ gắn nó với chế độ tài sản ước định và cho rằng
nó không phù hợp với qui định pháp luật hiện hành Việc phân tích toàn bộ các qui định pháp luật về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, tóm tắt về một số chế định tương tự trong pháp luật của các nước và chứng minh tính hợp pháp của một loại thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân sẽ là điểm mới của đề tài
Nội dung chính của đề tài được kết cấu thành 3 chương với 13 mục lớn
Cụ thể:
- Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về chia tài sản chung trong thời kì
hôn nhân;
- Chương 2: Qui định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung
trong thời kì hôn nhân;
- Chương 3: Vấn đề thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong pháp luật
Việt Nam
Trang 7Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG
THỜI KÌ HÔN NHÂN
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, Ý NGHĨA
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
Thời kì hôn nhân
Thời kì hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng Theo pháp luật Việt Nam thì thời kì hôn nhân được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân1 Tuy nhiên từ các qui định của Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 có thể suy ra hai trường hợp đặc biệt mà thời kì hôn nhân được tính theo cách khác, đó là trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 mà không đăng kí kết hôn, trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trong khoảng thời gian từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001 mà đăng kí kết hôn trong khoảng từ ngày 1/1/2001 đến ngày 1/1/2003 (thời kì hôn nhân được tính từ ngày quan hệ vợ chồng thực tế được xác lập đến ngày chấm dứt hôn nhân)2
Tài sản chung
Tài sản chung là tài sản thuộc sở hữu của nhiều chủ sở hữu Tuy nhiên khái niệm tài sản chung được đề cập ở đây chỉ là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, tức là tài sản thuộc sở hữu của cả vợ và chồng mà với tài sản đó phần quyền sở hữu của mỗi người không được xác định
Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không được định nghĩa trong các văn bản pháp luật, có lẽ nhà làm luật cho rằng cụm từ chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã đủ để phản ánh khái niệm đó Theo người
viết có thể tạm định nghĩa: chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là việc
Trang 8chuyển một phần hoặc toàn bộ các tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng thành các tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng, hay
sở hữu chung theo phần của vợ chồng
1.1.2 Đặc điểm của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
Chế định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chỉ có thể tồn tại khi pháp luật ghi nhận quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng vì
nếu không ghi nhận quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng thì
vợ chồng sẽ không được bình đẳng trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản, mà mục đích của vợ chồng khi chia tài sản chung là để cho vợ hoặc chồng hoặc cả hai có thể tự do định đoạt với những tài sản được chia
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chỉ có thể thực hiện được trong thời kì hôn nhân, việc chia tài sản thuộc sở hữu chung của hai người
chưa kết hôn hay chia tài sản của hai người đã li hôn đều không thể coi là chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chỉ có thể thực hiện khi tồn tại khối tài sản chung vì nếu khối tài sản chung không thể tồn tại thì
không có đối tượng để chia Tuy nhiên một số trường hợp cũng có thể chia với khối tài sản chung chưa thuộc sở hữu của vợ chồng trong hiện tại nhưng
sẽ phát sinh trong tương lai3
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không làm chấm dứt hoàn toàn sở hữu chung của vợ chồng vì việc chia tài sản chung này không
chỉ đơn thuần như việc chia tài sản chung thuộc các hình thức sở hữu chung như qui định của Bộ luật Dân sự 4, khối tài sản chung vẫn có thể còn tồn tại hoặc vẫn có thể xuất hiện (trong trường hợp không chia hết hoặc sau khi chia lại được thừa kế chung, tặng cho chung, hay vợ chồng khôi phục chế độ tài sản chung )
Trang 9Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân hoàn toàn không làm ảnh hưởng tới quan hệ nhân thân của vợ chồng Sau khi chia tài sản chung, quan
hệ vợ chồng vẫn tồn tại trước pháp luật, do đó vẫn tồn tại mọi quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng như chung thủy yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng giữ gìn danh dự, nhân phẩm uy tín cho nhau, tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhau … điều này khác hẳn với chế định li thân ở một số nước
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là một giải pháp để loại
bỏ các mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản Tài sản chung của vợ chồng theo qui định pháp luật phải được quản lí theo sự nhất trí của hai người, định đoạt theo sự thỏa thuận của hai người mà hai người thì không phải bao giờ cũng có thể nhất trí về cách quản lí của nhau, bằng lòng về cách định đoạt tài sản của nhau và như thế thì chắc chắn sẽ có mâu thuẫn phát sinh, mâu thuẫn đó khiến cho việc dịch chuyển tài sản bị chậm lại, có khi bị ngừng lại gây bất lợi cho kinh tế gia đình Còn việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu cá nhân thì không cần có sự nhất trí, sự bằng lòng của nhau, chính vì vậy mà việc chia tài sản chung sẽ là một giải pháp để loại
bỏ các mâu thuẫn trong quản lí, sử dụng và định đoạt tài sản
Việc chia tài sản chung là một giải pháp cho các cặp vợ chồng có tuổi vì
lí do nào đó mà có mẫu thuẫn sâu sắc về tình cảm, nhưng lại không dám ra tòa li hôn do sợ điều tiếng của dư luận, sợ mất hòa khí gia đình, sợ con cái lo buồn, sợ hàng xóm chê cười Qui định này tạo điều kiện cho họ được có tài sản riêng để sống độc lập, tránh đối mặt với các mâu thuẫn
Qui định về việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã đánh dấu
sự chuyển mình theo thời đại của các qui định pháp luật về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng Việt Nam trong một thời gian dài tồn tại dựa vào nền kinh
tế nông nghiệp lạc hậu nên tư duy của con người khó lòng thoát khỏi nguyên tắc của xã hội trồng lúa nước - đó là ổn định để tồn tại, đoàn kết để tồn tại, chính vì thế mà người ta thường lạ lẫm với việc rạch ròi về tài sản, nhất lại là tài sản của vợ chồng, nếu như cặp vợ chồng nào có sự độc lập về tài chính với
Trang 10nhau hay sự phân định “của anh, của tôi” thì thường bị người ta chê cười Sang thời đại của công nghệ thông tin, của internet, của thẻ tín dụng, của toàn cầu hóa sự độc lập của mỗi cá nhân không thể bị bó buộc trong lối tư duy cũ
đó nữa Và con người thực sự cần sự độc lập hơn về tài chính để có thể tồn tại trong xã hội hiện đại Việc chia tài sản trong chung trong thời kì hôn nhân như một giải pháp để dung hòa giữa truyền thống xưa và tư duy của ngày nay
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ
Như đã nói ở trên người Việt Nam tự ngàn xưa đã luôn coi trọng sự ổn định, với tư duy “an cư thì mới lạc nghiệp”, gia đình với người Việt Nam luôn được đặt lên hàng đầu, và sự phân chia tài sản trong thời kì hôn nhân trong cố luật là không thể có
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trong pháp luật Việt Nam trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực là không hề có Tuy một số luật dưới thời Ngụy quyền, thời Pháp thuộc do ảnh hưởng của pháp luật phương Tây cũng qui định cho vợ chồng được thỏa thuận về tài sản trong hôn ước (lập trước khi kết hôn), nhưng hôn ước này thì lại bất di bất dịch nên việc chia tài sản chung không thể được thực hiện trong thời kì hôn nhân
Qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân lần đầu tiên xuất hiện trong pháp luật Việt Nam tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986
1.2.1 Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 chế độ tài sản vợ chồng là
chế độ tài sản pháp định, tài sản chung của vợ chồng “gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung”5 Luật không qui định rằng những tài sản mà vợ chồng
5
Xem điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986
Trang 11thỏa thuận là tài sản chung thì cũng thuộc khối tài sản chung nhưng lại qui
định "đối với tài sản mà vợ chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kì hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng”6 và việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng được thực hiện theo qui định của Nghị định số 45-HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước7
Tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể được chia trong thời kì hôn nhân khi có lí do chính đáng và có yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Chỉ có một cách thức chia duy nhất là quyết định của tòa án Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 không dự liệu các lí do chính đáng nên việc đánh giá lí do chính đáng hoàn toàn phụ thuộc vào tòa án (Nghị quyết hướng dẫn Luật Hôn nhân và Gia đình có nêu một trường hợp được coi là lí do chính đáng đó là vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn li hôn mà chỉ muốn ở riêng8) Nguyên tắc chia giống như chia tài sản trong một vụ li hôn9 Luật cũng không hề dự liệu về hậu quả pháp lí về tài sản sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân và các văn bản dưới luật cũng không hướng dẫn vấn đề này Vấn đề nhập lại tài sản riêng có được do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân cũng không được qui định trong luật, mà luật cũng chỉ qui định về việc nhập hay không nhập các tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân10
Xuất phát từ tình hình năm 1986 đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới, nên mọi qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chưa được
cụ thể Hơn nữa với tình hình thời đó thì không có một vụ án nào về chia tài
8
Xem Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988
9
Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 qui định: “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có
lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này” (điều 42
có qui định về nguyên tắc chia tài sản khi li hôn)
10
Xem điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986
Trang 12sản chung trong thời kì hôn nhân nào được đưa ra xét xử sơ thẩm11, trường hợp chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà được tòa án giải quyết (nếu có) cũng chỉ được coi là trường hợp đặc biệt ngoại lệ
1.2.2 Chia tài sản chung trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 tài sản chung của vợ chồng
bao gồm: “tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung” Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã bổ sung thêm một căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng đó là thỏa thuận của vợ chồng
Theo luật tài sản chung của vợ chồng cũng chỉ được chia khi có lí do chính đáng, luật dự liệu cụ thể hai trường hợp được coi là có lí do chính đáng đó là vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng Luật cũng cho phép vợ chồng được thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản bên cạnh việc chia tài sản chung bằng quyết định của tòa án
Luật đã dự liệu về hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, và theo qui định về tài sản chung thì vợ chồng cũng có thể nhập lại tài sản đã được chia vào khối tài sản chung theo căn cứ xác lập tài sản chung là thỏa thuận của vợ chồng
Vấn đề qui định của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân sẽ được làm rõ hơn ở chương 2
1.3 MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH TƯƠNG TỰ TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Do sự khác nhau về nền văn hóa và các điều kiện kinh tế, chính trị những hình thức có thể coi là chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân ở một
11
Theo thống kê xét xử sơ thẩm các vụ án hôn nhân và gia đình (thống kê theo báo cáo của các tòa sơ thẩm trong cả nước) thì trong thời gian từ năm 1987 đến hết quí 3 năm 2004 chưa hề có vụ án chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân nào được thụ lí - tài liệu từ Vụ Thống kê tổng hợp - Tòa án nhân dân tối cao
Trang 13số nước có sự khác nhau nhất định với Việt Nam Sau đây xin được điểm qua một số hình thức tương tự chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
1.3.1 Chế định chia tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan12
Quyền sở hữu của vợ chồng ở Thái Lan được điều chỉnh bằng hai phương thức: theo hôn ước mà vợ chồng lập ra trước khi cưới và theo qui định của pháp luật khi vợ chồng không có hôn ước hoặc hôn ước đó không được công nhận
Theo qui định của pháp luật Thái Lan kể từ thời điểm kết hôn vợ chồng
sẽ phát sinh quan hệ tài sản chung với những tài sản có nguồn gốc sau:
Tài sản vợ chồng làm ra trong thời kì hôn nhân
Tài sản mà vợ chồng có được trong thời kì hôn nhân thông qua một
di chúc hoặc tặng cho được làm bằng văn bản nếu trong các văn bản này tuyên bố rõ tài sản đó là tài sản chung
Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng
Ngoài ra trong trường hợp tài sản có nguồn gốc hợp pháp khác nhưng không chứng minh được nó là của riêng một bên vợ, chồng thì tài sản đó dược coi là tài sản chung13
Tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể chia trong thời kì hôn nhân trong các trường hợp cụ thể sau:
Một bên vợ hoặc chồng có nghĩa vụ tài sản riêng nhưng không
có hoặc không đủ tài sản riêng để thực hiện, phải thực hiện bằng phần tài sản của mình trong khối tài sản chung14
Một bên vợ hoặc chồng có hành vi vi phạm nghĩa vụ quản lí tài sản chung như: gây mất mát tài sản chung mà không có lí do chính đáng; lâm vào tình trạng nợ nần hoặc chịu những món nợ vượt quá 1/2 giá trị tài sản
Trang 14chung; cản trở vợ hoặc chồng mình trong việc quản lí tài sản chung mà không
có lí do chính đáng15
Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố phá sản.16
kia bị coi là không thích hợp để làm người giám hộ và do đó bố hoặc của người đó hoặc một người ngoài được chỉ định làm người giám hộ thì người giám hộ đó sẽ trở thành người đồng quản lí tài sản chung với người kia Trong trường hợp này, vợ hoặc chồng của người bị mất năng lực hành vi có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung nếu có tình huống quan trọng gây nguy hại cho họ17
Sau khi chia tài sản chung thì phần tài sản chia cho mỗi bên cợ chồng trở thành tài sản riêng của họ Bất cứ tài sản nào mà vợ hoặc chồng có được sau khi chia sẽ là tài sản riêng của người đó và không được coi là tài sản chung Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung trở thành tài sản riêng chia đều cho mỗi bên Hoa lợi thu được từ tài sản riêng của người nào thuộc sở hữu của người đó18
Chế độ tài sản chung chỉ được tòa án cho phục hồi khi có yêu cầu của
vợ, chồng và khi các lí do chia tài sản chung đã hết
1.3.2 Một loại hậu hôn ước (postnuptial agreement) ở Hoa Kì19
Ở Hoa Kì chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản ước định, luật pháp chỉ can thiệp vào việc qui định tài sản của vợ chồng khi họ không lập hôn ước hay còn gọi là khế ước tiền hôn nhân (prenuptial agreement) và việc qui định về tài sản của vợ chồng ở mỗi bang lại có sự khác nhau Tuy nhiên pháp luật Hoa Kì cũng cho phép các cặp vợ chồng được lập hậu hôn ước (postnuptial agreement) một loại khế ước được lập sau khi kết hôn nhưng trước khi li hôn để qui định về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng
Trang 15Có ba kiểu hậu hôn ước:
Hậu hôn ước qui ước về tài sản của vợ chồng khi xảy ra cái chết của một người, như vậy thì người còn sống sẽ không phải nhận tài sản từ di chúc hay từ qui định của pháp luật về thừa kế
Hậu hôn ước qui ước về những tranh chấp khi li hôn và tránh việc phải theo sự phân xử của tòa án bằng việc qui định rõ về việc chia tài sản, về quyền nuôi con, về việc cấp dưỡng Hậu hôn ước loại này được bao gồm với bản án li hôn của tòa án
Hậu hôn ước qui định về quyền lợi về tài sản trong thời kì hôn nhân bao gồm: qui định về việc giới hạn hay từ bỏ việc cấp dưỡng; đặt khối tài sản
có được trong suốt thời kì hôn nhân trong tình trạng riêng biệt
Như vậy có thể nói kiểu hậu hôn ước thứ ba cũng là một hình thức chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, hậu hôn ước này phải được lập thành văn bản có chữ kí của cả hai vợ chồng, giá trị của hậu hôn ước chỉ được công nhận khi tài sản riêng của nhau được các bên biết rõ, không có sự hăm dọa, gian dối hay cưỡng bức trong việc lập hôn ước Sau khi lập hậu hôn ước, chế
độ tài sản của vợ chồng là chế độ biệt sản
1.3.3 Qui ước về tài sản trong luật Hôn nhân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ( sửa đổi năm 2001) 20
Quyền sở hữu của vợ chồng ở Trung Quốc được điều chỉnh theo phương thức qui ước của vợ chồng song song với những qui định của pháp luật:
Theo qui định của điều 17 Luật Hôn nhân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sửa đổi năm 2001) thì:
“Trong thời gian còn duy trì quan hệ hôn nhân những tài sản dưới đây thuộc về sở hữu chung của hai vợ chồng
1 Lương, tiền thưởng
2 Lợi nhuận từ sản xuất và kinh doanh
3 Lợi nhuận từ quyền sở hữu tài sản trí thức
20
Trang 164 Tài sản có được nhờ thừa kế, hiến tặng nhưng ngoài quy định tại điều 18 chương 3 của luật này
5 Những tài sản khác mà cần thuộc về sở hữu chung
Đối với những tài sản thuộc sở hữu chung, hai vợ chồng bình đẳng về quyền xử lí”
Tuy nhiên Luật Hôn nhân (sửa đổi năm 2001) có qui định cho vợ chồng qui ước để những tài sản trên không còn là tài sản chung nữa Theo điều 19:
“Hai vợ chồng có thể qui ước những tài sản có được trong thời gian quan hệ hôn nhân còn duy trì và những tài sản trước hôn nhân thuộc về sở hữu cá nhân, sở hữu chung hoặc sở hữu cá nhân bộ phận, sở hữu chung bộ phận
Qui ước được ghi lại bằng văn bản Nếu không có quy ước hoặc quy ước không rõ ràng, áp dụng thích hợp theo qui định của điều 17 và 18 luật này Qui ước về những tài sản có được trong thời gian quan hệ hôn nhân đang được duy trì và những tài sản trước hôn nhân, có sức ràng buộc đối với
cả hai phía”
Theo qui định đó thì vợ chồng hoàn toàn có thể thương lượng với nhau
về vấn đề tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân Việc qui ước này phải được lập thành văn bản, văn bản này có thể được công chứng21 Nếu không có bản thỏa thuận này hoặc bản thỏa thuận này không rõ ràng thì mới áp dụng thích hợp theo điều 17 và điều 18 (qui định về tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng) 22
Điều 18: Với một trong những tình hình dưới đây, tài sản thuộc về một bên vợ hoặc chồng:
1, tài sản của một bên trước hôn nhân
2, một bên vì thân thể có thương tích có được phí chữa trị, phí trợ cấp cuộc sống của người tàn tật
3, những tài sản mà trong di chúc hoặc văn bản hiến tặng xác định là chỉ thuộc về một bên vợ hoặc chồng
4, những nhu yếu phẩm chuyên dùng của một bên
5, những tài sản khác mà cần thuộc về một bên
Trang 17Chương 2
QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN
CHUNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN
2.1 TÀI SẢN CHIA
Tài sản để chia phải là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
2.1.1 Tài sản chung theo qui định của pháp luật
Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 qui định
“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất
2 Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng
3 Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”
Theo qui định này thì tài sản chung của vợ chồng bao gồm: các tài sản
do vợ chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân; các tài sản có được do thu nhập hợp pháp trong thời kì hôn nhân; các tài sản do được thừa kế chung, tặng cho chung; các tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Trang 18 Thu nhập hợp pháp của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân
Các thu nhập có tính ổn định
Thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trước hết phải
kể đến các khoản thu nhập có tính chất ổn định của vợ, chồng như lương, lợi
nhuận do hoạt động kinh doanh mang lại, hoa lợi lợi tức có tính chất ổn định như tiền do bán cây ăn quả lâu năm, tiền cho thuê nhà…Những thu nhập này thường là nguồn thu nhập chính, ổn định để đảm bảo cho cuộc sống chung của gia đình Theo điều 233 Bộ luật Dân sự thì người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh có quyền sở hữu đối với tài sản tạo ra
đó23, nhưng theo Luật Hôn nhân và Gia đình thì tài sản đó được qui định là
thuộc sở hữu chung của vợ chồng Theo điều 235 Bộ luật Dân sự thì “chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó” như vậy có thể thấy nếu tài sản gốc là tài sản chung thì hoa lợi lợi tức
tất nhiên sẽ thuộc tài sản chung của vợ chồng, nhưng nếu tài sản gốc là tài sản riêng của một người thì hoa lợi lợi tức phát sinh trong trường hợp này cũng thuộc khối tài sản chung theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình
Các thu nhập có tính chất bất thường
Một số thu nhập có tính chất bất thường, sự phát sinh ra nó là bất thường hoặc có thể là bất ngờ với chủ sở hữu Các thu nhập này có thể là do trúng xổ
số, trúng thưởng, được hưởng các loại khuyến mại bất ngờ, hoặc cũng có thể
là lợi tức bất thường: cổ phiếu đột ngột lên giá Trong các trường hợp này chỉ cần quyền sở hữu đối với chủ sở hữu (vợ hoặc chồng hoặc cả hai) được xác lập thì tài sản đó được coi là tài sản chung Ví dụ một người mua xổ số trước ngày kết hôn, sau khi kết hôn thì có kết quả và trúng số độc đắc, số tiền thưởng sẽ là tài sản chung của vợ chồng
Trang 19 Tài sản được tạo ra trong thời kì hôn nhân
Tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân có thể thuộc một trong các trường hợp sau24:
Tài sản tạo ra do trộn lẫn, sáp nhập, chế biến (các điều 236, 237,
238 Bộ luật Dân sự)
Trong trường hợp này nếu tất cả các tài sản được đem sáp nhập trộn lẫn chế biến là tài sản chung thì đương nhiên quyền sở hữu được xác lập theo qui định của pháp luật theo các điều 236, 237, 238 đối với vật mới là sở hữu chung của vợ chồng
Trong trường hợp tất cả tài sản được đem trộn lẫn, sáp nhập, chế biến là tài sản riêng thì tài sản mới tạo ra cũng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Bởi đó là tài sản mới là tài sản được tạo ra trong thời kì hôn nhân Trong trường hợp tài sản chung hoặc tài sản riêng của vợ chồng được đem sáp nhập trộn lẫn chế biến với tài sản của người khác để tạo thành tài sản mới thì phần quyền sở hữu với tài sản mới thuộc sở hữu chung của vợ chồng theo qui định của các điều 236, 237, 238
Tài sản có được do xác lập quyền sở hữu theo các điều từ 239 đến
244 và điều 247, 246 Bộ luật Dân sự
Trường hợp này bao gồm các tài sản có được do nhặt được vật do người khác đánh rơi, bỏ quên, nhặt được vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu, đào được vật bị chôn giấu, tìm thấy vật bị chìm đắm, bắt được gia súc, gia cầm bị thất lạc, các trường hợp được xác lập quyền sở hữu với vật nuôi dưới nước, tài sản có được do xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, tài sản có được do phán quyết của các cơ quan có thẩm quyền
Có lẽ theo tinh thần của điều luật và mục đích của việc qui định tài sản chung thì chỉ cần tài sản được xác lập quyền sở hữu vào thời kì hôn nhân thì
đã thuộc tài sản chung, các trường hợp đào được, nhặt được… có thể coi như
là một trường hợp của thu nhập bất thường của vợ chồng Đối với các trường
24
Cách chia giữa tài sản tạo ra và thu nhập hợp pháp trong thời kì hôn nhân chỉ là tương đối, và đây chỉ là cách chia của người viết, trong Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 thì các tài sản này được coi là thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng
Trang 20hợp này, chỉ cần quyền sở hữu thuộc về một trong hai người trong thời kì hôn nhân thì đó đương nhiên là tài sản chung
Ví dụ 1: Một người bắt được một con bò bị lạc, sau khi đã báo cho ủy
ban nhân dân xã nơi cư trú để thông báo rộng rãi cho chủ sở hữu biết mà nhận lại Ba tháng sau người đó kết hôn, ba tháng sau nữa là hết thời hạn sáu tháng không có ai đến nhận bò, con bò là tài sản chung của vợ chồng.25
Ví dụ 2: Một người mua một bức tượng bằng vàng chiếm hữu công khai,
liên tục, nhưng không biết đó là đồ ăn trộm, 9 năm sau người đó kết hôn, một năm sau khi kết hôn, bức tượng bằng vàng sẽ thuộc sở hữu chung của vợ chồng chứ không phải là tài sản riêng của một người như trong trường hợp nó không phải là đồ ăn trộm26
Tài sản có được theo thỏa thuận dưới dạng các hợp đồng, mua bán,
vay mượn… đối với các chủ sở hữu khác
Với các trường hợp này, dù tiền dùng để mua, tài sản dùng để trao đổi, tài sản dùng để thế chấp cầm cố là tài sản riêng hay chung thì những tài sản mua được, đổi được, vay được có được thông qua sự thỏa thuận này cũng thuộc khối tài sản chung Theo qui định pháp luật thì việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc thỏa thuận, dễ nhận thấy một điều như sau: một căn nhà thuộc sở hữu riêng của anh chồng, trong trường hợp nó không phải là có giá trị lớn so với tổng số tài sản của hai vợ chồng, anh chồng
có thể tự do định đoạt, có thể cho, tặng bất cứ ai tùy ý, vì đó là tài sản riêng của anh ta, nhưng khi bán đi thì lại không thể tự do cho ai đó chính số tiền bán nhà vì số tiền đó lúc này đã là tài sản chung của vợ chồng Thậm chí do luật chỉ qui định là tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân nên “trong trường hợp
vợ hoặc chồng giao kết hợp đồng mua tài sản và đã trả tiền trước khi kết hôn, nhưng quyền sở hữu đối với tài sản chỉ được chuyển cho người mua sau khi kết hôn thì tài sản mua được cũng là tài sản chung”27 Ví dụ một người mua một căn nhà trước khi cưới, đã trả tiền đầy đủ, chỉ chưa làm giấy chứng nhận
Trang 21quyền sở hữu nhà, sau khi kết hôn căn nhà mới chính thức thuộc quyền sở hữu của người đó, khi đó căn nhà là tài sản chung của vợ chồng
Như vậy ta nhận thấy bất cứ tài sản nào hợp pháp tạo ra trong thời kì hôn nhân cũng thuộc khối tài sản chung, bất kể nguồn gốc, cách thức để tạo
kế theo di chúc chỉ là một người hoặc thừa kế theo pháp luật mà chỉ có một người được hưởng thừa kế thì đương nhiên tài sản thừa kế là tài sản riêng của
vợ hoặc chồng Nếu di chúc chỉ rõ là cho cả hai vợ chồng được thừa kế tài sản nhưng lại chỉ rõ phần quyền của mỗi người thì tài sản đó thuộc sở hữu chung theo phần của hai người theo qui định của Bộ luật Dân sự (không phải là sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng) Nếu hai người được thừa kế theo pháp luật (trường hợp cha mẹ được thừa kế tài sản của con, hoặc trường hợp con đẻ kết hôn với con nuôi, con nuôi kết hôn với con nuôi được thừa kế tài sản của cha mẹ ) thì tùy từng trường hợp có thể coi đây tài sản riêng của mỗi người, hoặc tài sản thuộc sở hữu chung theo phần dân sự của hai người, chứ không thể coi là thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
Tặng cho chung
Cũng như trường hợp thừa kế, nếu như người có tài sản tặng cho thể hiện rõ là tặng cho chung vợ chồng mà không hề phân biệt phần quyền của mỗi người đối với tài sản tặng cho thì tài sản đó mới được coi là sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
Các tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Do tôn trọng ý chí của vợ chồng, xuất phát từ thực tế cuộc sống là cần phải có tài sản chung để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, xuất phát từ sự gắn
bó tình cảm vợ chồng, từ quan niệm không phân biệt “của anh của tôi” vợ
Trang 22chồng đã tự nguyện nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung và Luật Hôn nhân và Gia đình cũng qui định nó là tài sản chung của vợ chồng Tài sản chung do thỏa thuận này có thể là tài sản riêng có được trước khi kết hôn, cũng có thể là tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng, cũng có thể là tài sản riêng do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân Với những tài sản là
là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn hoặc những tài sản là tài sản riêng do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân thì việc thỏa thuận này phải được lập thành văn bản, có chữ kí của cả vợ và chồng, một số trường hợp pháp luật qui định thì văn bản đó phải được công chứng chứng thực Việc thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung nhằm trốn tránh các nghĩa vụ về tài sản thì sẽ bị vô hiệu.28
Một số trường hợp đặc biệt
Quyền sử dụng đất có được trong thời kì hôn nhân
Theo khoản 1 điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2002, “Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa
kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận” Thực ra theo luật
thì qui định về quyền sử dụng đất không có gì đặc biệt hơn so với qui định về các tài sản khác Cũng có thể nói là việc qui định riêng về quyền sử dụng đất này không cần thiết nếu như quyền sử dụng đất tự bản thân nó không có những điểm đặc thù và tầm quan trọng nhất định Quyền sử dụng đất là một loại quyền dân sự đặc thù, là loại quyền phụ thuộc, chịu sự chi phối bởi quyền độc lập là quyền sở hữu toàn dân của đất đai, vợ chồng chỉ có quyền được quyền tài sản này khi được nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất.29 Việc qui định riêng về quyền sử dụng đất có lẽ chỉ để làm rõ về chế độ pháp lí của loại tài sản này trong quan hệ vợ chồng
28
Xem điều 9 và điều 13 Nghị định 70/2001/NĐ - CP ngày 3/10/2001
29
Nguyễn Hồng Hải, Xác định tài sản của vợ chồng một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật
Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ luật học, năm 2002, tr 40
Trang 23 Tài sản có được do được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Các trường hợp tài sản có được là tài sản do được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các trường hợp tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của vợ hoặc chồng hoặc cả hai bị xâm phạm có phải là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng không? Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì tài sản riêng của vợ chồng bao gồm những tài sản tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định về chia tài sản chung trong thời
kì hôn nhân; đồ dùng, tư trang cá nhân30 Như vậy theo qui định này thì tài sản có được do được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải là tài sản riêng Chính vì thế mà chỉ còn cách xác định nó là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên về mặt thực tế nếu tài sản bị xâm phạm thì khoản tiền bồi thường có thể được coi là tài sản chung (điều này cũng hợp lí bởi ngay cả khi bán tài sản để mua tài sản mới thì tài sản mới cũng thuộc tài sản chung); nếu khoản tiền bồi thường là để bù đắp cho thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút do bị thiệt hại về sức khỏe thì đó rõ ràng là tài sản chung giống như thu nhập hợp pháp vậy; nếu như trong trường hợp khoản tiền bồi thường là để lo cho chi phí thuốc thang… thì đó cũng có thể coi là tài sản chung bởi thực tế thì khối tài sản chung phải ứng trước để lo chi trả cho thuốc thang và bởi vì cũng có thể coi đây là nhu cầu thiết yếu của gia đình; tuy nhiên trường hợp khoản tiền bồi thường là để bù đắp cho nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm thì sao? Theo đúng qui định của luật thì nó là tài sản chung, nhưng lí giải nó như thế nào? Có lẽ chỉ còn cách lí giải duy nhất là khi vợ chồng gắn bó với nhau thì coi nhau như một, mọi sự tổn hại về tinh thần của người này cũng là tổn hại về tinh thần, danh dự của người kia, nên tài sản bồi thường là tài sản chung
Tài sản trí tuệ
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì tất cả các tài sản, thu nhập hợp pháp được tạo ra trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung của vợ
30
Xem khoản 1 điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
Trang 24chồng Tuy nhiên với tài sản trí tuệ thì lại khác mặc dù nó cũng là một loại tài sản dưới dạng quyền tài sản Tài sản trí tuệ là một loại tài sản vô hình, người
ta chỉ có thể thể hiện quyền sở hữu với nó thông qua các quyền tài sản Quyền
sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu đối với giống cây trồng31 trong đó có các quyền tài sản Các chủ sở hữu đối với ba loại quyền trên đã được chỉ rõ trong Luật Sở hữu trí tuệ Cụ thể: chủ sở hữu quyền tác giả chỉ bao gồm tác giả (người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm), đồng tác giả, tổ chức cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc kí kết hợp đồng với tác giả, người thừa kế; người được tác giả trao quyền theo hợp đồng, Nhà nước32; chủ sở hữu quyền liên quan chỉ có thể là những cá nhân, tổ chức đã được qui định cụ thể trong điều 44 Luật Sở hữu trí tuệ; chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp đã được qui định rõ trong điều
121 Luật Sở hữu trí tuệ Như vậy, theo nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành là Luật Sở hữu trí tuệ thì vợ hoặc chồng của chủ sở hữu đối với các quyền sở hữu trí tuệ không mặc nhiên là chủ sở hữu của các tài sản trí tuệ, chính vì thế mà họ hoàn toàn không thể tham gia cùng với vợ (chồng) mình định đoạt, sử dụng tài sản trí tuệ đó, người sử dụng tài sản trí tuệ cũng không phải xin phép cả hai vợ chồng khi sử dụng tài sản trí tuệ theo qui định của luật Chỉ có nhuận bút, thù lao, và các quyền lợi vật chất khác là thuộc sở hữu chung của vợ chồng vì đây là thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân
2.1.2 Nguyên tắc của việc qui định tài sản chung
Theo nguyên tắc của luật dân sự thì quyền sở hữu chung được xác lập trên cơ sở thỏa thuận của các chủ sở hữu hoặc qui định của pháp luật hoặc theo tập quán
Theo những phân tích ở phần trên (2.1.1) ta thấy tài sản chung của vợ chồng được xác định theo các nguyên tắc sau:
Trang 25Các căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng hoàn toàn tuân theo qui định của pháp luật33 Tuy nhiên tài sản chung của vợ chồng cũng được xác định theo hai phương thức đối với những tài sản có nguồn gốc khác nhau Theo phương thức bắt buộc đối với những tài sản là tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác; theo phương thức tôn trọng ý chí của người có tài sản: đối với những tài sản mà chủ sở hữu đã chỉ rõ là cho vợ chồng thừa kế chung hoặc đã chỉ rõ là tặng cho chung hai vợ chồng thì đó là tài sản chung của vợ chồng, tôn trọng ý chỉ của vợ, chồng nên những tài sản nào vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung nó cũng thuộc khối tài sản chung
Theo qui định của pháp luật thì có vẻ như những tài sản nào có được trong thời kì hôn nhân mà phải đền bù thì đều coi là tài sản chung Có lẽ là
do tính cộng đồng của hôn nhân nên mọi thứ của hai vợ chồng lúc đó đều là của nhau Chính vì vậy mọi thứ vợ chồng bỏ ra trong thời kì hôn nhân đều được coi là của chung, và thứ có được nhờ nó cũng phải được coi là của chung Vậy nên lương, tiền thưởng, lợi nhuận do sản xuất kinh doanh và các thu nhập hợp pháp khác trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung
Những tài sản nào mà không đủ chứng cứ chứng minh là tài sản riêng thì là tài sản chung Nguyên tắc này được ghi nhận trong khoản 3 điều 27
Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 Theo các qui định của luật thì ta thấy khối tài sản chung bao giờ cũng có xu hướng thu hút các khối tài sản khác Chính
vì thế mà tất cả những tài sản nào không đủ chứng cứ là tài sản riêng thì đều được coi là tài sản chung của vợ chồng
Tất cả những điều trên là “do tính cộng đồng của hôn nhân và mục đích của quan hệ vợ chồng được xác lập, khi dự liệu chế độ tài sản giữa vợ chồng, Luật Hôn nhân và Gia đình đã thực hiện cách thức điều chỉnh đặc biệt để qui định về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng; những đặc điểm riêng biệt
33
Xem thêm về “Nội dung các loại chế độ tài sản của vợ chòng trong pháp luật” - TS Nguyễn Văn Cừ , Chế
độ tài sản của vợ chồng theo pháp Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, phần IV chương I, NXB Tư
pháp,2008
Trang 26của sở hữu chung hợp nhất giữa vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do hai vợ chồng tạo ra một cách trực tiếp, chỉ cần vợ, chồng tạo ra được trong thời kì hôn nhân; không xác định được tỉ lệ (kỉ phần) từ trước của vợ, chồng đối với tài sản chung; đặc biệt, vợ, chồng bình đẳng khi thực hiện quyền sở hữu, không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên
vợ, chồng trong quá trình tạo lập tài sản chung ”34
2.2 NGƯỜI YÊU CẦU CHIA
Theo qui định của Bộ luật Dân sự thì tài sản chung được chia theo yêu cầu của chủ sở hữu chung hoặc theo yêu cầu của người có quyền yêu cầu một trong các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ với mình mà người đó không
có tài sản riêng35 Việc yêu cầu được chia tài sản chung của chủ sở chung không cần có lí do chính đáng
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một trường hợp của chia tài sản thuộc sở hữu chung Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì tài sản chung chỉ được chia khi có lí do chính đáng và theo thỏa thuận của vợ chồng (khi vợ chồng không thỏa thuận được thì mới yêu cầu tòa án chia)
Theo đó người yêu cầu chia tài sản chung là vợ hoặc chồng hoặc cả hai khi có lí do chính đáng
Trường hợp người thứ ba yêu cầu chia không được qui định trong Luật Hôn nhân và Gia đình, tuy nhiên theo qui định về việc áp dụng Bộ luật Dân
sự trong trường hợp Luật Hôn nhân và Gia đình không có qui định36 thì có thêm một người có quyền yêu cầu là người mà vợ hoặc chồng có nghĩa vụ riêng với họ Hơn nữa một trong các lí do được coi là chính đáng để chia tài sản chung là chia để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng nên có thể hiểu quyền yêu cầu của người thứ ba vẫn tồn tại trong khi người thứ ba chỉ thực hiện
Trang 27quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ với một người, còn vợ chồng họ tự nguyện chia tài sản chung để thanh toán Tuy nhiên theo người viết, thường thì tài sản chung này được chia do vợ chồng tự nguyện chỉ nhằm để trốn tránh hay trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ với người kia, còn nếu bình thường khi vợ chồng không hề có mâu thuẫn gì thì chắc họ sẽ tự nguyện dùng khối tài sản chung để thanh toán chứ không chia tài sản chung Theo người viết thì cơ chế
để thực hiện quyền yêu cầu của người thứ ba như sau: người thứ ba có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với mình, thậm chí được kê biên tài sản riêng của người đó; nếu tài sản riêng không đủ thì người này có thể yêu cầu vợ chồng bằng cách nào đó để có tài sản thực hiện nghĩa vụ đối với mình; nếu không được thì người này có quyền yêu cầu vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung để người kia có tài sản thanh toán cho mình, thậm chí được tham gia vào việc chia tài sản chung đó; nếu cả ba người không thể thỏa thuận được thì người thứ ba này có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung của vợ chồng họ để một người có tài sản thực hiện nghĩa vụ với mình37
2.3 ĐIỀU KIỆN CHIA
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì điều kiện để có thể chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là phải có lí do chính đáng, hiện tại luật đã dự liệu hai trường hợp cụ thể được coi là có lí do chính đáng đó là trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng và trường hợp vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng, ngoài ra luật vẫn để dự trù các trường hợp có lí do chính đáng khác
2.3.1 Đầu tư kinh doanh riêng
Đầu tư kinh doanh riêng là khái niệm tương đối rộng và tương đối khó
xác định, theo người viết thì hoạt động đầu tư kinh doanh riêng là hoạt động
nhằm sinh lợi, do một người (vợ hoặc chồng) bỏ vốn ra để thực hiện một
37
Có ý kiến cho rằng trong trường hợp này quyền khởi kiện của người thứ ba không được thừa nhận ThS
Nguyễn Hồng Hải, Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo pháp Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, Tạp chí Luật học số 5 năm 2003, tr 26-29
Trang 28trong các công đoạn của quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ trên thị trường38
Việc đầu tư kinh doanh được coi là một lí do chính đáng bởi để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh thì chắc chắn cần phải có một khối tài sản thuộc sở hữu của người đầu tư để giao dịch Việc tài sản đem đầu tư là tài sản thuộc sở hữu chung sẽ gây nhiều phức tạp cho việc thực hiện giao dịch, bởi việc định đoạt tài sản đó cần có sự thỏa thuận của các đồng sở hữu chủ, nếu như người kia không quan tâm đến việc kinh doanh hoặc thậm chí phản đối việc kinh doanh đó thì việc thỏa thuận sẽ rất mất thời gian, thậm chí rắc rối và khó thực hiện trong khi hoạt động kinh doanh thì cần phải nhanh chóng để
“chớp thời cơ” Để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư kinh doanh nhằm phát triển kinh tế gia đình và đất nước, Luật Hôn nhân và Gia đình qui định rằng đây là một lí do chính đáng để vợ chồng có thể chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân Hơn nữa, nhiều hoạt động kinh doanh cũng được coi
là mạo hiểm nên cần tách riêng một khoản tài sản để nếu việc kinh doanh bị thua lỗ thì cũng không ảnh hưởng quá nhiều đến sự tồn tại của gia đình
Nói chung là việc chia tài sản này nhằm để một người có tài sản riêng để thực hiện các giao dịch bảo đảm vay vốn kinh doanh, để giúp thực hiện các giao dịch đỡ phức tạp hơn, bảo đảm cuộc sống của gia đình không bị ảnh hưởng nặng nề khi việc kinh doanh thua lỗ
2.3.2 Thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng
Theo Bộ luật Dân sự, nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ
có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác Việc thực hiện nghĩa vụ dân
sự riêng là việc thực hiện nghĩa vụ mà chỉ một người (vợ hoặc chồng) phải thực hiện còn người kia (chồng hoặc vợ) không phải liên đới thực hiện Việc thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng này chỉ nhằm để thực hiện đúng nghĩa vụ phải thực hiện, chứ có mục đích nhằm để phát sinh lợi (vì nếu nhằm để phát
38
Khái niệm kinh doanh này được lấy tương tự như khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm
2005
Trang 29sinh lợi thì sẽ thuộc trường hợp chia để đầu tư kinh doanh riêng) Nghĩa vụ dân sự riêng bao gồm các trường hợp thực hiện nghĩa vụ phát sinh do giao dịch do một bên thực hiện trước thời kì hôn nhân hoặc không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Theo người viết nghĩa vụ dân sự riêng thường phải phát sinh trước khi chia tài sản chung39 có như vậy việc chia tài sản chung mới là cần thiết để cho một trong hai người có thể thực hiện được nghĩa vụ này Tuy nhiên cũng có trường hợp nghĩa vụ riêng là nghĩa vụ trong tương lai, tuy nhiên nó phải có tầm quan trọng nhất định thì mới được coi là chính đáng
Luật chỉ dự liệu trường hợp chia tài sản để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng chứ không hề dự liệu việc chia tài sản để thực hiện trách nhiệm hình sự hay trách nhiệm hành chính với hình phạt tiền
2.3.3 Lí do chính đáng khác
Trường hợp này là do luật chưa dự liệu hết được các trường hợp Theo Nghị quyết số 01/1988/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 thì trường hợp vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn không muốn li hôn, được coi là một trường hợp có lí do chính đáng (trường hợp này có thể được coi là “li thân thực tế”) Theo người viết thì trường hợp một người thường xuyên có hành vi phá tán tài sản mà không thuộc trường hợp bị tuyên hạn chế năng lực hành vi dân sự (vì không nghiện hút hay nghiện các chất kích thích khác) cũng được coi
là lí do chính đáng để vợ chồng chia tài sản chung Thực tế là không hề có một chuẩn mực nào để đánh giá sự chính đáng trong lí do của việc chia tài sản chung, nếu như việc chia tài sản chung do tòa án quyết định thì một lí do có được coi là
lí do chính đáng khác không sẽ do tòa án cân nhắc, còn nếu việc chia là do vợ chồng thỏa thuận thì không thể kiểm soát được lí do chia tài sản có là chính đáng hay không, mà chỉ có qui định về sự vô hiệu của bản thỏa thuận chia khi nó được lập ra nhằm để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản
Trang 30mới yêu cầu tòa án chia40 Trường hợp vợ chồng thỏa thuận được (hoặc là cả
ba người thỏa thuận được khi người thứ ba yêu cầu vợ chồng chia) thì việc chia là hoàn toàn tự do có thể chia hết tài sản, chia một phần tài sản, chia cho hai bên có tài sản như nhau, chia cho một bên tất cả tài sản hiện có miễn là việc chia đó không nhằm để trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ về tài sản Trường hợp không thỏa thuận được thì việc chia do tòa án, tuy các văn bản hiện hành không qui định về cách thức chia trong trường hợp này nhưng kế thừa các qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 thì có lẽ cơ chế chia giống như trong một vụ li hôn41 Việc không qui định về cách thức chia trong trường hợp này có thể là sơ suất của nhà làm luật
2.5 HÌNH THỨC CHIA VÀ HIỆU LỰC
2.5.1 Thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì thỏa thuận của vợ chồng phải được lập thành văn bản Yêu cầu bắt buộc của văn bản là phải ghi
rõ các nội dung: lý do chia tài sản; phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; phần tài sản còn lại không chia (nếu có); thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung; phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ kí của cả vợ và chồng Văn bản có thể có người làm chứng, hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo qui định của pháp luật42 Vậy nên việc chia tài sản của vợ chồng hiện tại không hề bắt buộc phải có người làm chứng, hay phải công chứng chứng thực, tuy nhiên với một số trường hợp để đảm bảo cơ sở pháp lí chắc chắn cho việc thực hiện các thủ tục pháp lí tiếp theo có liên quan đến tài sản chia thì bản thỏa thuận chia tài sản chung phải có công chứng, chứng thực
ví dụ chia tài sản chung là quyền sử dụng đất, chia tài sản chung để tham gia giao dịch bảo đảm