1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN Toán: các biện pháp chỉ đạo nâng chất lượng môn Toán Tiểu học

13 312 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 106,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung và phương pháp giảng dạy môn Toán hiện nay cũng có vấn đề cần quan tâm; một bộ phận không nhỏ giáo viên vẫn còn cứng nhắc bám sát sách giáo khoa, “tuần tự nhi tiến” theo chương

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU I.BỐI CẢNH ĐỀ TÀI :

Trong dạy học ở tiểu học, bộ môn Toán có vị trí rất quan trọng Học Toán là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp Bởi lẽ, học sinh tiểu học chưa định hình được mục tiêu học tập bền vững (mục tiêu xa), các em chưa hiểu học để làm gì? Học cho ai? …Về đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi tiểu học có sự khác biệt sâu sắc về mức độ nhận thức giữa các lớp đầu cấp và cuối cấp

Học Toán không chỉ đơn thuần nhớ bài giải mẫu rồi áp dụng vào các dạng tương tự mà đòi hỏi phải nắm chắc khái niệm, các quan hệ toán học, đồng thời, rèn luyện các đức tính và phong cách làm việc khoa học

Nội dung và phương pháp giảng dạy môn Toán hiện nay cũng có vấn đề cần quan tâm; một bộ phận không nhỏ giáo viên vẫn còn cứng nhắc bám sát sách giáo khoa, “tuần tự nhi tiến” theo chương trình; khiến việc làm chuyển biến chất lượng học sinh, phát triển tư duy toán học của các em không được chú trọng

II.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Việc nâng cao chất lượng môn Toán tập trung vào hai quá trình cơ bản “Dạy của thầy” và “Học của trò”.

Việc “Dạy” chỉ có thể hoàn thành khi học sinh “tự tiêu hoá” kiến thức rồi vận dụng vào những tình huống mới Từ đó, các kĩ năng cơ bản được hình thành, học sinh sẽ nhớ lâu kiến thức toán, chất lượng dạy học sẽ có chuyển biến theo chiều hướng tích cực

Dạy cái gì và dạy như thế nào là những vấn đề đòi hỏi người giáo viên phải giải quyết trước khi lên lớp Tuy nhiên, kiến thức và kĩ năng Toán học không phải chỉ định lượng theo ở từng tiết dạy, tính hệ thống của môn Toán còn đòi hỏi người giáo viên cần phải giúp học sinh hệ thống, khái quát, củng cố theo từng giai đoạn của chương trình học để kiến thức và kỹ năng của các em trở nên ổn định và bền vững theo yêu của Chương trình tiểu học

Trang 2

Vì vậy, việc thực hiện có hiệu quả Chương trình dạy học Toán ở Tiểu học vừa là trách nhiệm của giáo viên trực tiếp dạy lớp, vừa là trách nhiệm của cán bộ quản lý trường học, đặc biệt là vai trò của Hiệu trưởng nhà trường trong quản lý chất lượng dạy – học

III.PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Với vai trò là hiệu trưởng, bản thân tập trung nghiên cứu các biện pháp chỉ đạo để hỗ trợ đội ngũ giáo viên nhà trường xác định nội dung trọng tâm của yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng môn Toán theo từng khối lớp, vận dụng linh hoạt trong từng tiết dạy; thực hiện khâu “dạy của thầy” phù hợp với từng mức độ tiếp thu của học sinh nhằm đạt hiệu quả giảng cao trong dạy học

IV.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Đề xuất nội dung và biện pháp chỉ đạo của Hiệu trưởng – Phó Hiệu trưởng trong công tác chuyên môn nhằm quản lý việc dạy và học môn Toán theo Chương trình tiểu học

V.ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

- Định hướng giúp giáo viên xác định được nội dung kiến thức và kỹ năng cần truyền đạt trên từng tiết dạy phù hợp với đặc điểm học sinh của lớp theo hướng dạy học theo đối tượng; hệ thống được nội dung ôn tập, củng cố kiến thức cơ bản nhằm đạt kết quả tốt trong các kỳ kiểm tra

- Đề ra các nội dung công việc cụ thể của giáo viên dạy lớp trong việc nghiên cứu nắm bắt Chương trình dạy học, qua đó có thể đánh giá năng lực thực sự của giáo viên

- Chỉ đạo thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng linh hoạt, phù hợp từng độ tuổi, từng đối tượng học sinh, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy Toán ở Tiểu học

- Thử đề xuất điều chỉnh nội dung chương trình sách giáo khoa

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

I.CƠ SỞ LÝ LUẬN:

1 Xuất phát từ mục tiêu môn Toán ở trường tiểu học:

Môn Toán nhằm giúp học sinh:

- Có những kiến thức ban đầu về số học: các Số tự nhiên, phân số, Số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản

- Hình thành các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong cuộc sống

- Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; chăm học và hứng thú học tập Toán; hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo

Mỗi khối lớp Bộ Giáo dục và Đào tạo có qui định nội dung dạy học cụ thể 2.Từ đặc điểm nhận thức của học sinh theo lứa tuổi:

Trong khoảng 6-8 tuổi, học sinh tiếp thu chậm do chưa có sự tập trung chú ý lâu, hệ thần kinh chưa phát triển hoàn thiện; các em dễ tiếp thu cái cụ thể, nhiều màu sắc nhưng trí nhớ chưa bền vững

Mức độ tiếp thu tăng nhanh ở giai đoạn 8 – 10 tuổi, khả năng suy luận lo gic bước đầu phát triển song song với việc các em phát triển nhanh về thể chất (trong điều kiện dinh dưỡng tốt một tỉ lệ không nhỏ các em 10 tuổi có dấu hiệu dậy thì, đặc biệt là các em gái)

Cá biệt vẫn có học sinh với đặc điểm nhận thức chậm hơn lứa tuổi (ví dụ : 8 tuổi vẫn còn nhận thức và hành vi như trẻ 6 – 7 tuổi), nhưng sự phát triển về trí nhớ, sự chú ý vẫn tăng nhanh ở giai đoạn sau.Có thể minh hoạ theo đồ thị sau:

Trang 4

Kiến thức và kĩ năng

Lớp4-5

Lớp 1;2;3

Độ tuổi 6-8 tuổi 9-10 tuổi

: Đường biểu diễn mức độ nhận thức

Như vậy, cốt lõi của việc học Toán ở tiểu học chính là thực hành vận dụng; qua thực hành để hiểu lý thuyết, nắm chắc kiến thức đã học và vận dụng được vào các tình huống thực tiễn, trên cơ sở khuyến khích sự nỗ lực tư duy của bản thân, nhưng vấn đề quan trọng là phân phối nội dung Chương trình như thế nào cho phù hợp với lứa tuổi học sinh Tiểu học, lứa tuổi có sự khác biệt về tâm sinh lý khá sâu sắc ở giai đoạn đầu và giai đoạn cuối

II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:

1.Việc chỉ đạo dạy học một cách linh hoạt đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra từ năm 2006; gần đây là bộ tài liệu hướng dẫn dạy theo Chuẩn kiến thức kĩ năng Tuy vậy, qua quá trình thực hiện không ít giáo viên vẫn lúng túng khi vận dụng đối với các đối tượng học sinh khác nhau Tình trạng giảng dạy máy móc theo sách giáo khoa vẫn tồn tại, thực chất giáo viên chỉ đơn giản bỏ bớt một số bài tập, gọi là

“được phép”, khi bộ tài liệu qui định có thể không dạy Nguyên nhân chính là tình trạng người thầy chưa nắm bắt tổng thể cấu trúc chương trình, các nội dung cơ bản của kiến thức kĩ năng theo qui định từng khối lớp học Song song đó, việc vận dụng phương pháp giảng dạy phù hợp mức độ nhận thức của học sinh trong lớp chưa rõ nét, chủ yếu cũng là giảng đại trà – chung cho mọi học sinh

2.Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thông qua các chương trình slide show (Powerpoint của Microsoft; Violet 2.0 của Công ty Bạch Kim;

Trang 5

OpenOffice.org v3.x mã nguồn mở của Sunsystem … và một số chương trình ứng dụng khác) là một trong các chủ trương lớn của Ngành, được đa số giáo viên hưởng ứng đã tạo thêm một nét mới trong phương pháp giảng dạy; tuy nhiên việc sử dụng không chọn lọc nhiều khi không đem lại hiệu quả

3.Việc kiểm tra đánh giá học sinh sau từng giai đoạn (theo 04 giai đoạn trong năm học) được các cấp quản lý giáo dục tổ chức rất nghiêm túc, nhưng việc chỉ đạo thường xoay quanh nguyên tắc hành chánh; các dạng đề kiểm tra còn khuôn mẫu theo sách giáo khoa và các tài liệu hướng dẫn khiến tình trạng dạy tủ; học tủ vẫn chưa được khắc phục; kết quả đánh giá phần nào chưa phản ánh được năng lực thực

sự của học sinh

4.Nội dung sách giáo khoa hiện hành vẫn còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với trình

độ nhận thức của học sinh; nội dung dàn trải khiến người thầy khó lựa chọn phương pháp dạy học linh hoạt; chủ yếu vẫn theo phương châm “cần cù bù thông minh” mà lẽ ra cần cù phải đi đôi với việc rèn luyện phát triển tư duy Tình trạng học sinh được học trước, làm trước bài tập (sách giáo khoa có sẵn) có thể cho kết quả cao trước mắt nhưng học sinh bị hạn chế trong tư duy sáng tạo, độc lập suy nghĩ, phương pháp tự học

III.CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

1.Đề ra yêu cầu giáo viên phải nắm chắc nội dung cơ bản về kiến thức kĩ năng của chương trình khối lớp giảng dạy:

Yêu cầu này đòi hỏi giáo viên phải giải quyết được các vấn đề :

- Định lượng nội dung kiến thức và kĩ năng trong chương trình cả năm học

- Chỉ ra được dạng bài tập có sẵn trong sách giáo khoa phù hợp với từng nội dung kiến thức và kĩ năng

- Biến đổi được dạng các bài tập mà không làm sai lệch yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng cần vận dụng

Trang 6

Bộ Giáo dục và Đào tạo, qua các tài liệu hướng dẫn đã hầu như làm giúp giáo viên phần lớn công việc, tuy nhiên, giáo viên cần hệ thống, bổ sung; thể hiện được qua kế hoạch giảng dạy tuần, tháng và trong nội dung giáo án

2 Phương pháp dạy học phải linh hoạt, tạo được sự ham muốn học Toán, phù hợp với từng đối tượng học sinh, giúp mỗi học sinh đều dược phát triển về năng lực tư duy, có ý thức tự học:

Thực sự đây là một vấn đề phức tạp, rất khó cho cán bộ quản lý trường học đánh giá tính hiệu quả của phương pháp giảng dạy mà mỗi giáo viên vận dụng vào đối tượng học sinh của họ Trung bình một năm học, giáo viên được các cấp quản

lý dự giờ thăm lớp ít nhất 2 lần, điều đó không phản ảnh được kĩ năng thực sự của giáo viên

Một biện pháp quan trọng là nên thường xuyên giải thích, nhấn mạnh rằng dạy Toán cho học sinh tiểu học phải thông qua thực hành, trực quan Thực hành để hiểu khái niệm, để nắm kiến thức, rèn luyện kĩ năng giải bài tập và vận dụng được vào việc giải quyết những vấn đề tương tự

Vì vậy, người cán bộ quản lý trường học phải nghiên cứu kĩ chương trình, sách giáo khoa, hệ thống bài tập mà giáo viên soạn bổ sung để chỉ ra được cách triển khai đặc trưng của từng dạng bài; từng chương; từng chủ đề Ít ra mỗi chương, mỗi chủ đề phải có phân tích cách dạy của một số bài tập điển hình

3.Ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết dạy một cách phù hợp:

Đặc trưng của môn Toán tiểu học là rèn luyện các thao tác tư duy lo gic cơ bản trong giảng dạy các thuật toán, bên cạnh đó là các thao tác “cân, đong, đo, đếm” khi học các đại lượng và việc vận dụng các yếu tố hình học trong thực tiễn v.v…, nên xu hướng tiết dạy nào cũng ứng dụng trình chiếu là không phù hợp Cần giúp học sinh thao tác trên các đối tượng thực: đo độ dài cái bàn, cân khối lượng một vật, cắt ghép hình, chia một đơn vị (cái bánh, quả cam, 1 kg đường …) thành các phần bằng nhau …

Trang 7

Ví dụ: Tiết dạy “Phép cộng phân số” (tiết 114 – Toán 4)

Ở bài này, thông qua ví dụ trong sách giáo khoa, giáo viên và học sinh sẽ

cùng thực hành trên băng giấy :

- Chia băng giấy thành 8 phần bằng nhau bằng cách gập đôi 3 lần theo chiều dài

- Tô màu vào băng giấy lần thứ 1: tô 83 băng giấy (học sinh tự làm)

- Tô màu vào băng giấy lần thứ 2 : tô thêm 82 băng giấy nữa (học sinh tự làm)

- GV nêu vấn đề : qua 2 lần em đã tô được mấy phần băng giấy ?

- Lúc này học sinh dễ dàng trả lời là

8

5

băng giấy và nhận thấy đã thực hiện phép cộng : 83 + 82 = 85

- Giáo viên nêu cách trình bày phép tính : 83+82 = 3 82= 85

- Gợi ý để học sinh rút ra được cách cộng hai phân số cùng mẫu số là cộng hai tử số

và giữ nguyên mẫu số

Chỉ cần sử dụng các trình slide show để nêu vấn đề, quan sát các đối tượng cần khái quát hóa (hình hộp; hình cầu; hình trụ, công thức, bảng số liệu … ), các bài tập trắc nghiệm, bài giải điển hình … nhằm giảm thời gian trình bày bảng, giúp giáo viên có nhiều thời gian gợi mở vấn đáp, quan sát giúp đỡ học sinh

4 Tổ chức ôn tập, hệ thống hóa kiến thức, kĩ năng một cách có trọng tâm vào các thời điểm thích hợp:

Sau mỗi giai đoạn trong chương trình học, sách giáo khoa đều có nội dung

ôn tập nhằm giúp giáo viên hệ thống hóa kiến thức và kĩ năng mà học sinh cần đạt dưới dạng các bài tập; người dạy phải rút ra được các kiến thức kĩ năng cần củng cố

từ các bài tập đó và chỉ cho học sinh thấy được mối quan hệ giữa chúng

Tiến hành cho học sinh luyện tập theo trình tự của mối quan hệ; không nhất thiết phải thực hiện các bài tập theo thứ tự trong sách giáo khoa

Trang 8

Đây là giai đoạn thể hiện năng lực thực sự của giáo viên thông qua tư duy tổng hợp Vai trò của Tổ trưởng chuyên môn được phát huy trong việc hỗ trợ giáo viên xây dựng nội dung ôn tập

Thực sự đây là bước đi quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học sinh

IV.HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Hiệu quả của các biện pháp nêu trên phải được kiểm chứng trong thời gian dài trên cơ sở đồng thuận của đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy

Trước mắt nhà trường đã bước đầu tạo được sự chuyển biến về chất lượng môn Toán thông qua kết quả kiểm tra định kỳ của năm học 2010-2011:

1.Kiểm tra định kỳ cuối Học kỳ I:

Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3 Lớp 4 Lớp 5

2.Kiểm tra định kỳ giữa Học kỳ II:

Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3 Lớp 4 Lớp 5

(PC: Vắng 02 học sinh khối 5 do tham gia đội tuyển bóng đá tỉnh dự tranh cúp Milo 2011)

Trang 9

PHẦN KẾT LUẬN I.NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

Việc nâng chất lượng học sinh về môn Toán đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, học sinh phải chuyên cần luyện tập trong một thời gian dài, trong suốt cả quá trình học tập của các em Giáo viên với vai trò người hướng dẫn, đưa ra phương pháp, còn học sinh là người hoạt động tích cực để phát hiện ra kiến thức và lĩnh hội nó, biến các kiến thức trở thành vốn tri thức của bản thân Vì vậy người giáo viên phải

có năng lực tổng hợp cao, chịu khó tự học, tự nghiên cứu và mạnh dạn đổi mới

Người cán bộ quản lý (Hiệu trưởng – P.Hiệu trưởng – Tổ trưởng chuyên môn) cần chỉ đạo chặt chẽ công tác chuyên môn, liên kết được chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục với thực tiễn giảng dạy bằng các ý kiến cụ thể, sát nội dung chương trình và tình huống giáo dục Vai trò của Tổ trưởng chuyên môn rất quan trọng trong việc biến chỉ đạo của Hiệu trưởng thành hiện thực

II KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI:

Vì là biện pháp chỉ đạo nên mở ra khả năng tiếp tục nghiên cứu sâu từng biện pháp Khả năng thực hiện phải dựa trên hai phương diện: quản lý và vận dụng

Trên nguyên tắc quản lý, Hiệu trưởng – P.Hiệu trưởng xây dựng các quy chế, quy định về soạn giảng; giáo viên phải chấp hành thực hiện, đặc biệt là các nội dung quan trọng: hệ thống được chương trình Toán của khối lớp, soạn được hệ thống bài tập tương ứng, xây dựng kế hoạch và nội dung ôn tập …

Trong vận dụng phải được sự đồng thuận từ người giáo viên trực tiếp giảng dạy trên cơ sở năng lực sư phạm; khả năng nghiên cứu nắm bắt kiến thức, sự nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm đối với học sinh

Các vấn đề trên đều dễ dàng thực hiện được ở các trường tiểu học có quy mô khác nhau Đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng lên về chất (tỉ lệ giáo viên trên chuẩn sư phạm ngày càng cao), năng lực khái quát, tổng hợp hệ thống kiến thức

Trang 10

theo yêu cầu của Chương trình dạy học vì thế ngày càng phát triển, kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin cũng được mở rộng

III.NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT:

Cần thay đổi cấu trúc Chương trình môn Toán tiểu học, phân phối lại hệ thống kiến thức theo nguyên tắc kết hợp phân phối đồng tâm và xây dựng kiến thức nền tảng trên cơ sở đặc điểm nhận thức của lứa tuổi tiểu học, sau đây là nội dung đề xuất tham khảo:

- Lớp 1: Nhận biết số tự nhiên (số Ả rập), đếm được từ 0 đến 100, đếm được dãy số theo bội số của 2, biết số lẻ và số chẵn, biết phép cộng trừ trong phạm vi 10, giải toán theo quan hệ lớn hơn, bé hơn, nhiều hơn, ít hơn Nhận dạng hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật

- Lớp 2: Biết đọc, viết số có đến 3 chữ số; từ năm số tùy chọn có thể thiết lập được các số bất kỳ có 2 chữ số và so sánh chúng; biết đếm dãy số theo bội số của 3; của 4, của 5 thông qua các hình thức trò chơi; thành thạo phép cộng trừ đối với số

có 2 chữ số, biết dùng các đơn vị đo độ dài nhỏ hơn mét, biết xem đồng hồ; nhận

biết thêm hình tam giác

- Lớp 3: Biết so sánh lớn nhỏ và cộng trừ trong phạm vi 100 000, thành thạo cộng trừ (có nhớ) các số đến 3 chữ số; nhân chia các số có 2 chữ số; hoàn chỉnh các đại lượng đo độ dài, đo dung tích, khối lượng, biết đơn vị tiền tệ và cách quy đổi giữa các mệnh giá Biết khái niệm chu vi và cách tính chu vi một hình đã học Học được cách biến bảng thống kê đơn giản thành biểu đồ cột (2 cột)

- Lớp 4: Thành thạo các phép tính cộng trừ nhân chia các số tự nhiên, biết thêm về số La mã; biết dùng máy tính để tính toán các con số rất lớn; so sánh các

số trong phạm vi 1000000; hoàn chỉnh đơn vị đo diện tích; biết khái niệm diện tích cách tính diện tích các hình đã học, học kỹ về hình tròn; học số thập phân và phân

số, biết vẽ biểu đồ hình cột (nhiều cột) và nêu được nhận xét Giải các bài toán có

Ngày đăng: 02/06/2015, 18:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w