KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC: THỬ NGHIỆM SỬ DỤNG PHÂN BÓN PHỨC HỢP DAP ĐÌNH VŨ THAY SUPER LÂN CHO CỎ VA 06 Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1 1.1. Điều tra cơ bản 1 1.1.1. Giới thiệu chung về cơ sở thực tập 1 1.1.2. Đặc điểm của Viện Khoa học sự sống 2 1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của Viện KHSS 2 1.1.4. Cơ cấu tổ chức 4
Trang 1Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Giới thiệu chung về cơ sở thực tập
Viện Khoa học sự sống (INSTITUTE OF LIFE SCIENES – THAI NGUYEN UNIVERSITY) là đơn vị nghiên cứu của Đại học Thái Nguyên
được thành lập theo Quyết định số 852/QĐ - TCCB do Giám đốc Đại học Thái Nguyên ký ngày 30 tháng 9 năm 2008 Viện được Đại học Thái Nguyên phân cấp cho Trường Đại học Nông Lâm quản lý toàn diện
Viện Khoa học sự sống có chức năng nghiên cứu khoa học (cơ bản và ứng dụng), phục vụ đào tạo Đại học và Sau đại học, chuyển giao khoa học công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học sự sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của khu vực trung du, miền núi phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung Khoa học sự sống “Life Sciences” là hoạt động nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ, thương mại hóa các tiến bộ kỹ thuật thuộc lĩnh vực nông lâm nghiệp, công nghệ sinh học, dược học, công nghệ y sinh học, chế biến thực phẩm và công nghệ môi trường Đó là sự kết hợp của tất cả các ngành khoa học liên quan đến sinh vật như thực vật, động vật và con người Trong đó trọng tâm là khoa học sinh học kết hợp với các ngành khoa học khác như hoá học, vật lý học, khoa học môi trường để hợp thành lĩnh vực khoa học sự sống
Viện Khoa học sự sống (TiLS) là một viện nghiên cứu thuộc Đại học Thái Nguyên được thành lập trên cơ sở của Phòng Thí nghiệm trung tâm thuộc trường Đại học Nông Lâm Viện đã và đang tiếp tục đầu tư mạnh mẽ các trang thiết bị, máy móc hiện đại và đồng bộ, để xây dựng hoàn chỉnh các phòng thí nghiệm chuyên sâu góp phần tích cực triển khai các đề tài nghiên
Trang 2cứu khoa học, hỗ trợ đắc lực cho công tác đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao không chỉ của trường Đại học Nông Lâm mà cả các trường thành viên như Đại học Y khoa, Đại học Sư phạm, Khoa khoa học tự nhiên Ngoài ra, còn góp phần thực hiện tốt nhiều dự án chuyển giao công nghệ cho các địa phương và hỗ trợ các hoạt động sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm của một số doanh nghiệp trên địa bàn.
1.1.2 Đặc điểm của Viện Khoa học sự sống
Tính tới 12/2012, Viện có tổng số 30 cán bộ viên chức, bao gồm: 11cán
bộ biên chế, 12 viên chức hợp đồng kỹ thuật viên, chuyên viên và 7 cán bộ kiêm nhiệm
- Về đội ngũ cán bộ: 01GS, 04 PGS.TS, 03 TS, 04 Th.S công tác cơ hữu tại Viện; 05 PGS, 02 TS kiêm nhiệm quản lý các bộ môn tại Viện
- Về cơ sở vật chất: Năm 2012, Viện giải ngân và nghiệm thu gói thầu thứ 2 của dự án TRIG pha 2 đầu tư phòng thí nghiệm Công nghệ tế bào
- Ngoài ra, Viện có rất nhiều cán bộ, giáo viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các trường thành viên của Đại học Thái Nguyên đến tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học và học tập
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Viện KHSS
Nghiên cứu khoa học:
- Nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện miền núi phía Bắc Chẩn đoán sớm dịch bệnh ở người, cây trồng và vật nuôi Bảo quản, chế biến nông sản phẩm Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo
vệ sức khỏe con người
- Nghiên cứu và ứng dụng các hoạt tính sinh học của các hợp chất tự nhiên trong bảo vệ sức khỏe con người, công nghệ thực phẩm và nâng cao năng suất chất lượng vật nuôi cây trồng
Trang 3- Nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn và phát triển nguồn gene bản địa.
- Nghiên cứu cải tạo và bảo vệ môi trường
Chuyển giao công nghệ vào sản xuất:
- Tư vấn, đầu tư và chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học sự sống, trọng tâm là cho các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc
- Xây dựng các mô hình phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội địa phương
- Xây dựng các mô hình bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng, các mô hình sản xuất kết hợp bảo vệ môi trường, các mô hình y tế cộng đồng…
Đào tạo và phục vụ đào tạo:
- Mở các lớp đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức cho cán
bộ, giảng viên trong và ngoài Đại học
- Hướng dẫn sinh viên học tập, thực hành các kỹ năng chuyên môn thuộc một số ngành mũi nhọn về Viện Khoa học sự sống của Đại học Thái Nguyên
- Hướng dẫn học viên cao học và nghiên cứu sinh làm đề tài nghiên cứu tại Viện
Dịch vụ khoa học công nghệ:
- Đảm nhiệm các hoạt động hỗ trợ cho sản xuất của các đơn vị và địa phương
- Phân tích thành phần hóa học của nông sản thực phẩm, các hoạt động sản xuất chế biến nông sản thực phẩm, thức ăn chăn nuôi của doanh nghiệp
- Cung cấp cây con giống chất lượng cao
- Sản xuất, cung cấp nước uống tinh khiết và các sản phẩm khoa học công nghệ khác
Trang 41.1.4 Cơ cấu tổ chức
Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học sự sống
Viện có 2 phòng chức năng: (Phòng Tổng hợp và Phòng Khoa học - Đào tạo) và 5 bộ môn (Bộ môn Hóa sinh, Công nghệ tế bào, Sinh học phân tử và công nghệ gene, Công nghệ vi sinh và Sinh thái môi trường) Trong đó có một phòng thử nghiệm được chỉ định của Bộ NN & PTNT thuộc hệ thống các phòng thử nghiệm kiểm tra đánh giá chất lượng nông sản thực phẩm và thức
ăn chăn nuôi Cuối năm 2012, Viện đã được Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường cấp chứng chỉ ISO cho phòng Phân tích Hóa học
Là một đơn vị được đầu tư, tập hợp các trang thiết bị nghiên cứu khoa học hiện đại Viện khoa học sự sống là một đơn vị nghiên cứu có cơ sở vật chất trang thiết bị khá hiện đại và đồng bộ của khu vực Trung du miền núi phía Bắc
1.1.4.1 Bộ môn Hóa Sinh
•Nghiên cứu thành phần hóa học của đất đai, phân bón, các loại nông sản, thực phẩm phục vụ cho ngành chăn nuôi, trồng trọt và đời sống con người
•Nghiên cứu về vệ sinh an toàn thực phẩm
•Nghiên cứu về sinh lý, hóa sinh vật nuôi, cây trồng
Trang 51.1.4.2 Bộ môn Công nghệ tế bào
•Nghiên cứu ứng dụng Công nghệ tế bào thực vật trong sản xuất sinh khối, nhân nhanh giống cây trồng, tạo giống cây trồng mới có năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu cao
•Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tế bào động vật trong điều khiển sinh sản, chọn tạo giống vật nuôi và sản xuất protein đơn dòng
1.1.4.3 Bộ môn Sinh học phân tử và Công nghệ gen
•Nghiên cứu, ứng dụng các phương pháp chỉ thị phân tử trong xác định
và bảo tồn đa dạng sinh học; phân loại, phân lập loài sinh vật; xác định các chỉ thị phân tử cho các tính trạng của sinh vật
•Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp phân tích DNA và DNA tái tổ hợp trong chuyển gen ở cây trồng, vật nuôi và trong lập bản đồ di truyền
•Nghiên cứu, ứng dụng các phương pháp chẩn đoán sớm bệnh, dịch bệnh ở người, động vật và thực vật
1.1.4.4 Bộ môn Công nghệ vi sinh
Nghiên cứu các chế phẩm sinh học như: thuốc kháng sinh, enzyme, vaccine, chất bảo quản thực phẩm sinh học
Nghiên cứu phân lập định danh các vi sinh vật gây hại và hữu ích phục
vụ nông lâm nghiệp và y tế
1.1.4.5 Bộ môn Sinh thái môi trường
•Nghiên cứu, ứng dụng, chế tạo các sản phẩm mới, triển khai công nghệ trong lĩnh vực môi trường như phòng ngừa và xử lý nước cấp, nước thải, xử
lý ô nhiễm môi trường đất, khí thải
•Nghiên cứu về tác hại môi trường đối với sức khỏe con người và động vật (độc chất, các hóa chất sinh học…)
1.1.4.6 Phòng phân tích hóa học
Phòng phân tích hóa học được thành lập theo Quyết định số ĐHTN của Giám đốc Đại học Thái Nguyên, với chức năng nghiên cứu khoa học, đào tạo và thực hiện các dịch vụ phân tích xét nghiệm
Trang 61181/QĐ-Phòng phân tích hóa học đã được Văn phòng công nhận chất lượng - Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá đạt tiêu chuẩn ISO 17025:2005, mã số VILAS603.
Dịch vụ thử nghiệm của phòng phân tích hóa học:
- Phân tích và đánh giá chất lượng môi trường (đất, nước và không khí)
- Phân tích và đánh giá chất lượng phân bón
- Phân tích và đánh giá chất lượng nông sản và thực phẩm
- Phân tích và đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi
1.1.5 Tình hình hoạt động của Viện Khoa học sự sống
Trong năm qua, bên cạnh việc triển khai các nhiệm vụ KHCN của năm trước chuyển sang, Viện Khoa học sự sống đã tích cực tìm kiếm thêm các đề tài, dự án mới, tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học các cấp và làm công tác chuyển giao tiến bộ KHCN cho các địa phương Viện xác định đây là nhiệm
vụ chính trị hàng đầu, là sự sống còn của Viện Các đề tài, dự án này vừa là nhiệm vụ bổ sung vào hoạt động năm 2012 lại vừa được thực hiện tiếp trong
kế hoạch 2013 làm cho các hoạt động KHCN của Viện mang tính gối đầu và liên tục, không bị gián đoạn theo thời gian
Các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao KHCN của Viện tiến hành trong năm 2012 gồm:
- Viện chủ trì thực hiện 1 đề tài quỹ gen cấp nhà nước, 1 đề tài cấp Bộ, 7
đề tài cấp Đại học và 5 đề tài cấp Trường
- Các dự án chuyển giao công nghệ gồm:
+ Dự án chuyển giao công nghệ nuôi cấy mô nhân giống cây cho sở KHCN Thái Nguyên
+ Dự án khai thác nguồn gen lợn địa phương tỉnh Bắc Kạn
+ Dự án chọn lọc và xây dựng mô hình chăn nuôi giống gà của đồng bào Mông Bắc Kạn
+ Dự án thử nghiệm phân bón phức hợp DAP cho một số cây trồng chính trên đất canh tác nông nghiệp miền Bắc Việt Nam với Công ty TNHH MTV DAP - VINACHEM
+ Dự án khuyến nông về chăn nuôi gà sạch ở 10 tỉnh trong cả nước
Trang 71.1.6 Một số thành tựu nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ
1.1.6.1 Nghiên cứu khoa học công nghệ
Trong những năm qua, Viện đã thực hiện được 01 đề tài NCKH cấp nhà nước, 05 đề tài NCKH cấp Bộ, 07 đề tài NCKH cấp Đại học Thái Nguyên và hàng năm thực hiện từ 03 – 05 đề tài NCKH cấp cơ sở
Những sản phẩm khoa học công nghệ có giá trị được tạo ra trong năm 2012:
- Trình tự gen mã hóa ARNr 16S của chủng Lactobacillus plantarum TL4 được đăng ký trên NCBI với mã số truy nhập là JQ937330.
- Giống chuối tiêu mới được xây dựng trên mô hình 600 cây
- 24 quy trình phân tích và TCCS như quy trình phân tích Metanol, Amilose trên thiết bị quang phổ tử ngoại khả kiến, quy trình tách chiết DNA động vật tinh sạch trong phòng thí nghiệm, quy trình xác định tổng số vi sinh vật trong nước…
1.1.6.2 Chuyển giao khoa học công nghệ
+ Lĩnh vực chăn nuôi: Viện đã tham gia chuyển giao về kỹ thuật chăn
nuôi gà theo tiêu chuẩn VIETGAP cho 10 tỉnh trung du miền núi phía Bắc (Xây dựng các mô hình chăn nuôi, tư vấn chuyển giao các tiến bộ KHCN về chăn nuôi…) đang trực tiếp góp phần làm tăng thu nhập cho hộ gia đình, góp phần phát triển kinh tế xã hội các địa phương Viện cũng thực hiện có kết quả tốt 2 dự án với tỉnh Bắc Kạn và được địa phương đánh giá cao
+ Lĩnh vực trồng trọt: Viện đã tham gia chuyển giao KHCN về các kỹ
thuật nuôi cấy mô tế bào cho Trung tâm ứng dụng KHCN tỉnh Thái Nguyên
để nhân giống nhiều loại cây trồng như hoa cúc, phong lan, chuối, keo lai, bạch đàn, khoai tây… đây là quy trình nhân giống cây trồng có chất lượng cao, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh
+ Viện đang triển khai có hiệu quả dự án với Công ty TNHH MTV DAP – VINACHEM của Tổng công ty Hóa chất Việt Nam về chương trình khảo nghiệm phân bón DAP cho các loại cây trồng trên đất canh tác nông nghiệp miền Bắc Việt Nam ở một số địa phương miền Bắc
+ Viện đã liên kết với một doanh nghiệp tư nhân để sản xuất nước sạch đóng chai phục vụ cho nhu cầu của các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 81.2 Nội dung, phương pháp và kết quả công tác phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất
Nhằm nâng cao tay nghề và chuyên môn, hoàn thành tốt chương trình thực tập tốt nghiệp Tại cơ sở thực tập tôi đã xây dựng nội dung thực tập như sau
Công tác phục vụ sản xuất
- Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng và chăm sóc cỏ
- Tuyên truyền phổ biến cho người dân khu vực xung quanh cách trồng, chăm sóc cỏ VA - 06 và sử dụng phân bón DAP vào trong trồng một số loài cây góp phần làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng
- Tham gia vào công tác trồng và chăm sóc cỏ
Thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học : “Thử nghiệm sử dụng phân bón phức hợp DAP thay super lân cho cỏ VA - 06”.
1.2.2 Phương pháp tiến hành
Để thực hiện tốt những nội dung trên trong thời gian thực tập bản thân tôi đã đề ra một số biện pháp thực tập như sau:
- Bám sát cơ sở, đi sâu tìm hiểu nắm vững tình hình thực tế sản xuất của
mô hình trang trại để có kế hoạch hợp lý cho triển khai công tác ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Khiêm tốn và tích cực học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước
- Nhiệt tình trong công tác, tranh thủ thời gian để hoàn thành tốt công việc
- Thường xuyên xin ý kiến chỉ đạo của thầy cô giáo hướng dẫn
- Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế, tích cực nghiên cứu, tham khảo các tài liệu chuyên môn nhằm củng cố và nâng cao kiến thức tay nghề
để thực hiện đề tài đạt kết quả cao
- Nêu cao ý thức tổ chức kỉ luật, chấp hành nghiêm chỉnh mọi nội quy, quy chế của nhà trường và cơ sở
1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trong thời gian làm đề tài, tôi đã trực tiếp tham gia trồng và chăm sóc cỏ
VA - 06 được đem về trồng thí nghiệm với phân bón DAP và Supe lân Được sự giúp đỡ tận tình của cơ sở, sự hướng dẫn của thầy cô giáo và sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã học hỏi được một số kinh nghiệm thực tế và đạt
Trang 9được kết quả nhất định Sau đây là kỹ thuật trồng và chăm sóc giống cỏ VA
* Đất trồng:
Cỏ VA - 06 có thể trồng được trên tất cả các loại đất Trước khi trồng cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ Trồng trên đất bằng trồng theo luống để tiện chăm sóc và tưới tiêu nước
* Cách trồng:
Xẻ rãnh sâu 15cm, dưới rãnh bón các loại phân lót sau đó phủ một lớp đất rồi nén nhẹ Đem hom đã chuẩn bị sẵn đặt vào rãnh nghiêng 450 hoặc đặt nằm ngang dưới rãnh sau đó lại phủ trên mầm một lớp đất khoảng 5cm
- Bón lót: Bón 1 lần duy nhất phân DAP, Supe lân trong quá trình trồng
cỏ thí nghiệm Tiến hành rạch hàng cạnh gốc cây để bón phân rùi vùi một lớp đất mỏng lên phía trên
Lô thí nghiệm: CT 1, CT 2, CT 3, CT 4: Bón phân DAP
Lô đối chứng: ĐC 1, ĐC 2, ĐC 3, ĐC 4: Bón Supe lân
Trang 10- Bón thúc: Phân Urê + KCl trộn lẫn bón cho lô TN và lô ĐC theo lượng phân đã tính toán Tiến hành rạch hàng, bón thúc sau khi trồng (hoặc sau mỗi lứa cắt) khoảng 15 - 20 ngày.
- Trồng dặm: Tiến hành sau khi trồng nếu khuyết cây thì phải dặm bổ sung, đảm bảo mật độ giữ được > 98%
- Trồng xong cần tưới ẩm thường xuyên Trong thời gian đầu cần làm cỏ
1 - 2 lần, lần 1 sau trồng 1 tháng, lần 2 sau lần 1 khoảng 1 - 1,5 tháng
- Tưới nước giữ ẩm và bón thúc cho cây
* Thu hoạch và sử dụng:
- Số lứa cắt là 6 lứa/năm Lứa đầu cắt sau trồng 70 - 75 ngày; vụ đông cắt 60 ngày; vụ hè cắt 45 ngày
- Tiến hành cắt sát gốc để theo dõi khả năng sinh trưởng và tái sinh của
cỏ, tránh cắt vào ngày mưa vì dễ gây sâu bệnh
1.2.3.2 Công tác phục vụ sản xuất
Bảng 1.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trang 11-1.3 Kết luận và đề nghị
1.3.1 Kết luận
Qua 5 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở được sự giúp đỡ của các thầy
cô trong khoa Chăn nuôi thú y đặc biệt là sự quan tâm giúp đỡ tận tình của
giáo viên hướng dẫn PGS.TS Hoàng Toàn Thắng và cô giáo TS Trần Trang Nhung, tôi đã có điều kiện tiếp xúc với thực tiễn sản xuất, củng cố
kiến thức đã học, tiếp thu nhưng kiến thức mới và rút ra được những kinh nghiệm thực tiễn cho bản thân
Do thời gian thực tập ngắn, vốn kiến thức của bản thân còn hạn chế lại chưa có kinh nghiệm thực tế nên kết quả thu được trong công tác phục vụ sản xuất còn nhiều hạn chế Kỹ thuật chuyên môn chưa vững vàng nên còn lúng túng trong thao tác công việc Tuy kết quả thực tập còn hạn chế nhưng
đó là nguồn động viên lớn cho tôi lòng tự tin để vững bước trong sự nghiệp của mình
1.3.2 Đề nghị
Viện Khoa học sự sống cần tiếp tục tạo điều kiện hơn nữa cho sinh viên được thực tập tốt nghiệp cũng như tiến hành nghiên cứu các đề tài khoa học Tiếp tục đầu tư mạnh mẽ các trang thiết bị, máy móc hiện đại và đồng bộ, để xây dựng hoàn chỉnh các phòng thí nghiệm chuyên sâu góp phần tích cực triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học, hỗ trợ đắc lực cho công tác đào tạo Đồng thời, tích cực đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân trong vùng lân cận về công tác trồng và chăm sóc cỏ VA - 06, cũng như sử dụng phân bón DAP vào sản xuất nông nghiệp góp phần làm tăng năng suất, chất lượng cho cây trồng
Trang 122.1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi là hoạt động kinh tế quan trọng trong nền nông nghiệp Việt Nam Trong những năm qua ngành chăn nuôi đã khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân vì nó không chỉ cung cấp thực phẩm thịt, sữa cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nhiều mục đích khác Trong các vật nuôi, trâu bò và các gia súc
ăn cỏ khác sử dụng thức ăn thô xanh với tỷ lệ rất cao, chiếm 60 - 90% khẩu phần ăn hằng ngày, nên việc cung cấp thức ăn thô xanh cho chúng theo đúng nhu cầu là điều hết sức cần thiết Theo chủ trương của Chính phủ đàn trâu, bò
ở nước ta hiện nay cần được phát triển mạnh, dự kiến đến năm 2020 tổng đàn trâu đạt gần 3 triệu con, đàn bò gần 13 triệu con, trong đó bò sữa khoảng 500.000 con Điều này đặt ra yêu cầu phải cung cấp đủ và đều nguồn thức ăn thô xanh giàu protein, dựa trên cơ sở phát huy tiềm năng sản xuất của các giống cây làm thức ăn chăn nuôi
Những năm qua, các nghiên cứu trong nước đã tuyển chọn được một số giống cỏ năng suất cao, phù hợp với điều kiện của nhiều vùng sinh thái như
cỏ: Pangola, Stylo, cỏ Voi, cỏ Ghinê, VA - 06 … Trong đó, cỏ Varisme số 6 (VA - 06) là loại cỏ hòa thảo thân đứng được lai tạo giữa giống cỏ Voi và cỏ
đuôi sói của Châu Mỹ được đánh giá là “Vua của các loại cỏ”, cỏ VA - 06 có năng suất và chất lượng cao, khả năng thích ứng rộng, sức chống chịu rất khoẻ, có thể trồng trên tất cả các loại đất Cỏ VA - 06 có hàm lượng dinh
Trang 13dưỡng cao, trong cỏ tươi hàm lượng protein thô: 4,6%, protein tinh: 3%, đường tổng số: 3,02%; trong cỏ khô hàm lượng protein thô: 18,46%, protein tinh: 16,86%, đường tổng số: 8,3%, đây là loại thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm và cá trắm cỏ Cỏ VA - 06 vừa có thể làm thức ăn tươi, làm thức ăn ủ chua, thức ăn hong khô hoặc làm bột cỏ khô để nuôi bò thịt, dê, cá… mà không cần hoặc về cơ bản không cần cho ăn thêm thức ăn tinh vẫn đảm bảo vật nuôi phát triển bình thường
Để thâm canh cỏ trồng rất cần thiết phải có các loại phân bón hóa học Trong những năm qua các cơ quan nghiên cứu và nhiều nhà khoa học đã chú trọng nghiên cứu sử dụng phân bón hóa học cho cỏ sao cho đạt hiệu quả cao Các kết quả này đã được áp dụng rộng rãi trong sản xuất Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học công nghệ, các sản phẩm phân bón mới được sản xuất trong nước đang được người sản xuất quan tâm Trong đó có phân bón phức hợp DAP - Đình Vũ
Phân DAP (Di ammonium Phosphate) có công thức (NH4)2HPO4; là loại phân được sản xuất từ quặng Apatit, Amoniac và axit H2PO4 Phân DAP có 2 thành phần chính là: 16% đạm nguyên chất (N) và 45% lân nguyên chất ở dạng dễ tiêu (P2O5), sau khi sản xuất đang được đưa vào khảo nghiệm trên một số loại cây trồng để dần thay thế dần nguồn super lân và lân Văn Điển hiện nay nhằm bảo vệ đất và tiết kiệm nguồn tài nguyên khoáng sản Đây là loại phân bón mới trên thị trường miền Bắc mà người dân chưa có cơ hội tiếp cận nên không có tập quán sử dụng
Để có căn cứ khoa học và thực tiễn thuyết phục người sản xuất, việc nghiên cứu mức bón và kỹ thuật bón DAP cho các loài cây trồng là điều cần thiết
Trước yêu cầu đặt ra từ thực tiễn sản xuất, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài nghiên cứu “Thử nghiệm sử dụng phân bón phức hợp DAP - Đình
Vũ thay super lân cho cỏ VA - 06”.
Trang 142.1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài
- Xác định được giá trị thay thế super lân của phân phức hợp DAP trong cân đối nguồn lân dễ tiêu cho cỏ VA - 06
- Xác định được mức bón DAP thích hợp cho cỏ VA - 06 để nâng cao năng suất, chất lượng cỏ VA - 06
2.1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài khẳng định được giá trị thay thế của phân phức hợp DAP cho nguồn super lân trong cân đối nhu cầu lân dễ tiêu cho cỏ trồng
+ Cung cấp kết quả số liệu về mức bón phân DAP thích hợp cho cỏ phục
vụ nghiên cứu, đào tạo và sản xuất
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1 Vai trò của thức ăn xanh đối với gia súc nhai lại
Thức ăn xanh bao gồm các loại thân lá cây, cỏ tươi, thân lá mía tươi, rau
củ tươi và thức ăn ủ xanh Nó là nguồn thức ăn cần thiết và không thể thiếu được trong khẩu phần ăn của động vật, đặc biệt là động vật ăn cỏ (chiếm tới
60 - 90% khẩu phần ăn) nên việc cung cấp đầy đủ cân đối thức ăn thô xanh có
ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chăn nuôi
Đặc điểm chính của thức ăn xanh là chứa nhiều nước (60 - 85%), khá cân đối dinh dưỡng nên thường thơm ngon, dễ tiêu hóa, được gia súc thích ăn Thành phần xơ trong vật chất khô của thức ăn xanh khá cao có ý nghĩa lớn đối với loài gia súc nhai lại vì nó không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng, dinh dưỡng mà còn là nhân tố đảm bảo hệ số choán dạ cỏ giúp dạ cỏ hoạt
Trang 15động bình thường và tạo ra khuôn phân trong trực tràng trước khi thải phần không tiêu hóa được ra ngoài Thức ăn xanh là nguồn cung cấp năng lượng chính cho trâu bò, người ta ước tính trong 24 giờ ở dạ cỏ của chúng lượng axit béo bay hơi hình thành từ sự lên men của vi sinh vật (VSV) khoảng 4 - 6 kg, tương đương giá trị năng lượng từ 10000 - 15000 Kcal (Nguyễn Thiện, 2004) [14].
Các chất dinh dưỡng chứa trong cỏ như: bột đường, đạm, khoáng đa lượng và vi lượng, vitamin… không những đầy đủ mà rất cân đối, phù hợp với nhu cầu sinh lý của trâu bò Ví dụ: Tỷ lệ đường - đạm thích hợp nhất trong khẩn phần ăn của bò sữa là 1:1; thì tỷ lệ này trong cỏ non thay đổi từ 1:1 - 1,4:1; tỷ lệ Ca : P là 1,5 - 2:1; chất béo trong cỏ có từ 4 - 8% Như vậy, thức ăn xanh là thức ăn nền tảng tạo ra chất lượng thịt và sữa cao cũng như là
sự đảm bảo tốt nhất cho sinh trưởng phát triển của con vật
Mỗi loại thức ăn xanh đều có thành phần dinh dưỡng khác nhau, các số liệu phân tích cỏ hòa thảo ở bảng sau cho thấy rõ điều đó
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng 1 kg hòa thảo tươi (%)
Trang 16Cỏ là loại thức ăn chứa nhiều chất dinh dưỡng nhưng có tỷ lệ xơ cao nên chỉ được coi là thức ăn lý tưởng cho gia súc nhai lại vì loài này có cấu tạo hệ tiêu hóa đặc biệt Dạ dày trâu, bò chia làm 4 ngăn: Dạ múi khế, dạ lá sách, dạ
tổ ong và đặc biệt là phần dạ cỏ (chiếm 70% thể tích chung của dạ dày) được coi như một thùng men lớn Môi trường dạ cỏ quy tụ đủ các yếu tố phù hợp nhất cho sự lên men của vi sinh vật tồn tại như một khu hệ rất phong phú và phức tạp, gồm:
- Vi khuẩn: 109 - 1011 vi khuẩn/ 1g chất chứa dạ cỏ
- Protozoa: 106 protozoa/1g chất chứa dạ cỏ
- Ngoài ra còn có một số chủng nấm men, nấm mốc
Trong dạ cỏ các VSV tiến hành lên men, phân giải chất xơ và các chất dinh dưỡng khác trong thức ăn xanh thành các sản phẩm có ý nghĩa dinh dưỡng để nuôi sống cơ thể vật chủ, trong đó có các axit béo bay hơi cấp thấp được coi là nguồn năng lượng chính trong các hoạt động cơ thể và trao đổi chất của vật chủ
Vai trò tiêu hóa chất xơ trong thức ăn thô xanh ở dạ cỏ là quan trọng bậc nhất Hoạt động này chủ yếu được đảm trách bởi hệ vi khuẩn vì chúng có số lượng lớn rất lớn trong dạ cỏ Không những tạo năng lượng từ việc phân giải chất xơ mà chúng còn có khả năng tổng hợp một số vitamin đặc biệt là vitamin nhóm B, K rất cần thiết cho gia súc nhai lại Ngoài ra, trong quá trình sinh tồn của mình, VSV còn tích lũy các vật chất dinh dưỡng trong sinh khối
và được nhu động dạ dày đưa xuống những phần sau của đường tiêu hóa để được phân giải bởi enzyme, cung cấp phần protein không nhỏ cho gia súc nhai lại Nhờ vậy mà gia súc nhai lại có ưu thế hơn hẳn các loài gia súc khác trong tiêu hóa thức ăn thô xanh (cỏ, rơm tươi, thân lá cây ngô dày…) (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006) [13]
2.2.1.2 Những đặc điểm cơ bản của cỏ hòa thảo
Cỏ hòa thảo chỉ có một họ duy nhất là họ Hòa thảo (Graminea) và có 28
họ phụ, 563 giống, 6802 loài Ở nước ta, cỏ hòa thảo chiếm vị trí quan trọng
Trang 17trong nguồn thức ăn xanh của gia súc ăn cỏ, vì nó chiếm 95 - 98% trong thảm
cỏ (Từ Quang Hiển và cs, 2002) [5] Hanson (1972) [24] cho biết, có gần 75%
cỏ được trồng ở vùng đất trồng cỏ thuộc họ Hòa thảo Cỏ hòa thảo chiếm phần lớn trong đồng cỏ tự nhiên
Có loài sống được cả ở những nơi đất ngập nước, đất lầy thụt như: Cỏ
môi (Leersia hexandra), cỏ bấc (Juncus effufsus), cỏ lồng vực (Panicum srusgalli L)…
Dựa trên cơ sở những hiểu biết về đặc tính sinh thái của từng loại cỏ mà
ta có thể chọn và trồng thích nghi với những nơi có điều kiện khí hậu và địa chất tương tự vùng gốc của chúng
Đặc tính sinh vật
Cỏ hòa thảo là cây cỏ có một lá mầm, thân tròn hoặc bầu dục, lá mọc thành hai dãy, phần lớn không có cuống nhưng bẹ to, có thìa lìa, phiến lá dài, gân lá song song, thân cỏ hòa thảo thường rỗng, có chia đốt Cũng có loài thân đặc như mía, cỏ Voi, cỏ Goatemala, có khi hóa gỗ (tre, nứa) Rễ thuộc loại rễ chùm, hoa phần lớn là lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấn nhờ gió.Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng của nó, người ta chia cỏ hòa thảo thành các nhóm:
Trang 18- Nhóm cỏ thân rễ: Loại thân này có đặc điểm là thân luôn nằm ngầm
dưới mặt đất, đại diện là cỏ Tranh (Imperata cylindrical) Loại này yêu cầu
đất tơi xốp, mật độ cỏ thưa, độ che phủ thấp nên chỉ thích hợp chăn thả nhẹ, không tập trung chăn thả gia súc quá đông và lâu
- Nhóm cỏ thân bụi: Nhóm này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh tạo thành bụi như khóm lúa Nhánh có thể đẻ ra từ dưới mặt đất hoặc trên mặt đất Cỏ này cho năng suất cao nhưng đòi hỏi đất tốt, tơi xốp và thoáng khí cao Đồng cỏ loại này có thể sử dụng thu cắt hoặc chăn thả Đại diện là các cỏ như: Cỏ
Ghinê (Paspalum atratum), cỏ Tây Nghệ An, cỏ Mộc Châu…
- Nhóm cỏ thân bò: Thường có thân nhỏ, mềm, nằm ngả trên mặt đất giống như dây lang Từ các đốt thường có rễ đâm xuống mặt đất nếu có điều kiện tiếp xúc đất Do có thân bò lan và nằm ngả trên mặt đất nên nhóm cỏ thân bò tạo thành thảm cỏ dầy đặc Nhóm cỏ này thường thu cắt làm cỏ khô vì thân mềm Cỏ này cũng có khả năng chịu giẫm đạp tốt nên dùng làm đồng cỏ
chăn thả Đại diện là: Cỏ Pangola (Digitaria decumbens), cỏ lông Para (Bachiaria multicar)…
- Nhóm cỏ thân đứng: Nhóm này nảy mầm từ phần gốc ở dưới đất hoặc hom trồng… mầm vươn thẳng lên giống như thân cây mía, cây ngô; thân cây
cao, to, cho năng suất cao Đại diện là: Cỏ Voi (Penisetum purpureum), cỏ Goatemala (Tripsacumip fascicumlatum)…
Đặc tính sinh lý
- Nhu cầu nước:
Cỏ hòa thảo cần nhiều nước trong quá trình sinh trưởng, hệ số tỏa hơi nước lớn hơn cỏ họ Đậu Hệ số tỏa hơi nước vào khoảng 400 – 500 Độ ẩm đất yêu cầu theo giai đoạn:
+ Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 – 30%
+ Giai đoạn phát triển nhánh: 75%
+ Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần
Trang 19Cỏ hòa thảo dùng để chăn thả có yêu cầu nước thấp hơn cỏ cắt vì thảm cỏ thấp hơn và cành lá phát triển kém hơn Ẩm độ đất chỉ cần 50 - 60% nhưng cần cung cấp nước đều đặn (Nguyễn Đức Qúy và Nguyễn Văn Dũng, 2006) [12].
- Nhu cầu dinh dưỡng:
Để có được năng suất cao, cỏ hòa thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn, đạm (N), lân (P) và kali (K) Nhu cầu về N, P, K phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cỏ:
+ Giai đoạn I: Từ nảy mầm đến phân nhánh đòi hỏi cần nhiều N, P, K.+ Giai đoạn II: Phân nhánh cần nhiều N, P
+ Giai đoạn III: Ra hoa, hình thành hạt cần nhiều P, K
- Nhu cầu về không khí:
Các loại cỏ thân rễ, thân đứng và thân bụi chia nhánh dưới mặt đất đòi hỏi đất tơi xốp, thoáng khí
Các loại cỏ thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò có thể chịu được đất kém thoáng khí và ẩm thấp
- Tính chịu đựng sương giá và kháng xuân:
Loại cỏ chịu sương giá tốt thì trong giai đoạn cuối thu đầu đông chúng vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường, còn loại chịu sương giá yếu kém thì ngừng sinh trưởng hoặc bị chết vào mùa đông
“Tính kháng xuân” hay còn gọi khả khả năng chịu đựng của cỏ qua mùa đông Nó thể hiện khả năng của cỏ chịu đựng được sự chênh lệch giữa nhiệt
độ không khí và nhiệt độ đất, sự chênh lệch này làm cho quá trình vận chuyển chất dinh dưỡng và quá trình đồng hóa, dị hóa trong thân cây cỏ mất điều hòa nên có tính kháng xuân kém, cỏ sẽ bị chết trong mùa đông Tuy nhiên, tính kháng xuân của cỏ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Cỏ địa phương kháng xuân tốt hơn cỏ nhập nội Loại cỏ thân rễ, loại cỏ sinh trưởng phát triển chậm kháng xuân tốt, cỏ có hàm lượng vật chất khô cao thì kháng xuân mạnh và ngược lại
Trang 20 Đặc tính sinh trưởng
Cỏ tiếp nhận khí CO2, nước và năng lượng thông qua chất diệp lục để chuyển thành các chất dinh dưỡng trong thân, lá để động vật có thể nhận chúng nhu một nguồn thức ăn Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng năng lượng mặt trời từ lá lại phụ thuộc vào những chu kỳ phát triển của cây Theo David W Pratt, 1993) [21] các giống cỏ nói chung và cỏ hòa thảo nói riêng, sinh trưởng
và tái sinh trải qua ba giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có đặc điểm riêng và đường cong mô tả sinh trưởng của nó có cấu tạo hình chữ S với 3 giai đoạn như sau:Giai đoạn I (sinh trưởng chậm): Cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cỏ mới
bị thu cắt, chăn thả từ 10 - 15 ngày tuổi Giai đoạn này lá chưa mọc được nhiều hoặc lá bị mất đi nên cây không có khả năng chắn ánh sáng mặt trời trong khi đó cây đòi hỏi nhiều năng lượng để phát triển Chính vì vậy, để bù lại sự thiếu hụt thì năng lượng được huy động từ rễ Rễ trở nên nhỏ đi và yếu dần vì năng lượng được sử dụng để phát triển lá Vì thế, khi cỏ ngập úng vào giai đoạn này cỏ sẽ rất dễ bị chết do không có lá để thoát hơi nước Còn rễ thì yếu mềm, dễ bị tổn thương dẫn đến thối rễ và cây bị chết Trong giai đoạn này cây sinh trưởng rất chậm, lá có số lượng ít nhưng cỏ có giá trị dinh dưỡng cao, lá mềm, gia súc thích ăn
Giai đoạn II (sinh trưởng nhanh): Sau khi gieo trồng, sau khi cắt cỏ hoặc sau chăn thả từ 15 – 45 ngày Lúc này tốc độ sinh trưởng, tái sinh của cỏ đạt 1/4 - 1/3 kích thước của cây trưởng thành Năng lượng hấp thụ được qua quá trình quang hợp được cung cấp cho sự phát triển và bắt đầu bổ sung cho rễ Giai đoạn này cây sinh trưởng nhanh nhất, cỏ có chất lượng dinh dưỡng cao
và sản lượng lớn Tuy nhiên lá chưa đủ protein và năng lượng thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc
Giai đoạn III (sinh trưởng chậm hoặc ngừng hẳn): Sau khi gieo trồng hoặc sau khi chăn thả, sau khi cắt cỏ khoảng 45 - 70 ngày Cây tiếp tục phát triển, lá ngày càng trở nên nhạt dần, những lá ở tầm thấp của cây chết đi và bị rụng Sự hô hấp của lá tốn nhiều năng lượng hơn là năng lượng chúng có thể
Trang 21tạo ra từ quang hợp Giai đoạn này cỏ già, dinh dưỡng giảm, phần thân cỏ chiếm đa số và nhiều xơ, nên khả năng tiêu hóa của gia súc đối với lá và thân cây ở giai đoạn này thấp dần Vì vậy, nên thu cắt hay chăn thả khi kết thúc giai đoạn II.
Sức sống của cỏ hòa thảo
Căn cứ vào độ dài ngắn về thời gian sống của cỏ hòa thảo mà người
ta chia thành loài sống ngắn ngày hay lâu năm Cụ thể người ta chia làm 4 loại sau:
- Loại sống một năm: Chúng chỉ sống trong vòng một năm hoặc ngắn
hơn rồi tàn lụi và chết, thường gọi là cỏ hàng năm như: Cỏ Ngô (Zeamays), cỏ
Xu - đăng (Sorghum sudanenes)…
- Loại cỏ có sức sống ngắn (2 - 3 năm) như: Cỏ Dầy (Hemarthria compressa), cỏ Mật (Melinis minutiflora)…
- Loại cỏ có sức sống vừa (4 - 6 năm) như: Cỏ Pangola, cỏ Voi, cỏ Ghinê, cỏ Paspalum, Brizantha…
- Loại cỏ có sức sống lâu (6 - 10 năm) như: Cỏ tước mạch không râu…Căn cứ vào sức sống của các loại cỏ mà người ta dự tính thời gian trồng lại để đảm bảo năng suất và chất lượng của các loại cỏ (Từ Quang Hiển và cs, 2002) [5]
Giá trị kinh tế của cỏ hòa thảo
Cỏ hòa thảo không chỉ là nguồn thức ăn chủ yếu và tốt nhất của gia súc nhai lại mà nó còn là là loại cây thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao và tương đối ổn định, chưa kể ưu thế của các giống cỏ lâu năm thường chỉ cần gieo trồng một lần mà có thể sử dụng được trong nhiều năm Cỏ hòa thảo cho năng suất và giá trị dinh dưỡng cao, khi chế biến dự trữ ít rơi rụng lá, ít thối mốc, tỷ lệ cỏ độc ít, chịu đựng chăn dắt cao
Một ha cỏ tự nhiên cho 10 - 20 tấn chất xanh/ha/năm, một ha cỏ trồng thân bò cho 30 - 40 tấn/ha/năm, cỏ thân bụi cho 50 - 60 tấn/ha/năm, cỏ thân đứng (cỏ Voi lai, Kinggrass) cho 80 - 100 tấn/ha/năm hoặc hơn tùy vào mức
Trang 22độ thâm canh Mỗi kg cỏ tươi cho từ 0,1 - 0,2 đơn vị thức ăn tương đương với
250 - 500 Kcal ME (Từ Quang Hiển và cs, 2002) [5]
Theo tài liệu nghiên cứu nước ngoài, 1 ha cỏ trồng mỗi năm có thể cung cấp từ 5000 - 5500kg chất dinh dưỡng tổng số và 1000 - 1100kg đạm tiêu hóa Nhiều chuyên gia đồng cỏ cũng cho biết 1 ha đồng cỏ có giá trị dinh dưỡng bằng 27 - 28 tạ ngô hoặc 27 - 28 tạ lúa mì Nếu quy đổi ra đơn vị thức
ăn thì 1 ha cỏ thâm canh mỗi năm có thể thu được 10.000 đơn vị thức ăn Như vậy, nếu sản xuất 1kg thịt bò tăng trọng cần 9 - 10 đơn vị thức ăn thì trên 1 ha
cỏ có thể sản xuất được 1 tấn thịt bò (Đoàn Ẩn và Võ Văn Trị, 1976) [1]
Ngoài ra, trồng cỏ hòa thảo còn có lợi ích là không đòi hỏi kĩ thuật phức tạp, có thể trồng trên nhiều loại đất, cỏ trồng một lần có thể sử dụng được trong nhiều năm Như vậy, trồng cỏ cần đầu tư lao động ít hơn so với các loại cây trồng khác, từ đó giá thành cũng tương đối hạ hơn Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài ý nghĩa làm thức ăn cho gia súc, cỏ còn có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ đất
2.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng của cỏ
Năng suất và chất lượng cỏ trồng phụ thuộc rất nhiều yếu tố, đây là kết quả của mối tương tác giữa cỏ và các điều kiện sống của gồm: Điều kiện khí hậu, đất đai, phân bón, thời gian thu cắt, mật độ trồng…
Điều kiện khí hậu
Các yếu tố khí hậu bao gồm lượng mưa và sự phân bố lượng mưa, ẩm độ không khí, cường độ chiếu sáng, thời gian chiếu sáng trong năm Những yếu
tố này có ảnh hưởng lớn đến sản lượng và chất lượng cây trồng
Ánh sáng cung cấp năng lượng ở dạng quang năng để thực vật quang hợp Cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng quyết định tới mức năng lượng nhận được của cây trồng
Nhiệt độ cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cỏ vì nó là yếu tố kích hoạt hoặc kìm hãm hệ thống enzyme trong cỏ cần thiết cho các hoạt động trao đổi chất Nhiệt độ quá cao làm cho thực vật bốc hơi mạnh, làm cho cỏ khô
Trang 23héo Nhiệt độ thấp làm cho các mạch dẫn các chất dinh dưỡng co lại, các hệ thống enzyme hoạt động kém, cây không phát triển được Smith (1973) [28] Whyte và cs, (1964) [30] cho rằng, rễ cần nhiệt độ thấp hơn so với thân và lá
để sinh trưởng và phát triển Bởi vậy, ở nhiệt độ cao rễ sinh trưởng chậm hơn
so với thân và lá Cây non có nhiệt độ sinh lý thích ứng thấp hơn so với giai đoạn trưởng thành
Ẩm độ đất và không khí liên quan chặt chẽ đến lượng mưa, ẩm độ đất ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bộ rễ của cỏ và khả năng hút các chất dinh dưỡng Cây sinh trưởng phụ thuộc vào sự đầy đủ ẩm độ đất (Larson và Eastin, 1971), (Russell, 1966) [27] (Taylor, 1964) [29] Ngoài ra, nó còn quyết định đến sự phát triển của vi sinh vật đất và độ tơi xốp của đất
Như vậy, điều kiện khí hậu có ảnh hưởng lớn đến các quá trình trao đổi chất trong cây, đến sự hấp thụ nước và các chất dinh dưỡng từ đất, đến sự trao đổi chất khí, quang hợp, từ đó ảnh hưởng tới sự tích lũy các chất hữu cơ và chất khoáng của thực vật
Điều kiện đất đai
Đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, do đó tính chất vật lý, cấu tạo đất sẽ ảnh hưởng đến độ ẩm đất, sự hấp thụ các chất dinh dưỡng, sự phát triển của các hệ vi sinh vật trong đất và ảnh hưởng tới năng suất cây trồng
Đất giàu mùn, tỷ lệ cát, sét, sỏi thấp, rễ cỏ sẽ phát triển nhanh, mạnh, hệ
vi sinh vật hoạt động tốt cỏ sẽ cho năng suất và chất lượng tốt
Đất quá nhiều cát thường dễ bị dí chặt, gây tình trạng yếm khí làm bộ rễ
cỏ hoạt động kém Mặt khác chất độc tích lũy trong đất nhiều làm cho cỏ phát triển kém, năng suất, chất lượng thấp Đất có tỷ lệ cát quá cao, sét quá ít (<5%) thì không giữ được nước và các chất dinh dưỡng cũng không đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển của cỏ
Trang 24 Điều kiện phân bón
Các nhà khoa học đã khẳng định “Phân bón quyết định trên 50% việc tăng năng suất cây trồng” (FAO, Rome, 1984) [23] phân bón là nguồn bổ sung dinh dưỡng cho đất để cung cấp cho cỏ Lượng phân bón nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển, quá trình trao đổi chất, dẫn đến sự khác nhau về năng suất, chất lượng
và thành phần dinh dưỡng có trong cỏ Bón phân cân đối sẽ cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng một cách đầy đủ, cân bằng giữa các yếu tố dinh dưỡng, đáp ứng nhu cầu sinh trưởng và phát triển của cây Đảm bảo thu được năng suất cây trồng cao, chất lượng nông sản tốt, hiệu suất sử dụng phân bón cao, bảo vệ, tăng cường phì nhiêu của đất và không gây ô nhiễm môi trường (Đường Hồng Dật, 2011) [3]
- Phân hữu cơ
Phân hữu cơ mà chủ yếu là phân chuồng là loại phân không thể thiếu đối với cây trồng Bón phân hữu cơ là biện pháp quan trọng cải thiện tính chất, tăng độ phì nhiêu của đất và có thể cung cấp trực tiếp chất dinh dưỡng cho cây giúp làm tăng năng suất và phẩm chất cây trồng (Lê Văn Căn, 1978) [2].Thành phần phân chuồng có chứa nhiều nguyên chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng và vi lượng giúp cây trồng phát triển cân đối hơn Trong
100 tấn phân chuồng tốt thường có 50kg N, 12kg P, 45 – 60kg K, 100kg Mg,
25 – 30kg Ca, 85g S, 300g B, 4g Cu, 200g Zn, 2g Co Trong 10000 lít phân chuồng dạng lỏng có: 50 - 60kg N; 0,4kg P; 100kg K Các chất dinh dưỡng trong phân chuồng ở dạng chậm bốc, phân hủy dần dần trong đất cung cấp cho cây sử dụng, nó là điều kiện đảm bảo để ổn định năng suất cây trồng, đất canh tác không bị suy kiệt dinh dưỡng để có thể sản xuất bền vững
Trang 25- Phân đạm (N)
+ Đạm trong cây:
Tỷ lệ đạm trong cây thường chiếm tỷ lệ 1 - 3% khối lượng vật chất khô Đạm có nhiều nhất lúc cây còn non và giảm khi cây ra hoa do khả năng hút chất dinh dưỡng lúc này của cây bị giảm đi
Theo Nguyễn Vy và Phạm Thúy Lan, 2006 [18] ở trong cây, đạm thường
ở dạng proxit đơn (các aminoaxit), protein kép (protein) các alcaloid và glucozit
+ Đạm trong đất:
Tỷ lệ đạm trong đất có trung bình từ 0,02 - 0,4% đạm trong đất có khoảng 95% ở dạng hữu cơ, còn 5% ở dạng vô cơ gồm: Amoniac, nitrat, nitric (NH3, NO3-, NO2 -) và được gọi là đạm dễ tiêu vì cây hút đạm trong đất chủ yếu
ở dạng này
Tỷ lệ đạm trong đất canh tác Việt Nam biến động từ 0,042% (đất bạc màu) đến 0,62% (đất lầy thụt) Trung bình là 0,12% (đất phù sa sông Hồng) (Nguyễn Ngọc Nông, 1999) [10]
Đạm hữu cơ trong đất chủ yếu là do vi sinh vật phân giải các protit thực vật, còn đạm vô cơ được phân giải từ đạm hữu cơ Cho nên khi đánh giá hàm lượng đạm trong đất người ta chủ yếu đánh giá thông qua hàm lượng đạm tổng số và đạm dễ tiêu trong đất
+ Vai trò của đạm đối với đời sống cây trồng:
Đạm là thành phần chính của diệp lục, nguyên sinh chất, các loại enzyme cần thiết cho quá trình trao đổi chất trong cây Cây trồng thiếu đạm sẽ cằn cỗi, lá kém xanh, ra hoa kém và thưa thớt, ít quả Khi cây quá nhiều đạm
sẽ làm cho bộ rễ kém phát triển, phần trên mặt đất phát triển um tùm, cây yếu hay đổ lốp, dễ mắc bệnh
Sản phẩm thu hoạch chính của cỏ là thân và lá do vậy mà đạm là yếu tố không thể thiếu được khi sản xuất Tuy nhiên, khi bón đạm cho cỏ cần phải bón vừa phải, cân đối thì sẽ làm tăng năng suất, tăng hàm lượng đạm tổng số
Trang 26trong cây, giảm hàm lượng xơ, gia súc dễ ăn và tăng tính ngon miệng Nếu bón nhiều đạm sẽ có hiện tượng cây tích nhiều alcaloit, glucozit làm cho cỏ
có vị đắng giảm tính ngon miệng của gia súc Trong quá trình hình thành các chất trung gian do cây bị tiêu hao năng lượng quá nhiều nên hàm lượng đường bột trong cây sẽ giảm xuống
- Phân lân (P)
+ Lân trong cây:
Trong cây lân chiếm tỷ lệ khoảng 0,3 - 0,4% vật chất khô Lân trong hạt thóc (0,60 - 0,80%), hạt gạo (0,75 - 0,90%) chiếm tỷ lệ cao hơn lân trong thân
lá (0,30 - 0,40%) và rơm rạ rất nhiều (Từ Quang Hiển và cs, 2002) [5]
Lân trong cây ở thể vô cơ và hữu cơ Lân vô cơ trong cây trồng thường
ở thể octhophotphat, khi hút lân một phần tồn tại ở dạng khoáng (octhophotphat), một phần khác bị este và trở thành lân hữu cơ Các dạng lân hữu cơ trong cây là: Nucleoprotit, phospholipit, sacarophotphat…
Cây trồng hút lân vô cơ chủ yếu dưới dạng ion phốt phát: H2PO2 -, HPO4-
- Ngoài ra, cây có thể hút lân ở dạng hữu cơ được rất ít và chậm Chất Mg có tác dụng rất mạnh đến việc hút và vận chuyển lân trong cây do vậy khi bón
Mg thì việc hút lân của cây sẽ dễ dàng hơn
Sự di chuyển của lân trong cây cũng nhanh hơn nhiều sự di chuyển lân trong đất, do trong đất có nhiều yếu tố có khả năng kết tủa hoặc kìm hãm sự
di động thực tế mà cây cần sử dụng
+ Lân trong đất:
Trong đất lân chiếm tỷ lệ 0,02 - 0,08%, lân ở lớp đất mặt thường cao hơn so với lấp đất dưới Các dạng lân trong đất gồm dạng lân hữu cơ và dạng vô cơ
Dạng lân hữu cơ: Chủ yếu có trong thành phần của mùn
Dạng lân vô cơ: Chủ yếu ở dạng phosphate canxi, phosphate sắt, nhôm (FePO4, AlPO4…)
Trang 27+ Vai trò của lân đối với đời sống cây trồng:
Lân rất cần thiết cho quá trình trao đổi chất của cây Nó có tác dụng điều hòa phản ứng của cây khi điều kiện môi trường thay đổi đột ngột, làm tăng sức đề kháng với thời tiết lạnh; lân có tác dụng mạnh lúc cây còn nhỏ, bộ
rễ phát triển còn yếu do vậy phân lân được dùng chủ yếu để bón lót sẽ có tác dụng hơn là bón thúc cho cây trồng
Ngoài ra, lân còn làm tăng cường sự phát triển của bộ rễ, kích thích cây
họ Đậu hình thành nốt sần và làm tăng phẩm chất nông sản
- Phân kali (K):
+ Kali trong cây:
Trong cây kali chiếm từ 0,5 - 1% VCK, kali trong hạt ngũ cốc chiếm nhiều hơn rơm rạ, ở tro bếp cỏ tỷ lệ kali rất cao
Tỷ lệ kali ở trên mặt đất thường cao hơn phần dưới mặt đất và có chủ yếu trong dịch tế bào (80%), một phần nữa bị chất keo của tế bào hấp thụ, khoảng ≤1% được giữ lại trong nguyên sinh chất
+ Kali trong đất:
Trong đất kali chiếm tỷ lệ 0,2 - 0,4% K2O, tỷ lệ K2O tổng số có thể từ 0,5 - 3% (Trịnh Xuân Vũ và Lê Doãn Diên, 1976) [17] Đất vùng nhiệt đới chứa kali thấp hơn đất ôn đới vì vùng nhiệt đới mưa nhiều, các ion K+ lại dễ
bị rửa trôi Rất nhiều vùng đất ở Việt Nam cần phải bón phân kali (Lê Văn Căn, 1978) [2]
Kali trong đất ở 3 dạng sau: Kali không trao đổi > kali trao đổi > kali hòa tan
Kali là yếu tố dinh dưỡng cây hút được từ đất nhiều hơn canxi và magie, cho nên việc bón nhiều các nguyên tố khoáng Ca2+, Mg2+, Na+ vào trong đất sẽ gây ảnh hưởng xấu đến việc hút kali của cây và ngược lại
Khi độ pH thấp hoặc đất thiếu oxy thì việc hút kali của cây càng trở ngại Cường độ hút của cây khác nhau trong từng giai đoạn sinh trưởng và tùy theo loại cây trồng
Trang 28+ Vai trò của kali đối với cây trồng:
Kali làm tăng vai trò quang hợp của lá, tăng cường sự hình thành các bó mạch, làm cho cây cứng cáp, góp phần tích cực vào công việc chống đổ lốp cho cây trồng Ngoài ra, kali còn kích thích sự hoạt động của các enzyme do
đó làm tăng cường hoạt động trao đổi chất trong cây, tăng cường sự hình thành axit hữu cơ làm cho cây tăng cường quá trình tổng hợp protit và tăng khả năng chống rét cho cây, tăng sức đẻ nhánh của ngũ cốc (Nguyễn Vy và Phạm Thúy Lan, 2006) [18]
Thời gian thu cắt
Thời gian thu cắt cỏ ảnh hưởng lớn tới sản lượng và chất lượng các giống cỏ Nếu cắt quá ít lần/năm thì sẽ cỏ sẽ bị già dẫn đến chất lượng kém và ảnh hưởng tới lứa tái sinh sau, ảnh hưởng tới sản lượng cỏ/năm Nếu cắt quá nhiều lần/năm cỏ chưa đủ thời gian tích lũy các chất dinh dưỡng nuôi cây, bộ
rễ phát triển kém hoặc bị teo đi ít nhiều, đất trồng dễ bị xói mòn, rửa trôi dinh dưỡng, đồng cỏ chóng bị thái hóa làm cho năng suất, chất lượng cỏ bị giảm.Xác định thời điểm thu cắt hợp lý sẽ khắc phục được vấn đề trên Cỏ thu hoạch sẽ mềm, tỷ lệ tiêu hóa của gia súc cao, hàm lượng protein thô trong VCK của cỏ sẽ cao hơn, cỏ có khả năng tái sinh tốt
Thời gian thu cắt phụ thuộc vào các giống cỏ và mùa vụ Theo Nguyễn Khánh Quắc và cs (1995) [11] cho biết thời gian thu cắt của một số giống cỏ hòa thảo trong mùa mưa thích hợp như sau
- Cỏ Ghinê (Panicum maximum): 30 - 35 ngày
- Cỏ Voi (Pennisetum purpurreum): 50 ngày
- Cỏ Pangola (Digitaria decumbens): 60 ngày
Mật độ trồng
Quan hệ giữa năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất thể hiện bởi mối quan hệ giữa quần thể và các cá thể nên có tính sinh học rõ ràng Trong sản xuất để đạt được năng suất, chất lượng cao thì phải tìm biện pháp để đạt được quần thể có kết cấu hợp lý mà tại đó tích của các yếu tố cấu thành là cao
Trang 29nhất Một trong những biện pháp quan trọng là bố trí quần thể hợp lý, nó ảnh hưởng đến số nhánh tối đa và số nhánh hữu hiệu Nếu mật độ thưa số nhánh/m2 thấp, gây lãng phí đất, năng suất quần thể thấp Nếu mật độ quá dày, ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng, ánh sáng, quần thể rậm rạp, cây dễ đổ… làm hạn chế năng suất.
2.2.1.4 Giới thiệu giống cỏ VA – 06
Đặc điểm thực vật học của cỏ VA – 06
Cỏ VA - 06 là tên viết tắt của cỏ Varsime số 06, là dòng lai giữa cỏ giữa
cỏ Voi và cỏ đuôi sói của châu Mỹ và được đánh giá là “Vua của các loại cỏ”
Cỏ VA - 06 có hình dáng như cây trúc, thân thảo cao lớn, họ hòa thảo dạng thân bụi Cây mọc thẳng, cho năng suất cao, chất lượng tốt, phiến lá rộng, mềm, có hàm lượng dinh dưỡng cao, nhiều nước, khẩu vị ngọt, hệ
số tiêu hóa cao và là loại thức ăn tốt cho các loài gia súc ăn cỏ, gia cầm, cá trắm cỏ
Giá trị của giống cỏ VA - 06
- VA - 06 làm thức ăn chăn nuôi
Cỏ VA - 06 có hàm lượng dinh dưỡng rất cao (protein của cỏ chứa 17 loại axit amin và nhiều loại vitamin), đây là loại thức ăn tốt nhất cho các loài gia súc và cá trắm cỏ VA - 06 vừa có thể làm thức ăn tươi, làm thức ăn ủ chua, thức ăn hong khô hoặc làm bột cỏ khô dùng để nuôi bò thịt, bò sữa, dê, cừu, thỏ, gà tây, cá trắm cỏ… mà không cần hoặc về cơ bản không cần cho thêm thức ăn tinh vẫn đảm bảo vật nuôi phát triển bình thường Hiệu quả về chăn nuôi của cỏ VA - 06 cao hơn hẳn các loại cỏ khác, cứ 14kg cỏ tươi thì sản xuất được 1kg trắm cỏ, 18kg cỏ tươi thì sản xuất được 1kg thịt ngỗng Không những vậy, giống cỏ này có hàm lượng đường cao, giàu dinh dưỡng được các loại vật nuôi như bò, dê, cừu, lợn, lợn rừng, gà tây, cá trắm cỏ rất thích ăn, vật nuôi chóng lớn và khỏe mạnh
Trang 30Bảng 2.2 * : Hàm lượng dinh dưỡng có trong cỏ tươi (%)
Bảng 2.3 **: Hàm lượng dinh dưỡng có trong cỏ khô (%)
*, **: Nguồn (Viện chăn nuôi Quốc gia Việt Nam, 2001) [19].
- VA - 06 có thể dùng làm nguyên liệu tạo giấy và gỗ ván nhân tạo
Theo phân tích của các cơ quan chuyên môn thì độ dài xenlullo 4,4 mm, rộng 30 µm, hàm lượng xenlullo chiếm 41,2% Cỏ VA - 06 là nguyên liệu sản xuất giấy chất lượng cao với thời gian nấu, độ tẩy trắng, hệ số thu hồi bột giấy đều cao hơn các loại nguyên liệu khác như cây: Tốc sinh dương (hắc dương), cói và các cây hoà thảo khác Thân cỏ này cũng có thể sản xuất nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ, các loại giấy văn hoá phẩm cao cấp, ván gỗ nhân tạo chất lượng tốt và có thể dùng để sản xuất nhiều mặt hàng tiêu dùng, các loại hộp đựng thức ăn dùng một lần với giá rẻ mà không gây tổn hại môi trường (Lê Hữu Thụ, 2008) [16]
- Giống cỏ VA - 06 chịu rét, chịu hạn, có bộ rễ phát triển cực mạnh, dài tới 3 - 4 m, rễ dài nhất tới 5m, mọc tập trung và phát triển rộng, lá cỏ dài 60 -
80 cm Đường kính thân 2 - 3 cm, lớn nhất 4 cm, cây chống gió tốt, chống xói mòn có hiệu quả, đây là một loại cây lý tưởng trồng trên đất có độ dốc cao, kể
cả đất có độ dốc > 250; trồng làm hàng rào xung quanh vườn quả; trồng ven
đê, ven hồ để chống sạt lở, trồng ở vùng đất cát và là cây phủ xanh đất trống đồi trọc (Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2009) [9]
- VA - 06 là loài thực vật C4 có tác dụng quang hợp rất mạnh, có tác dụng tốt đến việc hấp thụ các khí độc trong không khí Có thể trồng trên diện tích lớn ở ven đường, xung quanh vùng khai thác khoáng sản, trong công viên lớn… và xây dựng “rừng cỏ” chống ô nhiễm môi trường, làm đẹp cảnh quan của các vùng sinh thái
Trang 31- VA - 06 còn có thể sử dụng làm giá thể để nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu, nó có thể nghiền làm bột cỏ để thay nguyên liệu gỗ, mùn cưa, có thể sản xuất > 30 loại nấm, trong đó có Trúc Tôn là loại nấm ăn cao cấp và nấm Linh Chi để làm thuốc.
Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cỏ VA - 06
- Tính thích ứng rộng, sức chống chịu mạnh
Cỏ VA - 06 có thể trồng được ở hầu hết các loại đất, kể cả đất cát sỏi, đất mặn kiềm nhẹ, chịu được độ pH = 4,5 Trên đất khô hạn, đất đọng nước, đất dốc, đất bằng, bờ ruộng, ven đê, ven hồ đều có thể sử dụng để trồng loại cỏ này Giống cỏ VA - 06 yêu cầu điều kiện môi trường như sau:
+ Số ngày nắng trong 1 năm: > 100 ngày
+ Độ cao so với mực nước biển: < 1500 m
+ Nhiệt độ bình quân năm: > 150C
+ Lượng mưa: > 800 mm/ năm
+ Số ngày không sương muối/ năm: > 300 ngày
Do phổ thích nghi rộng, sức chống chịu tốt, nên tỷ lệ sống sau khi trồng của cỏ rất cao ngay cả trên vùng đất thấp, ẩm ướt và rét tỷ lệ sống của cỏ vẫn đạt > 98%
- Tốc độ sinh trưởng mạnh, sức sinh sản nhanh
Ở vùng nhiệt đới, cỏ VA - 06 có thể sinh trưởng quanh năm, chiều cao thân bình quân 4 - 5 m, cao nhất đạt 6m, đường kính thân 2 - 3 cm, lớn nhất là
4 cm Cỏ đẻ rất khoẻ, một cây có thể đẻ 20 - 35 nhánh/năm, mức cao nhất là
60 nhánh/năm, 1 ha có thể có 5,25 triệu nhánh, hệ số nhân > 500 lần Nếu trồng 1ha vào vụ xuân, sau 8 tháng có thể đủ giống trồng > 300 ha cho năm sau, nếu đủ phân, đủ nước thì năm thứ 2 có thể đủ giống để trồng > 800 ha
- Kỹ thuật trồng đơn giản, năng suất rất cao
Dùng cách tách chồi hoặc cắt mắt để trồng thì chỉ sau 40 ngày là có thể cắt được lứa đầu Ở các vùng nhiệt đới và một số vùng á nhiệt đới, có thể thu hoạch cỏ quanh năm, năng suất đạt > 652 tấn/ha/năm, đứng đầu bảng so với
Trang 32năng suất của mọi loại cỏ hoà thảo khác, gấp 20 - 30 lần năng suất của các loại cỏ họ Đậu Khả năng lưu gốc và tái sinh của cỏ rất tốt, trồng 1 năm thu hoạch liên tục 6 - 7 năm, từ năm thứ 2 đến năm thứ 6 là thời kỳ cỏ cho năng suất cao nhất Loại cỏ này chủ yếu dùng phương pháp sinh sản vô tính Do sức chịu rét tốt, nên nói chung khi nhiệt độ > 00C cây có thể qua đông, > 800C cây phát triển thường.
Cỏ VA – 06 có bộ rễ phát triển cực mạnh dài 3 - 4 m, rễ dài nhất 5 m, cỏ mọc tập trung nên có khả năng chịu hạn, đồng thời chịu được điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như chịu rét, chống đổ, chịu sâu bệnh và là cây chống xói mòn rất tốt ở độ dốc cao VA - 06 có thể trồng xung quanh vườn cây ăn quả, đất đồi dốc, ven hồ có thể chống sạt lở
2.2.1.5 Giới thiệu về phân DAP - Đình Vũ
DAP là chữ viết tắt của chất hóa học Di ammonium Phosphate có công
thức nguyên (NH4)2HPO4 DAP được sản xuất từ quặng Apatit, Amoniac và axit H3PO4 tại nhà máy DAP Đình Vũ - Hải Phòng, trực thuộc sự quản lý của tập đoàn hóa chất Việt Nam (VINACHEM) Đây là loại phân phức hợp vì có
2 thành phần chính là: Đạm và lân (theo Nông nghiệp Việt Nam) trong đó hàm lượng Nitrogen (N) 16% và P2O5 chiếm 45%; tức là trong 100kg phân DAP có chứa 16kg đạm nguyên chất và 45kg lân nguyên chất (theo
http://www.vi.wikipedia.org) [26]
Trên thế giới sản phẩm phân bón DAP đã có mặt trên 50 năm với sản lượng tiêu thụ hàng năm lên tới trên 100 triệu tấn Tại các nước và khu vực phát triển trên thế giới như: Mỹ, EU, Ấn Độ, Trung Quốc,… DAP luôn là sản phẩm phân bón chủ lực trong canh tác nông nghiệp và được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới phân bón (theo http://www.ehow.com/info) [25]
Ở Việt Nam, phân DAP được sử dụng khá phổ biến ở miền Nam nước ta
từ những năm 60 thế kỷ trước Trước khi có nhà máy Đình Vũ, 100% phân DAP đều phải nhập khẩu với giá khá cao nhưng từ đầu năm 2012 đến nay nhà máy đã sản xuất được 330.000 tấn/năm, đáp ứng được gần 1/3 nhu cầu phân
Trang 33bón DAP trong cả nước, góp phần bình ổn giá phân bón cho nông dân, đặc biệt là nông dân vùng chuyên canh lúa đồng bằng sông Cửu Long.
Phân DAP là loại phân cân đối và có hàm lượng dinh dưỡng cao nhất
>61%, trong khi đó sản phẩm urê hiện nay mới chỉ đạt 46,1 - 46,3% dinh dưỡng hữu hiệu Khi bón phân DAP cây trồng được kích thích phát triển cân đối, giúp tăng trưởng phát triển nhanh, tăng chất lượng nông sản Bên cạnh đó, bón DAP giúp cây trồng phát khỏe mạnh, tăng sức đề kháng với các loại sâu bệnh, khả năng chống rét tốt hơn
Về tính chất: DAP là loại phân trung tính, phù hợp với tất cả các chân đất và cần cho mọi loại cây trồng Lân trong DAP dễ tan trong nước nên cây
dễ hấp thụ, mang lại hiệu quả rõ rệt
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Một số kết quả nghiên cứu chung về cỏ
Đứng trước nhu cầu cấp thiết của việc phát triển đồng cỏ cho chăn nuôi đại gia súc, nước ta đã nhập nhiều giống cỏ của nước ngoài để nghiên cứu thích nghi và lựa chọn bộ giống cỏ phù hợp điều kiện các vùng sinh thái Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu lựa chọn phân bón và lượng bón thích hợp đảm bảo cân đối NPK cho mỗi nhóm giống cỏ để đảm bảo thu được năng suất cỏ cao, chất lượng cỏ tốt, hiệu suất sử dụng phân bón cao, bảo
vệ, tăng cường độ phì nhiêu của đất và không gây ô nhiễm môi trường (Đường Hồng Dật, 2011) [3]
Hiệp hội doanh nghiêp nhỏ và vừa ngành nông thôn Việt Nam (Varisme) đã khảo nghiệm thành công giống cỏ mới VA - 06 để cung cấp thức ăn chăn nuôi
Trung tâm Khuyến nông tỉnh Vĩnh Phúc triển khai nhân rộng mô hình
“Trồng cỏ giàu đạm VA - 06 trên địa bàn tỉnh trong chăn nuôi bò với một số giống cỏ hiện đang sử dụng”
Trang 34Viện chăn nuôi quốc gia tiến hành phân tích giá trị dinh dưỡng của cỏ
VA - 06 thông qua sản lượng sữa bò cho thấy: Tỷ lệ sử dụng cỏ VA - 06 của sữa bò cao hơn so với cỏ Voi là 9,7%
Năm 2009 UBND tỉnh Lào Cai triển khai Dự án: “Trồng thử nghiệm
một số giống cỏ mới cao sản, gắn với sơ chế, bảo quản phục vụ phát triển chăn nuôi tại Lào Cai ” do Trường Trung cấp nghề tỉnh Lào Cai chủ trì thực hiện với quy mô là 2,8ha; trồng 7 giống cỏ gồm: Cỏ Voi, cỏ VA - 06, cỏ Goatemala, cỏ Panicum maximum TD 58, cỏ Paspalum atratum , cỏ Signal, cỏ Brizantha tại 7 hộ dân xã Tả Phời - Thành phố Lào Cai Kết quả: Tỷ lệ sống của 7 giống cỏ sau trồng 1 tháng đều đảm bảo, các giống cỏ Voi, cỏ VA - 06
có tỷ lệ sống đạt cao nhất đạt 95%, chiều cao thảm cỏ bình quân đạt 1,4 - 1,5
m Giống cỏ VA - 06 cho năng suất cao nhất là 273,5 tấn/ha và phát triển tốt trong mùa đông Qua thử nghiệm cho gia súc ăn cho thấy, các giống cỏ VA -
06, Goatemala, Panicum maximum TD 58 có tính ngon miệng cao nhất, trâu,
bò ngựa đều rất thích ăn và tỷ lệ ăn vào tương đối cao từ 85 - 95%
Từ Trung Kiên, 2009 [7] đã nghiên cứu “Ảnh hưởng của phân đạm đến
năng suất và chất lượng cỏ Brachiaria brizantha 6387 trồng tại Thái Nguyên”
và tiếp theo là nghiên cứu về “Ảnh hưởng của phân NPK đến năng suất và chất
lượng cỏ Paspalum atratum trồng tại Thái Nguyên” (Từ Trung Kiên, 2010) [8].
Một số kết quả nghiên cứu thử nghiệm DAP cho cây trồng
Năm 2007, Trung tâm Khuyến nông kết hợp với Sở Khoa học - Công nghệ Vĩnh Long thực hiện đề tài “Đánh giá khả năng phục vụ chăn nuôi bò
và đặc tính thích nghi của giống cỏ Varisme 06 (VA - 06) tại Vĩnh Long”
Đề tài đã thực hiện bón phân DAP cho cỏ với liều lượng 10kg/ 500 m2 kết hợp vun gốc
Năm 2012, Viện Khoa học sự sống Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã
ký với Công ty TNHH MTV DAP – VINACHEM về chương trình khảo nghiệm phân bón mới DAP cho các loại cây trồng: Chè, lúa, cỏ VA - 06… trên đất canh tác nông nghiệp miền Bắc Việt Nam Dự án nghiên cứu thử
Trang 35nghiệm tiến hành ở nhiều địa phương và trên nhiều loại cây trồng ở những chân đất khác nhau, kết quả bước đầu (Báo cáo kết quả thử nghiệm DAP - Đình Vũ năm 2012) [20]cho cây trồng cho thấy:
Trên cây chè vùng Sơn Dương, Tuyên Quang kết quả bón với mức nghiệm: 2.000 m2 là 130kg DAP + 120kg kali + 148kg đạm urê/ha; trong khi
ô đối chứng sử dụng: 280kg urê + 300kg lân supe + 120kg phân kali/ha Kết quả cho thấy năng suất búp tươi ô thử nghiệm cao hơn đối chứng 10%, chè có
vị đậm và ngon hơn đối chứng
Trên cây lúa: Kết quả thử nghiệm dùng DAP Đình Vũ thay thế lân super Lâm Thao trên cơ sở cân đối cân bằng dinh dưỡng NPK với lô đối chứng cho thấy năng suất lúa cao hơn 8 - 12% tùy vùng, lãi ròng trong sản xuất lúa cao hơn từ 90 -159 ngàn đồng/sào
Kết quả thử nghiệm DAP trên cỏ VA - 06 ở Yên Sơn và Trại Bá Vân cũng đều cho thấy kết quả tốt của loại phân bón này
Tuy nhiên các nghiên cứu về lượng bón thích hợp cần được xác định để
có mức sử dụng DAP tốt nhất cho các loại cây trồng trong đó có cỏ VA - 06
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Về cỏ và đồng cỏ cho chăn nuôi:
Châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ… là những khu vực có nền chăn nuôi tiên tiến được thâm canh cao, được công nghiệp hóa nên những nghiên cứu về
cỏ và đồng cỏ của họ đã có truyền thống và đạt rất nhiều kết quả tốt hàng thế
kỷ nay
Sau cuộc “Cách mạng về thức ăn gia súc” ở Tây Âu mà đặc biệt là ở Anh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi phát triển, đồng cỏ ngày càng được chú ý và sử dụng đúng với vai trò của nó Nếu như năm 1842 Pháp chỉ
có 4 triệu ha trồng cỏ và 15 triệu ha ngũ cốc thì hiện nay tỷ số ấy đã thay đổi
12 triệu ha trồng cỏ và 8 triệu ngũ cốc (Điền Văn Hưng, 1974) [6]
Ở Anh các diện tích ngũ cốc giảm đi và diện tích đồng cỏ, các loại cây thức ăn gia súc tăng lên và được thâm canh một cách đáng kể
Trang 36Năm 1913 ở Liên Xô, diện tích trồng cỏ tăng từ 2,1 triệu ha lên 7,3 triệu
ha năm 1933 và đến năm 1961 diện tích này đã lên tới 51,9 triệu ha (Nguyễn Ngọc Hà và cs, 1985) [4] Không những diện tích trồng cỏ tăng lên, việc nghiên cứu chọn lọc các giống cỏ năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú trọng, nhiều loại cỏ như cỏ Voi, cỏ Ghinê, cỏ Bermuda, cỏ Pangola… đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới
Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đề thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Úc, Mỹ, Braxin… Chăn nuôi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất ở vùng Đông Nam Á, nên cũng đã có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này
- Ở Inđonexia, trong tình hình thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là cỏ tự nhiên, 21% là rơm, 16% là cây lá khác và 7% là phụ phẩm thì trong 4 giải pháp để giải quyết thức ăn là thâm canh, trồng giống cỏ tốt (cỏ Voi, cỏ hòa thảo và cây họ Đậu) (Dr Sochadji, 1994) [22]
- Ở Philippin, với 90% gia súc nhai lại nuôi tại vườn nhà hoặc ở các
trang trại nhỏ được trồng các giống cỏ Stylo 184, cỏ Ghinê (Panicum
maximum), Paspalum atratum… đều phát triển tốt cung cấp nguồn thức ăn
cho gia súc Ngoài ra, các giống cỏ trên còn được trồng theo đường đồng mức
ở đất dốc, cải tạo đất trống đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả, hàng năm sản xuất được trên 1 tấn hạt giống cỏ
- Ở một số nước khác như Malaysia, Lào… cũng chú trọng đầu tư phát triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985 Cho đến nay một số giống
cỏ hòa thảo và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong sản xuất Hàng năm sản xuất được 2 - 3 tấn hạt cỏ các loại
Như vậy, việc lai tạo những giống cỏ mới có năng suất và giá trị dinh
dưỡng cao như Coastcross (cỏ Bermuda lai), cỏ Ghinê (Panicum maximum),
cỏ VA - 06 từ một loài đã tạo ra nhiều giống mới… Đây là thành tựu khoa học đáng kể góp phần giải quyết thức ăn cho gia súc ngày càng phát triển không chỉ về số lượng mà còn cả chất lượng Đồng thời, thúc đẩy phong trào
Trang 37cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan tâm và là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển.
Về sản xuất và sử dụng DAP
Trên thế giới sản phẩm phân bón DAP đã có mặt trên 50 năm với sản lượng tiêu thụ hàng năm lên tới trên 100 triệu tấn Tại các nước và khu vực phát triển trên thế giới như: Mỹ, EU, Ấn Độ, Trung Quốc,… DAP luôn là sản phẩm phân bón chủ lực trong canh tác nông nghiệp và được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới phân bón (theo http://www.ehow.com/info) [25] Đây là loại phân bón có hiệu suất dinh dưỡng cao, tiết kiệm tài nguyên quặng Apatit, an toàn cho môi trường và cho con người sử dụng
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng, địa điểm thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phân DAP và cỏ VA - 06
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Thí nghiệm đồng ruộng được thực hiện tại Vườn thực nghiệm Viện Khoa học sự sống - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
+ Phân tích đất và sản phẩm được thực hiện tại Phòng phân tích hóa học viện KHSS
- Thời gian nghiên cứu: Từ 12/12/2012 đến 29/05/2013
2.3.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định mức bón phân DAP thích hợp cho cỏ VA - 06
- So sánh hiệu quả thay thế super lân bằng DAP trong các tổ hợp phân bón NPK để thâm canh cỏ VA - 06 đạt năng suất cao