1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHỨNG TỪ VẬN TẢI VÀ BẢO HIỂM TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ.doc

22 4,5K 29
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chứng Từ Vận Tải Và Bảo Hiểm Trong Thanh Toán Quốc Tế
Tác giả Trần Thị Kim Chi, Lê Quang Đức, Đinh Xuân Khánh, Nguyễn Duy Long, Hà Trần Thu Thảo, Phạm Vũ Thịnh, Hà Xuân Thọ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Thanh Toán Quốc Tế
Thể loại Bài Thuyết Trình
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 383 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHỨNG TỪ VẬN TẢI VÀ BẢO HIỂM TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ

Trang 1

BÀI THUYẾT TRÌNH

MÔN : THANH TOÁN QUỐC TẾ

TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ

Trang 2

Xu thế toàn cầu hóa ngày càng phát triển làm cho việc mở cửa nền kinh tế của các quốc giatrên thế giới cũng ngày càng sâu rộng Chính vì vậy, thương mại quốc tế hiện nay cũng rất pháttriển, mở rộng giữa nhiều quốc gia trên thế giới.

Xuất phát từ đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế là việc mua bán diễn ra qua biên giớiquốc gia, bởi người mua và người bán ở các nước khác nhau làm cho thương mại quốc tế cónhiều thách thức khác hẳn so với thương mại nội địa Thường thì hàng hóa trong thương mạiquốc tế sẽ phải vận chuyển qua một quãng đường dài và không nằm trong sự kiểm soát trực tiếpcủa người bán, mà thay vào đó nó sẽ nằm trong sự quản lý của một bên thứ ba như là nguờichuyên chở Nói cách khác thương mại quốc tế có liên quan mật thiết đến vận tải và giao nhậnquốc tế cũng như đến việc bảo hiểm cho hàng hóa Điều này đòi hỏi cả người bán và người muaphải có những thỏa thuận liên quan đến việc vận chuyển và bảo hiểm hàng hóa Điều này chúng

ta cũng đã được tìm hiểu phần nào qua INCOTERMS 2000 Bên cạnh chứng từ hàng hóa thìchứng từ vận tải và chứng từ bảo hiểm cũng là những cơ sở quan trọng để chứng minh việc thựchiện nghĩa vụ của các bên mua bán, bao gồm nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao quyền sở hữuhàng hóa theo hợp đồng của người bán và nghĩ vụ nhận hàng và thanh toán tiền hàng của nguờimua, cũng như là các bằng chứng có giá trị pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh trongthương mại quốc tế Ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế thông quaviệc góp phần giúp việc thanh toán quốc tế diễn ra trơn tru hơn Chính vì vậy, ngân hàng cũng rấtquan tâm đến các chứng từ vận tải và bảo hiểm trên đây

Hiện nay trên thế giới có nhiều phương thức vận chuyển hàng hóa, như đường biển, đườnghàng không, đường sắt, đường bộ và đường sông Trong số đó thì vận tải đường biển từ xưa đếnnay luôn chiếm ưu thế trong chuyên chở quốc tế cả về khối lượng lẫn giá trị hàng hóa Chính vìvậy mà chứng từ vận tải đường biển cũng phổ biến và có tầm quan trọng hơn so với các loạichứng từ vận tải khác

I VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN

1 Những nét khái quát về chứng từ vận tải đường biển

Nhắc đến chứng từ vận tải đường biển thì ắt hẳn phải nhắc đến vận đơn đường biển Vậnđơn đường biển (thường được viết tắt là B/L) là chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển

do người có chức năng ký phát cho người gửi hàng sau khi hàng hóa đã được bốc lên tàu hoặcđược nhận để chở

 Một B/L thì có ba chức năng Thứ nhất, nó là bằng chứng cho việc người chuyênchở đã nhận hàng từ người gửi hàng Đây chính là cơ sở để nguời chuyên chở cótrách nhiệm đối với hàng hóa trong quá trình chuyên chở

 Chức năng thứ hai của B/L đó là nó là bằng chứng về hợp đồng chuyên chở hànghóa giữa người gửi hàng và người chuyên chở Như vậy, bản thân một B/L khôngphải là một hợp đồng nhưng nó vẫn có đầy đủ cơ sở pháp lý để giải quyết mọitranh chấp phát sinh giữa người chuyên chở với người sở hữu vận đơn

 Chức năng thứ ba của B/L và cũng là chức năng làm cho nó khác biệt với các loạivận đơn khác là B/L là chứng từ sở hữu về hàng hóa được ghi trên nó Đây là chứcnăng riêng có của B/L Nhờ chức năng này mà người nắm giữ vận đơn có toànquyền kiểm soát hàng hóa, kể cả việc mua bán hàng hóa ngay khi hàng hóa vẫnđang trên đường đi bằng cách chuyển nhượng vận đơn gốc, tức là vận đơn đườngbiển có thể chuyển nhượng được trong thương mại và thanh toán quốc tế(negotialble bill of lading)

Trang 3

 Xuất phát từ 3 chức năng đó mà B/L được sử dụng rộng rãi với nhiều mục đích

khác nhau Với người gửi hàng (nhà xuất khẩu), nó là bằng chứng giao hàng,

chứng minh việc hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng thương mại cũng như theophương thức thanh toán kèm chứng từ Vận đơn là một bộ phận quan trọng trong

bộ chứng từ để người bán xuất trình nhận thanh toán

 Với người nhận hàng (người nhập khẩu), vận đơn là chứng từ để nhận hàng, cơ

sở để đối chiếu theo dõi việc thực hiện hợp đồng của người bán

 Đối với người chuyên chở vận đơn là cơ sở cho việc thực hiện nghĩa vụ trong chuyên chở hàng hóa Ngoài ra, vận đơn còn là căn cứ để khai hải quan, làm thủ tục xuất nhập khẩu, làm căn cứ xem xét khi có tranh chấp, khiếu nại phát sinh, v.v.Vận đơn là một trong những chứng từ quan trọng nhất của mua bán quốc tế khi hàng hoáđược vận chuyển bằng đường biển Tuy vậy, dần dần vận đơn đã bộc lộ nhiều nhược điểm như:

- Tốc độ gửi vận đơn gốc chậm hơn hàng hóa : Ngày nay, do sự tiến bộ về khoa học kỹ

thuật trong ngành vận tải biển, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của vận tải container nên tốc độchuyên chở hàng hoá trong thương mại quốc tế rất nhanh chóng Trong rất nhiều trường hợp,hành trình của vận đơn theo đường hàng không hay đường bưu điện chậm hơn rất nhiều so vớihành trình trên biển của hàng hóa Do đó, người nhận hàng không có vận đơn để nhận hàng, đồngthời phải mất thêm chi phí lưu kho, lưu bãi Trong một số trường hợp người nhận hàng muốnnhanh chóng lấy hàng do tính thời vụ của hàng hoá thì họ phải đến ngân hàng xin bảo lãnh đểđược nhận hàng Để có thế được bảo lãnh, người nhận hàng phải đặt cọc hay vay ngân hàng tiền,

do vậy, họ lại phải chịu thêm chi phí vay tiền bảo lãnh Như vậy, đôi khi, vận đơn lại cản trở, làmchậm lại sự phát triển của thương mại quốc tế

- Sử dụng vận đơn đường biển rất tốn kém Thứ nhất, chi phí in ấn và phát hành vận đơn

không nhỏ bởi vận đơn được in thành nhiều bản gốc và bản sao, và mỗi lần gửi hàng là một lầnphát hành vận đơn.Thứ hai, việc in ấn B/L đòi hỏi nhiều công sức và tốn kém bởi chữ in mặt saucủa B/L thường rất nhỏ, khoảng 0,3mm để chống làm giả Thứ ba, do vận đơn có tính tiêu chuẩnkhông cao, mỗi hãng tàu đều phát hành một loại vận đơn khác nhau, do vậy, sử dụng vận đơn lạiphải mất thêm chi phí

- Việc sử dụng B/L có thể gặp rủi ro trong việc giao nhận hàng hoá (nếu đơn vị bị mất cắp)

vì B/L là chứng từ sở hữu hàng hoá

Để khắc phục những hạn chế trên của B/L, giấy gửi hàng đường biển đã ra đời Về cơ bảnbiên lai gửi hàng đường biển và vận đơn đường biển là giống nhau Tuy nhiên, biên lai gửi hàngđường biển chỉ có hai chức năng là biên lai nhận hàng của người chuyên chở phát hành cho ngườigửi hàng, và là bằng chứng về hợp đồng chuyên chở giữa người gửi hàng và nguời chuyên chở.Còn chức năng là chứng từ sở hữu hàng hóa thì nó không có như là vận đơn đường biển Chính vìvậy, biên lai gửi hàng đường biển không chuyển nhượng, cầm cố được (non-negotiable seawaybill)

Seaway bill cũng có những ưu điểm nhất định của nó Đó là:

Thứ nhất, khi sử dụng seaway bill người nhận hàng có thể nhận được hàng hoá ngày khi

tàu đến cảng dỡ hàng hoá mà không nhất thiết phải xuất trình vận đơn đường biển gốc vì seawaybill không phải là chứng từ sở hữu hàng hoá Hàng hoá sẽ được người chuyên chở giao cho ngườinhận hàng trên cơ sở những điều kiện của người chuyên chở hoặc một tổ chức quản lý hàng hoátại cảng đến

Thứ hai, seaway bill không phải là chứng từ sở hữu hàng hoá, do đó người ta không nhất

thiết phải gửi ngay bản gốc cho người nhận hàng ở cảng đến mà có thể gửi bản sao qua hệ thốngtruyền số liệu tự động Như vậy đồng thời với việc xếp hàng lên tàu, người xuất khẩu có thể gửi

Trang 4

ngày lập tức seaway bill cho người nhận hàng trong vòng vài phút Người nhận hàng cũng nhưngười chuyên chở không phải lo lắng khi giao nhận mà không có chứng từ.

Thứ ba, khi sử dụng seaway bill, việc in các điều khoản bằng chữ rất nhỏ ở mặt sau được

thay thế bằng việc dẫn chiếu đến các điều kiện, quy định liên quan đến vận chuyển ở mặt trướcbằng một điều khoản ngắn gọn Mặt khác người chuyên chở chỉ cần phát hành 1 bản gốc seawaybill trong khi phải phát hành tối thiểu 1 bộ 3 bản gốc nếu sử dụng B/L

Thứ tư, seaway bill cho phép giao hàng cho một người duy nhất khi họ chứng minh họ là

người nhận hàng hợp pháp Điều này giúp cho các bên hữu quan hạn chế được rất nhiều rủi rotrong việc giao nhận hàng, không những thế, vì seaway bill không phải là chứng từ sở hữu hànghoá nên khi bị mất hay thất lạc thì cũng không ra hậu quả nghiêm trọng nào

Tuy nhiên, seaway bill không phải là không có những hạn chế như seaway bill cản trở muabán quốc tế (vì seaway bill là rất phức tạp và khó khăn khi người chuyên chở và người nhận hàng

là những người xa lạ, mang quốc tịch khác nhau); luật quốc gia của một số nước và công ướcquốc tế chưa thừa nhận seaway bill như một chứng từ giao nhận hàng Trong thực tế seaway billđược sử dụng khi hai bên gửi hàng và nhận hàng có quan hệ làm ăn uy tín, tin cậy lâu năm hoặctrong nội bộ công ty

Hiện nay, tuy đã có sự gia tăng lớn trong việc sử dụng seaway bill thay thế cho B/L trongthương mại quốc tế nhưng việc sử dụng B/L vẫn còn chiếm một ưu thế rất lớn dưới đây là bảngtóm tắt câu trả lời về loại chứng từ vận tải được chủ yếu sử dụng, phát hành hay yêu cầu trongthương mại quốc tế trong cuộc khảo sát của UNCTAD, kết quả này được thể hiện trong báo cáo

“The use of transport documents in international trade” được thực hiện bởi UNCTAD vào tháng11/2003

Type of transport documents (more than one

respondents)

Multimodal/ combined transport document

- negotiable

- non-negotiable

533727

Quả thực vận đơn đường biển vẫn luôn có vai trò quan trọng trong thương mại và thanhtoán quốc tế Dưới đây, chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết về loại chứng từ vận tải này

2 Hình thức và nội dung của B/L

Vận đơn là một tờ giấy gồm hai mặt mặt trước của vận đơn thường có nhiều hình thức khác nhau tùy theo hãng vận tải còn mặt sau thì thường các vận đơn đường biển không khác nhau nhiều, thường in các điều khoản và điều kiện chuyên chở hoặc có thể để trống thường nội

dung ở mặt sau vận đơn đã được chuẩn hóa nên các bên tham gia thường không quan tâm nhiều

Trang 5

tới về mặt trước của vận đơn, tuy mỗi hãng tàu có hình thức khác nhau về vận đơn nhưng về cơbản mỗi vận đơn đều phải đảm bảo có những nội dung cơ bản nhất định

Theo khoản 1, điều 87, bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005, vận đơn bao gồm các nội dung sau đây: 

a) Tên và trụ sở chính của người vận chuyển; 

b) Tên người gửi hàng; 

c) Tên người nhận hàng hoặc ghi rõ vận đơn được ký phát dưới dạng vận đơn theo lệnh hoặc vận đơn vô danh; 

d) Tên tàu biển; 

đ) Mô tả về chủng loại, kích thước, thể tích, số lượng đơn vị, trọng lượng hoặc giá trị hàng hoá, nếu xét thấy cần thiết; 

e) Mô tả tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hoá; 

g) Ký, mã hiệu và đặc điểm nhận biết hàng hoá mà người giao hàng đã thông báo bằng văn bản trước khi bốc hàng lên tàu biển và được đánh dấu trên từng đơn vị hàng hoá hoặc bao bì; 

h) Cước vận chuyển và các khoản thu khác của người vận chuyển; phương thức thanh toán; i) Nơi bốc hàng và cảng nhận hàng; 

k) Cảng trả hàng hoặc chỉ dẫn thời gian, địa điểm sẽ chỉ định cảng trả hàng; 

l) Số bản vận đơn gốc đã ký phát cho người giao hàng; 

m) Thời điểm và địa điểm ký phát vận đơn; 

n) Chữ ký của người vận chuyển hoặc thuyền trưởng hoặc đại diện khác có thẩm quyền của ngườivận chuyển. 

Trong vận đơn, nếu thiếu một hoặc một số nội dung quy định tại khoản này nhưng phù hợp với quy định tại Điều 73 của Bộ luật này thì không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của vận đơn. Dưới đây là một vận đơn mẫu

Trang 6

3 Nhận biết vận đơn đường biển

Do vận đơn đường biển có nhiều hình thức và nội dung khác nhau nên cần thiết phải nhậnbiết các loại vận đơn này với nhau để phù hợp với mục đích sử dụng trong những trường hợp cụthể

3.1 Căn cứ vào tình trạng bốc xếp hàng hóa

 Vận đơn đã bốc hàng lên tàu : (Shipped on board B/L): Là loại vận đơn mà chủ tàu,

thuyền trưởng, đại lý cấp cho người gửi hàng khi đã hoàn thành việc bốc hàng lên tàu Đây làbằng chứng chứng minh hàng hóa đã được bốc lên tàu để chở và người bán đã hoàn thành nghĩa

vụ của mình theo đúng hợp đồng thương mại

 Vận đơn nhận hàng để chở (Received for shipment B/L): Là vận đơn nhận hàng để chở

được ký phát cho người gửi hàng đẻ cam kết hàng sẽ được bốc lên tàu tại cảng quy định và chởbằng con tàu như đã ghi trên vận đơn

Trang 7

3.2 Căn cứ vào phê chú trên vận đơn

 Vận đơn hoàn hảo (Clean B/L): Là vận đơn không có ghi chú khiếm khuyết của hàng hóa

hay bao bì

 Vận đơn không hoàn hảo (Unclean B/L hay Dirty B/L): Là loại vận đơn trên đó người

chuyên chở có ghi chú xấu về tình trạng hàng hóa hay bao bì

 Căn cứ tính chất pháp lý về sở hữu hàng hóa

 Vận đơn gốc (Original B/L) : Là vận đơn được ký bằng tay có thể không có dấu

"Original" và có thể giao dịch, chuyển nhượng được đối với vận đơn gốc quy định hàng hóa đượcgiao theo lệnh hay vô danh, không chuyển nhượng được với vận đơn gốc quy định giao hàng đíchdanh Thông thường có 3 bản gốc được ghi theo thứ tự theo thông lệ vận tải quốc tế

 Vận đơn bản sao (Copy B/L): Là vận đơn bản phụ của vận đơn gốc, không có chữ ký tay,

thường có dấu " Copy" lên mặt trước hoặc các chứng từ không thể hiện là bản gốc và không giaodịch, chuyển nhượng được

3.3 Căn cứ vào tính lưu thông của vận đơn

 Vận đơn đích danh (Straight B/L hay B/L to a named person): Là vận đơn ghi rõ tên và

địa chỉ của người nhận hàng, người chuyên chở chỉ giao hàng cho ai là người có tên trên vận đơn

 Vận đơn theo lệnh (To order B/L): Là vận đơn mà trên đó ghi rõ hàng được giao theo

lệnh của một người nào, thường là theo lệnh một người đích danh, theo lệnh ngân hàng phát hànhL/C, theo lệnh người gửi hàng Vận đơn theo lệnh chuyển nhượng dễ dàng bằng phương pháp kýhậu, được dùng phổ biến trong thương mại, vận tải, thanh toán quốc tế

 Vận đơn vô danh (To bearer B/L): Là loại vận đơn không ghi tên của người nhận hàng

đích danh mà hàng sẽ được giao trực tiếp cho người cầm vận đơn gốc trong tay

3.4 Căn cứ vào phương thức thuê tàu

 Vận đơn tàu chợ (Liner B/L): Là vân đơn được ký phát cho người gửi hàng khi sử dụng

tàu chợ để vận chuyển hàng, vận đơn này ngoài giá trị là chứng từ sở hữu hàng hoá mà còn có giátrị pháp lý như một hợp đồng chuyên chở

 Vận đơn tàu chuyến (Voyage Charter B/L): Là loại vận đơn được ký phát cho người gửi

hàng khi sư dụng phương thức thuê tàu chuyến Vận đơn này không có tính độc lập mà phụ thuộcvào hợp đồng thuê tàu

3.5 Căn cứ vào hành trình chuyên chở

 Vận đơn đi thẳng (Direct B/L): Là vận đơn được cấp trong trường hợp hàng hoá được

chở thẳng từ cảng bốc đến cảng dỡ mà không chuyển tải dọc đường

 Vận đơn chở suốt (Through B/L): là loại vận đơn được sử dụng trong trường hợp hàng

hóa được chuyên chở từ cảng bốc hàng đến cảng dở hàng cuối bằng nhiều con tàu mà không quantâm đến việc hàng có được chuyển tải hay không và có bao nhiêu vận đơn khác đã được pháthành trong quá trình vận chuyển

 Vận đơn đa phương thức (Multimodal B/L, Intermodal B/L or Combined B/L): Là loại

vận đơn phát hành cho việc cho việc chuyên chở hàng hoá bằng container theo phương thức

"door to door" mà theo đó hàng được vận chuyển bằng nhiều tàu hay nhiều phương thức khácnhau (máy bay, tàu biển, xđường sắt, đường bộ, )

3.6 Một số loại vận đơn khác

Trang 8

 Surrendered B/L

 Vận đơn rút gọn (short B/L): Thường được sử dụng khi thuê tàu chuyến

 Switch B/L

 Vận đơn Container

 Vận đơn của bên thứ 3

 Vận đơn hải quan (Custom's B/L)

 Và rất nhiều loại khác nữa,……

4 Vận đơn đường biển điện tử.

4.1 Khái quát sự ra đời và mục đích của các chứng từ vận tải điện tử

Bolero Bolero là viết tắt của “ Bill of Lading Electronic Registry Organization” Dự ánBolero được sự ủng hộ của Uỷ ban Châu Âu và được thực hiện trên cơ sở sự hợp tác giữa Societyfor Worldwide Interbank Finance Transaction (SWIFT) và Thorough Transport Mutual InsuranceAssociation Ltd (TT club)

* Các mục tiêu chính mà dự án Bolero theo đuổi bao gồm:

1 Đảm bảo các dịch vụ do Bolero cung cấp đáp ứng được các yêu cầu của các thành viên;

và các dịch vụ thương mại khác có liên quan được phát triển đồng bộ với cácdịch vụ trên;

2 Hoạt động như một diễn đàn liên ngành để giải quyết các vấn đề liên quan đến thực tiễnthương mại điện tử trong thương mại quốc tế, tập trung vào các vấn đề liên quan đến các chứng

từ có khả năng chuyển nhượng và các chứng từ điện tử tương đương;

3 Tạo lập và phổ biến các chuẩn mực trong thương mại điện tử;

4 Thiết lập một khuôn khổ pháp lý đảm bảo rằng các yêu cầu đối với các chứng từ vận tảitruyền thống có thể được đáp ứng bằng các chứng từ điện tử tương ứng mà không làm thay đổi sựcân bằng về rủi ro đã được thiết lập giữa các bên;

5 Làm đầu mối liên lạc với các cơ quan quản lý quốc gia và quốc tế để đảm bảo rằng cácnhu cầu của doanh nghiệp được cân nhắc đến một cách đầy đủ trong quá trình hoàn thiện cơ sởpháp lý và cơ sở kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển của thương mại

4.2 Nguồn luật điều chỉnh vận đơn đường biển điện tử

* Incoterms2000

ICC đã tiên liệu sự phát triển của EDI và đưa ra các qui tắc diễn giải mới Điều 8A và 8BIncoterms 2000 đề cập tới giá trị hiệu lực của thông tin điện tử: “ở nơi nào người mua và ngườibán thoả thuận liên lạc bằng điện tử thì có thể dùng thoả thuận trao đổi dữ liệu điện tử (electronicdata interchange agreement) có giá trị tương đương thay cho chứng từ thông thường

Vì thế các bên cần phải thoả thuận sẽ sử dụng các thông điệp điện tử thay thế các chứng từvận tải thông thường trong đó bao gồm cả vận đơn truyền thống

* Qui tắc của CMI đối với vận đơn đường biển điện tử

Điểm đáng chú ý của qui tắc này là áp dụng đối với vận đơn phải được kiểm tra Nhữngqui tắc này đã được tổ chức CMI soạn thảo tại Paris vào tháng 6/ 1990 Và các qui tắc của CMIkhông mang tính chất bắt buộc Do vậy, các bên phải thoả thuận các qui tắc này và trên cơ sở đóthống nhất với hợp đồng chuyên chở Điều 1 nêu rõ: “ Qui tắc này áp dụng bất kỳ lúc nào các bên

Trang 9

chấp nhận.” Nếu các bên quyết định chuyển từ vận đơn CMI sang vận đơn giấy tờ thì mã khoáriêng sẽ mất hiệu lực.

Điểm mấu chốt của qui tắc CMI chính là sự ra đời của vận đơn đường biển điện tử Các quitắc này không nhằm mục đích điều chỉnh về EDI nói chung và vận đơn nói riêng trên cơ sở toàndiện Do đó, các qui tắc này không nhằm để thay thế luật thực chất áp dụng cho vận đơn

* Quy tắc Bolero Tuỳ thuộc vào loại vận đơn đường biển điện tử mà có nguồn luật điều

chỉnh như khi sử dụng vận đơn Bolero thì sẽ phải theo các qui tắc do Bolero InternationalLimited(Bolero International Limited là một công ty liên doanh giữa SWIFT và TT Club và làngười cung cấp các dịch vụ của hệ thống Bolero.net) đưa ra (Bolero rulebook - chủ yếu cũng dựatrên qui tắc của CMI)

Cơ sở pháp lý của hệ thống Bolero

Để cả hệ thống Bolero có thể hoạt động trôi chảy cần có các thoả thuận giữa (i) nhữngngười sử dụng hệ thống với Bolero và (ii) những người sử dụng hệ thống với nhau Vấn đề nàyđược giải quyết thông qua việc ban hành Bolero Rulebook Tất cả các thành viên khi gia nhập hệthống Bolero sẽ bị ràng buộc bởi Bolero Rulebook Về bản chất, Bolero Rulebook quy định cáchthức các công ty sử dụng hệ thống Bolero để phát hành vận đơn điện tử Bolero Rulebook chịu sựđiều chỉnh của luật Anh, và các toà án Anh sẽ có thẩm quyền các giải quyết tranh chấp phát sinh

có liên quan đến các quy tắc này Mặc dù bản quy tắc này bao quát nhiều nội dung, điều khoảncốt lõi của nó là các thành viên của hệ thống Bolero chấp nhận các thông điệp điện tử được gửiqua hệ thống Bolero như thể chúng được thể hiện trên giấy và thừa nhận hiệu lực của chữ ký điện

tử trong hệ thống Bolero

4.3 Tính chất của vận đơn Bolero và sự khác biệt so với vận đơn truyền thống

Như chúng ta đã biết, vận đơn là một chứng từ do người chuyên chở phát hành với cácchức năng (1) biên lai nhận hàng để chở, (2) bằng chứng của hợp đồng chuyên chở và (3) chứng

từ sở hữu hàng hoá, cho phép người nắm giữ hợp pháp chứng từ cóthể nhận hàng từ ngườichuyên chở Thông thường vận đơn sẽ được người chuyên chở cấp cho người gửi hàng và ngườicuối cùng nắm giữ vận đơn là người mua hàng sau khi vận đơn có thể đã được chuyển qua rấtnhiều đối tượng khác ví dụ như các ngân hàng Những người sở hữu vận đơn sẽ có những quyềnlợi và nghĩa vụ liên quan đến vận đơn

Vận đơn Bolero vẫn bảo đảm những chức năng của vận đơn truyền thống nhưng thay thếhình thức thể hiện trên giấy tờ bằng các bản ghi điện tử (electronic records) Một vận đơn Bolerobao gồm các bản ghi sau đây:

Văn bản vận đơn (“BBL Text”): là một văn bản chứa phần nội dung chính của vận đơn.Văn bản này có chữ ký điện tử của người chuyên chở và mã nhận diện văn bản (document ID) vàphải đảm bảo các yêu cầu đối với văn bản của Bolero Văn bản vận đơn sẽ được gửi tới hệ thống

và sẽ được lưu với mã nhận diện văn bản và loại văn bản là “705” Nội dung của văn bản vận đơnBolero tương tự như một vận đơn truyền thống Văn bản vận đơn có thể là “sạch” hoặc “bảo lưu”,

có thể thể hiện là hàng đã bốc hoặc được nhận để xếp…

Như vậy hiểu một cách đơn giản, vận đơn Bolero bao gồm (1) BBL Text, một văn bản vớinhững nội dung tương tự như vận đơn truyền thống và (2) một bản ghi cơ sở dữ liệu có tên là Bảnghi đăng ký sở hữu trong đó ghi nhận các giao dịch có liên quan có liên quan đến BBL Text.Thông qua các giao dịch này mà các thành viên của Bolero sẽ phát sinh các quyền và nghĩa vụliên quan đến vận đơn Bolero theo quy định của Bolero Rulebook

Nội dung của Vận đơn Bolero (B.B/L): có nội dung cơ bản giống như vận đơn truyềnthống do người chuyên chở cấp cho người gửi hàng B.B/L có thể bị ghi chú sạch hay không sạch

Trang 10

(clean or unclean), hàng đã xếp lên tàu hay nhận để xếp phù hợp với tập quán hàng hải quốc tế.B.B/L có thể bao gồm các điều khoản và điều kiện chung của người chuyên chở.

Điểm khác biệt so với vận đơn truyền thống là B.B/L không có phần ghi tên người chuyênchở, người gửi hàng, những người được chuyển nhượng khác, đồng thời người chuyên chở khôngtrực tiếp ký vào B.B/L mà ký bằng chữ ký kỹ thuật số vào bức thông điệp trong đó có chứa B.B/Lkhi người chuyên chở gửi đến trung tâm xử lý B.B/L

Trong thương mại truyền thống, như chúng ta đã biết thông thường người gửi hàng sẽ nhậnđược bản vận đơn bằng giấy do người chuyên chở phát hành sau khi hàng hoá được xếp lên tàuhoặc hàng hoá đã được nhận để chở Để thu tiền theo phương thức thư tín dụng (L/C), người gửihàng sẽ ký hậu vận đơn cho ngân hàng ở nước của người xuất khẩu (ngân hàng thông báo, ngânhàng xuất trình…) Ngân hàng này thông thường là do ngân hàng phát hành tín dụng thư (ngânhàng của người nhập khẩu) chỉ định Sau khi kiểm tra vận đơn, ngân hàng ở nước người xuấtkhẩu sẽ kýhậu cho ngân hàng phát hành đồng thời với việc nhận tiền hàng, và ngân hàng pháthành cuối cùng sẽ chuyển vận đơn cho người mua Vì vận đơn là một chứng từ có thể chuyểnnhượng được nên ngân hàng có thể giữ chứng từ này như một sự bảo đảm cho các khoản tín dụngcấp cho nhà nhập khẩu Khi hàng hoá tới cảng đến, người mua xuất trình vận đơn gốc cho ngườichuyên chở để nhận hàng Mục tiêu của việc thay thế hệ thống vận hành vận đơn vốn từ lâu đã đivào quy củ này là phải giữ được những chức năng truyền thống của vận đơn mà thay thế hìnhthức tồn tại trên giấy tờ của nó Một số chức năng của vận đơn truyền thống có thể dễ dàng đượcthay thế bởi vận đơn điện tử vì đó chỉ đơn giản là sự thay đổi hình thức trao đổi thông tin từ giấy

tờ sang dữ liệu điện tử Tuy nhiên, để thực hiện được chức năng là chứng từ sở hữu hàng hoá, vậnđơn điện tử phải được xây dựng trên một cơ sở kỹ thuật khả thi và đáng tin cậy

5 Những lưu ý trong việc sử dụng vận đơn đường biển trong thanh toán quốc tế theo UCP 600 và ISBP 681

Trong thời gian vừa qua và sắp tới, phương thức thanh toán bằng L/C trong thương mạiquốc tế giữa các nước vẫn sẽ luôn chiếm ưu thế Theo phương thức thanh toán này thì bộ chứng

từ là một cơ sở quan trọng để thực hiện việc thanh toán Trong đó, vận đơn đường biển là một bộphận quan trọng, không thể thiếu trong bộ chứng từ ngân hàng chỉ chấp nhận thanh toán nếu nhưvận đơn hợp lệ để một vận đơn hợp lệ thì người gửi hàng ngoài việc đảm bảo tuân thủ các điềukiện quy định về vận đơn trong L/C còn cần nắm vững được những quy định trong các quy tắc vàthực hành thống nhất về tín dụng chứng từ UCP và tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế đểkiểm tra chứng từ theo tín dụng chứng từ theo UCP (ISBP) bởi L/C, UCP, ISBP là những cơ sở

để xác định tính hợp lệ của một chứng từ, bao gồm cả chứng từ vận tải đường biển Do đó cầnthiết phải lưu ý trong việc sử dụng chứng từ cho phù hợp với các tập quán quốc tế đó Chúng ta sẽtìm hiểu vấn đề này trong các trường hợp sau

5.1 Một vận đơn đường biển (B/L) có thể được ký bởi:

A Người chuyên chở hoặc thuyền trưởng

B Người chuyên chở, thuyền trưởng hoặc đại lý của người chuyên chở hoặc thuyềntrưởng

C Người chuyên chở, thuyền trưởng, đại lý của người chuyên chở hoặc thuyền trưởng,người giao nhận

D Thuyền trưởng, chủ tàu, người thuê tàu

Đáp án là C Theo điều 20 (a)(i) UCP 600 thì trên vận đơn phải chỉ rõ tên của người

chuyên chở và được ký bởi người chuyên chở, thuyền trưởng hoặc đại lý đích đanh của nguờichuyên chở hoặc thuyền trưởng Đồng thời tài điều 95 của ISBP 681 thì nếu L/C quy định “vận

Trang 11

đơn của người giao nhận cũng được chấp nhận” (freight forwarder’s bill of lading is acceptable)thì vận đơn cũng có thể được ký bởi nguời giao nhận

Một điểm cần lưu ý ở đây là bất kỳ chứ ký của ai trên vận đơn thì đều phải được xác thực

về chức năng của người ký (ví dụ như as the carrier, as the master, v.v.)

5.2 Chúng ta hãy cùng xem xét L/C sau

5.2.1 Để được thanh toán thì người bán phải xuất trình bộ chứng từ đầy đủ theo yêucầu của L/C, trong đó có bao gồm vận đơn Nội dung vận đơn cần thỏa mãn những yêu cầu nhưtrong L/C về cảng bốc hàng và cảng dỡ hàng quy định, ngày giao hàng thể hiện trên vận đơn

Ngày đăng: 21/09/2012, 09:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Hình thức và nội dung của B/L - CHỨNG TỪ VẬN TẢI VÀ BẢO HIỂM TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ.doc
2. Hình thức và nội dung của B/L (Trang 4)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w