1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu phong tục tập quán cưới xin của đồng bào dân tộc Tày - huyện Na Hang -Tuyên Quang

28 1,8K 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 52,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bỏ các thủ tục, tục lệ rườm rà không cần thiết được các cấp uỷ, chính quyền vàngành văn hóa khai thác, bảo tồn các giá trị văn hoá ở địa phương, ý nghĩa củahát quan làng trong đám cưới l

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Việt Nam - quốc gia đa dân tộc với 54 anh em sinh sống rải rác từ Bắcvào Nam, tõ mũi Cà Mau đến đỉnh đầu Lòng Có Các dân tộc sống gắn bó, đoànkết với nhau trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước Tuy cùngchung mét mục đích là bảo vệ và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnhnhưng mỗi dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển, trải qua các giaiđoạn lịch sử đã nảy nở và sáng tạo cho mình những yếu tố tập tục văn hoá mangtính truyền thống và có giá trị sâu sắc Những yếu tố truyền thống đó là nhữngsắc thái văn hóa riêng của từng dân tộc góp phần tạo nên nền văn hóaViệt Nam rất đa dạng và phong phó

Dân tộc Tày ở Việt Nam là mét trong những dân tộc chính, chiếm số dâncao Tuy nhiên, do chịu sự tác động nhiều mặt của nền kinh tế thị trường, nhiềunét bản sắc văn hoá của người Tày cũng đã bị mai một lãng quên hoặc bị đơngiản hoá Do vậy, để giữ gìn và phát huy những bản sắc văn hoá đó trước tiên tacần phải tìm hiểu và nhận thức đúng đắn về chóng

Cưới xin còng là một nét đẹp văn hóa Hôn nhân của người Tày nóichung và người Tày ở huyện Na Hang - Tuyên Quang nói riêng theo kiểu đốingẫu 1 vợ 1 chồng Việc cưới xin là mét trong những việc hệ trọng nhất trongcuộc đời gồm cưới vợ, làm nhà và báo hiếu tứ thân phụ mẫu Với gia đình làtrách nhiệm đối với con cái, với cộng đồng xã hội là duy trì nòi giống, phongtục mang bản sắc riêng của dân tộc

Trong quá trình học tập tại trường Đại học Văn hóa Với kiến thức đượccác thầy cô truyền thụ, dưới sự hướng dẫn của Tiến Sĩ Nguyễn Văn Cương, bêncạnh những tài liệu hiện có Người viết xin được mạnh dạn chọn đề tài: " Tìmhiểu phong tục tập quán cưới xin của đồng bào dân tộc Tày - huyện Na Hang -Tuyên Quang"

2 Phạm vi nghiên cứu:

- Trên địa bàn huyện Na Hang - Tuyên Quang Đã được so sánh vớinhững tập tục của đồng bào Cao Lan - Huyện Na Hang - Tỉnh Tuyên Quang

Trang 2

3 Mục đích nghiên cứu:

Thông qua việc khảo sát tập quán cưới xin của người Tày Na Hang Tuyên Quang, đề tài sẽ giúp người đọc có được một cái nhìn tổng quát, có hệthống và sâu sắc hơn về các giá trị văn hoá trong tập tục cưới xin của người Tàynói chung và người Tày ở Na Hang nói riêng Không những thế đề tài còn nêulên những bất cập, nhưng phong tục lạc hậu cần bài trừ để làm trong sáng hơnmột tục lệ đã trở thành một nét đẹp văn hóa của đồng bào Tày Na Hang - TuyênQuang

-4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp

- Khảo sát, điều tra dân tộc

- Phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng tại địa bàn nghiên cứu

- Tổng hợp và hệ thống các tài liệu có trước

5 Cấu trúc đề tài:

- Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương:

+ Chương I: Khái quát về đặc điểm tự nhiên và xã hội ở huyện Na Hang

- Tuyên Quang

+ Chương II: Đặc điểm trong tập quán cưới xin của người Tày ở huyện

Na Hang - Tuyên Quang

+ Chương III: Những biến đổi trong tập quán cưới xin của Tày ở huyện

Na Hang - Tuyên Quang

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI

HUYỆN NA HANG - TUYÊN QUANG.

Trang 3

Bằng và huyện Bắc Mê Tỉnh Hà Giang Phía Tây giáp với huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang Phía Nam giáp huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang.

-1.2 Dân số và diện tích đất tự nhiên, nơi cư trú:

Với dân số 66 561 người trên diện tích đất tự nhiên là 147,166ha Mật độdân số trung bình 2211 người/ km2 Na Hang là nơi hội tụ của 5 dân tộc anh emtrong đó dân tộc Tày chiếm 80% Nguồn thu nhập chính là sản xuất lúa nước ở

Na Hang, dân sống tập trung ở vùng bằng phẳng để tiện cho việc trồng lúa nướcnhư liên thôn, liên bản, liên xã

1.3 Văn hóa, xã hội:

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của TW về xây dựng vàphát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Các hoạtđộng văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng ngày càng phát triển.100% xã, thị trấn có đội văn nghệ, duy trì thường xuyên 371 tổ đội văn nghệquần chúng, 285 đội thể thao ở thôn bản, cơ quan, trường học Quy ước, hươngước thôn bản được thực hiện có hiệu quả Phong trào toàn dân đoàn kết xâydựng đời sống văn hóa được đông đảo nhân dân tham gia Đã có 62, 8%gia đìnhđạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa 64% thôn bản đạt tiêu chuẩn thôn bản văn hoá.Duy trì thường xuyên hoạt động của nhà văn hóa, thể thao côm xã 182 nhà vănhóa thôn bản phục vụ hội họp và sinh hoạt văn hoá của nhân dân Duy trìthường xuyên hoạt động của đội thông tin lưu động, đội chiếu bóng lưu độngphục vụ các thôn bản vùng sâu vùng xa

Xuất phát từ vị trí địa lý, thành phần dân tộc, bố trí dân cư, cấu tróc sinhhoạt gia đình có thể nói huyện Na Hang là một huyện thuộc tỉnh Tuyên Quang

có phân đông dân là người Tày cư trú Từ những đặc điểm trên người

Tày ở huyện Na Hang và người Tày tỉnh bạn đã có mối quan hệ dân tộc,thân tộc

Văn hóa dân tộc Tày ở huyện Na Hang trong đó có văn hóa phong tục hỏi

và cưới xin Về đặc điểm việc hỏi và cưới xin của người Tày huyện Na Hang làphải nói đến vai trò của quan làng

Những năm gần đây dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng về xây dựng

và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Về việc

sử dụng các bài hát nói, xu, lượn, cọi đã được cải biên ngắn gọn súc tích, cắt

Trang 4

bỏ các thủ tục, tục lệ rườm rà không cần thiết được các cấp uỷ, chính quyền vàngành văn hóa khai thác, bảo tồn các giá trị văn hoá ở địa phương, ý nghĩa củahát quan làng trong đám cưới là mét nhu cầu văn hóa lành mạnh không thể thiếuđược.

CHƯƠNG II: TẬP QUÁN CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI TÀY HUYỆN

NA HANG - TỈNH TUYÊN QUANG.

Hôn nhân là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bàđược hợp thức hoá bởi đó nâng cao quyền hạn và trách nhiệm của vợ chồngtrong quan hệ với nhau và với con cái của họ Như vậy, hôn nhân là một hiệntượng xã hội, ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, có những hình thức và tínhchất hôn nhân phù hợp, theo Ănghen có 3 loại hình thức hôn nhân chính củanhân loại, ở thời đại mông muội có chế độ tạp hôn, ở thời đại văn minh có chế

độ một vợ hoặc một chồng

Trong cưới xin của người Tày ở đời đều phải tuân thủ theo những nguyêntắc nhất định phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lịch sử Hiện nay cướixin hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện bình đẳng

Dưới đây là những đặc trưng cơ bản trong tập quán cưới xin cổ truyềncủa người Tày ở huyện Na Hang - Tuyên Quang

2.1 Quan niệm về cưới xin:

Bất cứ một dân tộc nào cũng xem vấn đề dựng vợ gả chồng là một việc

hệ trọng của cả cuộc đời con người Người Tày quan niệm con người sống ở đời

có 3 việc lớn: việc làm nhà, việc cưới và báo hiếu cha mẹ, cho nên việc lập giađình cho con cái được người Tày rất chú ý quan tâm và tổ chức rất chu đáo, vì

họ coi đó là cơ sở đầu tiên làm nên mét gia đình, làm nên một tế bào xã hội vàlàm chiếc cầu nối giữa con người với xã hội Ngoài ra người Tày quan niệmcưới xin là mét sự việc hết sức quan trọng trong đời sống của mỗi gia đình Doviệc kén chọn con dâu, con rể phải do bố mẹ quyết định Các bậc bố mẹ cưới vợcho con nhằm mục đích chủ yếu là để có người nối dõi tông đường và có thêmnhân lực lao động cho gia đình

2.2 Mét sè quy tắc cơ bản trong cưới xin.

Trang 5

Người Tày ở Na Hang tục cưới xin mét vợ một chồng theo qui tắc ngoạihôn dòng họ đã được thiết lập từ lâu Theo qui tắc này những người trong cùngmột dòng họ tuyệt đối không được lấy, không được quan hệ tính giao với nhau.Người Tày ở đây có các họ: Hoàng, Nông, Phạm để tránh vi phạm qui tắcngoại hôn dòng họ, khi con cái lớn lên, bố mẹ và họ dậy bảo rất kỹ về qui tắcnày, chỉ bảo cho con cái biết ai có thể kết hôn được Người Tày ở Na Hang quanniệm Đã cùng họ là anh em mà anh em trong họ lấy nhau là sẽ phạm tội loạnluân trường hợp con gái đi lấy chồng thì phải sau 5 đời các con cháu của họ mớiđược phép kết hôn.

Gia đình người Tày mang tính chất phụ quyền rất rõ được thể hiện quan

hệ giữa các thành viên như vợ phải nghe theo chồng, giữa cô dâu và các bậctrên có sự phân biệt nghiêm như: không được ăn cùng mâm ngồi cùng chiếu với

bè, anh chồng, không được tới chỗ ngủ và nơi dành riêng cho bè, chó, anhchồng Đó là biểu hiện của lễ giáo phong kiến

Người chồng lý tưởng là người khoẻ mạnh, cần cù, chịu khó làm ănm,biết thương vợ con Biết đối xử tốt với họ hàng, bố mẹ, anh chị em nhà vợ Dotính chất gia đình người Tày là phụ hệ nên vai trò của người đàn ông trong giađình rất lớn Do đó người phụ nữ cũng lựa chọn rất kỹ người đàn ông của mình,

đó cũng phải là người mà họ yêu thương và kính trọng thì mới có thể chungsống hạnh phúc được

Trang 6

2.4 Tục lệ trước khi cưới.

Việc cưới xin là việc rất quan trọng trong đời sống của đồng bào Tày Vìvậy nên việc kén chọn cô dâu, chú rể cũng như việc chọn ngày, giờ làm lễ cướixin được lựa chọn xem xét rất kỹ càng Đồng bào Tày cho rằng ngày cưới làngày hệ trọng nhất, là bước ngoặt trong cuộc đời của mỗi con người Do đónhững người làm bố làm mẹ phải có trách nhiệm tổ chức ngày cưới cho con thậtchu đáo Nhưng để tiến tới lễ cưới chính thức phải tiến hành những bước quantrọng tạo thành một hệ thống lễ nghi khá phong phó Nhà trai muốn đón cô dâuphải trải qua các bước sau:

Lễ vật đi hỏi gồm: 2lít rượu, 2 con gà sống thiến, 2 kg gạo tẻ hoặc nếp.Người đi hỏi là đại diện của họ nhà trai (trưởng họ hoặc anh trai hoặc con traicủa chủ hé gia đình)

Các loại lễ vật phải đưa sang nhà gái trong thời gian 3 năm theo quy ước(không được thiếu năm nào)

+ Lễ rằm tháng 7: gồm bánh gai, bánh chuối, các loại bánh đều được tínhbằng 12 cặp (tượng trưng cho 12 tháng trong năm)

+ Lễ cơm mới + cốm: đơn vị tính = 12 ống = 12kg

+ Lễ tết nguyên đán (tết âm lịch) = bánh chưng tính bằng 12 cặp = 24chiếc

Việc đưa quà, lễ vật do người nhà trai đưa không phải có đại diện củadòng họ Mỗi một lần đưa lễ đề có rượu và gà sống (1 lít rượu + 1 con gà sốngthiến)

2.4.2 Lễ đối chiếu tuổi, ngày tháng sinh (lễ kháp thư minh):

Trang 7

Sau khoảng thời gian 1 năm nhằm xác định quan hệ sâu sắc để tiến tớihôn nhân Có thể không hợp nhau để cắt đứt quan hệ hoặc nếu hợp nhau có thể

đi tiếp đến hôn nhân Nhà trai chủ động tổ chức buổi đối chiếu về tuổi, ngàytháng sinh (theo sổ sách tử vi)

Lễ vật gồm: 1 bữa ăn nhậu (do nhà trai chủ trì) có các thành phần đại diện

họ nhà trai, nhà gái và ông thầy cúng có trình độ nho học hiểu biết sách tử vi, đểkết luận xem đôi trai gái có hợp tuổi nhau để trở thành vợ chồng hay là cắt đứtquan hệ

2.4.3 Lễ thách cưới (lễ kê khai).

Sau khi đối chiếu ngày, tháng, năm sinh thấy hợp nhau và xây dựng quan

hệ vợ chồng của hai đứa trẻ Nhà trai chủ động đặt vấn đề với nhà gái việc tổchức lễ cưới, nhà gái đưa ra ý kiến lấy bao nhiêu đồ vật, lễ này được quyđịnh nh sau (nhà trai phải đáp ứng)

+ G¹o = ?kg

+ThÞt lîn h¬i = ?kg

+ Khoản tiền mặt: Tiền công cha mẹ sinh thành = ?

Tiền mua sắm đồ cưới cô dâu = ?

Tiền lễ vật cúng tổ tiên = ?

Tiền chi phí khác = ?

* Lễ thách cưới này do nhà trai đề xuất và chủ trì tại nhà gái (đại diện làtrưởng họ nhà trai), các thoả thuận bằng văn tự theo quy ước, có sự thảo luậncủa hai bên nhà trai và nhà gái bằng hình thức công khai

2 4 4 Lễ cưới nhỏ (lễ sông nhà chồng).

Lễ cưới nhỏ (lễ đưa con gái về sông nhà chồng) để có con dâu tương laiđược bước vào nhà chồng một cách chính thức là có quan hệ đi lại khi có côngviệc cần thiết

Trang 8

Thành tiền: Không mời khách ngoài 2 bên gia đình họ hàng nhà trai vànhà gái (có nghĩa là đám cưới nhỏ về quy mô không bằng đám cưới lớn nhưngnội dung có đầy đủ như đám cưới chính thức).

Việc đón dâu: - Có đại diện nhà trai (quan làng) người thay mặt họ hàngnhà trai đến để đón dâu

- Nhà gái có đại diện đưa dâu

Hình thức: Nhà gái đưa dâu được xông nhà trai sau đó đón cô dâu trở vềnhà gái (không cho cô dâu nghỉ tại nhà trai qua đêm)

Việc cưới nhỏ chủ yếu đưa cô dâu đến xông nhà chú rể để có lý do qua lạigia đình nhà chồng một cách hợp pháp (lúc này chưa có đăng ký bằng phápluật)

Phạm vi của đám cưới: Không mời rộng rãi chủ yếu trong nội tộc hai giađình nhà trai và nhà gái cũng có tổ chức đưa dâu và đón dâu

2.4.5 Lễ báo ngày cưới (hẹn cằm).

Sau 3 năm chờ ngày cưới, nhà trai xem được ngày lành tháng tốt, cử ôngmối đi sang bên nhà gái để hẹn ngày cưới Trong buổi lễ này hai bên bàn bạc vàquyết định số lượng lễ vật dẫn cưới, đi sâu vào từng khoản cụ thể như bao nhiêutiền mặt, bao nhiêu lợn, gà, bao nhiêu gạo, rượu

Lễ báo ngày cưới phải tiến hành trước ngày cưới tõ 1 - 3 tháng để nhà gái

và nhà trai đủ thời gian chuẩn bị Nhà trai chuẩn bị lễ vật, tiền bạc và thông báocho phường họ bạn bè của mình cắt cử công việc và mặt khác để hai nhà có đủthời gian mời bạn bè, họ hàng về dự lễ cưới

Trong buổi lễ này, lễ vật mang theo gồm: 1 đôi gà thiến, 2 chai rượu

2.5 Tục lệ khi cưới.

Ngày cưới nhà trai, nhà gái cùng tổ chức tưng bừng tấp nập người ra vào,nói cười vui vẻ

" Trăm năm mới có 1 ngày"

Đây là ngày lễ trọng đại của cả hai họ, cho nên lễ cưới càng đông vui baonhiêu thì người ta lại càng thấy vinh dự bấy nhiêu Nếu như tổ chức lễ cưới màkhông được đông vui thì sẽ bị người làng khinh rẻ Bởi vậy dự bất kỳ đám cướinào của người Tày ta còng thấy tập tục trên Hai nhà trai gái đều có cỗ bàn ănuống linh đình trong hai ngày, nhà trai phải có 2 - 3 con lợn to béo để mổ, nếu

Trang 9

khách mời đến đông thì phải mổ thêm đồng thời phải dẫn lễ vật sang nhà gái(vào buổi sáng hôm trước ngày cưới).

Đối với việc tiếp khách tuỳ thuộc vào mức độ quan hệ với thân chủ, các

vị khách mời dự lễ cưới đều có lễ vật mừng hoặc bằng tiền, nhà chủ cử mộtngười thân giữ sổ ghi chép lễ mừng của khách để nhà chủ sau này nhớ mà đi trả

Đúng ngày giờ đã ước định đoàn chú rể bắt đầu ra cửa đón dâu, đoàn chú

Bà đón có nhiệm vụ là sang bên nhà gái mang những sính lễ mà hômtrước đó chưa mang sang thứ hai là có nhiệm vụ dẫn đường cô dâu về nhàchồng Hai cô đón (a lặp) có nhiệm sang cùng chú rể, là để khiêng những lễ

Trang 10

vật mà nhà gái cho con dâu Phù rể sang cùng chú rể, phù rể có nhiệm vụ

là giúp chú rể thực hiện những nghi lễ mà bên nhà gái quy định Đoàn đưa côdâu sang nhà trai gồm có:

Phù dâu có nhiệmvụ dẫn cô dâu sang bên nhà chồng, giúp cô dâu tiếpkhách bên nhà chồng, mà khách này là khách của chú rể, thứ hai nữa là giúp côdâu thực hiện những nghi lễ mà bên nhà chồng đưa ra, tiêu chí chọn phù dâuphải là giỏi giang hoạt bát nhanh nhẹn là người chưa chồng, cũng phải là ngườithuộc họ hàng, nhưng người thuộc là em thì mới lấy làm phù dâu

Dì đưa sang bên nhà trai cùng cô dâu có nhiệm vụ sang hé giữ của cải của

cô dâu, khi cô dâu ra khái buồng hé chú rể tiếp khách, tiêu chí chọn dì đi đưacũng như chọn phù dâu

Lại nói về nhân vật quan làng, đây là người đại diện cao nhất của họ nhàtrai, thay bố mẹ chú rể và họ nhà trai ứng xử mọi việc, mọi nghi lễ tại nhà gái.Quan làng thường có 2 người, 1 chính 1 phô Ông Hoàng Hột ở huyện Na Hangcho biết, vùng này đồng bào thường chọn mét quan làng ông gọi là " Pú rặp",mét quan làng bà gọi là " Gia rặp" Quan làng phải là người có phong thái ungdung đĩnh đạc, biết hát và thuộc nhiều bài hát quan làng, giỏi ứng đối, thônghiểu các tục lệ về đám cưới Phù rể phải là người thanh niên nhanh

nhẹn, lễ phép, chưa có vợ, thường chọn trong số bạn thân của chú rể, họchỉ làm 1 lần, làm nhiều lần sẽ bị mất lộc và có thể bị Õ vợ Người mang lễ vậtthường là các em gái, em trai Lễ dẫn cưới gồm trầu, cau, thịt lợn hơi, gạo rượu,

Trang 11

gà sống thiến Số lượng tuỳ theo lệ vùng và tuỳ vào hoàn cảnh của từng giađình, song phổ biến trong cộng đồng người Tày số lễ vật gồm 120 lá trầu, 60quả cau, 60kg lợn hơi, 30 - 40 kg gạo nếp, 24 chiếc bánh dày, 60 chai rượu, 2con gà sống thiến Ngoài số lễ vật trên, còn có một tấm vải khô ướt chiều rộngbằng một khổ vải, chiều dài chừng 8 - 10cm.

Bên nhà gái mời họ hàng đến dự và chứng kiến lễ cưới Cử đoàn đại diệnđưa tiễn cô gái về nhà chồng Đại diện nhà gái là pả mẻ, cũng như quan làngcủa nhà trai, pả mẻ được toàn quyền thay mặt cho nhà gái Người ta còng chọnnhững người nhạn nhẹn hoạt bát, đức độ, giỏi ăn nói để thay mặt nhà gái traocon gái cho nhà người Có người đi theo phù dâu, người phù dâu phải là ngườichưa chồng, họ chỉ phù dâu cho người bạn thân nhất Phù dâu gọi là " lùa tôi"

Có một vài người đi cùng đi mang đồ dùng của cô dâu gồm quần áo, chăn màn,gối " Pả mẻ" và " lùa tôi" cũng phải biết hát và thuộc nhiều bài quan làng đã hátđáp khi đoàn nhà gái đến nhà trai và thực hiện các nghi lễ

* Trình tự các tục, nghi lễ và hát quan làng trong đám cưới của ngườiTày

Hát quan làng trong đám cưới người Tày mang bản sắc rất độc đáo vìngười ta đều dùng ca hình tượng, ví von rất giàu chất trữ tình để thực hiện cácnghi lễ, đối đáp giữa nhà trai và nhà gái Nã mang tính sinh hoạt văn hoá cộngđồng bởi nội dung của các bài hát có chất thi pháp, có vần điệu đồng thời chứađựng những giá trị về đạo đức lối sống không chỉ răn dạy cô dâu chú rể mà nócòn ảnh hưởng đến những người có mặt tại lễ cưới Khi người hát thì dù ai cóđang vui còng phải dừng lại để nghe cho tường, từng lời hát và các vần điệungấm vào tâm hồn của người dự lễ Chính lễ đó mà các bài quan làng có sứcsống truyền từ đời này sang đời khác, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc và tồn tạilâu bền đến mai sau

+ Tục căng dây chặn đường (căng sai dú tang)

Khi đoàn đón dâu của nhà trai đến ngõ nhà gái, nhà gái cho chăng dâyqua đường, có nơi đóng cổng hoặc chăng dải vải, cho người giả vờ gặng hỏi,chất vấn Đây là thử thách đầu tiên, tùy ý hái của nhà gái, nhà trai phải hát đốicho hợp ý, hợp cảnh mới được nhà gái cho đỡ dây, mở cổng

- Chủ hái:

Trang 12

Xo chiềng thâng khéc lạ táng mường Pay tàng tầu mà thang đin nẩy Sao báo hăn thay thảy rùng roàng Nhịnh tua cần khao bang miác nả Chừng tàng khỏi lèo xử phép quan Cần đây xin quá tàng khâu bản Pấu đây là pấu cành cây mà Pang chử cần rà cấn lạ Khái xo xam thất thá thuổn cằm.

Tạm dịch:

Xin trình lên khách lạ khác mường Định đi đâu qua đường đây đó Gái trai lịch sự thanh tân Những con người trắng ngần xinh xắn Giữ người tôi phải vặn, phép quan Người ngay mới qua đường vào bản Không ngay đừng lảng vảng gần đây Thật thà tôi hỏi rõ trước sau

- Khách đáp:

Xo chiềng thâng noọng á sườn luông Càm kha ón mà thâng đin nẩy Hăn mì toản phít quí tỏn tàng

Hăn mì toản lụa loàn tảng soóc Bẩu hẩu cần pảng noóc khẩu pây Khói du táng mường quậy bấu ru Bấu chắc răng duyên cớ cón lăng

Xo xoọng nàng nho lần khay áng Rắp khươi mấu khảu bản khảu rườn

Tạm dịch:

Kính thưa tới các bạn giữ nhà Chân " đã mỏi đường xa vừa tới

Trang 13

Thấy tấm lụa quý trải dọc đường Tấm lụa đẹp căng ngang chắn lối Cấm người ngoài đi lại vào nhà Tôi khác mường đường xa không rõ Không biết gì duyên cớ trước sau Xin bạn rất sợi dây mở cổng Đón mừng chú rể sớm vào nhà.

+) Tục xin trải chiếu (chái phục)

Khi đoàn chú rể đã qua được chặng giữ cửa vào đến nhà, trong nhà có 1gian dành riêng cho đoàn chú rể, khi đến gian đó, nhưng gian đó chưa có chiếutrải hoặc chiếu trải lệch hay trải mặt trái cũng có thể là trải hai chiều, vì thế màđoàn chú rể không dám ngồi, vị quan làng phải cất tiếng hát có nội dung tù giớithiệu mình là khách quý và có ý trách chủ nhà, quan làng nhà gái phải hát đáplời xin lỗi đoàn chú rể và trải chiếu ngay và cũng giả vờ trách các cháu trongnhà thiếu lịch thiệp rồi trịnh trọng mời đoàn chú rể ngồi xuống chiếu

Khi đoàn chú rể ngồi xuống, quang làng nhà gái phải hát đối một hai bài

ca ngợi sự mến khách của chủ nhà và đoàn chú rể cũng phải hát đối lại bài cangợi lòng mến khách của chủ nhà rồi mới ngồi

Kính thưa khắp quý họ trong nhà

Khắp nhà trải chiếu hoa lịch sự Sao còn chiếu người để gác không Khắp nhà trải chiếu đôi đẹp đẽ Riêng con giường góc phô bỏ không Xin người tấm chiếu thường trải tạm Trai gái hãy đến mau trải chiếu Khách lạ đứng chân mỏi đã lâu.

- Đại diện nhà gái đáp:

Mấy khi người được đến nơi đây.

Gọi là có những ngày gặp mặt Bởi nhà nghèo không giường không chiếu chúng tôi quả chưa kịp trải ra Nghĩ mà cũng thấy lỗi với người

Trang 14

Bận quá quên cả đường lịch sự Mong bạn hãy tha thứ lỗi này Hãy tù tay đứng ra trải chiếu

+) Mời nước chè, mời trầu (chăn nặm che, chăn nhau)

Sau khi đoàn chú rể đã ngồi yên, quan làng nhà gái hát bài mời nước chè,mời trầu, các cô gái bên nhà gái mang trầu, nước ra lần lượt đi mời từng người,

có bao nhiêu người sẽ có đầy đủ chén nước và trầu Quan làng nhà trai hát bàicảm ơn sù chu đáo của chủ nhà và khen chè, trầu ngon

- Chủ nhà (quan làng)

Lai nặm che Khởi chiềng mừa giả nặp cầu nơ Mọi cầu ngồi liệu là nghịch tân Mọi cầu chỏi chua căn kín nặm Lườn khỏi thật khỏ lắm puồn slim Tiếng ca nặm thủy tình thật thà

Au mà bai các á cả lình.

Nặm pền che đẩy kin chẳng hai Chiềng cầu dá ngi ngại tàng lăng Nắm che cái nuáng lồng kiu nặm

Dịch: Mời nước chè

Tôi xin phép trình cùng bà đón Mọi người đều đẹp đẽ nghênh tân Mọi người hãy cùng nhau uống nước Nhà tôi nghèo khổ lắm thật puồn Tiếng rằng nước xanh trong là thế Đau tới mới các chị thật lòng Chẳng nên che uống thật ngại Quý khách chê hay ngồi uống nước.

+) Lễ nạp gánh và trình tổ tiên (nộp tháp, lạy chá

Quan làng nhà trai dẫn chú rể và phù rể đến trước bàn thờ tổ tiên của giađình nhà gái, hai cô gái khiêng lễ vật đi theo trình các bậc cha mẹ, báo già bảnquan làng nhà gái, những người thân trong nhà đứng hai bên, trước bàn thờ tổ

Ngày đăng: 03/06/2015, 13:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w