Mục tiêu tiền tệ: Mục tiêu tiền tệ là một hệ thống các mục tiêu về phương diện tiền tệ cần đạt được baogồm điều hòa khối tiền tệ, kiểm soát tổng số thanh toán bằng tiền MV, bảo vệ giá tr
Trang 1SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG
MỞ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Trang 2A.TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA
II. Mục tiêu :
Mục tiêu chính sách tiền tệ là mục tiêu mà ngân hàng Trung ương hoạch địnhphải đạt được trong suốt quá trình điều hành chính sách tiền tệ Thông thường chínhsách tiền tệ có hai loại mục tiêu chính: mục tiêu tiền tệ và mục tiêu kinh tế
1. Mục tiêu tiền tệ:
Mục tiêu tiền tệ là một hệ thống các mục tiêu về phương diện tiền tệ cần đạt được baogồm điều hòa khối tiền tệ, kiểm soát tổng số thanh toán bằng tiền (MV), bảo vệ giá trịquốc nội và quốc ngoại của đồng tiền bằng cách ổn định giá
Mục tiêu điều hòa khối tiền tệ: là mục tiêu nhằm giữ vững mối quan hệ cân đốigiữa tiền và hàng Nguyên tắc chung để đạt được mục tiêu này là giữ nguyên,tăng hay giảm khối lượng tiền tệ tùy theo tình hình các nền kinh tế tăng trưởnghay suy thóai Thành phần của khối tiền tệ gồm có tiền giấy, tiền cắc do Ngânhàng Trung ương phát hành và bút tệ được sáng tạo ra từ ngân hàng thươngmại Do vậy để điều hòa khối tiền tệ ngoài việc kiểm sóat việc phát hành, ngân
Trang 3hàng Trung ương còn phải kiểm soát khối dự trữ của ngân hàng thương mạivới tổng số tiền gởi mà nó huy động được.
Mục tiêu kiểm soát tổng số thanh toán bằng tiền: việc kiểm soát khối tiền tệđơn thuần như trên có nhược điểm là không lưu ý đến tốc độ lưu thông tiền tệ.Điều này làm cho việc kiểm sóat giá cả thiếu cơ sở vững chắc vì ngoài yếu tốkhối tiền tệ còn có yếu tố tốc độ lưu thông tiền tệ tác động đến vật giá Bởi vậycần thiết phải kiểm soát tổng số thanh toán hay tổng số lượng tiền tệ dùng đểchi trả trong các cuộc giao dịch và trong khoảng thời gian nhất định
Tuy nhiên, trong một quốc gia nếu như tổng số thanh toán qua ngân hàngchiếm tỷ trọng lớn trên tổng số thanh toán của các tầng lớp dân cư thì việckiểm soát này tương đối dễ.Trái lại, nếu việc thanh toán giữa tầng lớp dân cưchủ yếu dùng tiền mặt, thực hiện chi trả ngoài ngân hàng, thì việc kiểm soáttổng số thanh toán bằng tiền rất khó Do vậy, để kiểm soát tổng số thanh toánbằng tiền thì vấn đề quan trọng là phải phát triển hệ thống thanh toán qua ngânhàng đủ mạnh để thu hút dân chúng thực hiện hầu hết các khoản thanh toánqua ngân hàng Trong những năm gần đây, do nỗ lực của hệ thống ngân hàngkhông ngừng cải thiện chất lượng dịch vụ thanh toán nên tỷ lệ thanh toán quangân hàng so với tổng số thanh toán bằng tiền trong toàn nền kinh tế đã giatăng đáng kể
Bảo vệ giá trị quốc nội của đồng tiền: Giá trị quốc nội của đồng tiền chính làsức mua đối nội của nó được đánh giá thông qua giá cả hàng hóa trong nước
Do đó, muốn bảo vệ giá trị quốc nội của đồng tiền, chính sách tiền tệ phảinhằm vào mục tiêu ổn định vật giá nói chung Mức vật giá gia tăng, sức muađồng tiền giảm từ đó tác hại đến giá trị quốc nội của đồng tiền.Mức vật giágiảm, sức mua đồng tiền tăng điều này có lợi hay hại còn tùy nguyên nhân hayhoàn cảnh dẫn đến sự sụt giảm giá cả Nếu giá cả hàng hóa giảm do năng suấtchung tăng là điều đáng mừng Nhưng nếu vật giá chung giảm do mức cầu trênthị trường giảm lại là điều đáng lo.Vì vật giá giảm sức mua của đồng tiền tuy
Trang 4có tăng nhưng chỉ là tạm thời Nếu quá trình sụt giảm giá cả kéo dài dễ dẫn đếntình trạng suy thoái kinh tế.Tình hình này có thể khiến cho sản xuất lỗ dẫn đếnthu hẹp quy mô sản xuất và thất nghiệp trầm trọng
Ổn định giá trị quốc ngoại của đồng tiền: Giá trị quốc ngoại của đồng tiềnchính là sức mua đối ngoại của nó được đo lường bởi tỷ giá hối đoái thả nổi.Thực chất tỷ giá hối đoái chính là giá cả của đối ngoại của đồng tiền Bởi vậy
sự biến động tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến sức mua đồng tiền, từ đó tác động ít haynhiều đến hoạt động của nền kinh tế tùy theo mức độ hướng ngoại của nềnkinh tế đó Do vậy,chính sách tiền tệ cũng cần nhắm đến mục tiêu ổn định tỷgiá hối đoái để góp phần vào việc ổn định nền kinh tế nói chung
2. Mục tiêu kinh tế
Mục tiêu kinh tế của chính sách tiền tệ là hệ thống các mục tiêu cuối cùng mànền kinh tế phải đạt được nhờ việc áp dụng chính sách tiền tệ đem lại Đó là các mụctiêu: tăng trưởng kinh tế; tăng mức nhân dụng và giảm thiểu những thăng trầm chuchuyển kinh tế
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế: Khối tiền tệ tăng hay giảm đều có tác động mạnhđến lãi suất và số cầu tổng quát, từ đó tác động đến sự gia tăng đầu tư sản xuất
và cuối cùng tác động lên tổng sản lượng quốc gia, tức tác động lên sự tăngtrưởng của nền kinh tế Bởi vậy, chính sách tiền tệ phải nhằm vào mục tiêutăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng hay giảm khối lượng tiền tệ thích hợp
Mục tiêu tăng mức nhân dụng: khi gia tăng đầu tư sản xuất và gia tăng sảnxuất, các xí nghiệp thu dụng thêm nhiều nhân công Để đạt mục tiêu này chínhsách tiền tệ nhằm vào việc mở rộng và gia tăng khối tiền tệ để vừa làm cho sứctiêu thụ tăng lên, vừa làm cho nhà sản xuất mở rộng đầu tư nhằm thu hút thêmnhân công
Trang 5 Mục tiêu giảm thiểu những thăng trầm chu kỳ kinh tế: Trong kinh tế thị trường,
sự phát triển kinh tế thường biến chuyển qua nhiều giai đọan mang tính chấtchu kỳ, có lúc tăng trưởng, có lúc ngừng trệ và có lúc suy thoái Những thăngtrầm mang tính chất chu kỳ đó có thể giảm bớt về cường độ hoặc rút ngắn vềthời gian nhờ vào một chính sách tiền tệ thích hợp Cụ thể là mở rộng khối tiền
tệ trong giai đoạn suy thoái để sớm chuyển sang giai đoạn phục hưng, tiết chếkhối tiền tệ thế nào để vừa chống lạm phát vừa không xảy ra tình trạng ngưngtrệ và sớm chuyển sang giai đoạn tăng trưởng kinh tế với một tỷ lệ lạm phát cóthể chấp nhận được
III Công cụ chính sách tiền tệ:
1 Công cụ trực tiếp:
Đây là công cụ tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưuthông Công cụ trực tiếp được áp dụng phổ biến ở các nước trongthời kỳ hoạt động tài chính được điều tiết chặt chẽ là hạn mức tíndụng Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các tổchức tín dụng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế Bêncạnh hạn mức tín dụng, NHTW có thể điều tiết trực tiếp các mục tiêutrung gian thông qua việc ấn định lãi suất hoặc tỷ giá
2 Công cụ gián tiếp:
2.1 Dự trữ bắt buộc
Là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoảntiền gửi không hưởng lãi tại NHTW Nó được xác định bằng một tỷ lệphần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thờigian nào đó Mức dự trữ bắt buộc được quy định khác nhau căn cứvào thời hạn tiền gửi, vào quy mô và tính chất hoạt động của NHTM
2.2 Chính sách tái chiết khấu
Trang 6Bao gồm các quy định và điều kiện cho vay của NHTW đối vớicác NHTM NHTW cho vay ngắn hạn trên cơ sở chiết khấu các chứng
từ cĩ giá ngắn hạn: chủ yếu là tín phiếu kho bạc và thương phiếu
2.3 Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là các hoạt động của NHTW trên thịtrường mở thơng qua việc mua bán các chứng khốn (giấy tờ cĩgiá) Các hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến dự trữ của cácNHTM và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất Trong tiểu luậnnày nhĩm sẽ nghiên cứu việc sử dụng nghiệp vụ thị trường mở trongviệc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia
B SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ TTM ĐỂ THỰC THI CSTTQG
1 Các nghiệp vụ trên thị trường mở :
Định nghĩa:
Theo Luật ngân hàng nhà nước Việt nam
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán các giấy tờ cĩ giá ngắn hạn
do NHTW thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Các cơng cụ tài chính được phép giao dịch trên NVTTM bao gồm các loại giấy
tờ cĩ giá phát hành bằng đồng Việt Nam như: Tín phiếu NHNN, trái phiếu chính phủ(tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu cơng trình trung ương, trái phiếu đầu
tư do Quỹ Hỗ trợ phát hành cơng trái) và trái phiếu chính quyền địa phương doUBND TP.HCM và TP Hà Nội phát hành
Theo Quyết định 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành về Quy chế nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở: Là việc Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua, bán ngắn hạn các loại giấy tờ cĩ giá với các tổ chức tín dụng.
Trang 7Như vậy đã có điểm khác biệt và thay đổi tích cực, giấy tờ có giá được giao dịch không phân biệt giấy tờ có giá ngắn hạn hay dài hạn mà chỉ quy định về thời gian, tức là các giao dịch đối với giấy tờ có giá diễn ra trong ngắn hạn đã được gọi
là nghiệp vụ thị trường mở.
Các nghiệp vụ trên thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở của các ngân hàng trung ương chủ yếu có hai loại: muabán giấy tờ có giá dài hạn và mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn Ở Mỹ, nghiệp vụ thịtrường mở chủ yếu được thực hiện đối với trái phiếu chính phủ dài hạn Ở Việt nam,theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam, nghiệp vụ thị trường mở chỉ là việc muabán giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngânhàng Nhà nước và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
Khi NHTW mua/bán các chứng khoán, nó sẽ làm tăng/giảm ngay lập tức dựtrữ của các NHTM, dù người bán là NHTM hay khách hàng của NHTM Vì thế khảnăng tạo tiền gửi thông qua cung ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng/giảmxuống, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng
Khi vốn khả dụng của từng ngân hàng cá nhân giảm/tăng do tác động của hoạtđộng thị trường mở, mức cung vốn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng giảmxuống/tăng lên, trong điều kiện các yếu tố liên quan không đổi, lãi suất thị trường liênngân hàng tăng lên (hoặc giảm xuống) Thông qua các hoạt động arbitrage về lãi suất,ảnh hưởng này được truyền đến các mức lãi suất của các công cụ thị trường mở và lãisuất thị trường trái phiếu Kết quả là chi phí cơ hội đối với người có vốn dư thừa vàgiá vốn đầu tư đối với người thiếu hụt vốn tăng lên/giảm xuống, làm giảm/tăng nhucầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng của xã hội và do đó giảm/tăng sản lượng, giá cả vàcông ăn việc làm
2 S d ng các nghi p v m th c hi n CSTTQG : ử dụng các nghiệp vụ mở thực hiện CSTTQG : ụ ệ ụ ở thực hiện CSTTQG : ực hiện CSTTQG : ệ
Sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để điều hành chính sách tiền tệ
Trang 8Nghiệp vụ thị trường mở được coi là công cụ quan trọng nhất trong điều hành chínhsách tiền tệ của NHTW bởi vì:
Thứ nhất: Nó là nhân tố quyết định đầu tiên có thể làm thay đổi lãi suất hoặc cơ sởcủa tiền tệ - nguồn gốc chính làm thay đổi việc cung ứng tiền của NHTW và trực tiếptác động đến nguồn dự trữ của các NHTM, từ đó ảnh hưởng đến nguồn cung ứng tíndụng cho nền kinh tế
Khi mục tiêu của NHTW là thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển NHTW sẽ gia tăng tiền tệ trong lưu thông
NHTW sẽ mua vào một lượng chứng khoán nhất định
NHTM hoặc công chúng bán chứng khoán cho nhà nước sẽ làm cho dự trữ củaNHTM tăng lên do:
NHTM nhận được tiền của NHTW về việc mua chứng khoán
Người dân sau khi bán được chứng khoán và chuyển tiền vào tài
khoản tiền gửi của họ tại NHTM
Khi mục tiêu của NHTW là kiềm chế lạm phát, NHTW sẽ giảm bớt khối lượng tiền tệ trong lưu thông
NHTW thực hiện bán chứng khoán ra
NHTM mua chứng khoán sẽ làm giảm dự trữ của mình hoặc công chúng rút tiền
từ tài khoản để mua chứng khoán sẽ làm giảm dự trữ của NHTM
Nếu muốn tăng tiền tạm thời thì NHTW sử dụng phương thức mua có kỳ hạn bằng hợp đồng mua lại chứng khoán từ các tổ chức tín dụng.
Nếu muốn giảm tiền tạm thời thì NHTW sử dụng phương thức bán có kỳ hạn bằng các hợp đồng mua lại chứng khoán của NHTM.
=>Việc tăng giảm liên tục hoặc tăng giảm có kỳ hạn sẽ tác động lên khả năng mởrộng hay thu hẹp tín dụng liên tục hay tạm thời và từ đó tác động đến lãi suất trên thị
Trang 9Với tính linh hoạt của nghiệp vụ thị trường mở, NHTW có thể sử dụng nó để nớilỏng hoặc thắt chặt tiền tệ bất cứ mức độ nào qua việc mua hoặc bán chứng khoán với
ý là sự gia tăng mạnh về số phiên giao dịch, doanh số giao dịch, và xu hướng mua bán
2 chiều ngày càng thể hiện rõ
Theo báo cáo của Ban điều hành NVTTM, năm 2006, NHNN đã thực hiện 133phiên chào bán giấy tờ có giá Tổng doanh số bán ra đạt khoảng 87.400 tỷ đồng, tăngmạnh so với các năm 2005 và 2004 (năm 2004: 950 tỷ đồng, năm 2005: 1.800 tỷđồng) Việc chào bán giấy tờ có giá chủ yếu được thực hiện đối với tín phiếu NHNNtheo phương thức bán hẳn Cũng trong năm 2006, tổng doanh số giao dịch 2 chiềumua/bán giấy tờ có giá lên tới khoảng 124.234 tỷ đồng, tăng khoảng 21% so với năm
2005 và tăng 101% so với năm 2004 Doanh số giao dịch bình quân một phiên khoảng
767 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2005 và 52% so với năm 2004
Trang 10Bên cạnh sự gia tăng mạnh mẽ về doanh số giao dịch, số lượng tổ chức tín dụngtham gia giao dịch trong năm 2006 cũng tăng lên đáng kể với 19 tổ chức, tăng 26% sovới năm 2005 (14 tổ chức) Các phiên chào bán có sự tham gia chủ yếu của các ngânhàng thương mại nhà nước Đối với các phiên chào mua, ngoài sự tham gia của cácngân hàng thương mại nhà nước còn có sự tham gia đặt thầu của một số ngân hàngthương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
DIỄN BIẾN THỰC TẾ TRONG NĂM 2007
Trong 6 tháng đầu 2007, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào dự trữ 7 tỷ USD vàmột lượng tiền tương đương 112 nghìn tỷ đồng được “bơm” ra lưu thông (Theo TS Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng thuộc Ngânhàng Nhànước)
Theo một số chuyên gia nhận định số ngoại tệ này được hình thành chủ yếu từđầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán và kiều hối
Vậy tại sao Ngân hàng Nhà nước phải mua số ngoại tệ đó? PGS.TS Nguyễn VănLịch, Viện trưởng Viện Thương mại nói: “Cứ cho rằng hàng giữ ở mức như cũ và tiềnthì nhiều hơn, đương nhiên, tiền sẽ bị giảm giá Vì lý do e ngại, Chính phủ đã muatoàn bộ số ngoại tệ này và một lượng nội tệ tương đương được đưa ra lưu thông” Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước, ông Phùng Khắc Kế, cho biết: “Nhà đầu tưnước ngoài đưa tiền vào không phải mục đích mua hàng hoá mà họ mua chứng khoánđầu tư vào doanh nghiệp Do nguyên tắc, họ không được dùng tiền ngoại tệ mà phảichuyển đổi ra VND Tuy nhiên, số tiền đó không đi ra ngoài lưu thông một cách trựctiếp”
Cũng theo ông Phùng Khắc Kế, sau khi đã chuyển đổi thành VND, trong khi nhà
đầu tư chưa sử dụng để mua cổ phiếu, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng các biện
pháp nghiệp vụ thị trường mở thông qua các giấy tờ có giá như trái phiếu công trình, trái phiếu chính phủ để hút tiền về Trong trường hợp cần thiết, nếu
Trang 11những giấy tờ có giá của Chính phủ không đủ khả năng hút hết số tiền về thì Ngân hàng Nhà nước sẽ phát hành tín phiếu, hối phiếu để thu tiền về
Tuy nhiên, nếu sử dụng công cụ tín phiếu, hối phiếu ngân hàng thì số tiền saukhi hút về hoàn toàn không thể mang đi đầu tư chỗ khác được, mặc dù Ngân hàngNhà nước vẫn phải chịu lỗ để chi trả lãi suất cho nhà đầu tư đã mua những giấy tờ cógiá của ngân hàng
Vào thời điểm tháng 10/2007, khi lạm phát có xu hướng vượt trên hai con số, Ngân hàng nhà nước cũng đã bán ra nhiều giấy tờ có giá để thu hút tiền về Nghiệp vụ bán giấy tờ có giá được NHNN thực hiện liên tục, có ngày giao dịch đến
02 phiên.
NHẬN XÉT
Trong 6 tháng qua Nhà nước đã mua vào 7 tỷ USD, một lượng ngoại tệ bằng cả
10 năm trước đây Như thế chỉ với riêng việc mua này đã làm tổng lượng cung tiền ítnhất phải thêm hơn 112 ngàn tỷ đồng (đó là chưa tính đến hệ số nhân, hệ số tạo ra tiềncủa hệ thống ngân hàng thương mại có thể phát sinh liên quan đến bất cứ sự mua sắmtài sản nào của NHNN, và chưa kể lượng tăng cung tiền khác) Chưa nói đến thâm hụtngân sách không nhỏ cũng là nhân tố có thể gây lạm phát Tăng tổng cung tiền lànguyên nhân chủ yếu của lạm phát ở nước ta vì tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụvẫn tăng
Có thể thấy về cơ bản lạm phát (ở mọi nơi) chủ yếu là do Nhà nước gây ra, ở tacũng vậy Và theo một ý nghĩa nào đấy lạm phát do Nhà nước gây ra cũng là một loại
“thuế” trá hình mà tất cả người dân đều phải chịu, nhưng người dân lại nghĩ là dokhách quan gây ra
Thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính là bộ đầu tiên đã quyếtđịnh dùng những liệu pháp “sốc” cắt giảm thuế nhập khẩu đối với hàng loạt mặt hàng