Theo Quan niểm cổ điển: TCC là khoa học nghiên cứu sự tài trợ cho chi tiêu công và sự phân bổ các gánh nặng quốc gia ấn định mức thuế mà mọi người phải đóng góp, thiết lập ngân sách Theo
Trang 1Chương I: GIỚI THIỆU MÔN HỌC TÀI CHÍNH CÔNG
Khái niệm về tài chính công theo các quan điểm khác nhau, xem xét đối tượng nghiên cứu của TCC, cấu trúc môn học
Tài chính công, cũng được hiểu như Kinh tế học của Khu vực công hay Kinh tế công, chủ yếu đềcập đến các hoạt động thu thuế và chi tiêu của Chính phủ và những ảnh hưởng của nó trong việcphân bổ các nguốn lực và phân phối thu nhập
Theo Quan niểm cổ điển: TCC là khoa học nghiên cứu sự tài trợ cho chi tiêu công và sự phân bổ
các gánh nặng quốc gia (ấn định mức thuế mà mọi người phải đóng góp, thiết lập ngân sách)
Theo Quan điểm hiện đại: Chính phủ dùng Kĩ thuật tài chính để can thiệp có hiệu quả vào quá
trính phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia (chính sách chi tiêu công, chính sách tiền tệ, chi
tiêu công, ngân sách) => TCC có chức năng rộng hơn : (để giải thích rõ hơn)
+ việc sử dụng thuế quan là để phát triển kinh tế, đám bảo tính công bằng xã hội chứ không chỉ là
phục vụ chi tiêu công của chính phủ (vd: tăng thuế là đánh vào các công ty có sản phẩm mà quốc gia không muốn có nhiều, giảm thuế để khuyến khích những ngành, sản phẩm mà quốc gia muốn
có nhiều vì lợi ích nền kinh tế)
+ Thiết lập ngân sách nhà nước phải đảm bảo Thu và Chi phù hợp với nền kinh tế ( có biện pháp duy trì già trị tiền tệ, khi nền kinh tế suy thoái CP có thể dùng biện pháp kích cầu…)
Tóm lại đối tượng nghiên cứu của Tài chính công là các hoạt động thu thuế và chi tiêu của chínhphủ
Phân biệt Tài chính công và Tài chính Nhà nước:
Tài chinh công: nghiên cứu các hoạt động của chính phủ để hiểu rõ vai trò của Nhà nước trong
nền kinh tế và tác động của nó đối với các nguồn lực và đối với tình trạng xung tác của người dân
Tài chính Nhà nước: nghiên cứu các hoạt động thu chi bằng tiền của Nhà nước trong quá trình
tạo lập và sử dụng các nguồn quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm phục vụ thực tiễn các chức năngkinh tế xã hội của Nhà nước
Nắm các quan điểm chính phủ về tổ chức và cơ chế, quy mô chính phủ, chi tiêu của chính phủ, xem xét và so sánh chi tiêu của Chính Phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam.
• Các quan điểm về chính phủ:
o Quan điểm tổ chức về Chính phủ (organic view of government)
Xã hội được nhận thức như là một tổ chức tự nhiên Mỗi cá nhân là một thành phần của tổ chứcnày và chính phủ có thể được xem như là trái tim của nó
Trang 2Các mục tiêu của xã hội do chính phủ đặt ra và chính phủ đã hướng xã hội thực hiện các mục tiêu
đó của họ Sự lựa chọn mục tiêu này rất khác nhau giữa các quan điểm (Plato, Hitler, Lenin)
o Quan điểm cơ chế về Chính phủ: (mechanistic view of government)
Chính phủ không là một bộ phận tổ chức của xã hội Hơn thế, chính phủ là một sự sắp xếp đượctạo ra bởi những cá nhân để thuận lợi hơn trong việc đạt đến những mục tiêu cá nhân của họ Cánhân là trung tâm thay vì tập thể
Theo quan điểm này, đa số cho rằng mỗi cá nhân có cuộc sống tốt hơn khi họ được chính phủ bảo
vệ khỏi các cuộc bạo động Để làm điều này, chính phủ phải được độc quyền về quyền lực cưỡngbức
Tuy nhiên, chức năng của chính phủ cũng cần có những giới hạn nhất định để tránh tình trạng cónhiều thành viên chính phủ trở thành áp bức mà thiếu tính khách quan Do đó, trong quan điểmnày còn chia ra 2 quan điểm gần như đối lập nhau:
+ Những người theo Chủ nghĩa tự do thì tin vào quyền lực có giới hạn của Chính phủ, họ lập
luận để chống lại bất kì vai trò nào của Chính phủ trong nền kinh tế Họ hoài nghi rất nhiều vào khảnăng cải tạo phúc lợi xã hội của Chính phủ
+ Những người theo Quan điểm xã hội dân chủ thì tin rằng sự can thiệp của Chính phủ có giá
trị thực sự đối với lợi ích của mỗi cá nhân Nhưng sự can thiệp này có thể được thực hiện dướinhiều hình thức khác nhau như sự đảm bảo an toàn nơi làm việc, luật cấm phân biệt chủng tộc, sựphân biệt giới tính trong việc cấp nhà ở và những trợ cấp phúc lợi khác
Giữa quan điểm của những người theo chủ nghĩa tự do và những người theo chủ nghĩa dân chủ
xã hội là phạm vi thích hợp đối với sự can thiệp của Chính phủ
• Quy mô chính phủ:
Những thước đo chung về quy mô của Chính phủ như sử dụng nhân viên, chi phí, thunhập….đều có những thiếu sót Một cách tiếp cận phổ biến là xác định quy mô cả chính phủ bằngmức độ chi tiêu hàng năm của chính phủ, được chia ra làm 3 loại cơ bản:
- Chi tiêu về mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ: chính phủ mua nhiều loại hàng
hóa, dịch vụ khác nhau, mọi thứ từ tên lửa tới những dịch vụ như canh gác, bảo vệ rừng
- Các khoản chuyển nhượng thu nhập cho người dân, cho các hoạt đông kình doanh hoặc cho các chính phủ khác: chính phủ lấy thu nhập từ các cá nhân, tổ chức kinh tế cấp cho
những người khác
- Trả lãi vay: trong hoạt động của mình, chính phủ thường phải đi vay Do đó, như những
người đi vay khác, chính phủ phải trả 1 khoản lãi vay Khi chi tiêu của Chính phủ tăng, chi phí nàytăng và ngược lại
Trang 3Chúng ta không thể nào tổng kết lại thành một con số đơn giản về quy mô tác động của chínhphủ đối với nền kinh tế Do đó, hầu hết các nhà kinh tế thường chấp nhân xác định chi tiêu củaChính phủ như 1 phép gần đúng nhưng là 1 số đo hữu ích.
• Bình luận và so sánh chi tiêu cp Hoa Kỳ và cp Việt Nam
o Chi tiêu của Chính phủ Hoa Kỳ (1965-1999) :
- Chi phí quốc phòng là 1 thành phần quan trọng trong tổng chi tiêu của Liên bang nhưng nólại giảm đi nhiều qua các giai đoạn
- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người cao tuổi và các hoạt động phúc lợi xã hội tăngđáng kể
- Các khoản lãi vay phải trả cũng tăng gấp đôi (so số liệu năm 1999 với năm 1965) để tươngxứng với những chi tiêu của liên bang từ năm 1965
o Chi tiêu của Chính phủ Việt Nam (giai đoạn 2000-2002)
- Chi tiêu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng chiếm tỉ lệ cao (40% tổng chi tiêu công trong nhữngnăm qua) vì VN là 1 quốc gia đang phát triển, có quy mô thu nhập quốc dân dân thấp
- Trong tổng chi cho phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội, thì khoản chi tiêu cho giáo dục – đàotạo, chi lương hưu và đảm bảo xã hội chiếm tỷ trọng cao nhất
o Sự khác biệt giữa chi tiêu của cp KH và cp VN
Chương II
CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH THỰC CHỨNGNắm các hiệu ứng tác động của thuế lên cung lao động
Thuế suất biên tế của thuế thu nhập: số phần trăm của 1 đồng thu nhập sau cùng của người
đóng thuế đóng cho người thu thuế
Khi có đánh thuế sẽ xảy ra cùng lúc 2 hiệu ứng, đó là hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập:
Hiệu ứng thay thế: thuế suất làm tiền công ròng giảm xuống nên việc nghỉ ngơi sẽ rẻ hơn nên
người ta có khuynh hướng tiêu dùng việc nghỉ ngơi nhiều hơn, làm việc ít đi
Hiệu ứng thu nhập: với giả sử là con người luôn làm việc một số giờ nhất định dù ở mức thuế
suất nào và nghỉ ngơi là hàng hóa bình thường (tức tiêu dùng tăng lên khi thu nhập tăng và ngượclại) Thuế suất làm thu nhập con người giảm đi nên sẽ tiêu dùng cho nghỉ ngơi ít hơn, đồng nghĩa
Trang 4với làm việc nhiều hơn Thuế suất làm con người nghèo đi nên thuế suất sẽ thúc đẩy người ta làmviệc nhiều hơn
Nắm các phương pháp phân tích thực chứng được áp dụng trong tài chính công (nắm bản chất và ưu nhược điểm của mỗi phương pháp)
Các phương pháp phân tích thực chứng cố gắng đo lường hướng và mức độ ảnh hưởng của sựthay đổi chính sách của chính phủ đối với hành vi Gồm các pp chủ yếu được sử dụng trongnghiên cứu tài chính công sau:
- Phỏng vấn: là hỏi trực tiếp các đối tượng về việc các chính sách ảnh hưởng lên hành vi của họ như thế nào Ưu điểm: dễ và ít tốn kém nhất Nhược: đối tượng phỏng vấn có thể không phản
ưng với chính sách như họ nói do trạng thái tâm lý, trình độ hiểu biết cũng như hoàn cảnh phỏngvấn của người được phỏng vấn
- Thực nghiệm
+ thực nghiệm xã hội: đưa một nhóm người thành đối tượng của một chính sách nào đó
và so sánh hành vi của họ với nhóm đối tượng kiểm chứng Ưu: phương pháp hứa hẹn để hiểu về các hành vi kinh tế Nhược: không có khả năng thực hiện những thí nghiệm có kiểm chứng đối với
nền kinh tế.Tốn nhiều chi phí Trong thực nghiệm xã hội, thực sự không thể duy trì được mẫu ngẫunhiên cho dù mẫu ban đầu có thể là ngẫu nhiên, trong khi các mẫu đòi hỏi trong nghiên cứu phảithực sự ngẫu nhiên
+ thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: Một số dạng hành vi kinh tế cũng có thể thực
hiện trong môi trường của phòng thí nghiệm, đây là 1 cách tiếp cận thường được các nhà tâm lý
sử dụng Ví dụ: Một nhà nghiên cứu có thể bắt đầu bằng cách lưu ý theo lý thuyết cung lao động, yếu tố chủ chốt là tiền lương ròng Một chiến lược thực nghiệm có thể là đề nghị các đối tượng các mức thưởng khác nhau liên quan đến việc hoàn thành các công việc khác nhau và ghi nhận xem
sự cố gắng biến động với tiền thưởng là như thế nào PP này phổ biến trong các năm gần đây Ưu:
rẻ và linh hoạt hơn thực nghiệm xã hội Nhược: thực nghiệm trong phòng thí nghiệm cũng mang 1
số nhược điểm của thực nghiệm xã hội Môi trường mà hành vi kinh tế được quan sát là nhân tạo
- Nghiên cứu kinh tế lượng: Kinh tế lượng là phân tích thống kê các số liệu kinh tế Ưu: đánh giá được mức độ quan trọng của sự kiện đã xảy ra Nhược: các kết quả sai hoặc trái ngược có thể
xảy ra nếu dữ liệu từ những đối tượng rất khác nhau được kết hợp lại, nếu các biến số quantrọng bị bỏ qua, nếu áp dụng một công thức toán học sai, nếu giữa các biến số đo đạc sai hoặcnếu có mối quan hệ nhân quả đồng thời giữa các biến số
Chương III
CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH QUY CHUẨNNắm vững định lý nền tảng thứ nhất của kinh tế học phúc lợi và điều kiện cho hiệu quả Pareto – Nêu các giả định, chứng minh bằng công thức và phát biểu định lý
- Hiệu quả Pareto
Định nghĩa
Trang 5Hiệu quả Paretto là sự phân phối mà tại đó cách duy nhất để làm cho 1 người sung túc hơn là làmcho người khác thiệt hại đi.
Điều kiện để đạt hiệu quả pareto
- Điều kiện hiệu quả phân phối (tiêu dùng)
Hiệu quả phân phối đạt được khi và chỉ khi tỷ lệ thay thế biên giữa 2 loại hàng hoá (X,Y) của các
cá nhân (A,B) bằng nhau
MRSA
XY = MRSB
XYVới:
Tỉ lệ thay thế biên tế MRS: là giá trị tuyệt đối độ đốc của đường bàng quang
Do đó: để 1 phân phối là hiệu quả Paretto thì nó phải là điểm mà tại đó các đường bang quangtiếp xúc nhau (nghĩa là độ dốc của các đường bang quang là như nhau)
- Điều kiện hiệu quả sản xuất
Hiệu quả trong sản xuất đạt được khi và chỉ khi tỷ lệ chuyển đổi biên tế giữa 2 nguồn lực (X,Y) củacác ngành (A,B) bằng nhau
MRTA
XY = MRTB
XYVới:
Tỉ lệ chuyển đổi biện tế MRT là giá trị tuyệt đối của độ dốc đường khả năng sản xuất
Đường khả năng sản xuất là đường cho thấy số lượng một hàng hóa X có thể được sảnxuất với bất kì số lượng hàng hóa Y cho trước nào
MRT có thể biểu diễn dưới dạng chi phí biên tế - là chí phí gia tăng để sản xuất thêm mộtđơn vị sản phẩm đẩu ra
) tan
(
) tan
(
gthemsxhhY chiphi
MC
gthemsxhhX chiphi
MC MRT
Y
X
- Điều kiện hiệu quả hỗn hợp
Hiệu quả hỗn hợp đạt được khi và chỉ khi tỷ lệ chuyển đổi biên giữa 2 hàng hoá bằng tỷ lệ thay thếbiên của các cá nhân
Trang 6+ Tất cả các nhà sản xuất và người tiêu dùng đều hành động như những người cạnh tranh hoànhảo, nghĩa là không ai có được sức mạnh thị trường.
+ Một thị trường tồn tại cho mỗi loại và tất cả các hàng hóa
Phát biểu định lý:
Định lý nền tảng thứ nhất của Kinh tế học phúc lợi phát biểu rằng: với các giả định trên sẽ xuấthiện 1 phân bổ hiệu quả Paretto Cụ thể là, thị trường cạnh tranh hoạt động hoàn hảo dẫn đến một
số phân bổ trên đường cong khả năng hữu dụng
Ngay cả khi nền kinh tế tạo ra một phân phối các nguồn lực Hiệu quả Pareto, vẫn cần đến sự canthiệp của Chính phủ để thực hiện phân phối hữu dụng “công bằng”
Chứng minh bằng công thức:
- Xét về phía tiêu dùng:
Xét 1 nền kinh tế giản đơn gồm 2 người tiêu dùng A và B, tiêu dùng 2 loại hàng hóa X và Y đượccung cấp với lương cung cố định
Do giả định thứ nhất nên A và B cùng mua X và Y với mức giá như nhau lần lượt là PX, PY
Từ lý thuyết lựa chọn tiêu dùng, A sẽ tối đa hóa hữu dụng khi:
Trang 7Đồng thời, ta có:
MRTxy =
y
x MC MC
Suy ra: MRTxy =
y
x P P
Từ (1), (2) và (4) ta có: MRTXY = MRSA
XY = MRSB
XYĐây là điều kiện cần cho hiệu quả Pareto Cạnh tranh, cùng với hành vi tối đa hóa của các cá nhândẫn đến sự hiệu quả
Cuối cùng, ta có thể sử dụng (3) và (1) hoặc (2) để viết lại điều kiện cho hiệu quả Pareto dướidạng chi phí biên tế như sau:
y
x y
x MC
MC P
P
=
Hiệu quả Pareto đòi hỏi các mức giá có cùng tỷ lệ với chi phí biên tế và cạnh tranh đảm bảo thỏa mãn điều kiện này Đẳng thức này cho thấy tính hiệu quả đòi hỏi rằng chi phí gia tăng của mỗi loại hàng hóa được thể hiện trong giá của nó
Định lý nền tảng thứ hai của kinh tế học phúc lợi và lý giải tại sao lại có sự can thiệp của Chính phủ
• Định lý nền tảng thứ hai của Kinh tế học phúc lợi:
Cộng đồng có thể đạt được bất kì phân bổ nguồn lực hiệu quả Paretto bằng cách phân bổ mộtcách phù hợp sự trợ giúp ban đầu và sau đó để mọi người tự trao đổi với nhau theo mô hình hôpEdgeworth Nói chung, bằng cách phân phối lại thu nhập một cách phù hợp, sau đó không canthiệp và để cho các thị trường hoạt động, chính phủ có thể đạt được bất kì điểm nào trên đườngkhả năng hữu dụng
Ý nghĩa của định lí này:
- Ít nhất trên lí thuyết, các vấn đề hiệu quả và tính công bằng trong phân phối có thể tách rời nhau
ra
- Nếu cộng đồng xác định rằng sự phân phối nguồn lực hiện hành là không công bằng, thì cũngkhông cần can thiệp vào giá thị trường và phá vỡ tính hiệu quả Thay vào đó, cộng đồng chỉ cầnchuyển giao các nguồn lực giữa các thành viên bằng cách nào đó được cho là công bằng
- Nếu các giả định của Định lí thứ nhất bị phá vỡ thì phân phối nguồn lực của thị trường tự do sẽkhông hiệu quả cũng như là không công bằng Điều này được giải quyết bởi định lí thứ 2
• Lý giải có sự can thiệp của Chính phủ
Trang 8- Vẫn cần sự can thiệp của Chính phủ để thực hiện phân phối hữu dụng công bằng dù đã đạt được phân phối hiệu quả Pareto Tuy nhiên, CP không nên can thiệp trực tiếp vào giá cả thị trường và tính hiệu quả của thị trường mà chỉ nên can thiệp gián tiếp nhằm phân phối lại thu nhập ban đầu một cách phù hợp, và sau đó để cho thị trường hoạt động.
- Trong thực tế không phải lúc nào cũng có cạnh tranh hoàn hảo (vấn đề sức mạnh thị trường) và không phải tất cả mọi thị trường đều có thể tồn tại hay còn gọi là thất bại thị trường Thất bại thị trường là cơ sở để CP can thiệp vào nền kinh tế Tuy nhiên, CP chỉ nên can thiệp trong các trườnghợp mà sự can thiệp này dẫn đến hiệu quả cao hơn
- Chương IV
HÀNG HÓA CÔNG VÀ CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦNắm vững định nghĩa về hàng hóa công thuần túy, các tính chất của hàng hóa công
• Định nghĩa hàng hóa công thuần túy:
- Khi hàng hóa công thuần túy được cung cấp, chi phí nguồn lực bổ sung của người khác để được
hưởng hàng hóa này là bằng không – sự tiêu thụ là không cạnh tranh.
- Ngăn cản người khác sử dụng hàng hóa này là rất tốn kém hay hoàn toàn không thực hiện được –
sự tiêu thụ là không loại trừ.
• Các tính chất của hàng hóa công:
- Mặc dù mọi người tiêu thụ cùng một lượng hàng hóa, sự tiêu thụ này không nhất thiết được đánh giá ngang bằng nhau cho tất cả Người ta có thể có quan điểm rất khác nhau về việc cho giá trị
của một loại hàng hóa dịch vụ công là tích cực hay tiêu cực (giá trị dương hay âm) Ví dụ: dịch vụlau rửa vệ sinh ở kí túc xá
- Sự phân loại hàng hóa công là không mang tính chất tuyệt đối, nó phụ thuộc vào các điều kiện thị trường và tình trạng công nghệ Ví dụ: ngọn đèn hải đăng phát sáng, chỉ những con tàu được
trang bị thiết bị riêng thì mới nhận được tín hiệu từ hải đăng
- Có thể xét tính công cộng của hàng hóa theo từng mức độ Sự tiêu thụ của hàng hóa công không thuần túy là có sự mở rộng của tính cạnh tranh và tính loại trừ Trong thực tế không có nhiều ví dụ
của hàng hóa công thuần túy Tuy nhiên, phân tích hàng hóa công thuần túy vẫn mang lại ý nghĩaquan trọng đối với từng hoạt động của thị trường hiện tại Việc phân tích hàng hóa công thuần túygiúp ta hiểu được những vấn đề phải giải quyết đối với những người hoạch định chính sách côngcộng
- Một hàng hóa thỏa mãn một phần định nghĩa hàng hóa công vẫn được xem là hàng hóa công.
Nghĩa là tính loại trừ và tính cạnh tranh không nhất thiết phải đi cùng với nhau Ví dụ: Sự thưởngthức quang cảnh ở bờ biển là không có sự cạnh tranh trong tiêu thụ và bình thường thì không cótính loại trừ, nhưng nếu chỉ có 1 vài con đường dẫn vào bờ biển thì có tính loại trừ
- Có nhiều thứ không được quy ước như hàng hóa nhưng lại có tính chất của hàng hóa công Ví dụ:
Trang 9nhãn hiệu tư nhân hay công cộng tự chúng không cho chúng ta biết được khu vực nào cung cấp.
• Điều kiện cung cấp hàng hóa công hiệu quả:
Giả sử Adam và Eva cùng thích xem biểu diễn pháo hoa Sự thưởng thức pháo hoa của Evakhông làm giảm thưởng thức của Adam và ngược lại Và cũng không loại trừ bất kỳ người nào rakhỏi buổi trình diễn pháo hoa Do vậy, buổi trình diễn pháo hoa là hàng hóa công
Sự tiêu thụ pháo hoa của Adam (r) được tính trên trục hoành và giá của pháo hoa () theo trụctung Đường cầu của Adam đối với pháo hoa là
Tương tự, đường cầu của Eva đối với pháo hoa là
6
r mỗi năm
Loại dịch vụ được tạo ra từ buổi trình diễn pháo hoa là hàng hóa công nên phải tiêu dùng với
số lượng ngang bằng Để tìm tổng thiện chí sẵn sàng chi trả, ta cộng mỗi mức giá mà mỗi người
20 2020
20
r mỗi năm
r mỗi năm
44
2
610
45
Trang 10Thiện chí chi trả cho mỗi quả pháo của Adam là tỷ lệ thay thế biên tế (), thiện chí chi trả chomỗi quả pháo của Eva là tỷ lệ thay thế biên tế ().
Tổng mức giá mà hai người sẵn sàng chi trả là +
Trên quan điểm người sản xuất, giá vẫn thể hiện tỷ lệ chuyển đổi biên tế
Cân bằng được xác định theo điều kiện:
1 f lá nho mỗi năm 2 f lá nho mỗi năm 3 f lá nho mỗi năm
Đối với hàng hóa công, mọi người tiêu dùng cùng một lượng hàng hóa nhưng người ta có thể cóMRS khác nhau Do đó, để tìm tổng thiện chí cả nhóm sẵn sàng chi trả, ta cộng theo chiều dọc cácđường cầu
(hình vẽ)
Về mặt công thức:
Đối với hàng hóa tư nhân, tính hiệu quả đòi hỏi rằng mọi người có cùng tỷ lệ thay thế biên tế vàbằng tỷ lệ chuyển đổi biên tế
Trang 11= = Đối với hàng hóa công thuần túy, tổng tỷ lệ thay thế biên tế bằng tỷ lệ chuyển đổi biên tế.
+ =
Đọc kỹ và phân tích giáo dục có phải là hàng hóa công hay không Giải thích tại sao Chính phủ lại tham gia tích cực vào sự nghiệp giáo dục chứ không để cho thị trường cung cấp Kinh nghiệm nào về chi tiêu giáo dục ở Mỹ có thể học tập qua bài học này
• Giáo dục có phải là hàng hóa công hay không?
Giáo dục theo một nghĩa nào đó mang tính chất công, tuy nhiên xét trên phương diện sử dụngthì mức phí cho giáo dục không hoàn toàn do nhà nước trợ cấp mà còn có đóng góp của nhữnghọc viên Nghĩa là nó có tính cạnh tranh Đồng thời, với mỗi trường học sẽ có giới hạn về số lượngcho nên không phải toàn bộ mọi người đều có thể tham gia vào cùng 1 trường hay một khóa học,
có nghĩ là nó có tính loại trừ Do vây, giáo dục là hàng hóa tư mang tính chất công
• Chính phủ phải tham giá tích cực vào sự nghiệp giáo dục và không để cho thị trường cung cấp vì:
o tính hiệu quả kinh tế:
Giáo dục là hàng hóa công làm tăng phúc lợi của sinh viên bằng cách tăng khẳ năngtạo ra thu nhập của họ hay tổng thể hơn là tăng khả năng quan hệ với cuộc sống
Khi chi phí đi lại cao thì các trường học địa phương có một ít yếu tố độc quyền, đặcbiệt là ở vùng sâu
Các trường học có thể là nguồn sức mạnh đối với sự xã hội hóa Giáo dục cung cấpcon đường để truyền bá các chính sách làm cho các công dân chấp nhận chính phủcủa họ và từ đó đóng góp cho sự ổn định chính trị của xã hội
o tính công bằng:
Giáo dục công cộng tạo ra vốn con người đồng thời khắc sâu ghi nhớ niềm tin vào
hệ thống chính trị hiện hành Do đó, chính phủ không những cung cấp giáo dục màcòn tạo ra giáo dục
Nếu để cho thị trường cung cấp giáo dục mà không có sự tham giá tích cực của nhànước thì sẽ xảy ra tình trạng có người có năng lực nhưng không có đủ điều kiện để
đi học Do đó, xã hội sẽ bị tổn thất to lớn do không sử dụng được chất xám củanhững người này Vì vậy, để tạo ra sự công bằng trong lĩnh vực giáo dục, nhà nước
có trách nhiệm cung cấp loại hàng hóa này cho xã hội đến một mức nhất định nàođó
• Kinh nghiệm rút ra từ chi tiêu giáo dục ở Mỹ:
Các trường học sẽ khá hơn nếu buộc phải cạnh tranh với nhau để thu hút sinh viên Cáctrường công sẽ hoạt động theo hiến chương, hiến chương này sẽ đảm bảo giữ các trường hoạtđộng theo tiêu chuẩn Quốc gian, nhưng đồng thời được tự do trong các thử nghiệm và được độclập trong các quyết định chi tiêu và thuê mướn nhân lực
Kế hoạch nâng cao chất lượng trường công bằng cách tạo điều kiện cho các trường cạnhtranh với nhau Người nhận trợ cấp (sinh viên, gia đình sv) được gia tăng giới hạn lựa chọntrường học thông qua hệ thống hóa đơn trợ cấp Với phương pháp này, các hỗ trợ tài chính được
Trang 12Q mỗi năm
MPC
MD MB
MSC = MPC + MD
cung cấp trực tiếp cho sinh viên chứ không cho các trường học Mỗi sinh viên được cấp cho mộthóa đơn trả học phí có thể trang trải cho các trường học chất lượng mà gia đình của sinh viênthích nhất Các trường học tồi sẽ có ít học viên tham gia và buộc phải đóng cửa, đồng thời cácthầy cô giáo chưa đủ chuyên môn sẽ bị ra khỏi trường học
Chương V
NGOẠI TÁC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦKhái niệm và định nghĩa về ngoại tác Mô tả đồ thị ngoại tác, tính chất của ngoại tác
• Định nghĩa ngoại tác:
Khi hoạt động của một chủ thể (một cá nhân hay công ty) tác động trực tiếp lên phúc lợi củacác chủ thể khác bằng những cơ chế nằm ngoài thị trường, tác động này được gọi là ngoại tác
• Mô tả đồ thị ngoại tác:
Giả sử anh Bart đang điều hành một nhà máy và thải chất bẩn vào một con sông (không có ai
là chủ sở hữu) Cô Lisa sống bằng nghề đánh bắt cá trên sông Hoạt động của anh Bart trực tiếplàm cho cô Lisa thiệt hại chứ không phải từ sự thay đổi giá cả nguồn nước sạch cũng là yếu tốđầu vào của quá trình sản xuất của nhà máy
Trục hoành thể hiện quy mô đầu ra Q do nhà máy anh Bart sản xuất, trục tung đo số tiền bằngđôla
Đường MB cho thấy lợi ích biên tế của anh Bart đối với mỗi mức sản xuất đầu ra (lợi ích biên
tế giảm dần khi sản phẩm đầu ra tăng)
MPC là chi phí tư nhân biên tế, tăng cùng với sản lượng đầu ra.
MD là thiệt hại biên tế của chị Lisa do ô nhiễm với mỗi mức sản xuất đầu ra.
$
Anh Bart quyết định sản xuất khi lợi ích biên tế vượt quá chi phí biên tế đối với anh ta Có nghĩa là
anh Bart sản xuất toàn bộ mức sản lượng của mình để MB vượt quá MPC nhưng sẽ không sản xuất khi MPC vượt quá MB Do đó, anh ta sản xuất đến mức là nơi MPC cắt MB.
Chi phí biên tế đối với xã hội: MSC = MPC + MD.
Trang 13MSC = MPC + MD
0
MPC
MD MB
Q mỗi năm
Tính hiệu quả từ quan điểm xã hội đòi hỏi chỉ sản xuất các đơn vị sản phẩm đầu ra mà MB lớn hơn MSC Do đó, đầu ra nên là , là nơi MSC cắt MB.
Khi sản xuất đầu ra cắt giảm từ xuống , anh Bart sẽ mất đi lợi nhuận, đó là khoảng cách giữa
MB và MPC đối với mỗi đơn vị sản phẩm bị cắt giảm Đây là diện tích hình dgc Chị Lisa thu được
lợi ích là bằng số lượng thiệt hại biên tế liên quan đến mỗi đơn vị sản phẩm đầu ra, là khoảng cách
thẳng đứng giữa MD và trục hoành, đó là diện tích hình abfe.
Mặt khác, diện tích abfe bằng diện tích cdgh (khoảng cách thẳng đứng giữa MSC và MPC là MD).
Do vậy, xã hội sẽ thu được khoản lợi thuần bằng hiệu số giữa cdgh và dcg, là diện tích dhg
• Tính chất của ngoại tác:
Khi có ai đó là chủ sở hữu nguồn lực, giá của nguồn lực thể hiện giá trị của những sử dụngthay thế khác của nó Do đó, nguồn lực được sử dụng hiệu quả Ngược lại, nguồn lực có sở hữuchung sẽ bị lạm dụng do không ai có động cơ tiết kiệm trong việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực
- Ngoại tác có thể được tạo ra bởi người tiêu dùng cũng như các công ty
- Ngoại tác có bản chất tương hỗ Điều này còn phụ thuộc vào chi phí của các phương án thay thế
sử dụng của mỗi hoạt động
- Ngoại tác có thể là tích cực
- Hàng hóa công có thể xem như một dạng đặc biệt của ngoại tác Khi một cá nhân tạo ra một ngoạitác tích cực với tác động hoàn toàn lên mọi thành viên trong nền kinh tế, ngoại tác là hàng hóacông thuần túy
Nắm định lý Coase, mô tả đồ thị, nêu các giả định và phát biểu định lý, các ứng xử tư nhân đối với ngoại tác qua định lý Coase
• Mô tả đồ thị:
Giả sử quyền sở hữu dòng sông được chỉ định cho anh Bart Việc chị Lisa và anh Bart mặc cảthương lượng với nhau là không tốn kém là mức sản lượng hiệu quả
$
Trang 14Anh Bart sẽ sẵn sàng không sản xuất một số đơn vị sản phẩm đầu ra chỉ khi nào nhận được
khoản tiền lớn hơn khoản thu gia tăng thuần từ sản xuất đơn vị sản phẩm đó: (MB – MPC)
Mặt khác, chị Lisa sẵn sàng chi trả cho anh Bart để anh này không sản xuất số đơn vị sản
phẩm khi khoản chi trả này bé hơn thiệt hại biên tế đối với chị: MD
Do đó, cuộc thương lượng xảy ra khi MD > (MB – MPC).
Phía bên phải của , tại mọi mức sản xuất đầu ra: (MB – MPC)0 và MD>0 => MD > (MB – MPC) Đây là phạm vi của cuộc thương lượng.
Từ bên trái của , tại mọi mức sản xuất đầu ra MD < (MB – MPC).Ở đây không xảy ra cuộc
thương lượng
Do đó, là mức sản xuất hiệu quả Bất kể lợi ích của cuộc thương lượng được chia sẻ như thếnào thì sản xuất sẽ dừng lại ở
Giả sử ngược lại là chị Lisa được giao quyền sở hữu dòng nước Chị Lisa sẽ chấp nhận một
mức ô nhiễm mà khoản tiền nhận được lớn hơn thiệt hại biên tế (MD), anh Bart sẵn sàng chi ra khoản tiền nhỏ hơn giá trị (MB – MPC) Tương tự, cả hai bên cùng có động lực đạt đến thỏa thuận
chị Lisa bán cho anh Bart quyền được sản xuất tại
• Các giả định:
- Chi phí để thương lượng đối với cả hai bên là thấp, hoặc bằng 0
- Chủ sở hữu của các nguồn lực có thể xác định nguồn gây thiệt hại cho tài sản của họ và cóthể ngăn chặn một cách hợp pháp
• Các ứng xử tư nhân đối với ngoại tác:
Với sự hiện diện của ngoại tác, vấn đề phân bố nguồn lực không hiệu quả sẽ nổi lên nếukhông có biện pháp tác động Trong các trường hợp trong đó, các cá nhân - khi hoạt động dựatrên quyền lợi của mình - có thể tránh được ngoại tác xảy ra bằng cách:
- Mặc cả thương lượng (như phân tích ở trên)
- Nội bộ hoá bằng cách kết hợp lại các bên liên quan Như ví dụ ở trên, nếu Bart và Lisa cùngkết hợp hoạt động của họ lại thì lợi nhuận từ doanh nghiệp liên kết của hai người sẽ cao hơn tổnglợi nhuận của từng cá nhân khi họ không có sự kết hợp
Trình bày mô hình thuế và trợ cấp Pigou trong trường hợp ngoại tác tiêu cực, nắm định nghĩa, mô tả đồ thị, xác định thuế/trợ cấp bằng đồ thị
• Định nghĩa thuế Pigou:
Thuế Pigou là loại thuế áp lên mỗi đơn vị sản xuất đầu ra của người gây ô nhiễm với quy môbằng thiệt hại biên tế mà nó tạo ra tại mức sản xuất đầu ra hiệu quả
• Mô tả đồ thị
Trang 15MB MD
MPC
MPC + cd MSC = MPC + MD
j
c
Q mỗi năm Tổng số thu thuế Pigou
0
Q mỗi năm MB MD
MPC MPC + cd MSC = MPC + MD
k d Trợ cấp Pigou
h
f c
Trước thuế, mức hiệu quả là , là giao điểm của MPC và MB Tại đó, người sản xuất tối đa hóa
được lợi nhuận
Thiệt hại biên tế tại mức sản xuất đầu ra hiệu quả là khoảng cd Đây là thuế Pigou.
$
Nếu anh Bart bị áp dụng thuế trên mỗi đơn vị sản xuất đầu ra, đồ thị chi phí biên tế của anh
Bart được xác định bằng cách cộng thêm cd vào MPC tại mỗi mức sản xuất đầu ra Thuế làm tăng
chi phí biên tế hiệu quả của anh Bart, đối với mỗi đơn vị sản phẩm, anh ta phải chi trả cho các nhà
cung cấp đầu vào (đo bằng MPC) và cho người thu thuế (đo bằng cd) Do đó, MPC dịch chuyển lên thẳng đứng một khoảng bằng cd Khi đó, mức sản lượng đầu ra hiệu quả là (điểm giao nhau giữa MB và MPC + cd).
Với mức sản lượng là , thuế cd đôla trên một đơn vị sản xuất đầu ra, tổng số thuế thu được là
Trang 16Nghiên cứu mỗi năm
b a
MC
MSB = MEB + MPB MPB
MEB
Tại : + Lợi ích biên tế tại mức sản xuất là ge – khoảng cách giữa MB và trục hoành.
+ Chi phí biên tế là ek tổng số tiền người sản xuất trả cho các đầu vào (MPC) và khoản trợ cấp cd để từ bỏ sản xuất.
Khi đó chi phí biên tế vượt quá lợi ích biên tế (ek > ge) thì việc sản xuất thêm một đơn vị sản
phẩm cuối cùng không có ý nghĩa lợi ích, thay vào đó là người sản xuất có thế ngưng sản xuất vànhận trợ cấp Do đó, người sản xuất giảm sản lượng từ đến Tất cả các mức đầu ra bên phải của, tổng chi phí biên tế tư nhân và trợ cấp là lơn hơn lợi ích biên tế
Tại tất cả các điểm bên trái , tổng chi phí cơ hội MPC+cd nhỏ hơn lợi ích biên tế Tại đây mang
lại giá trị lớn hơn cho người sản xuất ngay cả khi họ từ bỏ nhận trợ cấp
Do đó, là mức sản xuất đầu ra hiệu quả
Khi người gây ô nhiễm từ bỏ không sản xuất để nhận trợ cấp: ch là đợn vị sản xuất đầu ra với trợ cấp cd trên mỗi đơn vị sản xuất đầu ra đó, thì tổng trợ cấp người sản xuất nhận được là cd*ch (diện tích cdfh).
Ngoại tác tích cực – cho thí dụ ngoại tác tích cực và trình bày mô hình trợ cấp ngoại tác tích cực, phân biệt các chính sách khi có ngoại tác tiêu cực và ngoại tác tích cực
• Ví dụ ngoại tác tích cực và trình bày mô hình trợ cấp ngoại tác tích cực
Giả sử một công ty thực hiện nghiên cứu và phát triển (R&D), đồ thị lợi ích biên tế tư nhân ( MPB)
và chi phí biên tế (MC)
$
Trang 17Công ty chọn mức hoạt động tại , là nơi MC = MPB.
Giả sử rằng R&D làm cho các công ty khác sản xuất được sản phẩm rẻ hơn, và các công tynày không trả tiền cho việc sử dụng thành tựu nghiên cứu khoa học
Khi đó, lợi ích biên tế đối với các công ty khác cho mỗi lượng nghiên cứu là MEB (lợi ích biên
tế ngoại vi) Lợi ích biên tế xã hội của nghiên cứu là tổng của MPB và MEB, thể hiện là MSB.
Tính hiệu quả đòi hỏi chi phí biên tế và lợi ích biên tế xã hội phải bằng nhau, điều này xảy ra tại Do vậy R&D được cung cấp ít hơn cần thiết Nếu công ty muốn sản xuất từ đến thì công ty phải
chịu phí tổn ab và công ty bị lỗ Do đó, xã hội phải trợ cấp bằng với lợi ích ngoại vi biên tế tại điểm tối ưu là khoảng cách của ab thì công ty sẽ sản xuất hiệu quả.
Vậy khi một công ty hay cá nhân tạo ra ngoại tác tích cực, thị trường sẽ cung cấp ít hơn (dướimức cần thiết) lượng hàng hóa dịch vụ đang xét, nhưng một khoản trợ cấp phù hợp sẽ cải thiệnđược tình hình
• Phân biệt các chính sách khi có ngoại tác tích cực và ngoại tác tiêu cực:
- Khi có ngoại tác tiêu cực, chính phủ sẽ đánh vào nhà sản xuất hay người gây ô nhiễm một khoảnthuế để giảm ngoại tác, gọi là thuế Pigou; hoặc chính phủ sẽ trợ cấp cho nhà sản xuất để họ giảmsản xuất nhằm giảm thiểu việc gây ô nhiễm, gọi là trợ cấp Pigou
- Khi có ngoại tác tích cực, chính phủ sẽ trợ cấp cho nhà sản xuất để bù đắp sự thiếu hụt sản phẩmtrên thị trường, giúp thị trường hoạt động hiệu quả hơn
Chương VI
PHÂN PHỐI LẠI THU NHẬP: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUAN ĐIỂM.Nêu các giả thuyết và trình bày mô hình phân phối thu nhập tối ưu, vẽ đồ thị và phân tích đồ thị mô hình
• Các giả định mô hình phân phối thu nhập tối ưu
- Các cá nhân có các hàm hữu dụng đồng nhất và các hàm này chỉ phụ thuộc vào thu nhập củahọ
- Các hàm hữu dụng này thể hiện sự phân biệt hữu dụng biên tế của thu nhập – như thu nhậpcủa các cá nhân tăng lên, họ sẽ trở nên sung túc hơn nhưng ở tốc độ giảm dần
- Tổng số thu nhập có thể có được là cố định
• Trình bày mô hình phân phối thu nhập tối ưu
Trang 18Nếu trong xã hội có n thành viên và hữu dụng của thành viên thứ i là , khi đó phúc lợi xã hội W
là một hàm nào đó của các hữu dụng cá nhân:
W = F(, , …, )
Đôi khi hàm này được xem là hàm vị lợi phúc lợi xã hội Giả thiết rằng, tăng lên một nào đó,
các yếu tố khác không đổi thì W sẽ tăng.
Ta xét trường hợp đặc biệt của hàm trên:
W = + + … +
Ở đây phúc lợi xã hội đơn giản là tổng các hữu dụng của các cá nhân Hàm này được xem là hàmcộng vào phúc lợi xã hội
Giả sử mục tiêu của Chính phủ là tối đa hóa giá trị của W và với 3 giả định trên, Chính phủ sẽ
phải phân phối lại thu nhập để đạt được sự bình đẳng hoàn toàn
Để chứng minh nhận định này, ta tiếp tục giả sử xã hội chỉ gồm hai người là Peter và Paul
Khoảng nằm ngang OO’ đo tổng số thu nhập có thể có được trong xã hội Thu nhập của Peter
và Paul được bắt đầu đo lần lượt từ O’ và O.
Hữu dụng biên tế thu nhập của Paul được đo theo đường thẳng đứng, bắt đầu từ điểm O.
Theo giả định 2, hữu dụng biên tế thu nhập của Paul là đường dốc xuống dưới -
Hữu dụng biên tế thu nhập của Peter được đo bằng đường thẳng đứng, bắt đầu từ điểm O’.
Theo giả định 2, hữu dụng biên tế thu nhập của Peter là đường dốc xuống dưới -
Trang 19Vì Paul và Peter có hàm hữu dụng đồng nhất (giả định 1) nên là tấm gương phản chiếu của
Giả sử, thu nhập lúc đầu của Paul là Oa và của Peter là O’a Lấy từ Peter ab đôla và chuyển
cho Paul Điều này sẽ làm cho Peter nghèo đi và Paul sung túc lên
Khi đó, hữu dụng của Paul sẽ tăng lên bằng diện tích abfe và hữu dụng của Peter giảm xuống bằng diện tích abdc Vì diện tích abfe lớn hơn diện tích abdc nên tổng hữu dụng của họ tăng lên bằng (abfe – abdc) và bằng diện tích cefd.
Vậy chừng nào còn bất bình đẳng trong thu nhập thì còn bất bình đẳng trong hữu dụng biên tế
và tổng các hữu dụng có thể được tăng lên qua việc phân phối thu nhập cho người nghèo Chỉ cótại điểm thì ở đó thu nhập và hữu dụng bằng nhau, và phúc lợi được tối đa hóa, sự bình đẳng vềthu nhập được thực hiện
Nêu các hàm liên quan đến thuyết vị lợi xã hội, các quan điểm về phân phối thu nhập
• Các hàm liên quan đến thuyết vị lợi xã hội:
- Hàm vị phúc lợi xã hội: Nếu trong xã hội có n thành viên và hữu dụng của thành viên thứ i là , khi
đó phúc lợi xã hội W là một hàm nào đó của các hữu dụng cá nhân:
W = F(, , …, )
Đôi khi hàm này được xem là hàm vị lợi phúc lợi xã hội Giả thiết rằng, tăng lên một nào đó,
các yếu tố khác không đổi thì W sẽ tăng.
Ta xét trường hợp đặc biệt của hàm trên:
• Các quan điểm về phân phối thu nhập:
- Các quan điểm mang tính vị lợi:
+ quan điểm dựa trên thuyết vị lợi giản đơn ()
+ quan điểm dựa trên tiêu chuẩn tối đa tối thiểu (quản điểm của John Rawl)
+ quan điểm dựa trên phân phối lại thu nhập hiệu quả Pareto
PP lại thu nhập hiệu quả Pareto: Nếu hữu dụng của mỗi cá nhân chỉ phụ thuộc vào thunhập của chính bản thân người đó thì sự phân phối lại sẽ không bao giờ là một sự cải thiện
Trang 20Pareto Tuy nhiên, nếu những nều có thu nhập cao có lòng vị tha (tức hữu dụng của họ khôngchỉ phụ thuộc vào thu nhập của họ mà còn phụ thuộc vào thu nhập của những người nghèo)thì phân phối lại có thể thực sự là sự cải thiện pareto Theo đó, pp lại thu nhập là công bằngnhư hàng hoá công – mọi người nhậ được sự hữu dụng từ việc thu nhập được phân phối mộtcách bình đẳng, nhưng sự ép buộc của chính phủ là cần thiết để đạt được sự phân phối lại.
- Các quan điểm phi chủ nghĩa cá nhân:
+ Plato đã lập luận rằng trong một xã hội tốt, tỷ lệ thu nhập của người giàu so với người nghèophải ở mức cao nhất là 4:1 Quan hệ chặt chẽ với quan điểm này là quan điểm cho rằng bất bìnhđẳng tự thân nó không được mong muốn
+ Tobin đã khuyến nghị rằng chỉ có các hàng hóa đặc biệt là phải được phân phối công bằng.Quan điểm này đôi khi được gọi là chủ nghĩa bình quân hàng hóa
- Một số quan điểm khác:
+ Phân phối thu nhập công bằng được xác định bằng quá trình sinh ra thu nhập Vì thế, nếu quátrình tạo ra thu nhập là công bằng thì không có cơ hội cho sự phân phối lại thu nhập được tài trợbởi chính phủ
+ Một lập luận chống lại chính sách phân phối lại thu nhập của chính phủ là: với sự linh động xãhội hợp lí, việc phân phối lại thu nhập không phải là của một sở thích đạo đức riêng biệt
Nhận diện phạm vi tác động của chi tiêu lên phân phối thu nhập, các chương trình chi tiêu tác động lên phân phối thu nhập như thế nào? Liên hệ với Việt Nam Phạm vi tác động của chi tiêu lên phân phối thu nhập:
- Các tác động liên quan đến giá cả: bất kỳ một chương trình nào của chính phủ làm tăng lên chuỗithay đổi giá cả có tác động đến thu nhập của mọi người ở cả hai chức năng tiêu thụ hàng hóa vàcung ứng các đầu vào
+ Sử dụng chương trình làm tăng giá của loại hàng hóa liên quan mà bạn tiêu dùng nhiều sẽlàm cho bạn bị nghèo đi
+ Một chương trình làm tăng giá có liên quan đến yếu tố mà bạn cung cấp sẽ làm cho bạnsung túc hơn
Sẽ khó để truy tìm tất cả các nguồn gốc của những thay đổi giá cả đó, vì vậy các nhà kinh tếnhìn chung chỉ tập trung vào giá cả trên thị trường có tác động trực tiếp
- Hàng hóa công: chi tiêu quan trọng của chính phủ là dành cho hàng hóa công Thị trường không
ép buộc mọi người phải biểu lộ việc họ lượng giá hàng hóa công là bao nhiêu Tuy nhiên chúng tacũng cần phải biết để xác định được tác động của nó đối với phân phối thu nhập Ở đây, Menchick
đã sử dụng hai giả định khác nhau là: tỷ lệ phần lợi ích của mỗi gia đình là tương ứng với tỷ lệ thunhập của họ, tỷ lệ phần lợi ích của mỗi gia đình là cân đối tỷ lệ với số lượng thành viên trong giađình Kết quả đưa ra là có ảnh hưởng mạnh từ các giả định
- Đánh giá các chuyển nhương hiện vật: nhiều chương trình của chính phủ đã cung cấp các hànghóa và dịch vụ thay vì bằng tiền Những người nhận trợ cấp không được bán lại những hàng hóa
Trang 21420 H
U F
150 210 Số cân Anh pho mát cho 1 tháng
D B
và dịch vụ này một cách hợp pháp Nếu những người được nhận trợ thích tiêu dùng ít hơn, thì giá
trị của chuyển nhượng hiện vật nhỏ hơn giá thị trường
Đánh giá các chuyển nhượng hiện vật bằng đồ thị
Chuyển nhượng hiên vật là một chính sách trợ cấp của chính phủ dành cho người nghèo các
loại tem phiếu thực phẩm, thuốc men và nhà ở công cộng, … thông qua các luật cụ thể Tuy nhiên,
người giàu và trung lưu cũng sẽ được hưởng lợi từ các chuyển nhượng hiện vật
Không giống các hàng hóa công thuần túy, các chuyển nhượng hiện vật không được tất cả mọi
người tiêu thụ Vì vậy, khó ước lượng được giá trị của nó với những người được hưởng Ở đây, ta
đánh giá thông qua việc phân tích chính sách trợ cấp của chính phủ bằng tiền và hiện vật
Xét Jones – một người nhận trợ cấp phúc lợi điển hình, thu nhập hàng tháng là 300 đôla giữa
pho mát và “các loại hàng hóa khác” Giá thị trường của pho mát là $2/1 cân Anh và đơn vị “các
hàng hóa khác” là $1/1 đơn vị Tiêu dùng của Jones đối với pho mát được đo trên trục hoành và
“các hàng hóa khác” được đo trên trục tung Ngân sách giới hạn là AB
Giả sử Jones tối đa hóa hữu dụng và sẽ tiêu dùng gói gồm: 260 đơn vị “cá loại hàng hóa khác”
và 20 cân Anh pho mát
+ TH1: Chính phủ trợ cấp cho Jones 60 cân Anh pho mát mỗi tháng và cô ta bị ngăn cấm
không được bán lại trên thị trường
Trang 22Trước khi có chuyển nhượng: đường ngân sách giới hạn là AB và mức hữu dụng tối đa : 20cân Anh và 260 đơn vị hàng hóa khác.
Khi chính phủ trợ cấp: Jones có thể tiêu thụ 60 cân Anh nhiều hơn trước đây Ngân sách giới
hạn của cô ta chuyển dịch 60 đơn vị về phía phải của mỗi điểm trên đoạn AB, nhận được AFD là đường cong U, tiếp xúc tại F Tại đó, Jones tiêu dùng cao hơn trước: pho mát là 60 và “các hàng
hóa khác” là 300 vì Jones đã dùng số tiền đáng lẽ phải mua pho mát để mua “các hàng hóa khác”nhiều hơn
+ TH2: chính phủ sẽ cho cô tiền ngang bằng giá trị thị trường của 60 cân Anh pho mát là 120đôla (=60 cân Anh x 20 đôla/1 cân Anh) Khi đó đường ngân sách dịch chuyển 120 đơn vị về phía
phải trên đoạn AB là đường HD, chuyển nhượng bằng tiền sẽ cho phép cô ta sẽ sử dụng dài theo đoạn HF.
Jones tối đa hóa hữu dụng tại : 340 “hàng hóa khác” và 40 cân Anh pho mát Do đó:
- Theo chương trình chuyển nhượng bằng tiền, Jones tiêu thụ pho mát ít đi và “các hàng hóa khác”nhiều hơn so với chương trình cấp phát pho mát
- 120 đôla giá trị của pho mát không làm cho Jones sung túc bằng 120 đôla thu nhập bằng tiền,vì
nằm trên đường bang quan cao hơn điểm F.
Vậy chuyển nhượng bằng hiện vật cho mức hữu dụng thấp so với chuyển nhượng bằng tiền
Chương VII:
PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ TRONG ĐẦU TƯ CHI TIÊU CÔNG.
Nắm vững các chỉ tiêu đánh giá chi phí lợi ích trong lựa chọn chính sách chi tiêu công – Trong mỗi trường hợp đưa ra tiêu chuẩn để cho một dự án được thừa nhận Phân tích các hạn chế của từng chỉ tiêu/tiêu chuẩn lựa chọn chính sách chi tiêu công và tiêu chuẩn nào được cho là đáng tin cậy nhất
• Các chỉ tiêu đánh giá lợi ích trong lựa chọn chính sách chi tiêu công:
o Giá trị hiện tại
Gọi:
- B0 và C0 lần lượt là lợi ích và chi phí ban đầu của dự án
- Bi và Ci lần lượt là lợi ích và chi phí của dự án tại năm thứ i (i=1, 2, …,T)
- lợi tức ròng của dự án = Bi - Ci
- r: là tỷ lệ chiết khấu của dự án
Hầu hết các dự án đều có lợi tức ròng phát sinh trong một khoảng thời gian Do đó, giá trị hiện tạicủa dòng lợi tức ròng (PV) là:
Trang 23PV = B0 – C0+ + +……+
Tiêu chuẩn để 1 dự án được thừa nhận:
- 1 dự án chỉ được thừa nhận khi giá trị hiện tại của nó là dương;
- Khi 1 trong 2 dự án đc lựa chọn, dự án được ưa thích hơn là dự án có giá trị hiện tại cao hơn;
Hạn chế:
Phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu Tỷ lệ chiết khấu khác nhau có thể đưa đến những kết luận trái ngượcnhau Theo đó, r càng gần với chi phí cơ hội thực tế của công ty càng tốt
Dù vậy, tiêu chuẩn giá trị hiện tại vẫn đc ưa thích hơn
o Suất sinh lời nội bộ (hay tỷ lệ hòan trả nội bộ) là tỷ lệ chiết khấu sẽ tạo ra giá trị hiện
tại của dự án đúng bằng không
Gọi:
- p: là suất sinh lời nội bộ
- Bi là lợi ích của năm thứ i (i=1T)
- Ci là chi phí của năm thứ i (i=1T)
Khi đó, suất sinh lời nội bộ (p) là:
B0 – C0+ + +……+ = 0
Tiêu chuẩn để 1 dự án được thừa nhận:
- 1 dự án chỉ được thừa nhận khi có suất sinh lời nội bộ vượt quá chi phí cơ hội của vốn;
- Nếu cả 2 dự án loại trừ nhau được thừa nhận thì chọn dự án có suất sinh lời nội bộ cao hơn
Hạn chế:
Suất sinh lời nội bộ p tính đến quy mô của dự án Khi các dự án khác biệt về quy mô thì dựa vào suấtsinh lời nội bộ có thể dẫn đến những quyết định xấu Ví dụ: dự án X có chi phí 100 $ và sinh lợi saumột năm là 110$, do đó p = 10% Dự án Y có chi phí là 1000$ và thu lợi một năm sau là 1080$, nênp=8% Với đk chi phí cơ hội của vốn là 6% Dựa vào SSLNB, X được ưa thích hơn, nhưng thực tế,
Trang 24công ty chỉ tạo ra đc 4$ lợi nhuận nếu theo dự án X, trong khi dự án Y tạo ra 20$ lợi nhuận Do đó,tiêu chuẩn giá trị hiện tại có thể cho câu trả lời chính xác đối với các dự án có quy mô khác nhau.
o Tỷ lệ lợi ích – chi phí:
Gọi:
- B0, B1, B2,… , BT là dòng lợi ích của dự án
- C0, C1, C2,…, CT là dòng chi phí của dự án
Khi đó, giá trị hiện tại của lợi ích là: B = B0 + + +……+
Và hiện giá của dòng chi phí là: C = C0 + + +……+
Tỷ lệ lợi ích – chi phí khi đó là B/C
Tiêu chuẩn để 1 dự án được thừa nhận:
- Một dự án chỉ được thừa nhận khi B/C > 1
Hạn chế:
tiêu chuẩn tỷ lệ lợi ích chi phí đôi khi không có nhìêu ý nghĩa bởi vì luôn có một sự nhập nhằng cốhữu trong việc tính toán tỷ lệ lợi ích và chi phí, lợi ích đc xem là chi phí âm và ngược lại Do đó, chỉcần bằng việc phân loại lợi ích và chi phí một cách chủ quan, ng ta có thể tạo ra một tỷ lệ lợi ích chiphí cao một cách tùy tiện Trong khi tiêu chuẩn giá trị hiện tại lại dựa vào sự khác nhau giữa lợi ích
và chi phí chứ hok phải là tỷ lệ của chúng, do đó có thể tránh đc tình trạng gian lận nêu trên
SSLNN và B/C có thể dẫn tới suy luận sai, và chỉ có tiêu chuẩn giá trị hiện tại là đáng tin cậy nhất
Trình bày phân tích trò chơi chi phí – lợi ích – Nêu thí dụ tình huống và phân tích từng tình huống
• Phân tích trò chơi chi phí lợi ích
Là việc tính toán thêm vào những thay đổi lợi nhuận mà thực sự chỉ là những dịch chuyển (dichuyển từ lĩnh vực/ngành, người này sang lĩnh vực ngành người khác)
Trang 25VD: nếu chính phủ xây dựng một con đg, các lợi ích ban đầu là giảm chi phí giao thông cho các cá
nhân và công ty Cùng lúc đó, lợi nhuận of các khách sạn nhà hàng trạm xăng… sẽ tăng Điều nàydẫn đến tăng lợi nhuận of các ngành công nghiệp địa phương như chế biến thực phẩm, sx khăn trảigiường, dầu khí … Tuy nhiên, việc tính toán này bỏ qua một thực tế là dự án có thể đem lại những
lỗ lã cũng như lợi nhuận Sau khi con đg đc xây xong, lợi nhuận của ngành tàu điện giảm sút dohành khách quay lại sử dụng xe hơi Việc sử dụng xe hơi sẽ làm giá xăng dầu tăng gây thiệt hại cho
ng tiêu thụ xăng dầu Như vậy, tính nhất quán đòi hỏi nếu lợi nhuận thứ hai được tính đến thì nhữngmất mát thứ hai cũng cần đc tính đến
Là việc lập luận rằng một dự án nào đó phải được thực hiện bởi vì nó tạo ra tất thảy việc làm, nghĩa
là tiền công của các công nhân được xem như là lợi ích của dự án Tuy nhiên điều này là vô lý vì tiềncông đc xem là chi phí của dự án chứ không phải lợi ích trong hạch toán
VD: Trong một vài năm trc đây, thượng nghị sĩ bang Califonia, Dianne Feinstein dứt khoát cho rằng
phải thực hiện chương trình bom B-2 chỉ vì nhầm lẫn giữa chữ quỹ lương – payroll và lượng chất
nổ - payload)
Là việc lợi ích của một dự án được tính bằng tổng của giá trị tăng thêm của dự án và hiện giá củadòng tiền phát sinh từ dự án
VD: Chính phủ xem xét dự án tưới tiêu vùng đất hiện tại không htể canh tác đc Lợi ích của dự án
này từng đc Bộ Nội Vụ Hoa Kỳ tính như là tổng số tăng lên về giá trị của đất và giá trị hiện tại củathu nhập ròng từ canh tác đất Vấn đề ở đây là ng nông dân có thể hoặc canh tác trên đất và thu đcdòng thu nhập ròng, hoặc bán đất cho ng khác Do cạnh tranh, giá đất sẽ bằng với hiện giá của dòngthu nhập ròng từ việc canh tác Bởi vì ng nông dân không thể cùng một lúc làm cả hai việc trên nênviệc tính tóan như vậy biểu thị sự tính gấp đôi lợi ích
Đánh giá – đo lường chi phí và lợi ích công, những phương cách đo lường các chi phí và lợi ích của một dự án công, như thế nào là đo theo giá cả thị trường, giá cả thị trường có điều chỉnh, và giá trị vô hình.
Trang 26• Đánh giá đo lường chi phí và lợi ích công
Việc đánh giá lợi ích và chi phí của một dự án công phức tạp hơn nhiều so với dự án tư, vì các lợiích và chi phí xã hội như ngoại tác có thể k đc phản ánh theo giá thị trường
Nếu chính phủ sử dụng đầu vào hoặc sản xuất đầu ra để kinh doanh trên thị trừơng tư nhân thì khi đógiá cả thị trường sẽ đc sử dụng cho việc đánh giá Mặc dù thị trường thế giới thực có nhiều điểmkhông hoàn hảo như độc quyền, ngoại tác… và do đó giá cả k fản ánh đc các lợi ích và chi phí xã hộibiên tế Nhưng giá cả thị trường sẽ cung cấp đầy đủ, đa dạng các thông tin với chi phí thấp nhất, và
do đó nó phải được sử dụng để tính toán các chi phí và lợi ích công
Giá cả của một loại hàng hóa trong thị trường không hoàn hảo nhìn chung k fản ánh chi phí xã hôibiên tế of nó Giá ngầm của loại hh như vậy là thấp hơn chi phí xhội biên tế Tuy nhiên, giá thịtrường vẫn có thể đc sử dụng để ước tính giá ngầm Bởi vì giá ngầm phụ thuộc vào nền kinh tế fảnứng ntn đối với sự can thiệp của chính phủ
hội là chi phí sản xuất biên tế của hàng hóa độc quyền Ngc lại, nếu dự án of c.phủ ko làm thay đổi
SL of ngành độc q` thì chi phí được tính theo mức giá cầu, tức là mức giá mà ng tiêu dùng chấpnhận Hoặc có thể tính chi phí bằng trung bình trọng số của giá và chi phí biên tế
TH2: thuế: khi dự án của chính phủ dự tính sẽ làm gia tăng sản lượng của hàng hóa là đối tượng của
thuế bán hàng thì chi phí đc tính là giá cung ứng của nhà sản xuất Nếu sản lượng dự tính là khôngđổi thì chi phí đc tính theo giá cuả ng tiêu dùng hoặc cũng có thể tính bằng trung bình trọng số giữahai loại giá trên
TH3: thất nghiệp: nếu công nhân cho dự án công đc tuyển từ kv tư thì chi phí cơ hội của công nhân
này là mức tiền lương mà ng này kiếm đc ở khu vực tư Trong trường hợp không có sự đình trệ cơbản của nền kinh tế thì mức tiền công hiện hành đc dùng để đánh giá lao động thất nghiệp
Có những lợi ích và chi phí ko thể tính toán đc, đó là những giá trị vô hình, ví dụ như một trong cáclợi ích của chương trình tàu vũ trụ con thoi là làm tăng uy thế quốc gia… tuy k tính toán được nhưngnhững giá trị vô hình có thể đc xem là quan trọng vì những lý do sau:
Trang 27- Những gtrị vô hình có thể phá vỡ toàn bộ các tính toán lợi ích chi phí những giá trị này là rất lớn và
có thể làm cho bất cứ dự án nào đc thừa nhận
- Các công cụ phân tích chi phí lợi ích đôi khi có thể đc áp dụng để tìm ra những giới hạn trong việcđánh giá các giá trị vô hình như thế nào
- Ngay cả khi không đo lường đc những lợi ích nào đó, ng ta vẫn có những pp lựa chọn để đạt được sựđánh giá Khi ấy, người ta sẽ nghiên cứu về chi phí của các lựa chọn và tìm ra phương án rẻ nhất.Điều này đôi khi đc gọi là phân tích chi phí - hiệu quả
Xem xét cách thức xác định tỷ lệ chiết khấu trong dự án công, sự khác biệt đối với dự án tư
Các dự án công được đầu tư dựa vào các quỹ có nguồn gốc từ tiền thuế của Chính phủ nên tỷ lệ chiếtkhấu của dự án công sẽ là chi phí cơ hội của các khoản thuế này Mỗi loại thuế tác động đến tiêudùng và đầu tư nên có chi phí cơ hội xác định trong mỗi trường hợp như sau:
Khi chính phủ trích tiền từ khu vực đầu tư tư nhân cho 1 dự án công, hành động này sẽ làm giảm đầu
tư từ khu vực tư nhân Do suất sinh lời đo lường chi phí cơ hội của dự án đầu tư của khu vực tư nhânnên tỷ lệ chiết khấu cho dự án công này của chính phủ là suất sinh lời trước thuế trong khu vực tưnhân
Khi chính phủ trích tiền từ khu vực tiêu dùng tư nhân cho 1 dự án công, hành động này sẽ làm tiêudùng bị giảm Do suất sinh lời sau thuế đo cái mà cá nhân mất đi khi tiêu dùng bị giảm, nên số tiềnđược thu từ thuế tác động đến tiêu dùng đầu tư cho dự án công sẽ được chiết khấu theo suất sinh lờisau thuế của khu vực tư nhân
Trong thực tế, mỗi loại thuế có thể tác động khác nhau đến cả tiêu dùng và đầu tư Khi đó, các quỹcho dự án công làm giảm cả tiêu dùng và đầu tư tư nhân nên một giải pháp là sử dụng trọng số bìnhquân của suất sinh lời trc và sau thuế, với trọng số cho suất sinh lời trc thuế bằng tỷ lệ các quỹ hìnhthành từ đầu tư, và trọng số cho suất sinh lời sau thuế là các quỹ hình thành từ tiêu dùng
Song trên thực tế, rất khó xác định tỷ lệ hy sinh của tiêu dùng và đầu tư cho dự án công cũng nhưxác định đc loại thuế tài trợ cho dự án công đó nên cách tiếp cận này là ko hữu hiệu
Trang 28Đo lường các giá trị xã hội về tiêu dùng phải hy sinh trong hiện tại Tỷ lệ chiết khấu xã hội có thểthấp hơn suất sinh lời thị trừơng do các nguyên nhân sau:
Liên quan đến các thế hệ tương lai: các dự án công chăm lo phúc lợi k chỉ cho thế hệ các công dân
hôm nay mà còn cho các thế hệ mai sau Vì vậy, từ quan đỉểm xã hội, cần phải sử dụng một suấtchiết khấu thấp hơn để tiết kiệm cho thế hệ tương lai Trong khi khu vực tư nhân chỉ quan tâm đếnphúc lợi của chính họ nên đã áp dụng một suất chiết khấu quá cao cho các dự án tư nhân
Chủ nghĩa gia trưởng: chính phủ sử dụng suất chiết khấu mà tư nhân sẽ sử dụng nếu họ bít hàng hóa
là sỡ hữu của họ Chính phủ ép buộc cư dân phải tiêu dùng ít hơn ở hiện tại và như thế họ sẽ có đcnhìu lợi tức hơn trong tương lai, tại thời điểm mà có lẽ họ sẽ cảm ơn chính phủ vì sự nhìn xa thấytrc
Sự k hiệu quả of thị trường: việc đầu tư sẽ tạo ra những ngoại tác tích cực, do đó làm cho việc cung
cấp đầu tư của thị trường tư nhân là ít đi Bằng việc áp dụng suất chiết khấu thấp hơn tỷ lệ ck thịtrường, c.phủ có thể chỉnh sửa tính k hịu quả này
• Chiết khấu của chính phủ trong thực tế: chính phủ liên bang sử dụng đa dạng các loại tỷ lệ chiết
khấu phụ thuộc vào cơ quan và dạng dự án
PV=B [x/(1- x) ](3)
Trang 29Theo dữ kiện của đề bài, ta có: x+x2+x3+….=x/(1- x)
Khi các khoản thuế là đến từ khu vực tư nhân thì tỷ lệ chiết khấu xã hội là 10% (lãi suất thị trườngtrước thuế) Khi đó PV=-1000+80/0.1=-200 <0 dự án không đc thừa nhận
với tỷ lệ 60% từ người tiêu dùng và 40% từ khu vực tư nhân thì tỷ lệ chiết khấu sẽ là bình quân trọng
số giữa hai loại lãi suất: r=60%*0.05+40%*0.1=7%
Khi đó PV=-1000+80/0.07=142.85 > 0 dự án đc chấp nhận
c) Giả sử tỷ lệ chiết khấu là 4% => PV=-1000+80/0.04=1000>0 dự án đc thừa nhận
d) Nếu lạm phát tăng 10% cho 10 năm thì cả dòng lợi tức và tỷ lệ chiết khấu đều tăng, theo côngthức có tỷ lệ lạm phát vào là:
PV= B 0 – C 0 + B [x/(1- x) ](3)
Trang 30PV = B0 + + +……+
Nếu lược tử và mẫu ở pt trên ta thấy pt này sẽ giống với pt(1) Như vậy, yếu tố lạm phát 10% khôngtác động đến việc tính toán giá trị hiện tại đã tính ở trên
Chương VIII:
CÁC CHƯƠNG TRÌNH CHI TIÊU CHO NGƯỜI NGHÈO KINH NGHIỆM CỦA HOA KỲ VÀ VIỆT NAM
Trình bày tóm lược các chương trình chi tiêu cho người nghèo tại Hoa Kỳ, nêu tên từng chương trình, bản chất và đối tượng thụ hưởng, mức chi tiêu của mỗi chương trình, có chương trình nào là tốt nhất cho Việt Nam học tập?
AFDC: Chương trình hỗ trợ cho các gia đình có trẻ phụ thuộc
o Bản chất: Chương trình quan trọng nhất trong việc hỗ trợ bằng tiền Chươngtrình này đc đồng quản lý bởi chính phủ liên bang và các bang Từng bang sẽ xácđịnh mức phúc lợi của riêng mình và tiêu chuẩn chỉ dựa trên các tiêu chuẩnchung nhất của chính phủ liên bang Người có thu nhập dưới một ngưỡng nhấtđịnh và thỏa các điều kiện nhất định sẽ được nhận tiền trợ cấp trong thời gian vôhạn định Trợ cấp AFDC cho một cá nhân đc giảm bằng một đôla cho mỗi đôla
mà ng chủ gia đình nhận đc từ thu nhập Các nghiên cứu lý thuyết và thực tế đãcho thấy chương trình này không khuyến khích làm việc
o Đối tượng thụ hưởng: Các gia đình có trẻ em sống phụ thuộc, không có cha mẹhoặc có cha mẹ thất nghiệp hoặc mất khả năng lao động
o Mức chi tiêu: năm 1996, tiền trợ cấp cho 1 gia đình có tối đa 3 thành viên ởMissisipi là 120$, ở New York là 703$
Chương trình trợ cấp tạm thời cho các gia đình có nhu cầu (TANF)
o Bản chất: đc ban hành vào năm 1996 nhằm chấm dứt các tiêu chuẩn và cácquyền lợi về tiền trợ cấp của AFDC Phúc lợi bằng tiền giờ chỉ là tạm thời và cóđiều kiện Bởi lẽ, những ng nhận trợ cấp k thể nhận các khỏan trợ cấp bằng tiềntrên 5 năm, và sau 2 năm họ phải tham gia vào các hoạt động lao động nào đó cóliên quan Các bang gần như có toàn quyền kiểm soát cơ cấu hệ thống phúc lợi
xã hội
o Đối tượng thụ hưởng: các gia đình có nhu cầuo
Trang 31 Chương trình trợ cấp bù thuế thu nhập - EITC là chương trình lớn nhất để tạo trợ cấp qua nhữngkhỏan chuyển nhượng bằng tiền cho những ng có thu nhập thấp đc điều hành bởi cơ quan thuế Đây
là chương trình trợ cấp bù thuế thu nhập, tức là việc trợ cấp đc thể hiện dưới hình thức trợ cấp thuếcho những ng thu nhập thấp đủ tiêu chuẩn nghĩa là giảm nghĩa vụ thuế Điểm qtrọng của EITC làviệc hủy bỏ từng bước sau khi thu nhập vượt quá một ngưỡng nào đó đã áp một thuế suất tiềm ẩncao lên thu nhập
Chương trình thu nhập an sinh bổ sung (SSI) đc ban hành năm 1972, cung cấp phúc lợi hàng thángcho ng cao tuổi, ng mù và ng không có khả năng lao động Tài sản của ng nhận trợ cấp k thể vượtquá giới hạn nào đó: 20004 cho một cá nhân
Chương trình trợ giúp y tế (Medicaid) đc ban hành vào năm 1965 là chương trình chi tiêu lớn nhấtcho ng nghèo, chi trả các dịch vụ y tế cho những ng chắc chắn có thu nhập thấp, cung cấp miễn phícho những ng đc nhận trợ cấp các dịch vụ như: chăm sóc bệnh viện, phí xét nghiệm và phí chụp Xquang, các dịch vụ vật chất…)
Chương trình tem phiếu thực phẩm cung cấp một giấy chứng thực mà có thể sử dụng chỉ để muahàng thực phẩm chương tình tem phiếu thực phẩm hiện đã dẫn đến tiêu dùng thực phẩm hơn sửdụng một số tiền tương đương để mua thực phẩm
Trc đây việc hỗ trợ nhà ở Hoa kỳ chủ yếu tập trung vào trợ giá nhà ở công cộng cho ng nghèo, đc bắtđầu vào năm 1937, đc điều hành ở địa phương là thành phố, quận chính phủ liên bang trợ cấp chiphí xây dựng và một phần chi phí do các chủ nhà chi trả Chương trình khu vực đã cung cấp một sốlượng nhỏ những ng trợ cấp với nhiều phiếu trả tiền nhà ở đã trả tiền theo sự lựa chọn của họ
Các chương trình nâng cao thu nhập: mục tiêu của các chương trình giáo dục và đào tạo nghề tại chỗ
là nâng cao khả năng của ng nghèo để tự hỗ trợ mình trong tương lai
đền bù cho giáo dục đối với các bậc giáo dục cấp 1 và 2 và các học sinh thiếu may mắn
kỹ năng cho thị trường việc làm mục đích là chính phủ cung cấp các cơ hội để phát triển các kỹ năg
có thể tiêu thụ đc trên thị trường nhưng thiếu hiệu quả, dường như ko thể
2/ Các chương trình hỗ trợ người nghèo tại Việt nam-Nêu tên chương trình, đối tượng thụ hưởng, nguồn tài chính của mỗi chương trình, đặc biệt nắm rõ các định chế tín dụng nhỏ cho người nghèo tại Việt nam và phương thức tài trợ ;
1. Phong trào nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách: đc lấy chủ yếu từ nguồn ngân sách và củacác mạnh thường quân, mưc hỗ trợ tối thiểu là 15tr đồng
Trang 322. Phong trào xây dựng nhà tình thương, chống ngập, chống dột và xây dựng cơ sở hạ tầng các xómnghèo thành thị và nông thôn, đc vận động từ các tầng lớp nhân dân và ngân sách địa phương vớimức hỗ trợ từ 2 – 5 tr đồng.
3. Chính sách chăm lo việc học hành cho con em đồng bào nghèo
4. Chính sách chăm sóc sức khỏe cho đồng bào nghèo và bệnh nhân nghèo, trc tiên là miễn phí cho cácgia đình thuộc chương trình XĐGN
5. thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo
6. thành lập quỹ hỗ trợ vốn, tạo việc làm cho ng nghèo
Thành lập các quỹ:
Quỹ xóa đói giảm nghèo từ chương trình xóa đói giảm nghèo:
- Cấp tín dụng để hỗ trợ ng lao động tự tạo việc làm
- Đối tượng thụ hưởng:
•Năm 1922: ng nghèo có mức thu nhập thấp (<500.000đ/năm)
•Sau đó: 700.000đ/năm ở ngoại thành và 1.000.000đ ở nội thành
•Hiện nay: 3.000.000đ/năm ở nội thành và 2.500.000đ/năm ở ngoại thành
Quỹ giải quyết việc làm:
- Có lãi suất ưu đãi khuyến khích nhân dân phát triển sản xuất, tạo ra nhìu việc làm mới, góp phầnnâng cao mức tăng trưởng chung của TP
- Nguồn trích trong ngân sách nhà nước theo một tỷ lệ nhất định, nguồn thu do xuất khẩu lao động, sựtrợ giúp quốc tế hoặc chính phủ các nước
- Đối tượng: hộ gia đình, thành viên của các tổ chức đoàn thể, hội quần chúng và cầu cho vay vốn tựtạo việc làm , các tổ chức sx, dn thành lập và hoạt động theo luật DNTN, luật công ty, cơ sở sx kinhdoanh có dự án tạo chỗ làm việc mới thu hút thêm lao động
Quỹ CEP thuộc liên đoàn lao động Tp:
- Trợ vốn cho ng nghèo tự tạo việc làm, thành lập năm 1991
- Đối tượng: công nhân viên chức và ng lao động nghèo thành phố, khởi đầu là số ng lao động dôi ra
đc sắp xếp lại sx trc yêu cầu đổi mới quản lý kinh tế, sau đó là ng lao động nghèo tp
Quỹ gây tiết kiệm vì phụ nữ nghèo của hội liên hiệp phụ nữ TPHCM:
- Nguồn vốn:
• Ptrào “phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” và do UBNDTPHCM cho mượn không lãi
• Các nhà hảo tâm, vay k lãi từ các đơn vị kinh doanh, nhận vốn ủy thác từ ban chỉ đạo chương trìnhxóa đói giảm nghèo tp, quỹ quốc gia, từ các tổ chức nc ngoài
- Đối tượng:
• Ng địa phương có hộ khẩu thường trú , tiểu thương phải có giấy phép kinh doanh
• Hộ nghèo và phải có phụ nữ từ 18 – 25, trên 55 phải có sức khỏe có khả năng lao động, k vay củangân hàg hoặc tổ chức cá nhân nào khác
Trang 33- Mức cho vay: 1tr – 2tr/thành viên, cá biệt có dự án 6tr/thành viên, lãi suất cho vay 1-1.5% tùy theo
a. Thu nhập kiếm đc khi làm việc 10h: 10*10=100$
Lợi ích phúc lợi xã hội bị giảm: (100-90)*0.58=5.8$
Lợi ích phúc lợi nhận đc: 577-5.8=571.2$
Tổng thu nhập hàng tháng: 100+571.2=671.2$
b. Gọi x là số h làm việc, ta có lợi ích phúc lợi là:
577-(10x-90)*0.58=0 x= 108.48hKhi đó tổng thu nhập có đc là: 108.48*10=1084.8$
Chương IX:
1/Tại sao có BHXH? Tại sao BHXH lại bắt buộc? Nêu các qui định pháp lý về Mức thuế an sinh
XH tại Hoa Kỳ và mức phí BHXH tại Việt nam ;
1084.83 671.2 667
577
10h 9h 0h số h nghỉ ngơi108.48h
Trang 34sự lựa chọn nghịch thì bắt buộc mọi người phải tham gia vào thị trường BH.
- Chủ nghĩa gia trưởng: Chính phủ bắt buộc mọi người phải mua BH.
Những người có tính gia trưởng lập luận rằng, một số cá nhân không có tầm nhìn xa về tươnglai đủ để mua lượng BH cần thiết cho cá nhân, do đó chính phủ bắt họ phải mua BH
- Mối nguy về đạo đức: là hành vi của nhiều người tự đẩy bản thân mình đến chỗ tồi
tệ vì biết chắc rằng chính phủ sẽ ra tay trợ giúp
Ví dụ, xã hội có thể cảm thấy sự tồn tại của những công dân già nua nghèo khổ là điều ko thể chấpnhận được, chính phủ sẽ phải giúp đỡ Những người trẻ coi hành động này của chính phủ như là 1dạng bảo hiểm và họ cho phép bản thân họ trở nên nghèo khổ đi
- Tiết kiệm chi phí ra quyết định: Thị trường BH và thị trường trợ cấp hàng năm rất
phức tập, và 1 cá nhân phải tốn nhiều thời gian và nỗ lực để lựa chọn 1 hợp đồng
BH phù hợp Các nhà quyết định chính sách công sẽ lựa chọn 1 chương trình BHthích hợp cho mọi người và cá nhân không phải lãng phí nguồn lực để tự ra quyếtđịnh
- Phân phối thu nhập: Khi tham gia vào chương trình ASXH, một số người sẽ có
hoàn cảnh tốt hơn, trong khi một số khác lại xấu đi Như vậy, những người có hoàncảnh xấu đi có thể chọn không tham gia chương trình, gây khó khăn cho chính phủ