1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh

125 376 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HỮU LONG

KỸ NĂNG SỐNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ

VIỆN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

dữ liệu và kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Hữu Long

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến:

Ban Giám hiệu 2 trường: Trung học cơ sở Tân Kiên – Huyện Bình Chánh và Trung học cơ sở Đoàn Thị Điểm – Quận 3 – Thành phố Hồ Chí Minh cùng Quý Thầy, Cô giáo đang giảng dạy tại 2 trường trên đã tạo điều kiện, nhiệt tình hỗ trợ và tích cực tham gia cùng chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài, góp phần quan trọng để đề tài nghiên cứu triển khai có kết quả Kính gửi lời cảm

ơn chân thành đến Quý anh chị là giảng viên của các trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, … đã hỗ trợ tích cực chúng tôi khi thực hiện đề tài Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến quý Thầy, Cô đã giảng dạy, hướng dẫn, góp ý khoa học cho lớp cao học tâm lý K 18 cùng với Tiến sĩ Trần Thị Thu Mai – người hướng dẫn khoa học, đã luôn tận tình, ân cần hướng dẫn, giúp đỡ và luôn động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn các anh, chị cùng khóa học, các đồng nghiệp, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như khi thực hiện luận văn này

NGUYỄN HỮU LONG

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội ngày càng văn minh – hiện đại, thế giới đang bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của khoa học công nghệ và những tiến bộ vượt bậc của nó đã, đang và sẽ mang lại cho loài người những “tiện ích” hữu dụng Nhưng, cũng chính ở thế kỷ 21 này, con người đang phải đối diện với những thách thức to lớn từ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và đặc biệt là mối quan hệ giữa người với người Với sự thay đổi đó, xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng đang từng ngày phải đối mặt với những thách thức và cần phải có những thay đổi để phù hợp với những mục tiêu và hoàn cảnh mới Giáo dục cần phải liên tục đổi mới để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội Đào tạo ra những con người vừa có tri thức khoa học, vừa có kỹ năng làm việc nhưng cũng phải vừa có những thái độ, hành vi tích cực trước những sự thay đổi của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Trước đây, trong bối cảnh xã hội truyền thống, người trẻ học cách đối nhân xử thế thông qua đại gia đình, làng xã, văn hóa dân gian, các chương trình giáo dục chính quy và không chính quy, … Nhưng dưới những chuyển biến kinh tế xã hội diễn ra quá nhanh chóng đã hạn chế phần nào chức năng của giáo dục gia đình và các thiết chế truyền thống Hơn thế nữa những biến động kinh tế xã hội ngày càng to lớn do quá trình hiện đại hóa đem lại cho lứa tuổi thiếu niên quá nhiều thử thách

Để giải quyết những thử thách mà thiếu niên phải đối mặt thì thiếu niên không những chỉ chuẩn bị các kỹ năng để lĩnh hội kiến thức (nghe, nói, đọc, viết, …) mà đó còn là khả năng ứng phó một cách

có hiệu quả trước những thách thức của cuộc sống Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện cụ thể bởi các hành vi phù hợp và tích cực với người khác, với nền văn hóa và với môi trường xung quanh

Bước vào tuổi thiếu niên, một mặt, các em bước đầu đòi hỏi thoát khỏi sự giám sát của bố mẹ

và có được địa vị bình đẳng trong gia đình Mặt khác, các em bắt đầu bước ra khỏi khuôn khổ gia đình, đi vào xã hội, nếm trải giao tiếp với mọi người với tư cách một cá thể tồn tại độc lập Thiếu niên bắt đầu muốn tự mình xác định mục tiêu và kế hoạch cuộc đời, dùng lý trí phán đoán của mình xem xét mọi sự việc, không muốn có sự can thiệp của bất cứ ai, kể cả bố mẹ Sự phát triển của tự ý thức đòi hỏi thiếu niên luôn muốn thoát khỏi sự ràng buộc của mối quan hệ phụ thuộc trước kia, khỏi sự giám sát từng ly từng tý của bố mẹ, trở thành cá thể độc lập, … Nhưng giữa những mong muốn mang tính cá nhân và những thách thức của cuộc sống đôi lúc không có sự tương ứng nên các

em sẽ dễ rơi vào trạng thái có thái độ phản kháng bằng các hình thức lì lợm, lạnh nhạt, lầu bầu, bất hợp tác và thậm chí là tỏ thái độ sống “bất cần đời”

Thực tế cho thấy trong những năm gần đây, tình trạng thanh thiếu niên, đặc biệt là trẻ ở độ tuổi trung học cơ sở, phạm pháp ngày càng gia tăng và mức độ nghiêm trọng của nó đã đến mức báo

Trang 5

động Học sinh trung học cơ sở dễ rơi vào những tệ nạn xã hội và góp phần ảnh hưởng xấu đến môi trường học đường Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng một trong những nguyên nhân chính đó chính là học sinh ngày nay rất thiếu về các kỹ năng sống cần thiết Để hóa giải vấn đề này đã có rất nhiều trung tâm đào tạo kỹ năng sống ra đời, nhằm giúp các em học sinh trung học cơ sở tập trải nghiệm trong những tình huống giả định, nhằm hình thành một số kỹ năng cần thiết để tự tổ chức cuộc sống của cá nhân trở nên hiệu quả hơn Mặt khác ngành Giáo dục và đào tạo cũng đã và đang có những định hướng tích cực để đưa kỹ năng sống vào giảng dạy tại các bậc học nhằm góp phần nâng cao định hướng giá trị và tạo lập hành vi phù hợp ở lứa tuổi thanh thiếu niên Nhưng có lẽ do đây là một lĩnh vực khoa học còn khá mới mẻ và với nhiều nguyên nhân khác nhau nên việc giảng dạy, huấn luyện kỹ năng sống vẫn còn nhiều điều bỏ ngỏ và chưa được quan tâm đúng mức

Vấn đề kỹ năng sống dưới góc độ tâm lý là lĩnh vực chưa được nghiên cứu nhiều Mặt khác, bản thân đã và đang có nhiều hoạt động nghiên cứu thực tiễn về vấn đề kỹ năng sống ở học sinh trung học cơ sở

Từ những lý do nêu trên chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài : “KỸ NĂNG SỐNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu làm rõ thực trạng kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất những biện pháp tác động tâm lý phù hợp nhằm hình thành và phát triển kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở

3.2 Khách thể nghiên cứu:

+ Khách thể nghiên cứu thực trạng:

- Học sinh ở 2 trường: THCS Tân Kiên – Huyện Bình Chánh và THCS Đoàn Thị Điểm – Quận 3 – TP Hồ Chí Minh

- Giáo viên chủ nhiệm tại các Trường THCS và nhà nghiên cứu về lĩnh vực Kỹ năng sống

+ Khách thể nghiên cứu thực nghiệm:

- Học sinh ở 2 trường: THCS Tân Kiên – Huyện Bình Chánh và THCS Đoàn Thị Điểm – Quận 3 – TP Hồ Chí Minh

4 Giới hạn nghiên cứu:

Trang 6

4.1 Nội dung:

Do đây là lĩnh vực khoa học mới tại Việt Nam và kinh nghiệm thực tế của người nghiên cứu nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu: Một số kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở dựa trên những phẩm chất tâm lý của cá nhân như: kỹ năng tự đánh giá bản thân, kỹ năng giao tiếp - ứng xử,

kỹ năng hợp tác và chia sẽ, kỹ năng phân biệt hành vi hợp lý và hành vi chưa hợp lý như là những

kỹ năng sống cơ bản của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở; thực trạng kỹ năng sống hiện nay của học sinh dưới góc độ tâm lý và tìm ra một số biện pháp cơ bản trong việc rèn kỹ năng sống cho học sinh

4.2 Địa điểm:

- Trường THCS Tân Kiên – Huyện Bình Chánh và THCS Đoàn Thị Điểm – Quận 3 – TP Hồ Chí Minh Khoa Tâm lý, Giáo dục Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP HCM, Trường Đại học Sài Gòn và Trường Cao đẳng Sư phạm TW Tp Hồ Chí Minh

4.3 Đối tượng khảo sát:

150 học sinh Trường THCS Tân Kiên – Huyện Bình Chánh

150 học sinh Trường THCS Đoàn Thị Điểm – Quận 3 – TP Hồ Chí Minh

30 Giáo viên chủ nhiệm 2 Tân Kiên – Huyện Bình Chánh và THCS Đoàn Thị Điểm – Quận

3 – TP Hồ Chí Minh

20 giảng viên Khoa Tâm lý, Giáo dục Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP HCM, Trường Đại học Sài Gòn và Trường Cao đẳng Sư phạm TW Tp Hồ Chí Minh

5 Giả thuyết khoa học

Với hệ thống kỹ năng sống được đưa vào nghiên cứu của đề tài thì kỹ năng sống của học sinh Trường THCS Tân Kiên – Huyện Bình Chánh và THCS Đoàn Thị Điểm – Quận 3 – TP Hồ Chí Minh tuy bước đầu đã có những nhận thức đúng đắn nhưng nhìn chung vẫn còn những khó khăn và chưa ở mức cao

Nếu giáo viên tổ chức nhiều hoạt động ngoài giờ tích cực (học sinh được làm chủ hoạt động, giáo viên chỉ là người đề xuất ý tưởng và biện pháp thực hiện) và các hoạt động trong giờ học tích cực thì học sinh ở lớp đó có kỹ năng sống cao hơn

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kỹ năng sống, biện pháp rèn kỹ năng sống

6.2 Tìm hiểu thực trạng kỹ năng sống và biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh

trung học cơ sở TP HCM

6.3 Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp tác động tâm lý nhằm hình thành và phát triển

kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở TP HCM

Trang 7

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Mục đích: Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đề

lý luận của đề tài cần nghiên cứu

- Cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu,

nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai, nghiên cứu thực tiễn

7.2 Phương pháp điều tra:

7.2.1 Bằng bảng hỏi: Dành cho học sinh

- Mục đích: Thu thập thông tin từ phía học sinh về:

+ Nhận thức hệ thống danh mục các kỹ năng sống

+ Năng lực giải quyết các vấn đề đòi hỏi sử dụng kỹ năng sống

- Cách tiến hành: Cho học sinh trả lời những câu hỏi và giải quyết các bài tập tình huống trên

các phiếu điều tra Đây là một trong những phương pháp chính của đề tài

7.2.2 Bằng bảng thăm dò ý kiến: Dành cho chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực Kỹ năng sống và giáo viên chủ nhiệm

- Mục đích: Thu thập thông tin từ phía giáo viên chủ nhiệm và nhà nghiên cứu để :

+ Đánh giá sơ bộ về thực trạng kỹ năng sống hiện nay của học sinh Trung học cơ sở

+ Đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở

- Cách tiến hành: Cho đối tượng khảo sát trả lời những câu hỏi (bao gồm cả câu hỏi mở và câu

hỏi đóng) trên các phiếu thăm dò ý kiến

7.3 Phương pháp quan sát

- Mục đích: Nắm được thực trạng giải quyết vấn đề có vận dụng kỹ năng sống của học sinh

- Cách tiến hành: Đi thực tế tại 2 trường Trung học cơ sở và quan sát giờ chơi, giờ học (đặc

biệt là các giờ hoạt động ngoài giờ lên lớp) nhằm nắm bắt thực trạng kỹ năng sống của học sinh

7.4 Phương pháp thực nghiệm

Trang 8

- Mục đích: Nhằm so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau khi tiến hành các biện pháp hình

thành kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở Đây là một trong những phương pháp chính của đề tài

- Cách tiến hành: Sau khi rút ra kết luận về thực trạng kỹ năng sống của học sinh Trung học

cơ sở và thăm dò được các biện pháp hình thành kỹ năng sống, người nghiên cứu lựa chọn từ

5 – 10 kỹ năng sống cơ bản và từ 3 – 5 biện pháp tổ chức tác động Sau khi tổ chức các biện pháp tác động, người nghiên cứu dùng phiếu điều tra về kỹ năng sống để đo lại kỹ năng sống của học sinh

7.5 Phương pháp thống kê toán học

- Nhằm xử lý, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu

kiến chuyên gia… nhằm thu thập thêm những thông tin phục vụ cho đề tài

8 Đóng góp mới của đề tài

Đây là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về lĩnh vực kỹ năng sống dành cho học sinh trung học cơ sở tại Việt Nam Vì thế, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần:

8.1 Về lý luận:

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về: kỹ năng sống, biện pháp rèn kỹ năng sống, …

8.2 Về thực tiễn:

- Góp phần làm sáng tỏ thực trạng kỹ năng sống hiện nay của học sinh Trung học cơ sở

- Chứng minh rằng nếu thiết lập được các biện pháp rèn luyện (tác động tâm lý) tích cực và phù hợp sẽ trang bị và nâng cao được kỹ năng sống cho học sinh

- Là căn cứ để tìm ra các phương pháp phù hợp trong việc giảng dạy và huấn luyện kỹ năng sống cho học sinh

9 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm có 2 phần chính:

Phần I: Mở đầu

Phần II: Nội dung nghiên cứu

Trang 9

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Thực trạng kỹ năng sống và biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở TP HCM

Chương 3: Biện pháp tác động tâm lý nhằm hình thành và phát triển kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở TP HCM

Kết luận và kiến nghị

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA KỸ NĂNG SỐNG

VÀ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỐNG

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ cũng đã thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn luyện các Kỹ năng Cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skills - SCANS) Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức… nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao” Cũng trong khoảng thời gian này, tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002) Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân

và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức [ 36, tr.3]

Những năm đầu thập niên 90, một số nước Châu Á như: Ấn Độ, Lào, Campuchia, Indonexia, Malaysia, Thái Lan, … cũng đã nghiên cứu và triển khai chương trình dạy kỹ năng sống ở các bậc học phổ thông từ mầm non cho đến Trung học phổ thông Những nội dung giáo dục chủ yếu ở hầu hết các nước này đó là trang bị cho người trẻ tuổi những kỹ năng sống cần thiết để giúp họ thích nghi dần với cuộc sống sau này, mục đích chính là dạy – trang bị và hình thành Mục tiêu chung của giáo dục kỹ năng sống được xác định là: “Nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lượng cuộc sống” Với một đích nhắm đến yếu tố cá nhân của người học, các nước cũng đã đưa ra cách thiết kế chương trình giáo dục và trang bị kỹ năng sống như: lồng ghép vào chương trình dạy chữ, học vấn, vào tất cả các môn học và các chương trình ở những mức độ khác nhau Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học như: kỹ năng nghề, kỹ năng hướng nghiệp, … và được chia làm ba nhóm chính là: Kỹ năng cơ bản (gồm các kỹ năng đọc, viết, ghi chép, …), nhóm kỹ năng chung (gồm các kỹ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, …) và nhóm kỹ năng cụ thể (gồm các kỹ năng bình đẳng giới, bảo vệ sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần, …)[ 36, tr.4]

Trang 11

Tóm lại, dù xuất phát từ quan điểm chung về kỹ năng sống từ Tổ chức Y tế thế giới hay

UNESCO, nhưng ở mỗi quốc gia trên thế giới đều có sự khác biệt về quan niệm và nội dung, có nước thực hiện theo đúng chuẩn kỹ na8gn nhưng cũng có nước mở rộng thêm chứ không chỉ bao hàm kỹ năng sống là những khả năng về tâm lý, xã hội Kỹ năng sống được lồng ghép ở cá giáo dục chính quy (giáo dục trong chương trình đào tạo) và cả giáo dục không chính quy (hoạt động ngoại khóa – hoạt động ngoài giờ lên lớp) Những quan niệm, nội dung giáo dục kỹ năng sống được triển khai vừa thể hiện nét chung vừa thể hiện nét đặc thù, những nét riêng của từng quốc gia Nhìn chung các quốc gia cũng mới bước đầu triển khai chương trình và biện pháp giáo dục kỹ năng sống nên chưa thật toàn diện và sâu sắc, vì chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng kỹ năng sống ở người học sau khi được trang bị hay huấn luyện kỹ năng sống [1, tr 40 - 43]

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước

Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, nội dung giáo dục con người biết đối nhân xử thế, kinh nghiệm làm ăn để đáp ứng và biến ứng với những thách thức của thiên tai, … đã được phản ánh khá phong phú qua hệ thống danh ngôn, ca dao, tục ngữ và những lời dạy của người xưa Còn đối với chức năng của giáo dục thì mục tiêu học để làm người hay nói cách khác là học để biết đối nhân xử thế, học để sống tốt hơn và học để phục vụ bản thân – gia đình và xã hội đã được quan tâm ngay từ những ngày đầu tiên của giáo dục Việt Nam Nhưng có lẽ với mục tiêu và nội dung như thế vẫn chưa được gọi là kỹ năng sống mà tất cà như là những lời giáo dục để ứng phó với sự thay đổi của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Thuật ngữ “Kỹ năng sống”bắt đầu được quan tâm tại Việt Nam vào những năm đầu thập niên

90 – khi xã hội bắt đầu có những chuyển biến phức tạp – nền kinh tế thị trường và việc du nhập các nền văn hóa từ các nước bên ngoài vào Việt Nam hay đó là sự biến đổi của môi trường tự nhiên đã tác động rất lớn đến con người vì lẽ đó đòi hỏi mỗi người phải học cách thích nghi với những sự thay đổi đó, từ đây những kỹ năng khác ngoài trình độ học vấn, tư cách đạo đức, năng lực làm việc bắt đầu được xem xét và quan tâm – đó chính là điều kiện để giáo dục Việt Nam quan tâm đến thuật ngữ kỹ năng sống trong chương trình và triển khai một số dự án của các tổ chức khác trên thế giới Tại Viêt Nam đầu những năm 90, Thủ tướng chính phủ cũng đã có văn bản chỉ đạo tại Quyết định 1363/TTg về việc “Đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”, tuy quyết định này chưa thấy rõ về việc phải rèn luyện kỹ năng sống ở các bậc học, tuy nhiên nội dung của quyết định cũng đã có đề cập đến việc trang bị cho người học những vấn đề về văn hóa ứng xử,

về thái độ sống, … Chỉ thị 10/GD&ĐT năm 1995 hay Chỉ thị 24/CT&GD năm 1996 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và đào tạo đã có những chỉ đạo về công tác phòng chống HIV/AIDS hay tăng cường

Trang 12

công tác phòng chống ma túy tại trường học ít nhiều cũng đã đề cập đến nội dung của thuật ngữ kỹ năng sống [1, tr 40 - 43]

Năm 1996 thông qua chương trình của UNICEF “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe

và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Giai đoạn 1 của chương trình chỉ dành cho một số đối tượng của ngành giáo dục và Hội chữ thập đỏ và được trang

bị một số kỹ năng như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng kiên định, kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ năng xác định giá trị, … Sang giai đoạn 2 của chương trình đối tượng tập huấn được mở rộng và thuật ngữ kỹ năng sống được hiểu một cách rộng rãi hơn “Kỹ năng sống là các kỹ năng thiết thực mà con người cần đến để có cuộc sống an toàn và khỏe manh” Cuối cùng khái niệm kỹ năng sống thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ vào năm 2003 Và chính từ đây ngành giáo dục đã bắt đầu quan tâm đến kỹ năng sống và cách thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, một số bộ Luật của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi cũng đã có những định hướng và điều khoản liên quan đến việc trang bị kỹ năng sống cho học sinh như: Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 hay Luật giáo dục năm 2005 Mặt khác, Giáo dục Việt Nam bắt đầu quan tâm đến nhiều vấn đề liên quan đến người học – đặc biệt là vấn đề phát triển toàn diện cho người học nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và của nền kinh tế tri thức Từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông qua dự án “Giáo dục sống khoẻ mạnh, kỹ năng sống cho trẻ và vị thành niên” với sáng kiến và hỗ trợ của UNICEF tại Việt Nam Tham gia dự án có học sinh THCS và trẻ em ngoài trường học ở một số tỉnh thuộc nhiều khu vực như: Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Gia Lai, Kon Tum, TP Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang Các em được rèn luyện kỹ năng sống thiết thực để ứng phó với những vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống an toàn, mạnh khoẻ của trẻ em như: phòng chống HIV/AIDS, ma tuý, sức khoẻ sinh sản, vấn đề quan hệ tình dục sớm… Mục tiêu của Dự án là hình thành thái độ tích cực của học sinh đối với việc xây dựng cuộc sống khoẻ về thể chất, mạnh về tinh thần, hiểu biết về xã hội; Nâng cao nhận thức của cha mẹ học sinh về kỹ năng sống…để họ chủ động trong việc truyền thụ kiến thức kỹ năng cho con em mình.[2,

tr 37,38,43,44]

Năm học 2007 – 2008, Bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa ra phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện , học sinh tích cực” Phong trào này bắt đầu được triển khai mạnh mẽ trong hầu hết tất cả các bậc học từ mầm non cho đến đại học Ngày 22 tháng 7 năm 2008, một lần nữa Bộ giáo dục và đào tạo đã ra Chỉ thị về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện , học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013 Kèm với Chỉ thị này là

Trang 13

một thông báo về hướng dẫn triển khai phong trào “Xây dựng trường học thân thiện , học sinh tích cực” năm học 2008 – 2009 và giai đoạn 2008 – 2013 với mục tiêu liên quan đến kỹ năng sống là:

“Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội”

Cũng trong thời điểm này, một số nhà chuyên môn cũng bắt đầu nghiên cứu và viết một số tài liệu liên quan đến lĩnh vực kỹ năng sống Tác giả Nguyễn Thanh Bình khi tham gia dự án Đào tạo giáo viên Trung học cơ sở đã cho ra đời Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2007 Giáo trình đề cập chủ yếu đến những vấn đề đại cương về kỹ năng sống, một số biện pháp nhằm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, … Năm 2009 tác giả Huỳnh Văn Sơn cùng Nhà xuất bản Giáo dục cho ra đời tài liệu Nhập môn kỹ năng sống với các nội dung cơ bản: những vấn đề chung về kỹ năng sống và một số kỹ năng sống cơ bản, … Năm 2009, Trung tâm

hỗ trợ sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức diễn đàn Những kỹ năng thực hành xã hội dành cho sinh viên và thông qua diễn đàn này tài liệu Những kỹ năng thực hành xã hội dành cho sinh viên cũng đã được xuất bản Tài liệu là cẩm nang gồm một số kỹ năng sống và làm việc dành cho những người trẻ trong thời kỳ hội nhập và phát triển của đất nước

Tóm lại, cho đến nay, kỹ năng sống vẫn còn là một trong những vấn đề mới mẽ trong khoa

học cũng như trong hệ thống giáo dục Việt Nam Nghiên cứu kỹ năng sống tại Việt Nam hay triển khai chương trình rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh chỉ mới thể hiện rõ ở chương trình giáo dục ngoài khung chương trình đào tạo Chưa có văn bản, tài liệu khoa học hay giáo trình về giảng dạy

kỹ năng sống cho học sinh Đây cũng là một nguyên nhân hạn chế việc giáo dục kỹ năng sống tại Việt Nam hiện nay

1.2 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống

1.2.1 Khái niệm kỹ năng

Có nhiều tác giả trong nước và ngoài nước đã đưa ra những quan niệm khác nhau về kỹ năng Với mỗi quan niệm, với mỗi cách nhìn khác nhau, các tác giả đã cố gắng minh chứng một cách sinh động nhất về khái niệm kỹ năng

Quan niệm thứ nhất: xem kỹ năng như là kỹ thuật thao tác:

Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng [25, tr.49]

Trang 14

Từ điển tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa “Kỹ năng là giai đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo” [16, tr.376]

Còn tác giả N.D.Levitovxam xét kỹ năng gắn liền với kết quả hành động Theo ông, người có

kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn mạnh, muốn hình thành kỹ năng con người vừa phải nắm vững lí thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lý thuyết đó vào thực tế

Quan niệm thứ hai: xem kỹ năng như là một năng lực của con người:

Tác giả A.V.Petrovski cho rằng: Kỹ năng chính là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định

Đồng quan điểm này, thì các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh cũng quan niệm kỹ năng là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả

Các tác giả Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân cho rằng kỹ năng là cách vận dụng tri thức vào thực tiễn, kỹ xảo là kỹ năng được củng cố và tự động hóa

Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép [24, tr.6]

Như vậy, với cả hai quan niệm này chúng ta thấy rằng: nếu có kỹ năng thì con người làm việc một cách có hiệu quả hơn Kỹ năng sẽ giúp mỗi người thực hiện công việc có thứ tự, kế hoạch

và tổ chức được quá trình làm việc cách chuyên nghiệp và hiệu quả.Kỹ năng là khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong một hoàn cảnh, điều kiện nhất định, đạt được một chỉ tiêu nhất định

Trên cơ sở những quan niệm của các tác giả về kỹ năng ở cả hai góc độ, chúng tôi quan niệm rằng: kỹ năng là cách thức con người thực hiện một hành động dựa trên sự hiểu biết và kinh nghiệm của cá nhân trong những hoàn cảnh nhất định

1.2.2 Khái niệm kỹ năng sống

Quan niệm của “Tổ chức văn hóa – khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc” (UNESCO) cho rằng: là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày

Trang 15

Quan niệm của “Tổ chức Y tế thế giới” (WHO) coi kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ năng giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để giải quyết có hiệu quả các vấn đề, các tình huống của cuộc sống nhằm tương tác có hiệu quả với người khác

Tác giả X.Kommi thì cho rằng: là khả năng con người thực hiện những hành vi thích ứng với những thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống

Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng với cuộc sống Tác giả cho rằng

kỹ năng sống nhìn dưới góc độ năng lực tâm lý là những những kỹ năng giúp con người tồn tại về mặt thể chất và mặt tâm lý [24, tr.7-9]

Từ góc độ tâm lý học tác giả Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: là một tổ hợp phức tạp của một

hệ thống kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống [28, tr.2-4]

Trên cơ sở những quan niệm của các tác giả về kỹ năng sống, chúng tôi quan niệm rằng:

kỹ năng sống là những hành vi mà con người thể hiện để ứng phó với những tình huống diễn ra trong đời sống dựa trên những phẩm chất tâm lý cơ bản của nhân cách và kinh nghiệm của cá nhân

1.2.3 Khái niệm nhân cách

Đứng ở góc độ quan điểm sinh vật hóa nhân cách coi bản chất nhân cách nằm trong các đặc điểm hình thể, ở góc mũi, ở thể tạng, ở bản năng vô thức [5, tr.92] Dưới góc độ phân tâm học, tác giả Sigmund Freud quan niệm nhân cách – tâm lý con người gồm 3 khối: vô thức, ý thức và siêu thức tương ứng với ba khối đó là cái ấy, cái tôi và cái siêu tôi Ông lý giải thêm cái ấy là bản năng của con người, cái tôi là cái được hình thành do áp lực từ bên ngoài đến toàn bộ cái bản năng Cái tôi có tính chất tự chủ còn cái siêu tôi là tổ chức bên trong bao gồm tất cả các phạm trù xã hội, đạo đức, nghệ thuật, giáo dục [4, tr.55,56]

Một số nhà tâm lý học Phương Tây dưới góc độ xã hội hóa nhân cách như nhà tâm lý như: A.G Côvaliov quan niệm: “Nhân cách là một cá thể có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định” Hay nhà tâm lý E.V Sôdrôkhôva cho rằng:

“Nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, quy định của hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội” [16, tr.67] Như vậy, khái niệm nhân cách là một phạm trù xã hội, có bản chất xã hội – lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nội dung của những điều kiện lịch sử cụ thể, của một xã hội chuyển vào thành đặc điểm nhân cách của từng người

Trang 16

Các nhà tâm lý học Việt Nam thì quan niệm: “Nhân cách là sự tổng hòa không phải các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của

xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý – xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân” [5, tr.93] Tác giả Lê Xuân Hồng và các cộng sự quan niệm: “Nhân cách là tổ hợp các đặc điểm tâm lý

ổn định của con người, quy định giá trị xã hội hành và hành vi xã hội của họ Nó vừa biểu thị bản sắc riêng của cá nhân, vừa biểu thị những đặc trưng chung của một nhóm người mà người ấy là đại diện” [10, tr.198]

Tác giả Nguyễn Ngọc Bích cho rằng: “ Nhân cách là hệ thống những giá trị xã hội của cá nhân thể hiện những phẩm chất bên trong của cá nhân, mối quan hệ qua lại của cá nhân với cá nhân khác, với tập thể, với xã hội, với thế giới xung quanh và mối quan hệ của cá nhân với công việc trong quá khứ, hiện tại và tương lai” [4, tr.233]

Từ điển Tiếng Việt cho rằng: Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ mối quan hệ qua lại của người đó với những người khác, với tập thể, với xã hội và cả với thế giới tự nhiên xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương lai Nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong tòan bộ thời gian con người tồn tại trong

xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc

Ở Việt Nam tuy rằng chưa có một định nghĩa nhân cách nào một cách chính thống, song cách hiểu của người Việt Nam về nhân cách ó thể theo các mặt sau: thứ nhất, nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và năng lực hoặc là con người có các phẩm chất: đức, trí, thể,

mĩ, lao (lao động); Thứ hai: Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người; Thứ ba: Nhân cách được hiểu như các phẩm chất của con người mới: làm chủ, yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần lao động; Thứ tư: Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của con người [4, tr.226]

Tóm lại, khi bàn đến nhân cách chúng ta phải khẳng định rằng: nhân cách là một cấu trúc tâm

lý ổn định và có những đặc điểm nổi bật như: chúng luôn đảm bảo tính thống nhất, tính ổn định, tính tích cực và tính giao lưu của nhân cách Muốn tìm hiểu một người nào đó ta phải tìm hiểu họ trong các mối quan hệ xã hội và phải bao gồm tất cả các nét, các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con người Những thuộc tính này được hình thành trong quá trình tác động qua lại giữ con người và con người trong xã hội… Khi nói tới nhân cách, cần nhấn mạnh đến một trong những yếu tố quan trọng nhất của nó, đó là các giá trị, bao gồm: Các giá trị tư tưởng Các giá trị đạo đức và các giá trị nhân văn Hệ thống các giá trị này được hình thành và cũng cố bởi năng lực nhận thức

Trang 17

kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân trong quá trình thể nghiệm lâu dài Nội dung của định hướng giá

trị là niềm tin, thế giới quan đạo đức, nguyên tắc sống… của con người

1.3 Hệ thống kỹ năng sống cơ bản đối với học sinh

Có rất nhiều cách phân loại hệ thống kỹ năng sống cơ bản:

1.3.1 Cách phân loại theo WHO: Chia kỹ năng sống thành 3 nhóm:

- Nhóm 1: Kỹ năng nhận thức: Tự nhận thức, đặt mục tiêu xác định giá trị, óc tư duy, óc sáng tạo, giải quyết vấn đề, …

- Nhóm 2: Kỹ năng cảm xúc: Có trách nhiệm về cảm xúc của mình, kiềm chế và kiểm soát cảm xúc, điều chỉnh cảm xúc bản thân, …

- Nhóm 3: Kỹ năng xã hội: Giao tiếp - ứng xử, tạo thiện cảm, làm việc nhóm, …

1.3.2 Cách phân loại theo UNESCO: chia kỹ năng sống thành 2 nhóm:

- Nhóm 1: Bao gồm các kỹ năng: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thể hiện cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, …(kỹ năng xã hội)

- Nhóm 2: Bao gồm: Nhận thức về giới tính, nhận thức về sức khỏe, nhận thức các mối quan

hệ xung quanh, … (kỹ năng chuyên biệt)

1.3.3 Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF): chia kỹ năng sống thành 3 nhóm:

- Nhóm thứ nhất: Kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình gồm các kỹ năng như: tự nhận thức và đánh giá bản thân, kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc đời, kỹ năng bảo vệ bản thân…

- Nhóm thứ hai: Kỹ năng tự nhận thức và sống với người khác bao gồm các kỹ năng như: kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc nhóm…

- Nhóm thứ ba: Kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả bao gồm các kỹ năng như: phân tích vấn đề, nhận thức thực tế, ra quyết định, ứng xử, giải quyết vấn đề…

1.3.4 Tác giả Nguyễn Quang Uẩn: chia kỹ năng sống thành 3 nhóm chính [28, tr.1-3]:

- Nhóm thứ nhất: Kỹ năng về cuộc sống cá nhân bao gồm các kỹ năng: kỹ năng sinh hoạt cá nhân, kỹ năng rèn luyện giữ sức khỏe, kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng tự ý thức và

có trách nhiệm với bản thân, kỹ năng tự xác định mục đích, kế hoạch cuộc sống…

- Nhóm thứ hai: Kỹ năng quan hệ với người khác, với cộng đồng, xã hội bao gồm các kỹ năng:

kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ liên nhân cách, kỹ năng thực hiện các hành vi văn hóa xã hội, kỹ năng thích ứng xã hội…

Trang 18

- Nhóm thứ ba: Kỹ năng thực hành công việc bao gồm các kỹ năng: kỹ năng xác định mục tiêu công việc, kỹ năng lựa chọn và xác định các giá trị, kỹ năng hoạch định công việc, kỹ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong công việc, kỹ năng tổ chức thực hiện công việc có kết quả, kỹ năng đánh giá công việc và rút kinh nghiệm về công việc, kỹ năng chuẩn bị cho các công việc tiếp theo…

Từ những nhận định của các tác giả trên, chúng tôi quan niệm về việc phân chia kỹ năng sống thành 3 nhóm chính:

- Nhóm thứ nhất: Kỹ năng quản lý bản thân bao gồm một số kỹ năng: Kỹ năng xây dựng hình ảnh bản thân, kỹ năng xác lập mục tiêu cuộc đời, kỹ năng đánh giá bản thân, …

- Nhóm thứ hai: Kỹ năng giao tiếp - ứng xử với các mối quan hệ xung quanh bao gồm một số

kỹ năng: Kỹ năng ứng xử trong giao tiếp, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ gia đình – xã hội, kỹ năng kiềm chế cảm xúc, kỹ năng hợp tác, kỹ năng chia sẽ,

kỹ năng truyền thông, kỹ năng giải quyết xung đột, …

- Nhóm thứ ba: Kỹ năng nhận thức các vấn đề liên quan đến cuộc sống bao gồm một số kỹ năng: Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề sáng tạo, kỹ năng phân biệt hành vi lạm dụng và hành vi yêu thương, kỹ năng vượt qua khó khăn, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng

tổ chức cuộc sống, …

Thông qua việc phân chia kỹ năng sống thành ba nhóm chính, căn cứ vào khoa học tâm

lý và giáo dục cũng như các khoa học nghiên cứu về con người, căn cứ vào thực tế cuộc sống và dặc điểm phát triển lứa tuổi thiếu niên, đề tài xin phân tích một số kỹ năng sống có giá trị và cần thiết đối với học sinh lứa tuổi học sinh trung học cơ sở:

- Kỹ năng tự phục vụ bản thân:

Khái niệm: Mỗi cá nhân tự xác định và trang bị cho mình những kỹ năng phục vụ chính mình

là một việc làm có giá trị cho cuộc sống mỗi người “Ta chính là người đi trên bước chân của mình chứ không phải của ai khác” Để đi được trên chính đôi chân của mình thì mỗi cá nhân sẽ trang bị các kỹ năng tự phục vụ bản thân như: kỹ năng sống tự lập, kỹ năng quản lý bản thân tránh một số hành vi tiêu cực, … [17, tr.52-55]

Cách thức rèn luyện: Mỗi người cần tự học thông qua việc cá nhân tham gia tích cực vào các

hoạt động trong cuộc sống Chủ động tìm những kiến thức từ sách báo, tài liệu khoa học hay tham gia vào các lớp huấn luyện kỹ năng để thiết lập các kỹ năng cống cho bản thân Mặt khác, mỗi cà nhân phải tuân thủ một cách có kỷ luật trong quá trình rèn luyện mà người lớn đã lưu ý và tạo điều kiện cho chúng ta ngay từ khi bắt đầu thâm nhập vào cuộc sống

Trang 19

Ý nghĩa: Khi mỗi người tự phục vụ được cho chính bản thân mình không những làm cho gia

đình, những người thân xung quanh và xã hội không còn lo lắng hay bất an Bên cạnh đó, bản thân của mỗi người sẽ thấy tự tin hơn, cuộc sống trở nên dễ dàng và biết giúp đỡ người khác một cách thật lòng và hiệu quả

- Kỹ năng xác lập mục tiêu cuộc đời

Khái niệm: Kỹ năng thiết lập mục tiêu cuộc đời là kỹ năng mà ở đó cá nhân tự đề ra kế hoạch

và thời gian thực hiện kế hoạch muốn thực hiện trong tương lai một cách rõ ràng, hợp lý mang lại hiệu quả cao

Mục tiêu được chia làm: mục tiêu ngắn hạn, mục tiêu trung hạn và mục tiêu dài hạn [17, tr.61]

Cách thức xác lập mục tiêu: Mục tiêu sống của mỗi cá nhân khác nhau nên không thể áp

dụng mục tiêu của người này cho người khác và ngược lại Mục tiêu được xác lập dựa trên nhu cầu của mỗi cá nhân, dựa trên năng lực thực sự của mỗi người cũng như nhiều điều kiện khác có liên quan Vì thế việc xác lập mục tiêu phải dựa trên việc tìm hiểu và đánh giá đúng bản thân mình [17, tr.21]

Một số nguyên tắc lưu ý khi thực hiện mục tiêu: mục tiêu phải rõ ràng, thiết thực, cụ thể và đảm bảo tính nhất quán, hệ thống

Quá trình xác lập mục tiêu được chia làm các giai đoạn: Giai đoạn xác định mục tiêu; giai đoạn tìm ra những lợi ích; giai đoạn tìm ra những rào cản (cản trở) khi thực hiện mục tiêu; giai đoạn xác định những việc làm cụ thể và những cách thức để tiến hành thực hiện; giai đoạn tìm thấy những cá nhân khác liên quan và hỗ trợ việc thực hiện mục tiêu; giai đoạn xác định thời gian cụ thể; giai đoạn thực thi kế hoạch và giai đoạn cuối cùng là lượng giá kết quả thực hiện, kế hoạch và hoàn chỉnh mục tiêu

Ý nghĩa: Xác lập được mục tiêu sẽ là điều kiện phát huy hết được những điểm mạnh và

những điểm yếu của bản thân từ đó sẽ dần bước lên những nấc thang thành công trong cuộc sống Xác lập mục tiêu cuộc đời là cách giúp mỗi cá nhân định hướng được cuộc đời của mỗi người Giúp

cá nhân sống có mục đích, lý tưởng và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội

- Kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả:

Khái niệm: Là kỹ năng nhận định, ước lượng và phân bố thời gian hợp lý cho từng công việc

nhằm đạt hiệu quả cao nhất và cân bằng cuộc sống của bản thân

Trang 20

Một cuộc sống ngày nay với sự đòi hỏi ngày càng cao trong công việc bắt buộc chúng ta phải

có kỹ năng làm việc tốt để có thể thích nghi được với nó, đạt được kết quả cao trong công việc cũng như cân bằng được cuộc sống cá nhân và gia đình Tuy nhiên, với quỹ thời gian bất biến thì không phải lúc nào chúng ta cũng có thể giải quyết hài hoà được việc này Vậy tại sao trong một chừng mực thời gian nhất định, có người chẳng làm nên trò trống gì trong khi một số người làm được vô khối việc lớn lao to tát? Phải chăng họ có một khả năng siêu phàm và quỹ thời gian nhiêu hơn so với những người bình thường khác?

Quỹ thời gian của mọi người là như nhau, vì thế, câu trả lời không nằm ở chỗ chúng ta có bao nhiêu thời gian để làm các công việc đó như thế nào cho hiệu quả Để sử dụng thời gian của mình một cách tốt nhất, trước hết, mỗi cá nhân phải nhận định năng lực làm việc của bản thân dựa trên phân tích những điểm mạnh, điểm yếu đối với công việc mình đang đảm nhiệm, từ đó mà biết mình mong muốn điều gì trong sự nghiệp ở thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai Đây chính

là công việc đặt cho bản thân mình một mục tiêu để hướng tới

Cách thức xác lập việc quản lý thời gian hiệu quả:

Tiến trình tổ chức thực hiện và rèn luyện kỹ năng tổ quản lý thời gian hiệu quả: trước hết mỗi người hãy học cách làm việc có tổ chức bằng cách: lên kế hoạch cho những việc cần làm, xác định việc ưu tiên Sau đó hãy khẳng định xem đâu là những việc mình làm tốt nhất, tập trung toàn bộ công việc lại thành một mối, chia nhỏ công việc theo thứ tự cần làm và cuối cùng tập cho mình tính

kỹ luật bằng cách “chưa hết việc chưa nghĩ – hết việc hết hãy đi nhanh”

Vận dụng nguyên tắc SMART trong thiết lập và quản lý thời gian tức là mục tiêu được xây dựng dựa trên những tiêu chí sau: S-Specific: Cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu; M-Measurable: Đo đếm được; A-Achievable: Có thể đạt được bằng chính khả năng của mình; R-Realistic: Thực tế, không viển vông; Time bound; Thời hạn để đạt được mục tiêu đã vạch ra [12, tr.78]

Ý nghĩa: Những người quản lý thời gian hiệu quả sẽ có tư duy rành mạch hơn, rõ ràng hơn,

họ là những người sáng tạo hơn và làm việc tốt hơn Biết cách quản lý thời gian sẽ làm cho cuộc sống dễ dàng hơn Cá nhân sẽ tránh được căng thẳng, tăng năng suất và hiệu quả công việc Đặc biệt khi quản lý đượca bản thân kình, cá nhân đó sẽ có cảm giác được tận hưởng một không gian và thời gian dành cho bản thân, làm tăng giá trị sống cho bản thân

- Kỹ năng điều chỉnh và quản lý cảm xúc

Khái niệm: Là kỹ năng nhận diện, biết, hiểu và điều chỉnh cảm xúc của bản thân một cách

hợp lý nhằm duy trì trạng thái cân bằng của cơ thể để tránh những căng thẳng vốn không cần thiết trogn cuộc sống

Trang 21

Điều chỉnh và quản lý cảm xúc là việc làm cần thiết đối với mỗi con người Khi chúng ta nhận diện được những cảm xúc đang tồn trong con người mình đồng nghĩa với việc ta biết mình đang sống thế nào Nhận diện và quản lý cảm xúc của chính mình không những mang lại suy nghĩ

và cách sống tích cực cho bản thân mà qua đó còn giúp chúng ta hiểu và ứng phó được với cảm xúc của những người bên cạnh Từ đây một con đường “ứng xử trong giao tiếp” được xác lập và mỗi người sẽ dễ dàng chinh phục người đối diện

Cách thức xác lập việc điều chỉnh và quản lý cảm xúc: Tình cảm hay cảm xúc luôn cho

chúng ta những lợi ích khác nhau, nó làm tăng tính hiệu quả ứng phó với các tình huống đơn giản, của một phản ứng phức tạp để thêm những phức tạp Như vậy, những cảm xúc tiêu cực là một tín hiệu cảnh báo sớm hữu ích mà một cái gì đó có thể đúng – có thể sai Chúng ta học cách phân tích tình cảm – cảm xúc Là một điểm bắt đầu hữu ích cho sự hiểu biết cảm xúc của riêng mạnh mẽ của mình, cũng như những người khác Nó sẽ giúp mỗi cá nhân xem những cảm xúc như là chiếc chìa khóa để mở các cánh cửa trên con đường tìm đến sự thành công

Các bước quản lý cảm xúc: Nhận diện – phán đoán – phân loại – ứng phó và bộc lộ cảm xúc Khi chúng ta đã xác định được các loại cảm xúc đang đến từ đó đưa chúng vào các “hộp cảm xúc” khác nhau của mỗi người để chúng có thể bị triệt tiêu hoặc được thể hiện một cách thoải mái trong

sự kiểm soát của chủ thể

Ý nghĩa: Nhận diện và phân loại cũng như điều chỉnh và quản lý cảm xúc sẽ giúp mỗi người

tìm thấy được sự bình tĩnh cần thiết khi đối diện với bất cứ vấn đề nào trong cuộc sống

- Kỹ năng nhận thức bản thân – kỹ năng tự đánh giá bản thân

Khái niệm: Kỹ năng tự đánh giá là kỹ năng mà ở đó là cách thức thể hiện thái độ của một

người đối với những năng lực, những khả năng, những phẩm chất cũng như tất cả những gì biểu hiện bên ngoài lẫn bên trong của con người mình Nói cách khác là mỗi người có thể tự mình trả lời các câu hỏi: tôi là ai, tôi như thế nào, tôi có gì, …

Cách thức tự đánh giá: Với thông điệp tôi là ai - một thông điệp tưởng chừng rất đơn giản

nhưng thật sự rất khó để có thể giải mã Làm thế nào để biết mình là ai trong cuộc sống, mình có những gì không phải ai cũng có thể thấu hiểu Để biết chính xác về mình không thể chỉ thông qua người khác mà trước nhất, tự mình hãy “nghe ngóng” nội lực của bản thân

Mỗi một ngày hãy tự soi gương ít nhất 3 lần, sư huyễn hoặc về sắc đẹp của mình sẽ được giảm bớt Hãy so sánh mình với những người thật tệ hại và những người thật sự giỏi, bản thân mình

sẽ cảm thấy mình là một người rất bình thường chứ không hề phi thường trong cuộc sống [24, tr.18-19]

Trang 22

Quá trình tự nhận thức dẫn đến tự đánh giá diễn ra theo bốn bước: Bước 1: Cá nhân tiếp nhận thông tin về mình từ bên ngoài; bước 2: Cá nhân dùng phương pháp đối chiếu, so sánh, cân nhắc để nhận ra cái giống và cái chưa giống trong chính con người mình và từ phía bên ngoài; bước 3: Cá nhân xác định được các hiện tượng tâm lý của mình đang tồn tại ở mức độ nào (cá nhân xem xét, đối chiếu các hiện tượng đã được xác định với một thang bậc các mức độ đánh giá và chỉ ra mức độ tương ứng của hiện tượng đó) và bước 4: Cá nhân có thể phát biểu về bản thân mình bằng chính những lời nhận xét mặt mạnh và mặt yếu của bản thân

Ý nghĩa: Những thông điệp này được giải mã sẽ làm cho cái tôi được “hoạt hóa” một cách

đích thực và chính xác trong từng hoàn cảnh cũng như trong từng mối quan hệ, để từ đó mỗi cá nhân sẽ biết cách ứng xử sao cho thật sự phù hợp và hiệu quả Hãy tự đánh giá về mình một cách chính xác, cá nhân sẽ cảm thấy thật rõ ràng những gì mình cần phải làm cho cuộc đời Nhận thức đúng sẽ giúp cá nhân đánh giá đúng thực lực của mình để phấn đấu nhiều hơn nữa trong cuộc sống

Sự phấn đấu này có kế hoạch và có chiến lược chứ không phải là sự liều lĩnh và mạo hiểm quá mức

Sự rèn luyện năng lực nhận thức bản thân, để chú tâm vào công viêc trong cuộc sống hàng ngày, sẽ giúp chúng ta tận dụng thời gian hiệu quả hơn và chuẩn bị tinh thần để chúng ta bước vào những trải nghiệm mới Việc rèn luyện này dựa trên sự quan sát tâm trí mình và quan sát những cảm nhận xuất hiện trong đó như: suy nghĩ, cảm xúc, mong cầu và sợ hãi [12, tr.41]

- Kỹ năng giao tiếp và ứng xử với các mối quan hệ

Khái niệm: Ứng xử là sự phản ứng có lựa chọn, thể hiện qua lời nói hoặc hành vi của con

người, trước sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể

Mỗi người chúng ta đều cần đến năng lực giao tiếp, ứng xử với người khác Đó là thể hiện sự tồn tại của chúng ta và sự tương hỗ của chúng ta trên thế giới này Thể hiện kỹ năng giao tiếp và ứng xử với các mối quan hệ xung quanh chúng ta còn giúp mỗi cá nhân tự đánh giá và để lại chiều sâu con người trong lòng người đối diện để từ đó có thể kiểm tra lại chính mình, soi mình trong người khác để nhận ra giá trị của bản thân và giá trị của cuộc sống

Cách thức rèn luyện và phát triển kỹ năng ứng xử: Đây là kỹ năng được hình thành một cách

lâu dài và phức tạp nhất bởi nó bao hàm nhiều yếu tố từ việc sử dụng hợp lý các phương tiện giao tiếp đến việc điều chỉnh kênh thông tin, hay là việc nắm bắt tâm lý đối tượng và xác định nhanh vấn

đề đang diễn ra để giao tiếp, … Tất cả những thứ đó nó phải được mỗi cá nhân rèn dũa trong suốt cuộc đời của mình Một điều quan trọng đó là mỗi cá nhân muốn nâng cao năng lực ứng xử của bản thân th2i đòi hỏi cá nhân phải dám trãi nghiệm chiều sâu của cuộc sống, dám đối đầu với những thách thức, những khó khăn và tập luyện cách suy nghĩ tích cực, …

Trang 23

Bí quyết để trở thành người có kỹ năng giao tiếp - ứng xử đó là: trước hết mỗi người hãy thừa nhận mình và thừa nhận người khác, thừa nhận vấn đề đã và đang diễn ra; tiếp theo phải học và biết cách lắng nghe ý kiến, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của mọi người xung quanh; một việc nữa là nên tạo ra sự đồng cảm, xây dựng niềm tin từ người khác; tiếp theo phải tìm thấy những điểm chung, mang tinh thần cộng tác cao và điều cuối cùng đó là học cách xây dựng và thiết lập mối quan

hệ chân thành và ổn định

Ý nghĩa: Mỗi cá nhân sẽ thấy mình tự tin hơn trong cuộc sống nếu dễ dàng trò chuyện hay

giao tiếp với người khác và thậm chí là giao tiếp với chính mình Có kỹ năng giao tiếp - ứng xử sẽ giúp mỗi cá nhân tránh được những khó khăn, những rào cản không cần thiết Ứng xử một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức độ nghệ thuật được coi như bí quyết thành công trong cuộc đời

- Kỹ năng hợp tác và chia sẻ

Khái niệm: Là kỹ năng quan trọng giúp con người biết cách hàn gắn các mối quan hệ, thể

hiện tinh thần cộng đồng, giúp nâng cao tinh thần đồng đội và khả năng chia sẽ thông tin với người khác

Cách thức rèn luyện: Để trang bị cho mình kỹ năng hợp tác và chia sẽ đòi hỏi mỗi người

luôn học cách nhìn người khác Sống biết vị tha và chấp nhận Hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp về nhau và nghĩ đến tính cộng đồng trong chính con người mình

Các bước để hợp tác và chia sẻ thành công: Bước 1: Cần xác định mục tiêu chung; bước 2: Đặt bản thân vào vị trí của người khác; bước 3: Học cách kiềm chế khi nghe những điều chưa đúng; bước 4: Luôn nhìn vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau và bước 5: Cần thể hiện rõ thiện chí của mình

Ý nghĩa: Khi mỗi người luôn luôn chú ý đến kỹ năng hợp tác và chia sẻ trong khi sống và

làm việc cùng với người khác thì tính khả thi của vấn đề được giải quyết một cách nhanh nhất Mỗi người sẽ học được nhiều điều từ người khác Đó cũng chính là xu thế trong thời buổi của “nền kinh

tế tri thức” và sự phát triển ngày cao của xã hội

- Kỹ năng thể hiện sự tự tin trước đám đông

Khái niệm: Là kỹ năng mà mỗi cá nhân thể hiện những thế mạnh của bản thân trước tập thể

Dám chứng minh năng lực của bản thân một cách hợp lý và cho người khác thấy được bản lĩnh của bản thân khi thực hiện công việc

Khi mỗi người thể hiện sự tự tin đúng lúc, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp đang xảy ra sẽ chứng minh một cách hiệu quả năng lực thực sự và các kỹ năng bổ trợ để đi đến thành công một

Trang 24

cách dễ dàng và hiệu quả Tự tin vào bản thân là một yếu tố rất quan trọng trong cuộc sống chúng

ta Điều này cũng rất quan trọng đối với bạn trẻ trong bước đường khởi nghiệp trong tương ai của

mỗi người

Cách thức rèn luyện: Để có được sự tự tin trước hết mỗi người hãy tự thích chính mình

Bằng mọi cách hãy yêu lấy những gì đang tồn tại trong con người mình Có thể ở đâu đó vẫn còn những điểm chúng ta chưa hài lòng nhưng trên hết đó là tài sản của riêng chúng ta có mà thôi Hãy dành thời gian để tự động viên bản thân mình sống tích cực Nhủ thầm ở tất cả mọi tình huống rằng

sẽ vượt qua nó một cách dễ dàng Điều cưới cùng là học cách chịu chấp nhận thất bại để rồi đứng lên và đi tiếp một cách đầy kinh nghiệm và bản lĩnh

Ý nghĩa: Tự tin là nền tảng của thành công Nó giúp con người rèn luyện bản lĩnh, nhân cách

và nắm bắt kịp thời các cơ hội mà cuộc sống mang đến Do đó, hãy hành động bằng tất cả sự tự tin của bạn Hãy dùng sự tự tin ấy củng cố sức mạnh nội tại của bạn cũng như của những người xung quanh

- Kỹ năng đối đầu và ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống

Khái niệm: Kỹ năng đối đầu và ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống là kỹ năng mà

ở đó mỗi cá nhân biết xác định và phân biệt được những khó khăn, cản trở làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của mỗi người Từ đó biết vượt qua một cách dễ dàng để đi đến những mục tiêu đã lựa chọn

Khó khăn trong cuộc sống thường mang lại cho con người 2 giá trị: giá trị tích cực và giá trị thiếu tích cực Giá trị tích cực là ở đó khi con người đối diện với những khó khăn thì đó chính là động lực để con người ta phấn đấu vượt qua và hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc còn giá trị thiếu tích cực là khi đối đầu với những khóa khăn, những thách thức trong cuộc sống làm cho mỗi

cá nhân cảm thấy mệt mỏi và chán chường, không dám đối mặt, …

Một số vấn đề mà chúng ta thường đối diện trong cuộc sống: Chuyển chổ ở - thay đổi môi

trường sống; Chuyển trường - kết bạn mới; Xuất hiện cảm xúc giới tính; Thay đổi cơ thể - trưởng thành về thể xác và xã hội; Biến cố gia đình (cha mẹ ly dị, mất người thân, … ), …

Cách thức đối đầu và ứng phó với những khó khăn: Với mỗi người sẽ đối diện với những

khó khăn khác nhau Khó khăn trong cuộc sống không “chừa” bất cứ ai, từ người nhỏ tuổi cho đến người lớn tuổi, từ người bình thường hay là những người “quyền cao – chức trọng”, … Điều quan trọng là mỗi người hãy biết sống có mục tiêu, sống với chính mình và luôn luôn nghĩ về những điều tích cực thì khó khăn sẽ trôi qua một cach nhẹ nhàng và nhanh chóng Mặt khác, hãy tạo cho mình thói quen và một cách nhìn nhận công tâm rằng: mỗi người xung quanh chúng ta đều đang phải đối

Trang 25

diện với muôn vàn khó khăn nên những khó khăn mình đang có cũng chỉ là những thử thách bản lĩnh của chính mình mà thôi Hãy tự nhủ rằng đôi lúc có khó khăn mới thử thách được tài năng, trí tuệ và bản lĩnh của chính mình

Một số kỹ năng để đối đầu và ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống: Kỹ năng lùi lại

để nhận diện vấn đề một cách khách quan, đấy đủ và phù hợp nhất Nhận diện vấn đề một cách thận trọng và đặt ra các câu hỏi liên quan Điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp cho vấn đề được xác định Hãy tăng cường các kỹ năng giao tiếp với người khác để học cách trãi nghiệm cuộc sống và tìm lấy những kinh nghiệm quý giá từ người người khác Có thể tiếp cận các vấn đề mới qua sách báo, phương tiện truyền thông để chuẩn bị một khối lượng kiến thức hay là những hiểu biết đơn giản nhất để ứng phó mỗi khi gặp phải Giữ vững tinh thần và sống với những quan niệm sống rõ ràng, tích cực, …

Giá trị mang lại: Vượt qua được những khó khăn để đi đến một kết quả cuối cùng tốt đẹp sẽ

là thước đo hiệu quả nhất cho lòng can đảm và sự dũng cảm ở mỗi người Người ta dùng lửa để thử vàng, còn cuộc đời tạo ra những gian nan, khổ cực để thử thách khả năng chịu đựng, tính kiên trì và

sự nhẫn nhục của bạn Nếu vượt qua được, thành quả bạn đạt được sau này còn giá trị gấp nhiều lần

so với giá trị ban đầu của nó Không chỉ thế, bạn còn có cơ hội nhận ra được những sức mạnh tiềm

ẩn của bản thân – và đó chính là chiếc khóa để sau này bạn có cơ hội mở các cánh cửa của cuộc đời

- Kỹ năng tự đánh giá người khác

Khái niệm: Mỗi cá nhân khi biết nhìn nhận và đánh giá người khác là cách làm giúp cá nhân

soi lại chính bản thân mình Mặt khác khi đánh giá người khác là khi cá nhân biết phân biệt người tốt – kẻ xấu, người hợp mình và người chưa hợp mình, người dễ gần và người khó tính, … Nhận ra được ưu – nhược điểm, cái hay và cái chưa hay từ người khác để tự mình tìm ra những bài học giá trị cho bản thân là cách giúp cá nhân đó trưởng thành nahnh về mặt tâm lý xã hội

Cách thức thiết lập quá trình đánh giá: Không có ai là người hoàn toàn xấu cả Để tranh sai

lầm khi đánh giá người khác thì mỗi cá nhân cần tránh cái nhìn thiển cận, hay tránh cách nhìn tĩnh tại, tránh xơ cứng, tránh bị định kiến che lấp, dù chỉ là tương đối đầy đủ những ưu điểm, nhược điểm của họ và lại càng phải xác định được giới hạn, hoàn cảnh, diễn biến có thể có của những ưu điểm và nhược điểm đó Con người cũng dễ bị chi phối bởi qui luật cảm xúc “yêu nên tốt, ghét nên xấu” vì thế khi đánh giá người khác mỗi cá nhân phải ở một tư thế sẵn sàng thừa nhận người khác – thừa nhận cả những cái được lẫn chưa được

Quy trình đánh giá người khác được tiến hành như sau: nhìn nhận – phân tích thông tin – so sánh, đối chiếu với các chuẩn mực của cuộc sống (mang tính tương đối) – đưa ra những lời nhận xét

Trang 26

chân thành và hợp lý Để tránh đánh giá một cách chủ quan thì mỗi cá nhân trước khi đánh giá ai đó cần tìm hiểu thật nhiều thông tin xung quanh người đó, hãy nhớ rằng mọi thứ trong cuộc sống này nên dừng lại ở mức tương đối và mọi thứ phải được nhìn ở góc độ khách quan

Ý nghĩa: Đánh giá người khác chính xác và đưa ra những lời khuyên – nhận xét hợp lý là

cách thức xây dựng niềm tin của chính mình trong lòng người khác Khi cá nhân biết đánh giá người khác là cá nhân đã có được những kiến thức, những trãi nghiệm và là những bài học quý giá

để rèn luyện và phấn đấu cho chính mình

1.4 Đặc điểm lứa tuổi học sinh trung học cơ sở

Học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi đang có nhiều thay đổi lớn về thể chất, sức khỏe, sinh lý

và tâm lý, … Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi khoảng từ 12, 13 đến 15, 16 tuổi Khoa học gọi lứa tuổi này là lứa tuổi thiếu niên Thiếu niên bước vào thời kỳ dậy thì với những biến đổi mạnh mẽ về thể chất và tâm lý làm cho trẻ ý thức rằng “mình không còn là trẻ con nữa” Trong khi

đó, cách nhìn nhận của người lớn đối với thiếu niên vẫn coi chúng là “trẻ con” đã dẫn đến những mâu thuẫn, thậm chí là “xung đột” giữa cha mẹ và con cái, giữa thầy cô với học sinh, giữa bạn bè cùng tuổi và đặc biệt là vấn đề tự mâu thuẩn cá nhân (mâu thuẩn nội tại)

1.4.1 Đặc điểm phát triển sinh lý

Đây là lứa tuổi có sự nhảy vọt về mặt phát triển sinh lý, các em bắt đầu bước vào giai đoạn phát dục nên ít nhiều sẽ rất mất cân bằng giữa sự hiểu biết về cơ thể và thực tế cơ thể của các em Một đặc điểm nổi bật trong quá trình phát triển sinh lý ở lứa tuổi thiếu niên đó là tính chất mát cân đối tạm thời Cụ thể là về mặt phát triển thể chất của các em Các em cũng đang bắt đầu có những rối loạn về tạm thời về sinh lý cơ thể Các em dễ dàng “lóng ngóng”, “vụng về” vì lúc này hệ thần kinh của các em chưa thể chỉ huy các cơ quan vận động một cách tinh tế, chính xác từng động tác Một đặc điểm nữa là quá trình hưng phấn ở lứa tuổi này chiếm ưu thế rõ rệt hơn quá trình ức chế, đồng thời với sự hạ thấp khả năng ức chế của não đối với vỏ não càng gây ra những hiện tượng mất cân đối, kh1o thở, hay đau vùng ngực, tim đập nhanh hơn, dễ súc động hơn, … từ đó dễ nảy sinh quá trình các em dễ dàng thay đổi tình cảm, nhanh chóng chuyển từ trạng thái buồn bã sang trạng thái tươi vui, dễ nổi nóng, dễ tức giận, cáu kỉnh, mất bình tĩnh, … [2, tr.78,80]

1.4.2 Sự phát triển nhận thức, trí tuệ của thiếu niên

Do yêu cầu của học tập và những yêu cầu khách quan từ phía cuộc sống ở tuổi thiếu niên trẻ bắt đầu phát triển các loại tư duy một cách có hệ thống và mạnh mẽ: tư duy lý luận, tư duy phân tích, tư duy hình thức bắt đầu phát triển từ lúc 11, 12 tuổi và được hoàn thiện vào lúc 17, 18 tuổi

Trang 27

Nhờ những điều này mà các em đã bắt đầu biết suy luận, phán đoán vấn đề một cách lôgíc, chặt chẽ,

Sự phát triển về nhận thức và phát triển trí tuệ của thiếu niên không đồng đều Nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng có lẽ tính chất của hoạt động học tập và các hoạt động khác ở lứa tuổi này khá phức tạp, hay do những sai sót trong phương pháp học tập của học sinh Mặt khác

từ đây sẽ ảnh hưởng đến những phẩm chất đạo đức và phẩm chất ý chí của tuổi thiếu niên Ví dụ như các em dễ dàng nhầm lẫn giữa tính kiên trì với bảo thủ, cố chấp, giữa tính anh hùng, dũng cảm, can đảm với tính liều mạng, hay nhầm lẫn giữa tính độc lập, có bản lĩnh với tính ngang bướng, ngang ngược, … Có thể thấy rằng ở lứa tuổi này khi nhìn nhận hay đánh giá một sự việc, các em thường chú ý đến hình thức bên ngoài mà thường quên đi cái bản chất bên trong Ví dụ khi bắt chước một ai đó thay vì học hỏi những cái hay, cái đẹp của người khác thì các em lại bê nguyên si người đó vào trong chính con người mình từ đó dẫn đến những trào lưu “rập khuôn hình mẩu”,

…[2, tr.79-83]

1.4.3 Đặc điểm giao tiếp của thiếu niên:

Giao tiếp là điều kiện tất yếu của mọi hình thức hoạt động xã hội và cá nhân của con người Giao tiếp bạn bè chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của thiếu niên Sự liên hệ với bạn cùng giới và khác giới trong thời niên thiếu mở đầu cho cuộc sống trưởng thành ngoài xã hội Chính

sự giao tiếp với bạn đã đem lại cho thiếu niên sự thỏa mãn nhiều hơn, trở nên cần thiết hơn và cò thể giữ vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách ở thiếu niên, giao tiếp với người lớn không hoàn toàn thay thế giao tiếp với bạn cùng tuổi, đặc biệt với các bạn trong cùng nhóm, lớp, cùng trường Quan hệ của thiếu niên với các bạn cùng lớp phức tạp hơn, đa dạng hơn và có nội dung sâu sắc hơn so với học sinh nhỏ Chính trong thời kì thiếu niên diễn ra sự hình thành những quan hệ khác nhau về mức độ gần gũi, mà các em phân biệt rõ rệt: là bạn học, là bạn thân, là bạn riêng Nhu cầu có bạn cùng tuổi phát triển rất mạnh mẽ ở thiếu niên Tình bạn là một dạng quan trọng nhất của

sự gắn bó xúc cảm và quan hệ liên nhân cách ở lứa tuổi này Sự biến đổi quan trọng nhất trong tâm

lí tình bạn của tuổi quá độ là sự phát triển chiều sâu, mức độ thân thiết trong tình bạn ở các em Quan hệ với bạn bè cùng lứa tuổi phức tạp, đa dạng hơn nhiều so với học sinh tiểu học Sự giao tiếp của các em đã vượt ra ngoài phạm vi học tập, phạm vi nhà trường, mà còn mở rộng trong những hứng thú mới, những việc làm mới, những quan hệ mới trong đời sống của các em, các em có nhu cầu lớn trong giao tiếp với bạn bè vì: Một mặt, các em rất khao khát được giao tiếp và cùng hoạt động chung với nhau, các em có nguyện vọng được sống trong tập thể, có những bạn bè thân thiết tin cậy Mặt khác, cũng biểu hiện nguyện vọng không kém phần quan trọng là được bạn bè công nhận, thừa nhận, tôn trọng mình [10, tr.48-50]

Trang 28

Cảm giác về sự trưởng thành và nhu cầu được người lớn thừa nhận nó là người lớn đã đưa đến vấn đề quyền hạn của người lớn và các em trong quan hệ với nhau Các em mong muốn hạn chế quyền hạn của người lớn, mở rộng quyền hạn của mình; Các em mong muốn người lớn tôn trọng nhân cách, phẩm giá, tin tưởng và mở rộng tính độc lập của các em Nguyện vọng muốn được tin tưởng và độc lập hơn, muốn được quyền bình đẳng nhất định với người lớn có thể thúc đẩy các em tích cực hoạt động, chấp nhận những yêu cầu đạo đức của người lớn và phương thức hành vi trong thế giới người lớn, khiến các em xứng đáng với vị trí xã hội tích cực Nhưng mặt khác nguyện vọng này cũng có thể khiến các em chống cự, không phục tùng những yêu cầu của người lớn [1, tr.26]

Có những nguyên nhân nhất định khiến thiếu niên có cảm giác về sự trưởng thành của bản thân: Các em thấy được sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể và sức lực của mình; các em thấy tầm hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo của mình được mở rộng; thiếu niên tham gia nhiều hơn vào cuộc sống xã hội, cuộc sống của người lớn Tính tự lập khiến các em thấy mình giống người lớn ở nhiều điểm… Xu thế cường điệu hóa ý nghĩa của những thay đổi của bản thân, khiến cho các em có nhu cầu tham gia vào đời sống của người lớn, trong khi đó kinh nghiệm của các em chưa tương xứng với nhu cầu đó Đây là một mâu thuẫn trong sự phát triển nhân cách thiếu niên

1.4.4 Đặc điểm nhân cách

Nhân cách của lứa tuổi này có những sự biến đổi đáng kể Các em đang trong quá trình hình thành những vấn đề lớn của nhân cách như: ý thức, tự ý thức, … Thiếu niên đã có thể tự ý thức về những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình Do sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, đặc biệt do sự phát triển của các mối quan hệ xã hội và sự giao tiếp trong tập thể mà ở các em đã biểu hiện nhu cầu tự đánh giá nhu cầu so sánh mình với người khác Các em đã bắt đầu xem xét mình, vạch cho mình một nhân cách tương lai, muốn hiểu biết mặt mạnh, mặt yếu trong nhân cách của mình

Mức độ tự ý thức của các em cũng có sự khác nhau Về nội dung, không phải tất cả những phẩm chất của nhân cách đều ý thức được hết Ban đầu các em chỉ nhận thức hành vi của mình, sau

đó là nhận thức những phẩm chất đạo đức, tính cách và nằng lực của mình trong những phạm vi khác nhau, cuối cùng các em mới nhận thức những phẩm chất phức tạp thể hiện nhiều mặt của nhân cách (tình cảm trách nhiệm, lòng tự trọng…) Về cách thức, ban đầu các em còn dựa vào đánh giá của những người gần gũi và có uy tín với mình Dần dần các em hình thành khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giá bản thân Nhưng khả năng tự đánh giá của thiếu niên còn hạn chế, chưa đủ khách quan… Từ đây sẽ nảy sinh những xung đột không cần thiết giữa các em với chính mính, với nhóm bạn bè và đặc biệt là người lớn [10, tr.55-58]

Trang 29

Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi này cuộc sống tập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, mối quan hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào

sự tự đánh giá của mình, là những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em… cũng đồng thời giúp cho sự phát triển về mặc tự ý thức của các em Thiếu niên có nhu cầu hiểu biết những đặc điểm của bản thân, suy nghĩ về chính mình và tự đánh giá về mình để đi đến chỗ hài lòng hay bất mãn với chính mình Thiếu niên thường tự phân tích nhân cách của mình và coi sự phân tích nhân cách đó như là một phương tiện cần thiết để điều chỉnh, tổ chức những mối quan hệ Việc nhận thức về mình còn thông qua việc đối chiếu so sánh mình với người khác Nhưng khi đánh giá người khác, các em còn chủ quan, nông cạn, nhiều khi chỉ dựa vào một vài hình tuợng không rõ ràng các

em đã vội kết luận hoặc chỉ chú ý vào một vài phẩm chất nào đó mà quy kết toàn bộ Vì thế, người lớn rất dễ mà cũng rất khó gây uy tín với thiếu niên Và khi đã có kết luận đánh giá về một người nào đó, các em thường có ấn tượng dai dẳng, sâu sắc

Sự phát triển tự ý thức của thiếu niên có ý nghĩa lớn lao ở chỗ, nó thúc đẩy các em bước vào một giai đoạn mới Kể từ tuổi thiếu niên trở đi, khả năng tự giáo dục của các em được phát triển, các

em không chỉ là khách thể của quá trình giáo dục mà còn đồng thời là chủ thể của quá trình này Do mong muốn được trở thành người lớn và muốn được cư xử như người lớn, trẻ vị thành niên có khuynh hướng sống trong hai thế giới: thế giới nội tâm và thế giới bên ngoài Trong giai đoạn này, việc tự đánh giá và tự phê bình bắt đầu định hình và phát triển sự tự ý thức Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức trong đời sống cá nhân, có chức năng tự điều chỉnh nhận thức và thái độ của bản thân Đó là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự kiểm tra, tự đánh giá… về hành động và kết quả hành động của bản thân, về tư tưởng tình cảm, phong cách, đạo đức, hứng thú… Tự ý thức là điều kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách theo yêu cầu của xã hội

Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và chứng minh rằng việc ý thức các nét tính cách, các phẩm chất tâm lý được các em ý thức trong một thời gian dài và đôi lúc thiếu tính đồng bộ Ví dụ như: các phẩm chất về học tập như sự nhẫn nại, kiên trì, chịu khó, … thường được các em ý thức trước rồi sau đó mới đến thái độ và cách ứng xử với người khác hay nói cách khác là các phẩm chất tâm lý về mặt tình cảm như: tình bạn, tình yêu, lóng nhân hậu, tính vị tha, … sẽ được các em ý thức và sau cùng sẽ là những những nét tính cách có dạng tổng quát như: tinh thần vì cộng đồng, tinh thần hợp tác, … sẽ được các em nhận thức và thể hiện sau cùng Ý thức và năng lực tự ý thức của các em được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau: thông qua hoạt động và bằng việc các em tham gia trực tiếp vào các hoạt động đó; bằng con đường lĩnh hội các yếu tố từ nền văn hóa xã hội, từ ý thức xã hội; bằng con đường tự giáo dục, tự ý thức trong quá trình thực hiện các loại hình hoạt động trong cuộc sống và trong giao tiếp

Trang 30

Về mặt xã hội, trẻ vị thành niên hiểu biết môi trường xã hội rộng lớn hơn nhiều ngôi nhà nơi các em sống, hàng xóm láng giềng, ngôi trường các em học Ở tuổi này, con người đang hình thành những hứng thú và thay đổi mới, có xu hướng tư tưởng hoá, vị tha, quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển các kỹ năng nói, cách ứng xử mới, tác phong đĩnh đạc để đối diện với môi trường xã hội ngày một mở rộng (phát triển mạnh mẽ cá tính và xã hội hoá)

Về sự hình thành tình cảm, đời sống tình cảm của thiếu niên phong phú, đa dạng và phức tạp

hơn so với lứa tuổi trước đó Tình cảm của học sinh trung học cơ sở sâu sắc và phức tạp hơn các em học sinh tiểu học Đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng, tình cảm còn mang tính chất bồng bột, hăng say…Điều này do ảnh hưởng của sự phát dục và thay đổi một số cơ quan nội tạng gây nên Nhiều khi còn do hoạt động thần kinh không cân bằng, hưng phấn mạnh hơn ức chế đã làm cho các em không tự kiềm chế nổi Tâm trạng của thiếu niên thay đổi nhanh chóng, thất thường, có lúc đang vui nhưng chỉ là một cớ gì đó lại sinh ra buồn ngay hoặc đang lúc bực mình nhưng gặp điều gì thích thú lại tươi cười ngay Do đó, nên thái độ của các em đối với những người xung quanh cũng có nhiều mâu thuẫn Rõ ràng, cách biểu hiện xuc cảm của thiếu niên mang tính chất độc đáo Đó là tính bồng bột, sôi nổi dễ bị kích động và dễ thay đổi [1, tr.37] Một nét đặc biệt trong đời sống tình cảm của thiếu niên là ở các em đã xuất hiện tình bạn khác giới, những rung cảm đầu đời của thứ gọi là tình yêu Có lẽ đây cũng chỉ mới là sự bắt đầu của tình yêu nhưng với lứa tuổi thiếu niên thì đó là những cảm giác nhẹ nhàng, thú vị Nó có thể được bắt đầu bằng những cảm giác thẹn thùng, e ấp, bối rối, … hay thậm chí đó còn là những phút giây “ngớ ngẩn” khi chạm phải người bạn mà các em thích Nhưng có lẽ những cảm giác này sẽ được thay thế bằng những hoạt động sôi nổi, những cung bậc của sự yêu thương trong sáng và chúng sẽ mãi là những kỹ niệm đẹp trong lòng mỗi em Trong tình bạn khác giới các em vừa hồn nhiên, vô tư nhưng lại vừa có vẻ “thận trọng”, “kín đáo”…Nhìn chung, những xúc cảm của các em là trong sáng, là động lực thúc đẩy các em tự hoàn thiện mình Nhưng không phải tất cả thiếu niên đều có những rung cảm như vậy Một số em bị cuốn hút vào con đường “yêu đương” Nhiều khi các em cũng không hiểu rõ tình cảm của mình và có ảnh hưởng nhất định đến kết quả học tập nói riêng và cuộc sống của các em nói chung

Tóm lại, trong những giai đoạn phát triển của con người lứa tuổi thiếu niên có một ý nghĩa vô

cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, nhiều biến động nhất nhưng cũng là thời

kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này Sự phát triển tâm lí của thiếu niên có chịu ảnh hưởng của thời kỳ phát dục Nhưng cái ảnh hưởng quyết định nhất đối với sự phát triển tâm lý chính là những mối quan hệ xung quanh, đặc biệt là những mối quan hệ giữa thiếu niên

và người lớn Đây là lứa tuổi của các em không còn là trẻ con nữa, nhưng chưa hẳn là người lớn Ở

Trang 31

lứa tuổi này các em cần được tôn trọng nhân cách, cần được phát huy tính độc lập nhưng cũng rất Cần đến sự chăm sóc chu đáo và đối xử tế nhị Tuổi thiếu niên là giai đoạn quan trọng để hình thành tính cách và bản sắc Đây cũng là giai đoạn nhiều thiếu niên tham gia vào cuộc sống xã hội và có đóng góp dưới nhiều hình thức khác nhau Đối với những thách thức của cuộc sống hiện nay mà các

em đang gặp phải, không có lời giải đơn giản hay biện pháp tác động đơn lẻ nào có thể đối phó được Các em cần được sống an toàn, cần sự hỗ trợ và giúp đỡ của người lớn Xã hội có nhiệm vụ dẫn dắt và hỗ trợ thế hệ trẻ qua những năm tháng ở tuổi Trẻ vị thành niên với sự đối xử tôn trọng và thông cảm Khi xã hội hoàn thành tốt trách nhiệm này sẽ đem lại lợi ích to lớn cho tương lai

1.5 Vai trò của kỹ năng sống đối với sự phát triển tâm lý của học sinh lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở

1.5.1 Xét ở góc độ xã hội:

Do đặc điểm của xã hội hiện đại có sự thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội và lối sốn với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con người chưa gặp phải, chưa trãi nghiệm, chưa ứng phó, chưa đương đầu Nói cách khác, để đi đến thành công và đạt tới sự hạnh phúc con người sống trong xã hội trước đây ít gặp rủi ro và thách thức như con người hiện đại ngày nay Từ đó đòi hỏi mỗi người sống trong xã hội hiện đại cần phải trang bị cho mình những tri thức –

kỹ năng cần thiết cho sự sinh tồn và phát triển Sự hình thành và phát triển kỹ năng sống trở thành một yêu cầu quan trọng của nhân cách con người hiện đại

Tại Hội nghị Giáo dục thế giới học tại Senegan tháng 4 năm 2000 đã thông qua kế hoạch

hành động giáo dục cho mọi người và những mục tiêu này không gì nằm ngoài nhiệm vụ: “Đảm

bảo nhu cầu học tập của tất cá thế hệ trẻ và người lớn đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận các chương trình học tập và chương trình kỹ năng sống thích hợp” [ 2, tr.17] Phát triển kỹ năng sống là

cách giúp con người thích nghi với những sự thay đổi của xã hội Giúp học sinh xác định được vị trí của bản thân trong xã hội và nhận ra được những yêu cầu của xã hội đối với mỗi cá nhân để từ đó phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành

1.5.2 Xét ở góc độ giáo dục

Kỹ năng sống của người học là một biểu hiện của chất lượng giáo dục Hình thành và phát triển kỹ năng sống cho người học là một nhiệm vụ trọng tâm để giúp người học trở thành những tấm gương tốt Giúp học sinh rèn luyện và thực thi các nghĩa vụ và quyền lợi học tập một cách hiệu quả

và khả thi nhất

Mặt khác, việc trang bị kỹ năng sống bằng các phương pháp tương tác thích hợp, tạo hứng thú cho người học sẽ giúp học sinh cảm nhận được vai trò chủ động của mình trong quá trình học

Trang 32

tập Từ đây, các em sẽ cảm nhận được giá trị bản thân và giá trị của người khác trong cuộc sống của chính mình

1.5.3 Xét ở góc độ văn hóa, chính trị:

Hình thành và phát triển kỹ năng sống là góp phần vào việc thực hiện một cách tích cực, hiệu quả nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong luật pháp Việt Nam và Quốc tế Thực thi các điều khoản của nhà nước về quyền và nghĩa vụ của các em như là thể hiện nét văn hóa đẹp đảm bảo sự phát triển toàn diện cho cả một thế hệ tương lai

Khi mang theo hành trang kỹ năng sống bên mình các em học sinh sẽ có thể sống với một cuộc sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng trong một xã hội hiện đại với văn hóa đa dạng, với nền kinh tế phát triển và thế giới được coi là một mái nhà chung

Nói tóm lại, trang bị kỹ năng sống cho học sinh là một việc làm hết sức có ý nghĩa và giá trị:

kỹ năng sống giúp cho học sinh biến kiến thức thành hành động cụ thể, những thói quen lành mạnh Giúp học sinh biết làm chủ bản thân và làm chủ cuộc sống của chính mình Kỹ năng sống góp phần thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội, ngăn ngừa các vấn đề xã hội, bạo lực học đường, bảo vệ sức khỏe và bảo vệ quyền con người Học sinh có kỹ năng sống cao sẽ thực hiện được những hành

vi mang tính xã hội tích cực, góp phần xây dựng các mối quan hệ xã hội tốt đẹp, xây dựng môi trường học đường thân thiện và là điều kiện thiết yếu để đảm bảo quá trình giáo dục phát triển một cách toàn diện và hiệu quả

1.6 Hệ thống các biện pháp tác động tâm lý nhằm hình thành kỹ năng sống cho học sinh

1.6.1 Cơ sở khoa học của phương pháp tiếp cận kỹ năng sống để xác định biện pháp hình thành kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở

Từ khái niệm kỹ năng sống của đề tài chúng ta có thể đưa ra được nhiều cách tiếp cận kỹ năng sống, xét ở góc độ tâm lý học và giáo dục học cũng như những khoa học khác nghiên cứu về con người, đề tài xin đưa ra một số mô hình tiếp cận kỹ năng sống với mục đích làm căn cứ để thiết lập nên các biện pháp tâm lý nhằm hình thành kỹ năng sống cho học sinh một cách khoa học dựa trên những tri thức, kinh nghiệm và các khả năng liên quan khác của người học

Mô hình tiếp cận kỹ năng sống dựa trên bốn trụ cột của giáo dục đó là: học để biết, học để chung sống với mọi người, học để khẳng định mình và học để làm [ 2, tr.35]

Trang 33

Dựa vào mô hình này chúng ta thấy rằng cần phải xây dựng biện pháp tác động tâm lý được căn cứ vào chức năng của quá trình giáo dục Giáo dục chủ động và tương tác với học sinh bằng nhiều cách thức và biện pháp khác nhau Cách thức tác động phải được đưa vào nhiều môn khoa học khác nhau Ở đó có thể nội dung và cách thức rèn luyện kỹ năng sống đươc lồng ghép vào các nội dung giảng dạy hay được tổ chức thành một quá trình học tập chuyên nghiệp để trang bị, hình thành và phát triển kỹ năng sống ở người học

Mô hình tiếp cận kỹ năng sống dựa vào mô hình cấu trúc nhân cách [ 4, tr.224]

Hệ thống phẩm giá xã hội của cá nhân

PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN KỸ NĂNG SỐNG

Kỹ năng sống dựa vào 2 mặt của cấu trúc nhân cách

Trang 34

Với cấu trúc của nhân cách, chúng ta thấy rằng nội dung và biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho người học sẽ được xem như là một lĩnh vực song song cùng với việc giáo dục người học

về mặt đạo đức để tạo ra những nội dung giáo dục toàn diện về nhân cách của một người Như vậy

để thiết lập các biện pháp tâm

1.6.2 Nguyên tắc khi lựa chọn biện pháp tác động tâm lý

Nguyên tắc cùng tham gia: Các biện pháp tạo ra sự tương tác giữa người dạy và người học, giữa người với nhau và vai trò tham gia của người học trong việc học và thực hành kỹ năng Người dạy đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức và người học phải chịu khó tự mình tìm thấy những giá trị của các kỹ năng và tự nhận thức vấn đề dựa vào sự hiểu biết, sự định hướng và giúp đỡ của người dạy Nguyên tắc hướng vào người học: Dựa vào kinh nghiệm sống, những trãi nghiệm thú vị của từng cá nhân học sinh và đặc biệt là lưu ý đến nhu cầu của học sinh về việc ưu tiên lựa chọn hệ hệ thống các kỹ năng sống để học tập và rèn luyện

Nguyên tắc hoạt động: Đây là việc tất cả các biện pháp phải hướng đến xây dựng hành vi hoặc thay đổi hành vi từ phái người học Để làm được điều này thì biện pháp tác động phái tổ chức được các hoạt động cụ thể giúp người học có cơ hội thể hiện những gì đã được học, đã được trãi nghiệm trong quá trình rèn luyện Vì thế biện pháp tác động phải sử dụng một cách linh hoạt và hiệu quả các biện pháp tác động như: đóng kịch, trò chơi, kể chuyện, … nhằm kích thích khả năng nhận thức và kỹ năng thực hành giải quyết các vấn đề

1.6.3 Cụ thể hóa phương pháp tiếp cận bằng những biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở

1.6.3.1 Lồng ghép nội dung kỹ năng sống và cách thức rèn luyện vào các môn học như: Giáo dục công dân, văn học, sinh học, … đây là những môn học có nội dung kiến thức có mức độ gần gũi với nội dung kỹ năng sống cao Khi áp dụng biện pháp lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống vào trong các môn học điều quan trọng cần lưu ý đến một số vấn đề như: lồng ghép vào môn học nào, học phần nào, kiến thức nào cần lồng ghép, … nhằm tránh sự chồng chéo và lặp lại kiến thức ở các bộ môn giúp học sinh hứng thú với môn học và với phần lồng ghép nội dung Giáo dục kỹ năng sống Đừng quá chú trọng phần kiến thức của khoa học kỹ năng sống mà cần tăng cường việc lồng ghép giáo dục kỹ năng cho học sinh Tăng cường tính chủ động học tập của học sinh ở phần lồng ghép kỹ năng sống nhằm giúp học sinh tự nhận thức vấn đề thông qua quá trình trải nghiệm và có

cơ hội làm phép so sánh, đối chiếu, đánh giá giữa lý thuyết và thực tiễn, …

1.6.3.2 Lồng ghép vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp như: sinh hoạt lớp – chi đội, tham quan dã ngoại, …Các tổ chức đoàn thể trong nhà trường hãy tổ chức những hoạt động thiết thực có

Trang 35

lồng ghép các trò chơi giáo dục kỹ năng sống hay các kỹ năng bình thường trong hoạt động tập thể

để học sinh có cơ hội bày tỏ hứng thú và đam mê của mình nhằm hình thành nên những nét tâm lý tích cực nhằm tránh những va chạm hay những xung đột không cần thiết khi học sinh thiếu kỹ năng kiềm chế Thành lập những câu lạc bộ sống đẹp, câu lạc bộ văn minh học đường, … thay cho những lời kêu gọi mang tính hình thức – hô hào

1.6.3.3 Tổ chức các buổi báo cáo, các buổi huấn luyện chuyên về kỹ năng sống Đây là một trong các biện pháp dễ dàng tổ chức trong các trường phổ thông hiện nay vì tính chất của nó đơn giản Điều lưu ý là khi tổ chức biện pháp này cần lưu ý đến những vấn đề cơ bản: Thứ nhất: chọn lựa và xây dựng nội dung các chủ đề giáo dục kỹ năng sống phù hợp với từng độ tuổi, lớp học, theo tháng, theo năng để tránh vấn đề nội dung bị lặp đi lặp lại trong suốt quá trình học làm học sinh nhàm chán; thứ hai: Chuẩn bị đội ngũ chuyên gia báo cáo với phương pháp báo cáo tích cực, lôi cuốc thu hút học sinh tham gia một cách tích cực vào các nội dung báo cáo

1.6.3.4 Đưa chương trình huấn luyện kỹ năng sống thành một môn học chính thức Là biện pháp xây dựng nội dung kỹ năng sống thành một môn học và được đưa vào chương trình giảng dạy

ở các cấp học Thực hiện được biện pháp này đòi hỏi nhiều công sức và kinh phí Xây dựng được khung chương trình đào tạo là một việc làm quan trọng đầu tiên Đào tạo những giáo viên chuyên về giảng dạy kỹ năng sống và đầu tư kinh phí cho việc dạy và học là cả một chiến lược cần được quan tâm đúng mức của các cấp lãnh đạo và trong ý thức của mội người

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức các biện pháp hình thành kỹ năng sống cho học sinh

1.7.1 Khối lượng kiến thức phải hoàn thành trong sách giáo khoa quá tải nên giáo viên không đủ thời gian để lồng ghép hay tích hợp rèn kỹ năng sống cho học sinh Việc học của học sinh ngày nay đang phải đối diện với nhiều thử thách Việc chuyển tải hết các nội dung học tập đang là thách thức thức đầu tiên mà cả giáo viên và học sinh ở bậc học phổ thông đang phải đối mặt thì việc dành thời gian để đầu tư lồng ghép nội dung kỹ năng sống vào trong môn học là một việc làm hết sức kháo khăn Bên cạnh đó không phải giáo viên nào cũng có đủ kiến thức khoa học về kỹ năng sống để tổ chức lồng ghép một cách hiệu quả Mặt khác chính căn bệnh thành tích (điểm số, lên lớp, đậu 100% ) đã trở thành một gánh tâm lý nặng nề đối với học sinh, khiến các em không còn thời gian rèn luyện một cách đầy đủ nhân cách và đã có những hành vi lệch chuẩn Vì thế, việc giảm áp lực học hành, xây dựng chương trình học mà chơi - chơi mà học, góp phần làm giảm bớt căng thẳng tâm lý cho học sinh là những điều cần phải làm ngay

1.7.2 Tại Việt Nam, chưa có chuẩn kiến thức hay tài liệu khoa học hướng dẫn về kỹ năng sống dành cho học sinh lứa tuổi trung học cơ sở Hiện nay, trên thế giới, quan niệm về kỹ năng sống

Trang 36

và việc và phân chia hệ thống các kỹ năng sống vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm Kỹ năng sống phải được phân chia theo từng độ tuổi, từng cấp học – bậc học, phân chia theo từng đối tượng riêng

lẽ, … Vì những lý do đó mà tại Việt Nam, kỹ năng sống là lĩnh vực khoa học còn khá mới mẽ Chúng ta chưa có nhiều chuyên gia đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực này Hiện nay, kỹ năng sống và nội dung kỹ năng sống mới được chú ý đến một số kỹ năng cơ bản như: kỹ năng quản lý cảm xúc,

kỹ năng ứng xử trong giao tiếp, kỹ năng vượt qua khủng hoảng, … và chúng thường nằm riêng lẽ và chưa có hệ thống chuẩn kỹ năng sống đáp ứng nhu cầu thực tế và phù hợp cho từng đối tượng được giáo dục

1.7.3 Cán bộ chuyên trách công tác ngoại khóa của hệ thống trường phổ thông như Đoàn, Đội, Giáo viên chủ nhiệm, … chưa được đào tạo chính quy kiến thức về tâm lý học đường, tham vấn học đường hay kiến thức về kỹ năng sống, … Lực lượng giáo viên chủ nhiệm hay những cán bộ làm công tác phong trào Đoàn thanh niên – Đội thiếu niên hiện nay đa phần là những giáo viên có kinh nghiệm hoặc giáo viên trẻ hoặc đó có thể là những giáo viên chưa đủ giờ dạy nhưng có kỹ năng tiếp cận học sinh nên có thể kiêm nhiệm thêm công tác này Chính vì lý do đó mà các giáo viên này chưa được trang bị một nền tảng tâm lý học, giáo dục học đủ để thực hiện việc giúp học sinh hình thành kỹ năng sống cũng như những tư vấn hay những định hướng kịp thời để giúp học sinh Ngoài năng lực chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm hay cán bộ công tác phong trào thanh thiếu niên còn phải là một nhà tâm lý giỏi, hiểu thấu đáo những suy nghĩ, tâm tư của học sinh lớp mình Nhiều lúc lực lượng này phải tự đặt mình vào vị trí của học sinh để hiểu được hành vi và thái độ của các em Để làm đươc điều này thì lực lượng này phải được trang bị một cách đầy đủ có hệ thống các vấn đề lý luận và cả thực tiễn về công tác tư vấn học đường, giao tiếp ứng xử sư phạm và kỹ năng sống hay biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Căn cứ vào kết quả tổng thuật và phân tích các nguồn tài liệu tham khảo, người nghiên cứu nhận thấy:

Thứ nhất: Kỹ năng sống là một lĩnh vực khoa học mới mẻ tại Việt Nam Bước đầu mới chỉ

có một vài ngành khoa học như: Tâm lý học, Giáo dục học, Y học, Xã hội học nghiên cứu Nhìn chung vấn đề kỹ năng sống đang còn là một trong những vấn đề được tìm hiểu và sẽ được quan tâm trong tương lai Nên đã có rất nhiều định nghĩa hay khái niệm khác nhau về kỹ năng sống Và cũng

từ những quan niệm cùa các ngành khoa học khác nhau nên việc xác định danh mục của các nhóm

kỹ năng sống cũng khác nhau Hiện nay, ngành giáo dục và đào tạo đang trong quá trình nghiên cứu

và hoàn thiện để cho ra đời bộ khung chương trình giảng dạy giáo dục kỹ năng sống trong tất cả các bậc học nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển kỹ năng sống

Trang 37

Thứ hai: Để nghiên cứu kỹ năng sống cho các lứa tuổi mà cụ thể là đề tài đang tìm hiểu kỹ

năng sống của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở thì cần phải dựa vào nhiều căn cứ và cơ sở khác nhau: đó là dựa vào sự phát triển của thể chất, sức khỏe và tâm lý lứa tuổi bởi đây là lứa tuổi với nhiều biến đổi sâu sắc cả thể chất và tinh thần, dựa vào đặc điểm văn hóa xã hội của từng quốc gia, từng khu vực, dựa vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật – đặc biệt là khoa học của ngành công nghệ không dây (mạng internet, điện thoại, các phần mềm máy tính, mạng xã hội, …), …

Thứ ba: Việc hình thành và phát triển kỹ năng sống không những dựa vào bản thân của học

sinh mà đó còn là sự giúp sức và hỗ trợ từ phía gia đình, nhà trường, từ các tổ chức đoàn thể, từ cơ quan truyền thông, … Tất cả sẽ tạo thành môi trường lành mạnh, an toàn, ở đó có sự gần gũi giữa cha mẹ và con cái, ở đó có sự định hướng, dạy dỗ của thầy cô, ở đó có những sân chơi lành mạnh, ở

đó có mối quan hệ chan hòa giữa người với người, … Đó là những điều kiện tốt nhất để giúp trẻ có điều kiện để trau dồi và rèn luyện bản thân Có như thế thì việc hình thành kỹ năng sống cho học sinh không còn là vấn đề nan giải và khó thực hiện

Trang 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG SỐNG VÀ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Tổ chức nghiên cứu:

2.2.1 Bước khảo sát thăm dò

Bước khảo sát thăm dò được thực hiện nhằm mục đích phát hiện vấn đề cần nghiên cứu Từ đó thiết lập và xây dựng nên mô hình nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cựu thực trạng

Bước khảo sát thăm dò được tiến hành qua các giai đoạn sau:

- Đọc tài liệu vè Kỹ năng sống và lứa tưởi học sinh trung học cơ sở Xác định vấn đề nghiên cứu với những mục tiêu cụ thể và đặt ra những giả thiết nghiên cứu

- Xây dựng khái niệm công cụ, mô hình nghiên cứu và chọn lựa các phương pháp nghiên cứu, cũng như xác định khách thể nghiên cứu

- Lập hệ thống câu hỏi mở khảo sát 45 chuyên gia huấn luyện về kỹ năng sống, nhà quản lý giáo dục, giáo viên chủ nhiệm và 30 học sinh về vấn đề kỹ năng sống với những vấn dề trọng tâm: [phụ lục 1]

+ Đối với chuyên gia huấn luyện, nhà quản lý và giáo viên chủ nhiệm:

 Những kỹ năng sống cần thiết đối với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở

 Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc học sinh thiếu các kỹ năng sống

 Biện pháp tác động và hình thành kỹ năng sống cho học sinh

+ Đối với học sinh:

 Các vấn đề trong cuộc sống mà các em thường gặp phải và cách giải quyết

- Tổng hợp các ý kiến thu được qua phiếu khảo sát, đối chiếu với những vấn đề lý luận để thiết lập

hệ thống câu hỏi đóng trong phiếu thăm dò ý kiến với những phần chính như sau: [phụ lục 2] + Các thông tin về cá nhân khách thể nghiên cứu (6 items): giới tính, trường, lớp, kết quả học tập, mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa, đánh giá chất lượng các hoạt động ngoại khóa + Mức độ nhận thức về kỹ năng sống (8 items): quan niệm về kỹ năng sống, tự đánh giá kỹ năng sống, biện pháp hình thành kỹ năng sống, ảnh hưởng của kỹ năng sống, chọn lựa kỹ năng sống, nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu kỹ năng sống

Trang 39

+ Thực trạng kỹ năng sống (20 câu hỏi tương ứng dành cho 4 kỹ năng của đề tài):

 Từ câu 1 - câu 5: Kỹ năng tự đánh giá bản thân

 Từ câu 6 - câu 10: Kỹ năng giao tiếp ứng xử

 Từ câu 11 - câu 15: Kỹ năng hợp tác và chia sẻ

 Từ câu 16 - câu 20: Kỹ năng phân biệt hành vi hợp lý và hành vi chưa hợp lý

- Tham khảo ý kiến của những nhà chuyên môn để kiểm tra và chỉnh sữa phiếu khảo sát nhằm tiến hành đo độ tin cậy của phiếu khảo sát:

- Tiến hành đo độ tin cậy Hiện nay, thông thường các nhà chuyên môn trong lĩnh vực trắc nghiệm thường dùng 1 trong 4 nhóm cơ bản sau để kiểm tra độ tin vậy: Nhóm phương pháp đánh giá mức độ kiên định về điểm số giữa 2 lần đo (test-restest methods); Nhóm phương pháp sử dụng from thay thề tương đương ( alternata methods); Nhóm phương pháp phân đôi số items của trắc nghiệm (spilip-haft methods); Nhóm phương pháp đánh giá độ phù hợp của từng items (internal consistency methods)

- Chúng tôi sử dụng phương pháp thứ nhất để tính độ tin cậy của phiếu bằng cách 2 lần đo trên cùng 1 nhóm khách thể Mỗi lần cách nhau 1 tuần Sau đó tính hệ số tương quan giữa trung bình điểm số của 2 lần đo

Mẫu được đo thử nghiệm gồm 25 học sinh, mẫu được phân bố như sau:

Bảng 1: Tổng hợp mẫu nghiên cứu

Trang 40

+ Hệ số tương quan Pearson nằm trong phạm vi từ 0.06 cho đến 0.70 cho thấy kết quả giữa 2 lần

đĩ cĩ mối tương quan chặt chẽ với nhau

+ Phép kiểm định T-tests cho kết quả khơng cĩ ý nghĩa: p-value > 0.05

- Từ kết quả thu được, chúng tơi nhận thấy khơng cĩ dự khác biệt giữa 2 lần đo trên cùng 1 số người và trên cùng một thang đo Nĩi cách khác, thang đo được thiết kế với độ tin cậy cao

Bảng 2: Tổng hợp kết quả đo độ tin cậy của phiếu thăm dị ý kiến

Tiêu chí Lần đo Tổng Trung

bình

Độ sai lệch

Trị số kiểm nghiệm

Mức có ý nghĩa

Ngày đăng: 04/06/2015, 01:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tổng hợp mẫu nghiên cứu - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
Bảng 1 Tổng hợp mẫu nghiên cứu (Trang 39)
Bảng 3: Phân bố chọn mẫu - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
Bảng 3 Phân bố chọn mẫu (Trang 41)
Bảng 5: Quy định mã cho từng nhóm kỹ năng - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
Bảng 5 Quy định mã cho từng nhóm kỹ năng (Trang 46)
Bảng 12: Kết  quả toàn mẫu nghiên cứu kỹ năng sống của học sinh - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
Bảng 12 Kết quả toàn mẫu nghiên cứu kỹ năng sống của học sinh (Trang 59)
Bảng 15: So sánh theo tiêu chí lớp - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
Bảng 15 So sánh theo tiêu chí lớp (Trang 62)
Bảng 16: So sánh theo tiêu chí kết quả học tập - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
Bảng 16 So sánh theo tiêu chí kết quả học tập (Trang 63)
Bảng 20: Theo tiêu chí giới tính - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
Bảng 20 Theo tiêu chí giới tính (Trang 67)
Bảng 26: Thống kê theo toàn mẫu - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
Bảng 26 Thống kê theo toàn mẫu (Trang 73)
Bảng 27: So sánh theo tiêu chí giới tính - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
Bảng 27 So sánh theo tiêu chí giới tính (Trang 74)
Bảng 35: Tổng hợp kết quả trước và sau thực nghiệm - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
Bảng 35 Tổng hợp kết quả trước và sau thực nghiệm (Trang 84)
Bảng 41: So sánh theo tiêu chí đánh giá chất lượng các hoạt động thực nghiệm - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
Bảng 41 So sánh theo tiêu chí đánh giá chất lượng các hoạt động thực nghiệm (Trang 90)
BẢNG XỬ LÝ THỐNG KÊ BẰNG SPSS - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
BẢNG XỬ LÝ THỐNG KÊ BẰNG SPSS (Trang 117)
1.2  Bảng tín độ tin cậy của 20 câu hỏi (Paired Samples Test) - luận văn Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở thành phố hồ chí minh
1.2 Bảng tín độ tin cậy của 20 câu hỏi (Paired Samples Test) (Trang 118)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w