1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

123 975 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ vấn đề trên, để hiểu rõ hơn về cuộc sống, hoạt động sinh kế của người dân sau khi mở rộng VQGBM, cũng như đề xuất hệ thống các biện pháp hỗ trợ cho người dân địa phương, tôi

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Trần Nam Thắng đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Huế, Phòng Đào tạo sau Đại học, quý thầy cô giáo khoa Lâm nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu này.

Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Vườn Quốc Gia Bạch Mã, Phòng nghiên cứu khoa học, các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Nam Đông - Thừa Thiên Huế, trạm kiểm lâm xã Thượng Nhật, Phòng NN & PTNT, phòng Thống kê huyện, các đồng chí lãnh đạo UBND xã Thượng Nhật và xã Thượng Long cùng các cán bộ thôn/bản đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin, dữ liệu liên quan đến luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn sự san sẻ rất chân tình của các hộ gia đình ở xã Thượng Nhật và xã Thượng Long.

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn sát cánh và động viên giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, nhưng do kiến thức còn nhiều hạn chế, thời gian và tư liệu tham khảo cũng có hạn nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu,

bổ sung của các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Huế, tháng 7 năm 2014 Tác giả luận văn

Lê Thị Thu Thủy

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Thị Thu Thủy

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Từ xưa đến nay, rừng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái: rừng có tác dụng điều hòa khí hậu, làm không khí trong lành; rừng bảo vệ đất, tăng độ phì nhiêu, bồi dưỡng tiềm năng cho đất; rừng bảo vệ nguồn nước, hạn chế lũ lụt và hạn hán, giảm ô nhiễm môi trường; đồng thời, rừng còn là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật, thực vật và vi sinh vật, rừng là kho dự trữ nguồn gen vô cùng phong phú và đa dạng Ngoài những chức năng về sinh thái trên, rừng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sinh kế của người dân, đặc biệt là đời sống của những người dân sống gần rừng, phụ thuộc vào rừng

Ở Việt Nam, rừng và đất rừng chiếm 3/4 tổng diện tích tự nhiên, là nơi sinh sống của hơn 2/3 dân số cả nước 75% dân số cả nước sống phụ thuộc vào nông nghiệp và rừng như là nguồn sống chủ yếu Dân số ngày càng tăng tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên rừng, nhu cầu về các sản phẩm rừng ngày càng cao Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong sản xuất lương thực, sau nhiều năm thiếu hụt lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 thế giới, nhưng những tiến bộ này chỉ giới hạn chủ yếu ở vùng đồng bằng có hệ thống thủy lợi tốt Hàng triệu người nông dân ở vùng miền núi vẫn còn đối mặt với sự thiếu hụt lương thực Sản xuất nông nghiệp ở vùng miền núi vẫn còn nhiều hạn chế lớn Ðiều này đã làm cho người dân vùng núi phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng như là nguồn sống của họ Nghèo đói

và kém phát triển ở Việt Nam đã làm cho người nghèo ở nông thôn và cả Nhà nước phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên rừng như là một nguồn thu nhập Thực phẩm từ rừng như thịt động vật rừng, măng tre, củ quả, mật ong và nấm được sử dụng trong các bữa ăn hàng ngày Rất nhiều loài cây lấy củ, cây rau và những sản phẩm rừng khác được sử dụng làm thức ăn trong thời kỳ giáp hạt hoặc thiếu hụt lương thực trầm trọng

Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, người dân phụ thuộc hoàn toàn vào rừng như là nguồn lương thực, thức ăn cho gia súc trong thời gian 4 tháng hoặc hơn trong năm Theo tác giả Lương Văn Tiến (1991), ở nước ta ước tính có 23 triệu tấn củi được tiêu thụ hàng năm Nhiều vùng miền núi ở nước ta, nguồn thu nhập từ việc bán sản phẩm rừng thường cao hơn nguồn thu nhập từ bán các sản phẩm nông nghiệp như lúa Hoạt động khai thác sản phẩm ngoài gỗ bao gồm việc canh tác, thu lượm, bán và chế biến

đã tạo việc làm cho hàng trăm ngàn người dân [13]

Vườn Quốc Gia Bạch Mã, một khu rừng đặc dụng cóHST rừng thuộc vùng chuyển tiếp khí hậu giữa hai miền Bắc và Nam nên tính đa dạng sinh học cao, với khu

hệ động thực vật vô cùng phong phú Đây là nơi bảo tồn các loài động, thực vật quý hiếm tiêu biểu, bảo vệ các cảnh quan tự nhiên trong Vườn, phục hồi lại những khu rừng đã bị tàn phá; tham gia nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu cơ bản và tổ chức

Trang 8

dịch vụ nghiên cứu theo chương trình và hợp đồng nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn nguồn gen, pháp triển lâm sinh; thực hiện các chương trình tuyên truyền, giáo dục bảo vệ thiên nhiên và phát triển DLST Với tầm quan trọng của VQGBM, Chính phủ đã có quyết định mở rộng diện tích VQGBMtheo quyết định số 01/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 02/01/2008 về việc điều chỉnh, mở rộng diện tích VQGBM có những nội dung như sau: Điều chỉnh quy hoạch, mở rộng diện tích VQG Bạch Mã thuộc hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam, nằm trên địa bàn hành chính của tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Nam Tổng diện tích tự nhiên của VQG sau khi điều chỉnh quy hoạch mở rộng là: 37.487 ha, trong đó: Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế là 34.380 ha; trên địa bàn tỉnh Quảng Nam là: 3.107 ha Diện tích Vườn được chia thành 42 tiểu khu, trong đó phần mở rộng có 17 tiểu khu, bao gồm 3 tiểu khu thuộc rừng phòng hộ Lâm trường Phú Lộc, 11 tiểu khu thuộc rừng phòng hộ Lâm trường Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế và 3 tiểu khu thuộc rừng phòng hộ huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam Vùng đệm của VQG Bạch Mã sau khi mở rộng

có diện tích là 58.676 ha, bao gồm 11 xã, thị trấn thuộc các huyện: Phú Lộc, gồm các xã: (Xuân Lộc, Lộc Hòa, Lộc Điền, Lộc Trì, thị trấn Phú Lộc) và huyện Nam Đông gồm các xã: (Thượng Long, Thượng Nhật, Thượng Lộ, Hương Phú, Hương Lộc, thị trấn Khe Tre) của tỉnh Thừa Thiên Huế; huyện Đông Giang thuộc 4 xã là: (xã Tư, A-tinh, Sông Côn, Ta Lu) của tỉnh Quảng Nam Đi đôi với việc mở rộng là công tác xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý bảo tồn kết hợp phát triển DLST, phát triển cộng đồng góp phần cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng nông thôn

và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư vùng đệm nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững trong khu vực [4]

Thượng Nhật và Thượng Long là 2 xã thuộc huyện Nam Đông nằm trong khu vực mở rộng của VQGBM có diện tích đất rừng lớn Tổng diện tích đất của xã Thượng Nhật là 11.378,0 ha, tổng diện tích đất của xã Thượng Long là 5.066,4 ha Hai xã này

có thành phần dân tộc thiểu số chiếm từ 80% đến 95% dân số, đời sống của người dân

ở 2 xã này lại chủ yếu dựa vào rừng nên khi diện tích rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng, nguồn lương thực, thực phẩm, dược liệu thu được từ rừng cũng bị hạn chế, nguồn thu nhập của người dân cũng thay đổi theo việc chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp Mặc dù đã có sự đầu tư phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư

Xuất phát từ vấn đề trên, để hiểu rõ hơn về cuộc sống, hoạt động sinh kế của người dân sau khi mở rộng VQGBM, cũng như đề xuất hệ thống các biện pháp hỗ trợ

cho người dân địa phương, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đánh giá tác động của

việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trang 9

2 Ý nghĩa khoa học

Ðề tài nghiên cứu nhằm đánh giá tác động tới sự thay đổi sinh kế củangười dân thuộc khu vực mở rộng của VQGBM Xem xét mức độ tác động, khả năng duy trì và phát triển các nguồn lực: Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực về con người, nguồn lực về xã hội, nguồn lực về vật chất, nguồn lực tài chính của các HGĐ trên địa bàn nghiên cứu

Từ đó, đề xuất các giải pháp góp phần hình thành sinh kế bền vững cho người dân khu vực mở rộng của VQGBM, góp phần vào việc bảo tồn lâu dài VQGBM

3 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về sinh kế người dân khu vực mở rộng của VQGBM Đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng cho các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực miền núi nói chung và khu vực mở rộng của VQGBM nói riêng

4 Đối tượng nghiên cứu

Sinh kế người dân 2 xã: xã Thượng Nhật, xã Thượng Long thuộc huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

5 Phạm vi nghiên cứu

-Về không gian: 2 xã: xã Thượng Nhật, xã Thượng Long (thuộc khu vực mở rộng của VQGBM)

- Về thời gian: 10/10/2013-27/7/2014

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm về sinh kế

Có nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế Tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay HGĐ Về căn bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những mối quan hệ mà cá nhân hoặc HGĐ đã thiết lập trong cộng đồng [26]

Sau đây là một số khái niệm điển hình được chọn để làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu:

Theo Ellis (2000) cho rằng: Sinh kếbao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội để tiếp cận được đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan

hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hay mỗi nông hộ [26]

Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá) và các hoạt động cần có để kiếm sống [23]

Theo Uỷ ban Phát triển Quốc tế (Vương quốc Anh), một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng mà con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên [23]

1.1.2 Các khái niệm về sinh kế bền vững

Hiện nay, sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh kế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải đặt nó trong mối quan hệ với phát triển bền vững

Theo DFID (2001) sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Sinh kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc

có khả năng phục hồi, duy trì, tăng cường khả năng và nguồn lực ở hiện tại cũng như trong tương lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên [22]

Trang 11

Theo FAO (2001) sinh kế bền vững có thể được mô tả là: chống đỡ được với những cú sốc và áp lực bên ngoài; không phụ thuộc vào các hỗ trợ từ bên ngoài (hoặc được hỗ trợ bằng các cách thức bền vững về kinh tế và thể chế); được thích nghi hóa

để duy trì sức sản xuất lâu dài của nguồn tài nguyên thiên nhiên; bền vững mà không làm suy yếu và ảnh hưởng tới các giải pháp sinh kế của người khác [11]

Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai [8]

Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện

ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động [23]

1.1.3 Khung sinh kế bền vững

Khung phân tích sinh kế là một công cụ được sử dụng để áp dụng cách tiếp cận sinh kế bền vững Đây là cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, đồng thời cố gắng tìm hiểu những vấn đề về kinh tế - xã hội và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên

từ góc nhìn thông qua con người Nó giúp nhà nghiên cứu xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế con người, đặc biệt là các yếu tố gây khó khăn và tạo cơ hội trong sinh kế Đồng thời, giúp tìm hiểu những yếu tố liên quan với nhau như thế nào [14]

Các nghiên cứu về sinh kế hiện nay về cơ bản đã xây dựng khung phân tích sinh

kế bền vững trên cơ sở các nguồn lực của HGĐ bao gồm: Nguồn lực vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và nhân lực

- Nguồn lực vật chất: Bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản và các tài sản của HGĐ hỗ trợ cho sinh kế, giao thông, hệ thống cấp nước và năng lượng, nhà

ở và cá đồ dùng, dụng cụ trong gia đình

- Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các nguồn lực tự nhiên (của một hộ hoặc một cộng đồng) mà con người trông cậy vào, ví dụ như đất đai, mùa màng, vật nuôi, rừng, nước và các nguồn tài nguyên ven biển

- Nguồn lực tài chính: Nguồn thu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng thu nhập tiền mặt khác như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp của nhà nước

- Nguồn lực xã hội: Đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ xã hội, các tổ chức

xã hội và các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ

đó được những cơ hội và lợi ích khác nhau

Trang 12

- Nguồn lực con người: Thể hiện kĩ năng, kiến thức, năng lực để lao động, và cùng với sức khỏe tốt giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình Ở mức HGĐ thì nguồn lực con người là yếu tố về

số lượng và chất lượng lao động sẵn có; yếu tố này thay đổi tùy theo số lượng người trong hộ, kĩ năng lao động, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe, v.v…

Mỗi HGĐ sẽ tự quyết định chiến lược sinh kế của mình dựa vào sự kết hợp các nguồn vốn sinh kế này và môi trường chính sách, thể chế cũng như bối cảnh dễ bị tổn thương Trong trường hợp nghiên cứu này, việc mở rộng VQGBM là yếu tố thuộc bối cảnh dễ bị tổn thương và ảnh hưởng đến sinh kế cũng như nguồn vốn của HGĐ

Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững

(Nguồn: DFID, 2001)

- Chiến lược sinh kế là sự tập hợp các hoạt động nhằm tạo ra các phương tiện, các nguồn thu nhập cho sự tồn tại và phát triển của các nông hộ Nói một cách khác, chiến lược sinh kế là khả năng phối kết hợp các hoạt động, các sự lựa chọn để tối ưu hóa việc sử dụng các tài sản sinh kế hiện có của nông hộ nhằm đạt được các mục tiêu của nông hộ như các hoạt động sản xuất, hoạt đông đầu tư và hoạt động tái sản xuất Chiến lược sinh kế là một hợp phần quan trọng trong sinh kế của nông hộ, nó có mối quan hệ phụ thuộc vào các tài sản sinh kế của nông hộ Chiến lược sinh kế được thực hiện thông qua các hoạt động sinh kế dựa trên các tài sản sinh kế hiện có nhằm tạo ra các nguồn thu nhập đáp ứng các nhu cầu đa dạng của nông hộ tại các thời điểm khác nhau Nhìn chung, các hoạt động sinh kế có tính đa dạng và có tính thay đổi qua thời gian nhằm thích ứng với các cơ hội và thách thức được tạo ra do sự thay đổi của môi trường sinh kế và sự tương tác của chúng qua thời gian [7]

Trang 13

Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế: Đó là những điều mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt và lâu dài.

+ Sự hưng thịnh hơn: Thu nhập cao, ổn định hơn, cơ hội làm việc tốt hơn; kết quả những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượng tiền của HGĐ thu được gia tăng

+ Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền, người

ta còn đánh giá đời sống bằng giá trị của những hàng hóa phi vật chất khác Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, ví dụ như: căn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình được đảm bảo, các điều kiện sống tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tốt, an toàn của đời sống vật chất,

+ Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải sống trong trạng thái dễ bị tổn thương Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể tập trung cho việc bảo vệ gia đình họ khỏi những đe dọa tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những cơ hội của mình Việc giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá cả thị trường, an toàn sau các thảm họa, khả năng kiểm soát dịch bệnh gia súc,

+ An ninh lương thực được cũng cố: An ninh lương thực là một cốt lõi trong sự tổn thương và nghèo đói Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực hiện thông qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất, nâng cao và ổn định thu hoạch mùa màng, đa dang hóa các loại cây lương thực

+ Sử dụng bền vững hơn cơ sở nguồn tài nguyên thiên nhiên: Sự bền vững môi trường là một mối quan tâm lớn mang ý nghĩa quan trọng và hỗ trợ cho các kết quả sinh kế khác

- Bối cảnh tổn thương đề cập tới phạm vi người dân bị ảnh hưởng và bị lâm vào các loại sốc (mùa màng thất bát, chiến tranh, xung đột, lâm bệnh ), xu hướng gồm các xu hướng kinh tế - xã hội, môi trường (xu hướng tăng dân số, xu hướng phát triển kinh tế,

xu hướng tài nguyên suy giảm, ) và sự dao động (dao động về giá cả thị trường, dao động về việc làm, ) Một đặc điểm quan trọng trong khả năng tổn thương là con người không thể dễ dàng kiểm soát những yếu tố trước mắt hoặc dài lâu hơn nữa Khả năng tổn thương, sự bấp bênh trong sinh kế tạo ra từ những yếu tố này là rất phổ biến

và thường xuyên, đặc biệt với những hộ nghèo Điều này chủ yếu là do họ không có khả năng tiếp cận với những nguồn lực có thể giúp họ bảo vệ mình khỏi những tác động xấu [14]

- Các chính sách và thể chế: Bao gồm các chính sách, luật lệ và những hướng dẫn của nhà nước, những cơ chế, luật tục và phong tục của cộng đồng, các cơ quan, tổ chức và dịch vụ nhà nước cũng như tư nhân, có những tác động lên các khía cạnh của sinh kế Đây là một phần quan trọng trong khung phân tích sinh kế bền vững vì nó ảnh

Trang 14

hưởng đến khả năng tiếp cận với các nguồn lực sinh kế, những chiến lược, những lợi ích của người dân khi thực hiện hoặc đầu tư một số hoạt động sinh kế nhất định Ngoài

ra, đây còn là những yếu tố tác động lên cả các mối quan hệ cá nhân trong cộng đồng

và khả năng liệu người dân có thể nằm trong bối cảnh đạt được những điều kiện sống tốt [14]

Sau khi tìm hiểu và đưa ra tổng quan các vấn đề nghiên cứu, đề tài đã sử dụng khái niệm sinh kế của Ellis (2000), khái niệm sinh kế bền vững và khung sinh kế bền vững của DFID (2001) cho quá trình phân tích và nghiên cứu

1.1.4 Khu vực mở rộng VQGBM

- Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng có ghi rõ: Vườn Quốc Gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều HST đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp VQG được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và HST rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và DLST VQG được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về HST đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích

tự nhiên của Vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của Vườn [3]

Khu rừng Bạch Mã được Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công nhận là VQG theo Quyết định 214/CT ngày 15/71991 Đây là VQG đầu tiên của miền Trung có tổng diện tích tự nhiên là 22.031 ha Bạch Mã là một trong 30 VQG trong cả nước, được thành lập để bảo tồn đa dạng sinh học về động – thực vật của khu vực chuyển tiếp giao thoa khí hậu miền Bắc, miền Nam VQGBM nằm trong khu vực Trung Trường Sơn, là phần cuối của dãy Trường Sơn Bắc và trung tâm của dải rừng xanh tự nhiên còn lại duy nhất của Việt Nam kéo dài từ biển Đông đến biên giới Việt Lào VQGBM là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của khu vực Đông Dương và có một vị trí hết sức quan trọng trong việc bảo tồn HST rừng nhiệt đới đa dạng và phong phú Khu hệ động thực vật hoang dã của VQGBM đa dạng với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm và đặc biệt phần diện tích mở rộng là vùng cư trú của loài Sao

La

Trang 15

Bản đồ 1.1: Bản đồ Vườn Quốc Gia Bạch Mã trước khi mở rộng

- Với tầm quan trọng đó, VQGBM đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt điều chỉnh mở rộng diện tích Vườn tại Quyết định số 01/QĐ-TTg ngày 02/01/2008 về điều chỉnh, mở rộng diện tích VQGBM Sau khi mở rộng, diện tích vùng lõi từ 22.031

ha tăng lên 37.487 ha Trong đó, diện tích trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 34.380 ha, diện tích trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 3.107 ha VQGBM thuộc địa giới hành chính hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, bao gồm 12 xã và thị trấn: xã Lộc Điền, Lộc Trì, Lộc Hòa, Xuân Lộc và thị trấn Phú Lộc (huyện Phú Lộc - tỉnh Thừa Thiên Huế);

xã Hương Phú, Hương Lộc, Thượng Lộ, Thượng Long và Thượng Nhật (huyện Nam Đông - tỉnh Thừa Thiên Huế); xã A Ting, Sông Kôn (huyện Đông Giang - tỉnh Quảng Nam) Trong vùng lõi của VQGBM không có người dân sinh sống

- Vùng đệm VQGBM sau khi mở rộng có diện tích 58.676 ha nằm trên địa bàn 15 xã, thị trấn: thị trấn Phú Lộc, xã Lộc Điền, Xuân Lộc, Lộc Hoà, Lộc Trì (huyện Phú Lộc - tỉnh TT Huế); thị trấn Khe Tre, xã Hương Phú, Hương Lộc, Thượng Lộ, Thượng Nhật, Thượng Long (huyện Nam Đông - tỉnh Thừa Thiên Huế); xã Tà Lu, Sông Kôn, A Tinh và xã Tư (huyện Đông Giang - tỉnh Quảng Nam) Khu vực vùng đệm có 12.960 HGĐ đang sinh sống với tổng số 62.974 nhân khẩu Nhìn chung dân cư trong vùng đã định canh định cư ổn định, tuy nhiên đời sống của nhân dân trong vùng đệm VQG Bạch Mã mở rộng còn rất nhiều khó khăn [24]

- Diện tích vùng lõi được mở rộng của VQGBM nằm trên địa bàn: xã Thượng Nhật có tổng diện tích tự nhiên là 7.801 ha, xã Thượng Long có tổng diện tích tự nhiên là 1.903 ha

Trang 16

Bản đồ 1.2: Bản đồ vùng lõi của VQGBM tại khu vực nghiên cứu

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Những nghiên cứu trên Thế Giới

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viết đi sâu phân tích hoạt động sinh kế của người dân, đặc biệt chú ý đến đời sống của người nghèo

Theo một nghiên cứu mới đây của Katrina Mullan, Andreas Kontoleon,

Timothy M Swanson và Shiqiu Zhang (2010) về tác động của dự án bảo vệ RTN đến sinh kế hộ nông thôn ở Trung Quốc đã cho thấy: Dự án bảo vệ RTN (NFPP) đã tác

động đến sinh kế của người dân trên 2 khía cạnh: Thu nhập và quyết định cung ứng lao động phi nông nghiệp (1) NFPP đã có tác động tiêu cực đến thu nhập của các HGĐ từ khai thác gỗ So với các hộ không tham gia vào NFPP thì thu nhập từ gỗ của các hộ tham gia vào NFPP giảm nhưng không nhiều Bởi vì, các hộ tham gia vào NFPP trước đây chỉ tiếp cận và khai thác rừng kém chất lượng, gỗ chưa trưởng thành nên nguồn thu nhập từ gỗ đem lại cho HGĐ không nhiều (2) Đồng thời, NFPP đã có tác động tích cực thông qua tổng thu nhập của HGĐ Từ lệnh cấm khai thác gỗ đã dẫn đến việc phân công lao động lại từ lâm nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp Tăng việc làm phi nông nghiệp đã làm tăng tổng thu nhập của HGĐ Số ngày làm việc bên ngoài làng của các HGĐ NFPP tăng thêm 80-130 ngày/năm so với các hộ không tham gia NFPP Số liệu nhóm nghiên cứu đã chứng minh được NFPP đã có những tác động đến sinh kế của người dân địa phương: NFPP đã làm giảm thu nhập gỗ khoảng 300 nhân dân tệ/HGĐ và tổng thu nhập của HGĐ tăng thêm khoảng 3000 nhân dân tệ/ HGĐ Ngoài ra, lợi ích kinh tế chung mà NFPP mang lại là giảm nguy cơ rủi ro về lũ lụt và

Trang 17

chi phí cần thiết cho phòng chống lũ lụt Tác động kết hợp của lệnh cấm khai thác gỗ

và trồng rừng đã làm tăng sản lượng gỗ và việc làm trong nền kinh tế nói chung [29]

JC Gaillard, Emmanuel A Maceda, Elodie Stasiak, Iwan Le Berre, Maria

Victoria O.Espaldon (2009) đã nghiên cứu về sinh kế bền vững và tính tổn thương nông hộ khi đối mặt với nguy hiểm ven biển Họ tập trung nghiên cứu tại thị trấn

Borogan ở Philippin Bằng những câu hỏi điều tra và thảo luận nhóm, kết quả nghiên cứu đã cho thấy: để duy trì nhu cầu hàng ngày của gia đình, ngư dân địa phương đã bất chất những mối nguy hiểm của bão để ra khơi đánh bắt cá Bởi đời sống của họ còn nghèo và mong manh nên năng lực tự bảo vệ mình của ngư dân khỏi nhiều mối đe dọa

từ biển là rất hạn chế Trong một cuộc khủng hoảng, nghiên cứu cho rằng: bắt nguồn

từ sức mạnh và sự đa dạng của cuộc sống mà con người đã dùng một loạt các điều chỉnh về cuộc sống hàng ngày để đối mặt Để giảm tính tổn thương của người dân và nâng cao năng lực để đối mặt với nguy hiểm ven biển và giảm thiểu rủi ro thiên tai cần nhấn mạnh đến sinh kế bền vững [27]

Ana Minerva Arce Ibarra (2007) nghiên cứu việc sử dụng tài nguyên thủy sản

và giá trị phi tiền tệ của tài nguyên thiên nhiên đến sinh kế của cộng đồng người Maya

ở Mexico Nghiên cứu này đã sử dụng tất cả các phương pháp của các ngành khoa học

xã hội và tự nhiên bào gồm: Nghiên cứu phát triển, nhân chủng học, kinh tế, sinh thái

và khoa học thủy sản Nghiên cứu cho thấy: đời sống của người dân có nhiều thiếu thốn, cuộc sống của họ không thực sự bền vững Cá có vài trò khác nhau trong sinh kế của người dân Maya Đồng thời, nó là truyền thống, tôn giáo, và giải trí của người Maya Người dân bản địa và người địa phương khác khai thác thủy sản chủ yếu vào mùa khô Địa điểm khai thác của người dân thay đổi Người dân có 16 địa điểm khai thác truyền thống Chỉ số đa dạng về cá ở mức độ trung bình và tương đối thấp Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: Tài nguyên thiên nhiên có vai trò vô cùng quan trọng đối với sinh kế người dân [30]

Joseph E Mbaiwa (2004) đã đề cập đến sinh kế nông thôn bền vững và đa dạng hóa thu nhập để đánh giá vai trò của việc đan giỏ (như là một hoạt động văn hóa du lịch) trong việc cải thiện sinh kế nông thôn ở Okavango Delta, Botswana Nghiên cứu

này đã chỉ ra rằng những cú sốc và những nguyên nhân tự nhiên như hạn hán, dịch bệnh, mực nước lũ trên sông Okavango thay đổi, đã góp phần làm suy giảm năng xuất cây trồng và vật nuôi, làm mức độ đói nghèo trong khu vực gia tăng Chính vì vậy, lựa chọn thay đổi mô hình sinh kế có thể làm đa dạng hóa thu nhập nông thôn và cải thiện sinh kế ở Okavango Giỏ là một sản phẩm văn hóa du lịch làm tăng thu nhập và cơ hội việc làm cho người dân nông thôn Do đó cần phải sử dụng vền vững tài nguyên thiên nhiên, nhất là các nguyên vật liệu tự nhiên được dùng để làm giỏ Đồng thời, phải thu hút người trẻ tuổi, có trình độ học vấn nhằm thúc đẩy việc bảo tồn nghề làm rổ truyền thống [28]

Trang 18

Thomas Tanner (2003) đề cập đến việc điều chỉnh cơ cấu và thực hiện chính sách tự do mới ở Mỹ Latinh đã có hậu quả nghiêm trọng đối với sinh kế và mô hình sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở khu vực miền núi (đặc biệt là người Ande sống trong núi, thuộc khu vực phía bắc Argentina) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã

làm khó khăn kinh tế - xã hội tăng lên và nhu cầu lao động công nghiệp giảm, thay đổi

mô hình truyền thống di cư theo mùa ở khu vực này Thomas Tanner khẳng định: Đời sống vùng núi đa dạng và năng động, nó được hình thành bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của khu vực Nhưng sự phát triển của địa phương bị hạn chế và kiểm soát bởi chính sách và nền chính trị Đồng thời, phê bình tính bất hợp lý trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên [31]

1.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp, đời sống của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm ngư nghiệp Việc sản xuất ra lương thực, thực phẩm còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường tự nhiên Trong khi đó, Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thường xuyên phải hứng chịu những biến động thất thường của thời tiết Đồng thời, kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, nên có nhiều biến đổi về cơ cấu nghề nghiệp, lao động Do đó, đời sống người dân bị tác động mạnh

mẽ, nhất là đời sống của những người dân nghèo Chính vì vậy, ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu về sinh kế người dân, với nhiều câu hỏi tại sao được đặt ra, để từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục Sau đây là một số nghiên cứu về sinh kế người dân:

- Theo một nghiên cứu mới đây của Nguyễn Văn Phát, Trương Tấn Quân và Lê

Văn Bính (2012) về sinh kế của người dân ven biển xã Ngư Nam, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình: Với việc ứng dụng khung phân tích sinh kế dựa vào thị trường và khung

phân tích chuỗi cung Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự phát triển của cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông và hệ thống viễn thông đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự thay đổi chuỗi cung cũng như sự thay đổi sinh kế của người dân theo định hướng thương mại Chuỗi cung phát triển chủ yếu tập trung vào đầu ra hơn là đầu vào Nguyên nhân kém phát triển của chuỗi cung đầu vào là do sản xuất mang tính manh mún và chuỗi cung đầu vào mang tính rủi ro hơn Sự thay đổi nhu cầu đóng một vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt sự thay đổi chuỗi cung và từ đó làm thay đổi sinh kế

Sự thay đổi nhu cầu này không chỉ xảy ra ở trong địa phương, tỉnh hay quốc gia mà có thể cả trên thế giới Quá trình toàn cầu hóa và thương mại hóa đòi hỏi cần phải khai thác những yếu tố này một cách hiệu quả trong quá trình sản xuất Những sản phẩm có chất lượng cao, có tính an toàn cao, có giá trị cao là những sản phẩm có tính hòa nhập tốt Vì vậy, việc lựa chọn sản phẩm của địa phương cần có cách nhìn lâu dài và bền vững Tóm lại, sự thay đổi chuỗi cung dẫn đến sự thay đổi hệ thống khai thác thủy sản,

hệ thống canh tác tác động vào quá trình cải thiện sinh kế của người dân [9]

Trang 19

- Nguyễn Văn Toàn, Trương Tấn Quân và Trần Văn Quảng (2012) nghiên cứu:

Ảnh hưởng của chương trình 135 đến sinh kế của đồng bào dân tộc ít người huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững, kết quả

nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù sinh kế của người dân còn ở mức thấp những đã có thay đổi đáng kể, và nhanh chóng trong thời gian qua tác động của chương trình 135 Sự thay đổi này bao gồm từ nguồn vốn nhân lực, đến tự nhiên, tài chính, vật chất và xã hội Ðánh giá của người dân khẳng định xu hướng trên và xác định vai trò quan trọng của chương trình 135, đặc biệt là đầu tư về hệ thống điện, đường, trường trạm cũng như những hỗ trợ phát triển sản xuất [13]

- Võ Hồng Tú, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Thùy Trang và Lê Văn An (2012)

nghiên cứu: Tính tổn thương sinh kế nông hộ bị ảnh hưởng lũ tại tỉnh An Giang và các giải pháp ứng phó Ðề tài nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận có sự tham gia thông

qua sử dụng các công cụ của bộ công cụ PRA và cách tiếp cận khung sinh kế bền vững

để hệ thống hóa cũng như đánh giá tính tổn thương sinh kế nông hộ Mỗi nông hộ sẽ quyết định chiến lược sinh kế của gia đình dựa vào sự kết hợp các nguồn vốn sinh kế này và môi trường chính sách, thể chế cũng như bối cảnh dễ bị tổn thương, trong trường hợp nghiên cứu này, lũ là yếu tố thuộc bối cảnh dễ bị tổn thương và ảnh huởng đến sinh kế cũng như nguồn vốn nông hộ Khi một nguồn vốn sinh kế yếu kém sẽ dẫn đến việc sử dụng kém hiệu quả các nguồn vốn sinh kế còn lại Kết quả nghiên cứu chỉ rằng những giải pháp toàn diện và dựa trên cộng đồng được đánh giá rất cao trong quá trình ứng phó và phục hồi sau lũ [16]

- Huỳnh Văn Chương và Ngô Hữu Hoạnh (2010) nghiên cứu về: Ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến sinh kế người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Việc Nhà nước thu hồi đất

nông nghiệp để chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp làm thay đổi nguồn tài nguyên tạo sinh kế thực sự là một cú sốc lớn gây xáo trộn cuộc sống của người nông dân Các nguồn tài nguyên tạo sinh kế có sự luân chuyển cho nhau Qua điều tra và phân tích chỉ ra rằng, tài sản đất đai của người nông dân chuyển thành vốn tài chính và vốn vật chất, rất ít trường hợp chuyển thành nguồn vốn xã hội và nguồn vốn con người trong nhóm các nguồn tài nguyên tạo sinh kế Nghiên cứu cho thấy nhiều hộ dân tuy có thu nhập cao hơn sau khi chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để thực hiện quá trình đô thị hoá nhưng người dân không yên tâm do thu nhập không ổn định

và cuộc sống tiềm ẩn những bất ổn Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cần có những giải pháp cụ thể hơn về tạo việc làm, tư vấn sử dụng nguồn vốn bồi thường, hỗ trợ đền

bù, tái định cư từ phía Nhà nước để người dân bị thu hồi đất có sinh kế bền vững sau thu hồi đất [5]

- Mai Văn Xuân và Hồ Văn Minh (2009) nghiên cứu về: Sinh kế người dân thị trấn Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị trong quá trình phát triển khu kinh tế - thương mại đặc

Trang 20

biệt Lao Bảo Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo (SECA) được thành lập năm

1998, góp phần khai thác tiềm năng và lợi thế về giao lưu phát triển kinh tế - thương mại của Việt Nam trên hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC) SECA đã có những ảnh hưởng tích cực đến sinh kế của người dân, góp phần tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập; thúc đẩy nhu cầu học tập và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của dân

cư trong vùng Tuy nhiên, SECA cũng có những tác động tiêu cực đến hoạt động sinh

kế người dân như: môi trường bị ô nhiễm, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, có sự phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng đặc biệt là giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số Vân Kiều Nghiên cứu này chỉ ra rằng, để cải thiện sinh kế của người dân tốt hơn, cần thực hiện một số vấn đề cơ bản: Đào tạo nâng cao kĩ năng nghề nghiệp, kĩ năng tiếp cận thông tin cho người lao động địa phương, đặc biệt là đối với người dân tộc Vân Kiều để giúp họ có cơ hội tìm được việc làm tại các cơ sở kinh doanh ở khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo; kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp với các hoạt động phi nông nghiệp nhằm đa dạng hóa nguồn thu và giảm thiểu những rủi

ro cho các hộ dân; kiểm soát chặt chẽ các hoạt động gây ô nhiễm môi trường, nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là thanh niên nhằm hạn chế các tệ nạn xã hội trên địa bàn [26]

- Theo báo cáo tham vấn của ban Quản lý dự án Thủy điện Trung Sơn (2009)

về: Chương trình tái định cư, sinh kế và phát triển dân tộc thiểu số Kế hoạch tái định

cư và cải thiện sinh kế xác định đối tượng dễ bị ảnh hưởng bao gồm: (1) HGĐ mà phụ

nữ làm chủ hộ; (2) những người mù chữ, (3) HGĐ có chủ hộ là người bị tàn tật; (4) HGĐ dưới mức chuẩn nghèo hiện nay của Bộ lao động, thương binh và xã hội (MOLISA), (5) HGĐ trẻ em và người già neo đơn không có đất và các phương tiện hỗ trợ khác; (6) những HGĐ không có đất; và (7) nhóm dân tộc thiểu số tách biệt Kế hoạch tái định cư xác định các nhóm HGĐ dễ bị ảnh hưởng và dành thêm quyền lợi cho họ Nghiên cứu đánh giá về mặt xã hội, đánh giá về sinh kế và đánh giá tác động môi trường và xã hội bổ sung, thông qua tham vấn với người dân bị ảnh hưởng, một loạt những tác động và nguy cơ tác động trong khu vực dự án Khả năng bị tổn thương

ở các bản bị ảnh hưởng phải di dời do dự án chính là cao Mức độ nghèo đói chung ở các bản này là 79% ở các bản này, và 41% số HGĐ được báo cá o là thiếu ăn trong 3 tháng Tỷ lệ những hộ này, được xác định là “hộ nghèo” theo Bộ lao động, thương binh và xã hội, đạt tới 100% ở 6 bản, tất cả họ đều ở huyện Muờng Lát Khả năng đương đầu với những tác động sinh kế của các nhóm dân tộc thiểu số ít hội nhập cũng thấp hơn [1]

- Angus McEwin, Nguyễn Tố Uyên, Thẩm Ngọc Diệp, Hà Minh Trí và Keith

Symington (2007) nghiên cứu: Sinh kế bền vững cho các KBT biển Việt Nam Thông

qua việc tổng hợp các “bài học kinh nghiệm” quốc tế và tại Việt Nam về nhiều loại hình dự án liên kết bảo tồn với phát triển sinh kế, và đánh giá cụ thể tại các địa điểm

Trang 21

KBT biển (KBTB) Việt Nam, nhóm tác giả đã đưa ra các nhận xét về kết quả thu thập được: Nhóm nghiên cứu nhận thấy sinh kế và các kế hoạch KBTB cần phải nắm bắt rõ hơn sự năng động và biến đổi của môi trường kinh tế xã hội tại các nước đang phát triển, nơi mà người nghèo thường thiếu kỹ năng, kiến thức, hiểu biết về kinh doanh, thời gian, sự tự tin, mạng lưới mua bán v.v… để có thể tận dụng các cơ hội tăng trưởng kinh tế và đầu tư kinh doanh Trên cơ sở này, các chiến lược sinh kế cho Hợp phần LMPA cần tập trung nhiều hơn vào kiến tạo một môi trường kinh tế thuận lợi cho cộng đồng Việc xây dựng các dự án tạo nguồn thu nhập thay thế cho cá nhân cần phải quả thật có thể giúp hình thành chiến lược sinh kế thành công tại mỗi điểm KBTB Nó cho phép thử nghiệm, kiểm tra, cải tiến đối với mỗi dự án tạo thu nhập hướng đến những thành phần cụ thể trong cộng đồng (VD: hộ ngư dân) đang có đời sống hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên đang bị cạn kệt (thiếu bền vững), gây tác động xấu đến đa dạng sinh học [22].

- Đinh Đức Thuận (2005) nghiên cứu: Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn ở Việt Nam Trong giai đoạn báo cáo khởi đầu căn cứ vào tài liệu tham khảo và ý

kiến của các chuyên gia, nhóm nghiên cứu đã xác định được 11 vấn đề chủ chốt của những người sống phụ thuộc vào rừng vùng cao, đề ra 3 mục tiêu và 6 giải pháp chiến lược để giảm nghèo và cải thiện sinh kế dựa vào rừng Ba mục tiêu giảm nghèo và cải thiện sinh kế nông thôn dựa vào rừng là: Tăng thu nhập qua đa dạng hoá các nguồn thu

từ rừng, tạo cơ hội việc làm từ phát triển lâm nghiệp, cải thiện sinh kế dựa vào phát triển lâm nghiệp được thẩm định là thực tế và có tính khả thi 6 giải pháp chiến lược để giảm nghèo và cải thiện sinh kế nông thôn dựa vào rừng bao gồm các giải pháp ngắn hạn là: 1) Thực hiện quản lý rừng đa tác dụng dựa vào cộng đồng; 2) Phát triển khuyến lâm có sự tham gia; 3) Xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường; 4) Phát triển lâm nghiệp cộng quản Các giải pháp dài hạn bao gồm: 1) Phát triển chế biến gỗ và LSNG tại vùng cao; 2) Phát triển kinh tế rừng trồng vùng cao Kết quả thẩm định chỉ ra các giải pháp này là thực tế và có tính khả thi [11]

1.2.3 Những nghiên cứu ở Thừa Thiên Huế

- Lê Hiền (2013) đã nghiên cứu: Tiến trình phân tích sinh kế bền vững cho người dân vùng cao ở tỉnh Thừa Thiên Huế Nghiên cứu này đã đưa ra những đặc

trưng các loại nguồn vốn, từ đó xác định được những yếu tố tác động đến sự bền vững sinh kế của người dân ở các xã dự án của CRD Đồng thời, đưa ra 7 bước cơ bản trong phân tích sinh kế hộ nghèo của CRD: bước 1: Đánh giá hiện trạng và chiến lược sinh

kế (5 nguồn vốn của HGĐ); bước 2: Căn cứ vào kết quả của bước 1, CF phân loại HGĐ theo các nhóm hộ với các đặc trưng nghèo hoặc các đặc trưng sinh kế khác nhau; bước 3: Cùng với HGĐ phân loại mức độ quan trọng của 5 loại nguồn vốn (có thể sử dụng công cụ so sách cặp đôi); bước 4: Đánh giá tác động của những rủi ro, sốc, và sự bấp bênh mà HGĐ thường gặp phải trong quá khứ, đồng thời xác định chiều hướng

Trang 22

của những yếu tố này trong tương lai (có thể sử dụng công cụ lược sử HGĐ để tiến hành hoạt động này); bước 5: Đánh giá sự kế hợp các loại nguồn vốn của HGĐ trong các hoạt động sống, đặc biệt là trong giải quyết những biến động về kinh tế, xã hội, và thiên tai; bước 6: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và rủi ro của HGĐ; bước 7:

Hỗ trợ HGĐ lập kế hoạch phát triển sinh kế Và tác giả cũng đề xuất được 7 bước hỗ trợ người dân nâng cao tính bền vững của sinh kế: bước 1: Đánh giá tổng quan tình hình đói nghèo và sinh kế của HGĐ; bước 2: Xây dựng lòng tin cho hộ nghèo Tâm lý của không ít người nghèo là buông xuôi trước hoàn cảnh; bước 3: Cùng với HGĐ xây dựng kế hoạch phát triển ngắn hạn (1năm hoặc 6 tháng) và dài hạn (3 năm hoặc 5 năm); bước 4: Cùng với HGĐ xác định các nguồn lực cần có để hoàn thành kế hoạch đó; bước 5: Hỗ trợ HGĐ tiếp cận các nguồn lực đã được xác định; bước 6: Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch phát triển sinh kế của hộ bằng cách thăm HGĐ thường xuyên; bước 7: Hỗ trợ HGĐ đánh giá việc thực hiện kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch Sau khi hoàn thành một chu kỳ của kế hoạch, cùng với hộ đánh giá hiệu quả của kế hoạch cũng như những hoạt động đã triển khai trong thời gian qua để làm bài học cho kế hoạch mới và cho các HGĐ khác [8]

- Nguyễn Đăng Hào (2012) nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chiến lược sinh kế của các nông hộ tại vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế

Trên cơ sở tiếp cận khung phân tích chiến lược sinh kế với việc sử dụng kết hợp cả phương pháp thống kê mô tả và mô hình logit đa thức, nghiên cứu này cung cấp các thông tin liên quan đến chiến lược sinh kế và các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chiến lược sinh kế của các nông hộ tại vùng cát ven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng dựa vào nông nghiệp vẫn là một chiến lược sinh kế quan trọng đối với các hộ trong khu vực Tuy vậy, chiến lược sinh kế đang có sự thay đổi theo hướng đa dạng hóa và có sự khác biệt lớn giữa các điểm nghiên cứu và giữa các nhóm hộ Các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến sự khác biệt về chiến lược sinh kế

là tỷ lệ phụ thuộc, trình độ học vấn của chủ hộ, qui mô vốn và qui mô đất đai Do vậy, việc đẩy mạnh các hoạt động nâng cao năng lực thông qua các chương trình đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao kiến thức và tay nghề cho người dân là rất quan trọng Về lâu dài việc đầu tư nhiều hơn nữa cho giáo dục ở khu vực này cần được chú trọng Bên cạnh đó việc cung cấp các chương trình tín dụng và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng cho các nông hộ trong khu vực này cũng rất quan trọng [7]

- Nguyễn Quang Phục và Nguyễn Xuân Khoát (2010) nghiên cứu: Sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất tại phường Thủy Dương, Thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế Nghiên cứu này dựa vào phương pháp tiếp cận sinh kế để đánh giá

sự chuyển đổi về lao động, việc làm và thu nhập của các HGĐ bị thu hồi đất phục vụ các dự án phát triển của tỉnh Thừa Thiên Huế Kết quả nghiên cứu tại Thủy Dương cho thấy, nguồn thu nhập của các HGĐ đã thay đổi một cách mạnh mẽ và đa dạng Thu

Trang 23

nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của các HGĐ, trong khi thu nhập từ nông nghiệp ngày càng giảm xuống Chuyển đổi mục đích sử dụng đất

đã làm tăng thêm sự khác biệt về mặt xã hội trong quá trình thích ứng và tìm kiếm chiến lược sinh kế Một số lao động chủ yếu là người nghèo và những người trên 40 tuổi đang đối mặt với nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm bởi vì thiếu kỹ năng, lý

do sức khỏe, trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn [10]

1.2.4 Những nghiên cứu ở Vườn Quốc Gia Bạch Mã

- Lê Thị Hằng (2013) nghiên cứu: Đánh giá tình hình khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ theo thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích ở Vườn Quốc gia Bạch Mã tại xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông Nghiên cứu này sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông

thôn có sự tham gia của người dân (PRA) và phương pháp cho điểm để tìm hiểu tình hình khai thác và sử dụng các loại sản phẩm rừng bởi cộng đồng địa phương ; điều tra hiện trường theo các tuyến để đánh giá mức độ đa dạng của các loại LSNG Kết quả nghiên cứu tại Thượng Nhật cho thấy: Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên

có mối quan hệ gần gũi với cuộc sống của người dân ở xã Thượng Nhật Các hoạt động khai thác TNTN quá mức của người dân tộc Ca Tu ở từng thôn từ rừng tự nhiên của VQGBM và rừng cộng đồng vẫn không hề suy giảm so với trước đây Loài LSNG được khai thác từ vùng lõi của rừng đặc dụng là cá, Ếch, Rắn và Ốc và từ rừng cộng đồng là hoa đót, cây thuốc và các loại cây thực phẩm Nghiên cứu đã nêu ra 7 loài LSNG đã được người dân ở 7 thôn xã Thượng Nhật lựa chọn để đăng ký tham gia chia

sẻ lợi ích là Mây, Hạt Ươi, Nấm Linh chi, Măng, Mật ong, Heo rừng và Ốc Nghiên cứu cũng chỉ ra 3 tác động tiêu cực có thể xảy ra khi đồng ý cho người dân vào khai thác LSNG trong vùng lõi: (1) lợi dụng để khai thác quá mức các loài Mây và các LSNG khác, (2) người dân địa phương hoặc lâm tặc từ bên ngoài có thể lợi dụng để khai thác gỗ bất hợp pháp, (3) lợi dụng để săn bắt, đặt bẫy các loài động vật hoang dã

và các động vật quý hiếm Tuy nhiên, nghiên cứu này nhận thấy rằng mô hình thí điểm chia sẻ lợi ích với cộng đồng thôn ở VQGBM đã cho kết quả tốt, phát huy được trách nhiệm tự quản, tự giám sát trong cộng đồng; Góp phần khai thác bền vững LSNG và nâng cao chất lượng đời sống cho người dân địa phương Nhận thức của cộng đồng về vai trò của rừng và đa dạng sinh học đã có nhiều tiến bộ Hầu hết người dân đều quan tâm đến công tác bảo vệ rừng và bảo vệ đa dạng sinh học [6]

- Theo báo cáo tham vấn xã hội của VQGBM (2012): Với địa bàn nghiên cứu trên 3 huyện: Huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam và huyện Phú Lộc, huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế Báo cáo này đã điều tra được tình hình kinh tế xã hội, tình hình sử dụng đất rừng, quản lý rừng và đi sâu vào phân tích sinh kế của xã A Ting, xã Sông Kôn, xã Xuân Lộc Đánh giá ảnh hưởng tiềm năng về kinh tế và xã hội của dự án

Trang 24

đầu tư VCF đề xuất các biện pháp giảm thiểu tiềm năng thông qua cơ chế chia sẻ lợi ích, hoặc các hoạt động hỗ trợ sinh kế quy mô nhỏ (xem xét nhu cầu đặc biệt của các nhóm dân tộc thiểu số và các nhóm dễ tổn thương khác được giải quyết bằng mục đích của họ) Đánh giá rủi ro tiềm năng về kinh tế và xã hội của dự án đầu tư VCF từ đó đưa ra các yếu tố giảm thiểu (như kết quả tốt trong giai đoạn đầu tiên, giám sát đánh giá có hiệu quả, các phương pháp xây dựng năng lực được áp dụng, vv) [25].

- Theo báo cáo tư vấn của Nguyễn Viết Tuân (2012) về: Đánh giá nhu cầu sinh

kế, xác định các hộ mục tiêu và xây dựng đề xuất các dự án nhỏ cải thiện sinh kế Tiến

trình hoạt động đánh giá thực hiện bao gồm 6 bước: bước 1: Thu thập các thông tin liên quan; bước 2: Xây dựng kế hoạch, nội dung khảo sát và lựa chọn phương pháp công cụ (sử dụng nhóm các công cụ của PRA); bước 3: Khảo sát hộ và họp cộng đồng thôn trong xã; bước 4: Tổng hợp viết báo cáo khảo sát hộ; bước 5:Thông qua hội đồng

xã và tham vấn qua các bên liên quan; bước 6: Viết báo cáo cuối cùng Nghiên cứu này đã xác định được nhu cầu đối với hoạt động sinh kế của người dân xã Thượng Nhật như: trồng cao su, trồng keo, cải tạo vườn, chăn nuôi heo, chăn nuôi bò, nuôi cá, Nhu cầu lớn nhất của người dân tập trung vào hoạt động trồng keo, chăn nuôi heo, chăn nuôi bò Các hoạt động khác, người dân cũng có nhu cầu nhưng chiếm tỉ lệ rất thấp Xuất phát từ những nhu cầu đối với hoạt động sinh kế của cộng đồng, nhà nghiên cứu đã đề xuất được 10 dự án nhỏ nhằm cải thiện sinh kế cho người dân xã Thượng Nhật [17]

- Theo báo cáo tư vấn của Trần Nam Tú (2010) về: Điều tra khảo sát, đánh giá các mô hình sinh kế và xây dựng tuyển chọn một số mô hình áp dụng tại 4 xã thuộc vùng đệm Vườn Quốc Gia Bạch Mã Hoạt động của nghiên cứu này được tiến hành

theo 5 bước chính: bước 1: Lập kế hoạch nghiên cứu; bước 2: Nghiên cứu hiện trường; bước 3: Phân tích số liệu và viết báo cáo (bản dự thảo); bước 4: Báo cáo kết quả; bước 5: Hoàn chỉnh báo cáo Kết quả nghiên cứu được có 3 nhóm mô hình sinh kế chính trên địa bàn 4 xã: Thượng Nhật, Hương Lộc, Hương Phú, A Ting (1) Mô hình sinh kế dựa vào rừng như: mô hình trồng keo, cây cao su, trồng Tre lấy măng, trồng Lồ ô, trồng Mây dưới tán rừng, vườn cây thuốc Nam (2) Mô hình sinh kế dựa vào vườn nhà-vườn đồi (3) Mô hình chăn nuôi như: mô hình chăn nuôi lợn, trồng cỏ nuôi bò, nuôi cá nước ngọt, chăn nuôi gà-vịt Từ đó, xây dựng tuyển chọn được một số mô hình sinh kế như: mô hình trồng Lồ ô, trồng Tre lấy Măng, vườn rau gia đình, trồng chuối Mốc, nuôi cá nước ngọt, chăn nuôi heo thịt (Móng Cái) [15]

- Theo báo cáo tư vấn của Dương Viết Tình (2009) về: Đánh giá nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ và xây dựng thỏa thuận chia sẻ lợi ích giữa Vườn Quốc Gia Bạch Mã và cộng đồng Nghiên cứu đã cho thấy tầm quan trọng của lâm sản ngoài gỗ

đối với đời sống của người dân khu vực vùng đệm Nghiên cứu đã đưa ra được những

Trang 25

loại LSNG (có nguồn gốc thực vật) thường xuyên được người dân thu hái như: tranh, đót, lá nón, mây, tre, nứa, lồ ô và các loại dược liệu Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy rằng nguồn tài nguyên LSNG này đang bị suy giảm Từ đó, nghiên cứu đã xây dựng được thỏa thuận chia sẻ lợi ích giữa VQGBM và cộng đồng bao gồm các điều khoản: (1) Quy định về một số loài LSNG được phép khai thác tại rừng do VQGBM quản lý (2) Quy định về quy trình kỹ thuật khai thác các loại LSNG tại rừng do VQGBM quản lý (3) Quy định việc khai thác các loại LSNG chỉ được dành cho cộng đồng dân cư trong xã và phải được sự đồng ý của Ban quản lý VQGBM và UBND xã theo trình tự thủ tục quy định (4) Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan khi tham gia thực hiện thỏa thuận quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN) ở VQGBM (5) Các quy định về chế độ thưởng, phạt (6) Các điều khoản thi hành [12].

1.3 Tính mới của đề tài

Từ những nghiên cứu về sinh kế trên Thế giới và Việt Nam đề tài đã tiếp thu những kinh nghiệm và những phương pháp của những người đi trước Để đánh giá tác động của việc mở rộng VQGBM đến sinh kế của người dân đề tài đã dựa trên khung phân tích sinh kế Tuy nhiên, đề tài cũng có điểm mới sau đây:

Trước đây, để đánh giá sinh kế, người ta thường đánh giá theo truyền thống cũ

Họ xem xét nó dựa trên 3 yếu tố: kinh tế, xã hội, môi trường Ba yếu tố này được xem

là 3 đỉnh của một tam giác và lấy chất lượng cuộc sống của con người làm trung tâm

Để nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững thì 3 yếu tố này cần phải phát triển đồng đều và đi đến một mô hình tam giác đều Dựa vào mô hình này mà các nhà nghiên cứu đưa ra những giải pháp phát triển bền vững cho người dân

Ở đề tài này, để nghiên cứu sinh kế người dân, tôi phân tích dựa theo khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (2001) và tập trung phân tích tài sản sinh kế của người dân, bao gồm 5 nguồn vốn Năm nguồn vốn này thực chất là được tách ra từ 3 yếu tố: Yếu tố kinh tế được tách ra thành nguồn vốn vật chất và tài chính, yếu tố xã hội được tách ra thành nguồn vốn con người và nguồn vốn xã hội, và yếu tố môi trường chính là nguồn vốn tự nhiên Nhưng 5 nguồn vốn này được xem xét và phân tích một cách chi tiết và cụ thể hơn

- Nguồn vốn tự nhiên: Ðất, nước, không khí, rừng, khoáng sản, …

- Nguồn vốn con người: Kiến thức, kỹ năng trong quản lý sản xuất, kinh doanh, sức khỏe, khả năng lao động, số lượng lao động của hộ

- Nguồn vốn xã hội: Sự tôn trọng các quy định về mối quan hệ, cácmạng lưới

và tổ chức xã hội, các đoàn thể như hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên có ảnh hưởng gì tới sự phát triển kinh tế của hộ, sự trợ giúp của các đoàn

Trang 26

thể này được đánh giá thông qua các hoạt động cụ thể như tuyên truyền ý thức bảo vệ rừng, vốn vay,

- Nguồn lực vật chất: Nhà cửa, tài sản, trang thiết bị vật tư, máy móc, các vườn cây lâu năm, đường giao thông, trường học, bệnh viện, nhà văn hoá, hệ thống thông tin liên lạc…

- Nguồn lực tài chính: Thu nhập và tiết kiệm, sự tiếp cận các nguồn vốn như: Ngân hàng nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách xã hội, các nguồn vốn từ các

tổ chức phi chính phủ, khả năng về tài chính và mối quan hệ xã hội giữa các hộ trong thôn xóm để có thể cho nhau vay vốn trợ giúp vốn vay cho hộ để phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua sắm các trang thiết bị máy móc

Năm nguồn vốn này được xem là 5 đỉnh của hình ngũ giác Một sinh kế được xem là bền vững khi 5 nguồn vốn này phát triển theo hình ngũ giác đều

Nghiên cứu này giả định rằng: Sinh kế người dân trước khi mở rộng VQGBM

là bền vững Tức là, 5 nguồn vốn sinh kế của người dân phát triển theo hình ngũ giác đều Sau khi mở rộng VQGBM, 5 nguồn vốn này sẽ bị tác động và có sự thay đổi, hình ngũ giác này sẽ phát triển theo những chiều hướng nào Sự thay đổi đó có ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế người dân Đây là câu hỏi đặt ra cần phải giải quyết ở nghiên cứu này Đây cũng là điểm mới của đề tài

Trang 27

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1.Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng, tác động của việc mở rộng VQGBM đến sinh kế người dân địa phương, những cơ hội, thách thức đối với sự phát triển kinh tế xã hội nhằm nâng cao đời sống cho người dân khu vực mở rộng

2.1.2.Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá công tác quy hoạch và mở rộng VQGBM

- Đánh giá tác động của việc mở rộng VQGBM đến sinh kế của người dân địa phương thông qua việc phân tích được sự thay đổi các nguồn lực: tự nhiên, xã hội, tài chính, vật chất và con người

- Tìm ra được những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế xã hội của người dân khu vực mở rộng

- Đề xuất các giải pháp để khôi phục sinh kế bền vững cho người dân tại địa điểm nghiên cứu

2.2 Nội dung nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu và đánh giá sinh kế của người dân 2 xã: Thượng Nhật và Thượng Quảng, huyện Nam Đông thuộc khu vực mở rộng của VQGBM với những nội dung như sau:

2.2.1 Đánh giá công tác quy hoạch và mở rộng VQGBM

2.2.1.1 Căn cứ pháp lý của công tác quy hoạch VQGBM

2.2.1.2 Nhiệm vụ của VQGBM trong công tác quy hoạch

Trang 28

2.2.2 Tác động của việc mở rộng VQGBM đến môi trường tự nhiên, kinh tế, văn

hóa và xã hội ở khu vực mở rộng

2.2.2.1 Hiện trạng môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa và xã hội trước khi mở rộng

VQGBM

2.2.2.2 Tác động chính của việc mở rộng VQGBM đến môi trường tự nhiên, kinh tế,

văn hóa và xã hội ở khu vực mở rộng

- Tác động đến môi trường tự nhiên

- Tác động đến kinh tế

- Tác động đến văn hóa và xã hội

2.2.3 Sự thay đổi nguồn vốn sinh kế của người dân trước và sau khi mở rộng

VQGBM

2.2.3.1 Đánh giá sự thay đổi sinh kế của các nhóm người dân

- Sự thay đổi sinh kế của các nhóm người: Sống phụ thuộc nhiều vào rừng, phụ thuộc trung bình vào rừng và ít phụ thuộc vào rừng

- Sự thay đổi sinh kế của 2 nhóm người: Nhóm hộ được giao rừng và nhóm hộ không được giao rừng

- Sự thay đổi sinh kế của các nhóm hộ: khá, trung bình, nghèo, cận nghèo

2.2.3.2 Sự thay đổi sinh kế của người dân giữa xã Thượng Nhật và xã Thượng Long

2.2.4 Các chương trình hỗ trợ về sinh kế cho người dân

2.2.5 Những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế xã hội của người

dân khu vực mở rộng

2.2.6 Các giải pháp khôi phục sinh kế bền vững cho người dân khu vực mở rộng

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Lựa chọn địa điểm nghiên cứu

2.3.1.1 Chọn vùng nghiên cứu

Khu vực mở rộng VQGBM bao gồm 2 tỉnh:

- Tỉnh Quảng Nam: huyện Đông Giang

- Tỉnh Thừa Thiên Huế: huyện Nam Đông, huyện Phú Lộc

Đề tài đã chọn huyện làm đại diện cho vùng nghiên cứu dựa trên các tiêu chí sau:+ Là huyện thuộc vùng đệm của VQGBM

+ Diện tích rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng lớn (phục vụ cho công tác quy hoạch VQGBM)

Trang 29

+ Đời sống của người dân các xã vùng đệm thuộc huyện đó phải gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc vào rừng nhiều.

+ Thành phần dân tộc đa dạng

+ Huyện có nhiều chương trình dự án hỗ trợ cho sinh kế

Do đó, huyện Nam Đông là huyện hội tụ đầy đủ các tiêu chí trên nên huyện Nam Đông được chọn làm khu vực nghiên cứu

+ Có sự tương phản về diện tích rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng giữa hai

xã (nhiều và ít)

+ Thuận lợi trong việc tiếp cận, kiểm chứng thông tin

Từ những căn cứ trên: 2 xã: Thượng Nhật Và Thượng Long được chọn làm 2 xã đại diện cho khu vực nghiên cứu

2.3.1.3 Chọn hộ nghiên cứu

Chọn hộ điều tra theo phương pháp chọn ngẫu nhiên, là các nông hộ trên địa bàn của 2 xã: Thượng Nhật và Thượng Long

Đối tượng điều tra tập trung vào người dân tộc Katu vì:

+ Họ phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng

+ Chiếm tỉ lệ lớn trong xã (chiếm 80-95% dân số của xã)

Trên cơ sở đó, chọn hộ điều tra dựa trên các tiêu chí: thu hồi rừng, hiện trạng kinh tế hộ, sống phụ thuộc vào rừng, được giao và không được giao rừng

Số hộ được chọn của mỗi xã = 10% số hộ của mỗi xã.Và số hộ được chọn ở mỗi thôn = 10% số hộ ở mỗi thôn Theo kết quả điều tra thu được:

Trang 30

Bảng 2.1: Dung lượng mẫu được chọn của mỗi thôn

ở xã Thượng Nhật và Thượng Long

- Liên hệ với VQGBM để thu thập những thông tin cần thiết: Các văn bản pháp

lý và các báo cáo, đánh giá liên quan đến khu vực mở rộng và bản đồ khu vực mở rộng

- Liên hệ với UBND các xã để thu thập các thông tin chung của các xã: Bản đồ hành chính, tình hình kinh tế xã hội, các báo cáo liên quan đến việc mở rộng VQGBM,

Trang 31

2.3.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp là số liệu mới chưa được công bố, tính toán chính thức trong từng nông hộ cũng như cộng đồng thôn bản, số liệu này phản ánh một cách toàn diện đời sống văn hoá, kinh tế - xã hội, đặc biệt là vấn đề sinh kế của người dân địa phương Để thu thập được các thông tin, số liệu này chúng tôi sử dụng bộ công cụ PRA, cụ thể như sau:

- Trực tiếp phỏng vấn nông dân, tạo cơ hội cho họ trao đổi bàn bạc đưa ra những khó khăn, nguyện vọng Thông tin thu thập được chủ yếu dùng cho việc phân tích hiện trạng và đưa ra những định hướng cho sự phát triển sinh kế bền vững của người dân địa phương

- Phỏng vấn cấu trúc: Ðể thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên

cứu, tôi sẽ tiến hành điều tra các nông hộ bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp một thành viên hiểu biết về kinh tế của gia đình Ðiều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi

mở Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu được thiết kế để thu thập thông tin các nhóm sau:

(1) Nhóm thông tin về HGĐ và các đặc điểm nhân khẩu của hộ

(2) Nhóm thông tin về sự phụ thuộc của nông hộ vào rừng

(3) Nhóm thông tin về tình hình giao rừng

(4) Nhóm thông tin về các nguồn vốn của HGĐ: Nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn xã hội, nguồn vốn con người, nguồn vốn vật chất và nguồn vốn tài chính trước và sau khi mở rộng VQGBM

(5) Nhóm thông tin so sánh sự thay đổi các nguồn vốn trước và sau khi mở rộng VQGBM

(6) Nhóm thông tin về các hoạt động sinh kế của người dân hiện nay

(7) Nhóm thông tin về các hoạt động hỗ trợ sinh kế cho người dân của VQGBM

- Phương pháp quan sát trực tiếp: Ðây là phương pháp rất sinh động và thực

tế, bổ sung thêm các thông tin tại địa bàn nghiên cứu trong quá trình đi điều tra phỏng vấn hộ thông qua ghi chép, chụp ảnh lại một cách cụ thể, thực tế, phong phú và khách quan

2.3.3 Phương pháp xử lý thông tin

2.3.3.1 Đối với số liệu thứ cấp

Sau khi được thu thập, toàn bộ thông tin được kiểm tra ở ba khía cạnh đầy đủ, chính xác, kịp thời và khẳng định độ tin cậy sau đó được xử lý, tính toán và phản ánh

Trang 32

thông qua bảng, biểu hoặc đồ thị.

2.3.3.2 Đối với số liệu sơ cấp

- Sắp xếp bảng điều tra theo các nhóm tác động của việc mở rộng VQGBM

- Sử dụng phần mềm SPSS và Excel: Nhập dữ liệu vào Excel (từng mục theo sự sắp xếp trên) và tách riêng hai phần để xử lí (trước và sau khi mở rộng): Có tất cả các câu hỏi, các dữ liệu đã thu được từ phỏng vấn Sau đó chuyển qua phần mền SPSS 16.0 và xử lí số liệu để thu được các kết quả thống kê mô tả

- Dựa vào kết quả số liệu đã xử lí để phân tích, đánh giá sự thay đổi sinh kế trước và sau khi mở rộng VQGBM ở mỗi xã

2.3.4 Phương pháp phân tích đánh giá

- Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh

tế xã hội vào việc mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội thông qua số liệu thu thập được Phương pháp này được dùng để tính, đánh giá các kết quả nghiên cứu từ các phiếu điều tra hộ

- Phương pháp phân tích so sánh: Mục tiêu của việc phân tổ so sánh trong nghiên cứu là làm cho sự đồng nhất trong cùng một nhóm và sự khác biệt giữa các nhóm tăng lên Phân tổ các hộ điều tra theo tiêu chí: mức độ phụ thuộc sinh kế vào rừng của nông hộ, giao rừng, và phân loại hộ để tiến hành phân tích đánh giá xem có

sự khác biệt các giữa các nhóm hộ Từ đó tìm ra nguyên nhân có sự khác biệt để đề ra giải pháp khắc phục

2.3.5 Tham khảo ý kiến đóng góp của các bên liên quan

Cùng với lãnh đạo chính quyền địa phương 2 xã, các chuyên gia của VQGBM trao đổi để tham khảo ý kiến, đưa ra các nhận định, và các biện pháp đề xuất để khôi phục sinh kế bền vững cho người dân 2 xã thuộc khu vực mở rộng của VQGBM

2.3.6 Phương pháp luận đánh giá tác động và sinh kế

Hai cách tiếp cận đánh giá tác động:

- Ðánh giá tác động của việc mở rộng VQGBM đối với các nhóm hộ

- Ðánh giá mức độ thay đổi sinh kế của người dân trước khi mở rộng và sau khi

mở rộng VQGBM

Các tiêu chí đánh giá sinh kế

(1) Nguồn vốn tự nhiên: Ðất, nước, không khí, rừng, khoáng sản, …

(2) Nguồn vốn con người: Kiến thức, kỹ năng trong quản lý sản xuất và kinh doanh, sức khỏe, khả năng lao động, số lượng lao động của hộ

Trang 33

(3) Nguồn vốn xã hội: Sự tôn trọng các quy định về mối quan hệ, các mạng lưới

và tổ chức xã hội, các đoàn thể như hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên có ảnh hưởng gì tới sự phát triển kinh tế của hộ, sự trợ giúp của các đoàn thể này được đánh giá thông qua các hoạt động cụ thể như tuyên truyền ý thức bảo vệ rừng, vốn vay,

(4) Nguồn lực vật chất: Nhà cửa, tài sản, trang thiết bị vật tư, máy móc, các vườn cây lâu năm, đường giao thông, trường học, bệnh viện, nhà văn hoá, hệ thống thông tin liên lạc…

(5) Nguồn lực tài chính: Thu nhập và tiết kiệm, sự tiếp cận các nguồn vốn như: Ngân hàng nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách xã hội, các nguồn vốn từ các

tổ chức phi chính phủ, khả năng về tài chính và mối quan hệ xã hội giữa các hộ trong thôn xóm để có thể cho nhau vay vốn trợ giúp vốn vay cho hộ để phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua sắm các trang thiết bị máy móc

Năm nguồn vốn sinh kế này được xem là 5 đỉnh của hình ngũ giác Khi sinh kế của người dân được xem là bền vững thì hình ngũ giác này trở thành hình ngũ giác đều

Ở nghiên cứu này, giả định rằng: Sinh kế của người dân trước khi mở rộng VQGBM được xem là bền vững, các nguồn vốn sinh kế sẽ phát triển tương đối đồng đều nhau và hình ngũ giác sẽ phát triển thành hình ngũ giác đều

Tự nhiênCon ngườiVật chấtTài chính

Xã hội

Sinh kế bền vững

Trang 34

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tài sản sinh kế

Sau khi mở rộng VQGBM, diện tích rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng lớn Trong khi, đại bộ phận người dân ở đây sống phụ thuộc vào rừng Do đó, khi diện tích VQGBM được mở rộng sẽ có những tác động đến sinh kế của người dân địa phương Nên diện tích rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng được xem là cú sốc Cú sốc này tác động đến các nguồn vốn sinh kế, làm các nguồn vốn thay đổi Khi đó, hình ngũ giác đều sẽ bị lệch So sánh hình ngũ giác đều trước và sau khi mở rộng VQGBM, tìm

ra được sự phát triển không bình thường ở những nguồn vốn nào Từ đó, đề xuất giải pháp khôi phục sinh kế bền vững cho người dân theo từng nhóm nguồn vốn

2.3.7 Công cụ sử dụng trong nghiên cứu

Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý số liệu thống kê, tính toán các chỉ tiêu như: Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, phương sai và để kiểm định các chỉ tiêu phân tích định tính và định lượng trong đề tài nghiên cứu

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đánh giá công tác quy hoạch và mở rộng VQGBM

3.1.1 Căn cứ pháp lý của công tác quy hoạch và mở rộng VQGBM

Vườn Quốc gia Bạch Mã (VQGBM) được thành lập năm 1991 theo Quyết định

số 214/CP và được quy hoạch mở rộng vùng lõi và vùng đệm thuộc địa giới hành chính hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam theo Quyết định số 01/QĐ-TTg ngày 02/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh, mở rộng diện tích Vườn

Để xây dựng quy hoạch và mở rộng VQGBM cần dựa vào những căn cứ pháp

lý (những nghị định, quyết định, thông tư và các bộ luật liên quan) như sau:

Quyết định 214/CT-QĐ ngày 15 tháng 7 năm 1991 của Chủ tịch HĐBT nay là Thủ tướng Chính phủ phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật VQGBM

Quyết định số 73/1999/QĐ/BNN/TCCB ngày 5 tháng 5 năm 1999 về chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của VQGBM

Quyết định 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001về quy chế quản lý rừng phòng

hộ, đặc dụng, sản xuất là RTN ban hành

Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam

Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2002 của chính phủ về sửa đổi,

bổ sung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành kèm theo nghị định 18/HĐBT ngày 17/01/1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định quy định danh mục động vật , thực vật hoang dã quý hiếm và chế độ quản lý bảo vệ

Căn cứ chỉ thị 359/TTg ngày 29 tháng 5 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã

Căn cứ nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, Nghị định 12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 về việc bổ sung sửa đổi một số điều của quy chế nói trên

Căn cứ Công văn số 129/KH-TH ngày 29/8/1996 của Cục phát triển lâm nghiệp (nay là Cục lâm nghiệp) về việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã;

Căn cứ Quyết định số 1921/2003/QĐ-UB ngày 11/7/2003 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc phê duyệt phương án quy hoạch ba loại rừng tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2001-2010

Căn cứ văn bản số 57/TB của UBND tỉnh Thừa Thiên huế ngày 16 tháng 4 năm

2004 về kết luận của UBND tỉnh tại cuộc họp ngày 30/3/2004 về việc chuyển giao đất VQGBM cho địa phương sản xuất và mở rộng quy mô diện tích của vườn

Trang 36

Căn cứ văn bản số 1355/UB-NN ngày 10 tháng 4 năm 2004 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế gửi Bộ NN & PTNT về việc xin chủ trương điều chỉnh, mở rộng ranh giới VQGBM.

Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 được Quốc hội thông qua ngày

03 tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 01/4/2005;

Luật bảo vệ môi trường 2005;

Quyết định số 192/2003/QĐ - TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Việt Nam;

Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý rừng; Thông tư số 99/2006/QĐ-BNN, ngày 06/11/2006 hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế quản lý rừng;

Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020;

Quyết định số 572/2008/QĐ/KL-VP ngày 17/6/2008 của Cục Kiểm lâm về chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của VQGBM;

Quyết định số 13/QĐ-TCLN ngày 23/3/2010 Quy định chức năng, nhiệm vụ và

cơ cấu tổ chức của các đơn vị sự nghiệp trong cơ cấu Tổng Cục Lâm nghiệp;

Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách chi trả về dịch vụ môi trường rừng;

Quyết định số 236/QĐ-BNN-KH ngày 23 tháng 9 năm 2009 về việc phê duyệt nội dung đề cương, tổng dự toán kinh phí lập dự án quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững VQGBM giai đoạn 2010 - 2020;

3.1.2 Nhiệm vụ của VQGBM trong công tác quy hoạch

Bảo vệ tài nguyên, các giá trị khoa học đối với hệ động vật, thực vật điển hình

và HST giao thoa giữa hai luồng khí hậu miền Bắc và miền Nam và phân bố theo đai cao từ thấp đến 1700m so với mặt biển: bảo tồn các loài động vật đặc hữu và quý hiếm như: gà Lôi lam mào trắng, Trĩ Sao, Voọc ngũ sắc, Hổ, Sao La, Mang Lớn, … và các loài thực vật đặc hữu và quý hiếm như Côm Bạch Mã, Tùng Bạch Mã, Trầm hương, Trắc, Cẩm Lai, Kiền Kiền, …

Duy trì chức năng phòng hộ đầu nguồn của các lưu vực sông Truồi, sông Tả Trạch (thượng nguồn sông Hương), sông Cu Đê, sông Côn, sông Vàng, … góp phần giảm thiểu thiên tai lũ lụt, hạn hán, ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân trong khu vực

Thực hiện tốt chính sách về dịch vụ môi trường, tổ chức nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu bảo tồn và giáo dục nâng cao nhận thức bảo tồn

Trang 37

Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý bảo tồn kết hợp phát triển DLST, phát triển cộng đồng góp phần cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng nông thôn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư vùng đệm nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững trong khu vực.

3.1.3 Quy hoạch và mở rộng VQGBM

Điều chỉnh quy hoạch, mở rộng diện tích VQGBM thuộc hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam, nằm trên địa bàn hành chính của tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Nam

- Tổng diện tích tự nhiên của VQGBM sau khi điều chỉnh quy hoạch mở rộng là: 37.487 ha, trong đó: trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế là 34.380 ha, tỉnh Quảng Nam là 3.107 ha.Diện tích Vườn được chia thành 42 tiểu khu, trong đó phần mở rộng

có 17 tiểu khu, bao gồm 3 tiểu khu thuộc rừng phòng hộ Lâm trường Phú Lộc, 11 tiểu khu thuộc rừng phòng hộ Lâm trường Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế và 3 tiểu khu thuộc rừng phòng hộ huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam

- Diện tích các phân khu chức năng:

Diện tích vùng lõi: 37.487 ha, trong đó:

+ Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 12.064,8 ha thuộc 10 tiểu khu nằm trên địa bàn 4 xã: Lộc Điền, Lộc Trì huyện Phú Lộc, xã Hương Lộc, Thượng Lộ huyện Nam Đông; phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có chức năng bảo vệ nguyên vẹn các HST, đảm bảo nơi cư trú cho các loài động thực vật quý hiếm sinh trưởng và phát triển Bảo tồn toàn bộ HST, các kiểu rừng, cấu trúc tầng thứ của rừng và sự đa dạng của các loài động thực vật, đặc biệt là các loài quý hiếm, đặc hữu có nguy cơ bị tiêu diệt Nghiêm cấm mọi hình thức tác động đến khu vực này

+ Phân khu khu phục hồi sinh thái có diện tích 20.234,0 ha thuộc 33 tiểu khu trên địa bàn 7 xã Lộc Điền, Lộc Hoà huyện Phú Lộc và xã Hương Phú, Hương Lộc, Thượng Lộ, Thượng Nhật, Thượng Long huyện Nam Đông, xã A Ting, Sông Kôn huyện Đông Giang, bao quanh phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, sát với biên giới của VQG Phân khu này có chức năng phục hồi rừng làm lá chắn ngăn cách tác động của dân cư xung quanh VQG vào phân khu bảo vệ nghiêm ngặt

+ Phân khu dịch vụ hành chính có diện tích 5.188,2 ha trên 6 tiểu khu, chủ yếu thuộc địa bàn xã Lộc Trì, Lộc Điền huyện Phú Lộc Đây là khu vực quanh đỉnh núi Bạch mã, quanh hồ Truồi, và một dải hẹp dọc đường 14B từ Nam Đông đi Đà Nẵng, nằm lọt giữa các đỉnh và dông núi cao, độ cao từ 900m đến 1.450m Phân khu này có chức năng là nơi tập trung xây dựng CSHT quan trọng để phục vụ công tác quản lý dịch vụ du lịch và nghiên cứu khoa học, thí điểm cho thuê môi trường rừng để phát triển du lịch

Trang 38

Diện tích vùng lõi được mở rộng trên địa bàn 2 xã: xã Thượng Nhật có tổng diện tích tự nhiên là 7.801 ha, xã Thượng Long có tổng diện tích tự nhiên là 1.903 ha

Diện tích vùng đệm:Vùng đệm của VQGBM sau khi mở rộng có diện tích là 58.676 ha, bao gồm 11 xã, thị trấn thuộc các huyện: Phú Lộc, gồm các xã: (Xuân Lộc, Lộc Hòa, Lộc Điền, Lộc Trì, thị trấn Phú Lộc) và huyện Nam Đông gồm các xã: (Thượng Long, Thượng Nhật, Thượng Lộ, Hương Phú, Hương Lộc, thị trấn Khe Tre) của tỉnh Thừa Thiên Huế; huyện Đông Giang thuộc 4 xã là: (xã Tư, A-tinh, Sông Côn,

Ta Lu) của tỉnh Quảng Nam Chức năng của vùng đệm là vành đai bảo vệ, rào chắn phòng hộ cho VQG

Bên cạnh việc mở rộng diện tích, xác định ranh giới và diện tích các phân khu chức năng như đã nêu trên,Vườn đã tiến hành các công tác điều chỉnh nhân sựvà xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị để phục vụ cho công tác QLBVR, bảo tồn ĐDSH

- Đa dạng hoá các HST bảo tồn, tạo khu rừng mẫu ở miền trung với các HST khác nhau, đa dạng về động thực vật phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, bảo

vệ nguồn gen và phát triển DLST

- Tương đối đảm bảo diện tích cư trú cho các loài động vật: Mang lớn, Mang Trường, Sao la, Voọc ngũ sắc, đảm bảo vùng hoạt động kiếm ăn cho các loài thú như: Sao la, Mang lớn, Mang Trường Sơn, Nhím, Sóc, và là nơi sinh sống của các loài chim như: Chìa vôi, Trĩ sao, Gà lôi lam mào trắng,

- VQGBM là khu rừng đặc dụng có giá trị phòng hộ đầu nguồn, là nơi điều hoà nguồn nước của các con sông lớn trong vùng như sông Truồi, sông Cuđê và sông Tả Trạch là một nhánh sông đầu nguồn của dòng sông Hương chảy ra biển Đông Độ che phủ của rừng dự kiến vào năm 2020 sẽ tăng lên 85% và cấu trúc rừng được cải thiện sẽ bảo đảm duy trì và điều hoà nguồn nước, cũng như chống xói mòn và rửa trôi đất, giúp nhân dân và chính quyền địa phương phát triển bền vững tài nguyên rừng

- Phần diện tích rừng được VQGBM mở rộng, trước đây thuộc sự quản lý của ban quản lý rừng phòng hộ Nam Đông Sau khi VQGBM mở rộng, cơ chế quản lý bảo

vệ rừng được siết chặt hơn, nghiêm ngặt hơn, lực lượng tuần tra bảo vệ nhiều hơn nên

sự tác động của người dân vào rừng có phần hạn chế hơn trước đây

Trang 39

Đi kèm với công tác bảo vệ tài nguyên rừng là vấn đề phát triển sinh kế cho vùng đệm Bởi vì, tài nguyên rừng là nơi mà cả cộng đồng người dân trông cậy vào, là nơi cung cấp thức ăn và đem lại thu nhập cho họ Khi người dân lại không được phép khai thác tài nguyên này đã có ảnh hưởng đến đời sống của người dân Do đó, khi VQGBM mới mở rộng, vẫn có không ít người dân lén lút vào rừng khai thác các loài lâm sản, đặc biệt là khai thác gỗ và săn bắt các loài động vật quý hiếm Nhưng hiện nay, cùng với sự tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng và hỗ trợ các chương trình

dự án phát triển sinh kế cho cộng đồng, hướng cộng đồng vào các hoạt động sản xuất, hạn chế sự phụ thuộc của cộng đồng vào tài nguyên rừng, bước đầu đã hạn chế được

sự tác động của người dân vào rừng và nâng cao thu nhập cho họ

3.1.4 Chương trình phát triển cộng đồng sau quy hoạch

Để bảo tồn và phát triển tốt tài nguyên rừng, cần chú ý đến sự phát triển sinh kế của người dân Nên sau khi quy hoạch mở diện tích, VQGBM đã tiến hành nhiều chương trình hoạt động để phát triển cộng đồng Năm 2010-2011, VQGBM đã hỗ trợ hoạt động du lịch ở địa phương như đề xuất và đưa vào hoạt động điểm DLST Đá Dựng với mô hình giao khoán cho HGĐ quản lý; tiếp tục hỗ trợ tư vấn, kỹ thuật cho các điểm DLST cộng đồng Thác trượt, Thủy điện, hồ Truồi, Kazan-Thượng Lộ, Thác

Mơ Bên cạnh đó, vườn còn đầu tư xây dựng, đưa hệ thống các sản phẩm DLST vào khai thác gồm nhà Rông, giáo dục bảo tồn cộng đồng Thượng Nhật, các tuyến đường mòn cấp phối tuần tra bảo vệ (thị trấn Phú Lộc, Lộc Hòa, Xuân Lộc, Hương Phú,…), đường bê tông nông thôn Khe Su, Lộc Trì, các công trình phụ trợ cho các trạm quản

lý bảo vệ rừng, vườn sưu tập cây thuốc, trung tâm du khách,…

Bên cạnh các hoạt động giáo dục môi trường, phát triển DLST và các mô hình DLST cộng đồng, VQGBM còn rất chú trọng đến công tác phát triển sinh kế cho cộng đồng địa phương vùng đệm Nhìn chung các hoạt động phát triển vùng đệm tập trung vào việc phát triển các công trình giao thông nông thôn, tập huấn chuyển giao kỹ thuật, xây dựng các mô hình, các hoạt động phát triển sinh kế cho người dân chủ yếu dựa vào ngân sách từ các chương trình lâm sinh (327 và 661) và dự án tài trợ phi chính phủ Thông qua các tổ chức như SNV Hà Lan, UNDP, WWF, DED và GTZ (nay gộp thành GIZ), JICA, ADB, WB, Tropenbos, Năng lượng Đức,… VQGBM đã thực hiện rất nhiều dự án nhỏ để cải thiện sinh kế cho người dân Có thể liệt kê một số mô hình như nuôi ong, trồng nấm, nuôi dê, nuôi thỏ, nuôi cá nước ngọt, nuôi lợn nái sinh sản, nuôi ếch cá kết hợp, nuôi giun quế, trồng tre lấy măng, trồng cây ăn quả, trồng cỏ làm thức ăn gia súc, cải tạo vườn tạp, trồng cây đa mục đích, trồng nấm linh chi, bếp đun cải tiến tiết kiệm nhiên liệu, biogas sử dụng khí sinh học, hệ thống nước tự chảy, trồng cây bản địa,… Đa số các mô hình khá thành công, dễ thực hiện và được người dân ưa thích như mô hình bếp đun cải tiến, trồng tre lấy măng, nuôi dê, nuôi lợn nái, nuôi cá nước ngọt,…

Trang 40

Những năm gần đây, công tác phát triển cải thiện sinh kế cho cộng đồng dân cư vùng đệm ở các khu bảo tồn đang được chính phủ quan tâm Nghị định 117 đã quy định rõ vấn đề phát triển vùng đệm và trách nhiệm chủ động tìm kiếm dự án của các Ban quản lý khu rừng đặc dụng và chính quyền địa phương trong việc ưu tiên phát triển vùng đệm Với sự tài trợ của dự án VCF, VQGBM đã hướng đến việc thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích từ việc quản lý bảo vệ và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở vùng lỏi với người dân địa phương ở các vùng đệm xung yếu như các xã Thượng Nhật (Nam Đông), các xã Sông Kôn, Ating (Đông Giang) và Xuân Lộc (Phú Lộc) Các hoạt động như điều tra tình hình sử dụng tài nguyên, tri thức truyền thống trong sử dụng tài nguyên, cập nhật các nhu cầu xã hội, … đã được tiến hành, phục vụ cho việc tập huấn, hội thảo nhằm nâng cao nhận thức và thương thảo các dự thảo thỏa thuận về cơ chế quản lý và sử dụng nguồn lâm sản ngoài gỗ ở các xã nói trên

Thực hiện Quyết định 24/2012/QĐ-TTg về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng: Vườn đã phối hợp với UBND các xã vùng đệm lựa chọn 25 thôn để hỗ trợ kinh phí phát triển các mô hình sinh kế và các hoạt động phát triển hạ tầng nông thôn nhằm tăng cường phối hợp bảo vệ rừng đặc dụng Tổng kinh phí đã hỗ trợ là 1 tỷ đồng/25 thôn (40 triệu đồng/1 thôn) Các thôn được đầu tư thuộc địa bàn các xã như sau: Lộc Trì, Xuân Lộc, Lộc Hòa, Lộc Điền, Thị trấn Phú Lộc thuộc huyện Phú Lộc; các xã Hương Phú, Hương Lộc, Thượng Lộ, Thượng Nhật, Thượng Long và thị trấn Khe Tre thuộc huyện Nam Đông; và các xã Tà Lu, Sông Kôn, A Ting, xã Tư thuộc huyện Đông Giang (Quảng Nam)

Thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng: Căn cứ Quyết định 2379/QĐ-UBND ngày 02/8/2013 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc phê duyệt đề án chi trả dịch vụ môi trường tại lưu vực thuỷ điện Sông Kôn 2, Vườn đã xây dựng kế hoạch chi trả DVMTR cho 5 tháng của năm 2013 (từ tháng 8 đến tháng 12) với diện tích là 1.867,74 ha cho

06 nhóm hộ (gồm 61 hộ dân) được giao rừng thuộc địa bàn xã Ating Với định mức khoán BVR là 273.000 đ/ha/năm, tổng số tiền chi trả cho các nhóm hộ nhận khoán năm 2013 là 212,5 triệu đồng (TB mỗi hộ nhận được 700.000 đ/tháng); chi phí quản lý (10%) là 21,25 triệu đồng; và chi phí lập hồ sơ giao khoán BVR là 94,2 triệu đồng

Sự cố gắng và nỗ lực thực hiện các chương trình, dự án để phát triển sinh kế cho người dân của VQGBM, bước đầu đã đem lại một số hiệu quả về kinh tế xã hội như sau:

- Các hoạt động phát triển hạ tầng nông thôn đã góp phần phục vụ tốt cho cuộc sống của người dân Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và nâng cao được tiếng nói của VQGBM trong việc kêu gọi người dân BVR

Ngày đăng: 02/06/2015, 18:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững (Trang 12)
Bảng 3.2: Tình hình sử dụng đất của xã Thượng Long năm 2007 - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 3.2 Tình hình sử dụng đất của xã Thượng Long năm 2007 (Trang 46)
Bảng 3.6: Đặc điểm dân số và HGĐ xã Thượng Long - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 3.6 Đặc điểm dân số và HGĐ xã Thượng Long (Trang 51)
Bảng 3.17: Nguồn thu nhập của nhóm hộ phụ thuộc nhiều vào rừng trước và - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 3.17 Nguồn thu nhập của nhóm hộ phụ thuộc nhiều vào rừng trước và (Trang 61)
Bảng 3.24: Thu nhập của nhóm hộ được giao rừng trước và sau khi mở rộng VQGBM - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 3.24 Thu nhập của nhóm hộ được giao rừng trước và sau khi mở rộng VQGBM (Trang 69)
Bảng 3.34: Tỷ lệ hộ có tài sản vật chất trong gia đình sau khi VQGBM mở rộng của - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 3.34 Tỷ lệ hộ có tài sản vật chất trong gia đình sau khi VQGBM mở rộng của (Trang 80)
Hình 1: Phỏng vấn sinh kế hộ gia đình - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 1 Phỏng vấn sinh kế hộ gia đình (Trang 121)
Hình 3: Trẻ em tham gia lao động - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 3 Trẻ em tham gia lao động (Trang 121)
Hình 2: Họp thôn để đánh giá tổng kết 1 năm hoạt động của BSM - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 2 Họp thôn để đánh giá tổng kết 1 năm hoạt động của BSM (Trang 121)
Hình 4: Mô hình vườn đồi, vườn nhà - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4 Mô hình vườn đồi, vườn nhà (Trang 122)
Hình 5: Quy mô chăn nuôi của các hộ gia đình - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 5 Quy mô chăn nuôi của các hộ gia đình (Trang 122)
Hình 6: Tình hình khai thác Mây và Đót của người dân - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 6 Tình hình khai thác Mây và Đót của người dân (Trang 122)
Hình 7: Thực trạng đất canh tác ở xã Thượng Long - Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 7 Thực trạng đất canh tác ở xã Thượng Long (Trang 123)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w