Phần 1 Cái nhìn tổng quan về Nho giáoTư tưởng giáo dục của Nho giáo I Cái nhìn tổng quan về Nho giáo I.1 Lịch sử và quá trình phát triển Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ t
Trang 1Trường đại học Bách Khoa Hà Nội
Khoa lí luận chính trị
Tiểu luận khoa học Những nguyên lí cơ bản chủ nghĩa Mác-Lênin
Đề tài: Tư tưởng giáo dục của Nho giáo và sự ảnh hưởng của
nó tới nền giáo dục Việt Nam hiện nay
Người thực hiện: 1 Nguyễn Tuấn Dũng (SHSV: 20090550)
2 Nguyễn Đức Văn (SHSV: 20093232)
Lớp ICT C-K54
Hà Nội tháng 11 năm 2009
Trang 2Phần mở đầu
Với địa thế là trung tâm của Đông Nam Á, phía Đông vàTây giáp biển Đông, là cầu nối giữa đất liền và đại dương, ViệtNam có vị trí thuận lợi để giao thương buôn bán, giao lưu hànghóa với các nước khác trên thế giới và Ấn Độ có ảnh hưởngrộng khắp Chính vị trí địa lí và sự phát Theo chân các thươnglái là các nền văn hóa của khắp mọi miền trên thế giới, đặc biệt
là phương Đông, nơi mà tư tưởng và văn hóa Trung Quốc triểncủa các nền văn minh, các triều đại đã thúc đẩy, ảnh hưởng, tạo
ra cơ hội lớn lao cho Việt Nam tiếp thu, chắt lọc những tinh hoa,tinh túy cũng như tạo điều kiện cho sự phát triển nền văn hóariêng, nền văn hóa mang đậm tính dân tộc của người Việt Nam
Do có vị trí địa lí thuận lợi, giàu có về tài nguyên thiênnhiên, khoáng sản lại có một thị trường rộng lớn nên Việt Nam
từ xưa đã bị nhiều nước lớn trên thế giới để ý, tìm cách thôntính Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Việt Nam bị xâm lượcnhiều lần, trong đó, rất dễ nhận ra là tần suất xuất hiện của cácvương triều phương Bắc trong lịch sử Việt Nam một cách dàyđặc Theo bước chân xâm lăng đô hộ của các vương triều phíaBắc là nền văn hóa và tư tưởng Có lẽ vì lí do đó mà Việt Namchịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là hệ
tư tưởng Nho giáo
Với mong muốn tìm hiểu, mở rộng tầm hiểu biết của bảnthân, đồng thời có hứng thú tìm tòi về vấn đề: “Tư tưởng giáodục của Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó tới nền giáo dục ViệtNam hiện nay”, nhóm em đã quyết định thể hiện quan điểm củamình qua tiểu luận này
Trang 3Phần 1 Cái nhìn tổng quan về Nho giáo
Tư tưởng giáo dục của Nho giáo
I) Cái nhìn tổng quan về Nho giáo
I.1) Lịch sử và quá trình phát triển
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thốngđạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựngmột xã hội thịnh trị Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á
là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam
*) Nho giáo nguyên thủy
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giảithích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, KinhDịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thấtlạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Saukhi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn
ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là TăngSâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đạihọc Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là
Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh
Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thànhsách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nhogiáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần),Khổng giáo hay “tư tưởng Khổng-Mạnh” Từ đây mới hìnhthành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tínhhọc thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nhogiáo mang tính tôn giáo Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánhđường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tínđiều mà các nhà Nho cần phải thực hành
*) Hán Nho
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ
Ký Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó
Trang 4làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, Nhogiáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiếnTrung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này đượcgọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy làHán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử làcon trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”.
*) Tống Nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ
Ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Lúc
đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầu giường của các nhàNho Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các têntuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di.(Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nhohọc nên được gọi là “Trạng Trình”) Phương Tây gọi Tống nho
là “Tân Khổng giáo” Điểm khác biệt của Tống nho với Nhogiáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phậtgiáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ choviệc đào tạo quan lại và cai trị
I.2) Nội dung cơ bản
Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia Đó là một học thuyếtchính trị nhằm tổ chức xã hội Để tổ chức xã hội có hiệu quả,điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểumẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua,quân tử = chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với “tiểunhân”, những người thấp kém về điạ vị xã hội; sau “quân tử”còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩmchất tốt đẹp, phân biệt với “tiểu nhân” là những người thiếu đạođức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện Điều này có thể được lí giảibởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những ngườicầm quyền) Để trở thành người quân tử, con người ta trước hếtphải “tự đào tạo”, phải “tu thân” Sau khi tu thân xong, ngườiquân tử phải có bổn phận phải “hành đạo” (Đạo không đơn giảnchỉ là đạo lí Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ cácnhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hànhchung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo
Trang 5đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra)
và cần phải tuân theo Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào cóĐạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời Đạo vận hànhtrong vũ trụ khi giáng vào con người sẽ được gọi là Mệnh)
I.2.1.1) Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối Tam
cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con),phu phụ (vợ chồng)
Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được cácvua chúa lập ra trên những nguyên tắc”chết người”
1 Quân thần: “Quân xử thần tử, thần bất tử bấttrung” nghĩa là: dù vua có bảo cấp dưới chết đi nữa thì cấpdưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh thìcấp dưới không trung với vua Trong quan hệ vua tôi, vuathưởng phạt luôn luôn công minh, tôi trung thành một dạ
2 Phụ tử: “Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu”nghĩa là: cha khiến con chết, con không chết thì con không
có hiếu
3 Phu phụ: “Phu xướng phụ tùy” nghĩa là: chồng nói
ra, vợ phải theo
I.2.1.2) Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có Ngũ
thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân,nghĩa, lễ, trí, tín
1 Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật
2 Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽphải
Trang 63 Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọingười.
4 Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúngsai
5 Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy
I.2.1.3) Tam tòng: tam là ba; tòng là theo Tam tòng là ba
điều người phụ nữ phải theo, gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giátòng phu, phu tử tòng tử”
1 Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phảitheo cha
2 Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng
3 Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con
I.2.1.4) Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt Tứ đức là bốn
tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công - dung - ngôn - hạnh
1 Công: khéo léo trong việc làm
2 Dung: hòa nhã trong sắc diện
3 Ngôn: mềm mại trong lời nói
cư xử tốt nhất là “trung dung” Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luânđược tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất đượcgọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng
* Đạt đức Quân tử phải đạt được ba đức: “nhân trí dũng” Khổng Tử nói: “Đức của người quân tử có ba mà ta chưalàm được Người nhân không lo buồn, người trí không nghingại, người dũng không sợ hãi” (sách Luận ngữ) Về sau, Mạnh
-Tử thay “dũng” bằng “lễ, nghĩa” nên ba đức trở thành bốn đức:
Trang 7“nhân, nghĩa, lễ, trí” Hán nho thêm một đức là “tín” nên có tất
cả năm đức là: “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” Năm đức này còn gọi làngũ thường
* Biết thi, thư, lễ, nhạc Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo”
và “đức”, người quân tử còn phải biết “thi, thư, lễ, nhạc” Tức làngười quân tử còn phải có một vốn văn hóa toàn diện
I.2.3) Hành đạo
Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phảilàm quan, làm chính trị Nội dung của công việc này được côngthức hóa thành “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Tức là phải hoànthành những việc nhỏ - gia đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạtđến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ) Kimchỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị
là hai phương châm:
* Nhân trị Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằngtình người, là yêu người và coi người như bản thân mình KhiTrọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tử nói: “Kỷ sở bấtdục, vật thi ư nhân” – “Điều gì mình không muốn thì đừng làmcho người khác” (sách Luận ngữ) Nhân được coi là điều caonhất của luân lý, đạo đức, Khổng Tử nói: “Người không có nhânthì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?”(sách Luận ngữ)
ra tôi, cha ra cha, con ra con” (sách Luận ngữ)
Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinhsách của Nho giáo, chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tuthân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Và đến lượt mình, chín chữ
đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi
Trang 8Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạođức và biết thi, thư, lễ, nhạc Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thểchỉ những người có đạo đức mà không cần phải có quyền.Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo đức thì đượcgọi là tiểu nhân (như dân thường).
II) Tư tưởng giáo dục của Nho giáo
II.1) Giáo dục con người
Nho giáo coi Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là những phẩmchất đạo đức cao cả mà mọi người cần tu dưỡng đề tự hoàn thiệnmình
Nhằm thủ tiêu và đè bẹp ý thức phản kháng của giai cấp
“người bị trị”, nhằm bảo vệ trật tự xã hội phong kiến, các nhàNho đều khuyên răn, gieo rắc trong đầu óc những người bị trị tưtưởng bằng lòng với cảnh nghèo, yên lòng với thân phận và địa
vị của mình Chẳng hạn, trong sách Luận ngữ có đoạn: Tử Cốnghỏi đức Khổng Tử: “Như nghèo mà chẳng dua bợ, giàu chẳngkiêu căng, người như vậy nhân phẩm thế nào?” Đức Khổng Tửđáp: “Như vậy là khá? Song, chưa bằng người nghèo mà vui,người giàu mà ưa việc lễ nghĩa”
II.1.1) Giáo dục trong gia đình:
Nho giáo mong ước có được một xã hội ổn định, thái bình,đại đồng, mọi người đều sống hòa mục, thân ái, bình đẳng Mơước về một xã hội như vậy, trong Luận ngữ, Khổng Tử nói:
“Vua chư hầu có nước, quan đại phu có nhà, hai hạng ấy chẳng
lo sợ cho nước nhà mình ít người, mà lo sợ rằng: tình hình vàphép tắc chẳng được đồng đều, chẳng lo sợ cho nước mìnhnghèo khổ, mà lo sợ chẳng được an ninh Là vì hễ đồng đều thìchẳng nghèo khổ, người hòa thì dân số không ít, có an ninh thìnước nhà không nghiêng ngả” Xã hội lý tưởng được các nhàNho nêu lên còn là một xã hội mà ở đó, có vua thánh, tôi hiền,mọi cái đều là của chung, mọi người đều có quyền lợi, có sảnnghiệp riêng và đều được chăm sóc
Trang 9Trong thiên Lễ vận, sách Lễ ký, Khổng Tử nói: “Sự thựchiện của đạo lớn là, thiên hạ là của chung, tuyển chọn ngườihiền và cử người tài năng, nói điều tín và tu sửa hòa mục Chonên người ta không chỉ tôn kính cha mẹ mình, không chỉ thươngyêu con cái mình, còn khiến cho người già được sống trọn đời,người trai tráng được sử dụng, trẻ thơ được lớn lên, người không
vợ, người không chồng, trẻ mồ côi, người không con người tàntật, tất cả đều được chăm sóc”
Các nhà Nho coi một trong những nguồn gốc làm cho xãhội rối loạn là sự rối loạn từ trong gia đình Do đó, các nhà Nhođều cho rằng muốn cho xã hội có trật tự, kỷ cương, thì trước hết
và cơ bản là gia đình phải có trật tự, kỷ cương, sao cho “cha racha, con ra con, vợ ra vợ, chồng ra chồng” Các nhà Nho chủtrương giáo dục, giáo hoá mọi người trong xã hội theo nhữngnguyên lý đạo đức Chính danh, Tam cương, Ngũ thường, trướchết và chủ yếu là nhằm mục đích trên Cho nên cũng dễ hiểu tạisao Nho giáo chú trọng, đề cao giáo dục, giáo hoá với phươngchâm “Hữu giáo vô loại”, “Phú nhi hậu giáo”, coi giáo dục, giáohoá là biện pháp căn bản nhất để duy trì trật tự, kỷ cương tronggia đình - tiền đề và điều kiện bảo đảm trật tự, kỷ cương, ổnđịnh xã hội
Song những chủ trương ấy của các nhà Nho không phải lànhằm đem lại một gia đình mà trong đó, mọi người đều bìnhđẳng hoàn toàn Trong cái gia đình ấy, người cha luôn có uyquyền cao nhất, người chồng có quyền lớn hơn vợ Có như vậy,gia đình ấy mới được xem là gia đình có kỷ cương, trật tự và cógiáo dục Đến Đống Trọng Thư thì quan niệm về một gia đình
có trật tự, kỷ cương lại càng trở nên chặt chẽ hơn, khắc nghiệthơn, trong đó quyền hành của người cha, người chồng là tuyệtđối: “Cha bắt con chết con phải chết, con không chết là bất hiếu,
vợ phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của chồng” Và khi coigia đình là tế bào của xã hội, nhà là gốc của nước, trật tự, kỷcương trong gia đình là tiền đề, điều kiện để duy trì trật tự, kỷcương của xã hội, rốt cuộc các nhà Nho đều chủ trương bảo vệ,duy trì vinh viễn địa vị thống trị tuyệt đối của ông vua (Thiên
Trang 10Tử), cố định hoá trật tự và cơ cấu giai cấp của xã hội phongkiến Rõ ràng, cái xã hội lý tưởng, theo quan niệm của các nhàNho, phải là một xã hội mà ở đó, đứng đầu nhà nước là Thiên
Tử và Thiên Tử là người có uy quyền cao nhất, dưới Thiên Tử làvua chư hầu, dưới vua chư hầu là các quan đại phu, dưới quanđại phu là thần dân trong thiên hạ Nói cách khác, cái xã hội đóphải luôn đặt trong vòng trật tự có lợi cho giai cấp thống trị và
vì vậy, kẻ nào phá hoại cái “trật tự” đó sẽ bị Thiên Tử trừng phạt
- đúng như các nhà Nho luôn luôn chủ trương: Lê nhạc, chinhphạt đều từ Thiên Tử mà ra
Khi đưa ra quan niệm về một xã hội lý tưởng, cũng tất yếu,trong học thuyết của mình, các nhà Nho đều mong muốn rằngtrong xã hội đó, bằng mọi cách, phải duy trì được nguyên tắc:giai cấp địa chủ phong kiến mãi mãi là giai cấp “cai trị người”
và được người phụng dưỡng, còn các giai cấp, tầng lớp khác mãimãi “bị người cai trị” và phải nuôi dưỡng người Đôi khi, trướcmột thực trạng xã hội mà trong đó, mâu thuẫn giữa các giai cấp
và mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị diễn ra gay gắt, hầunhư không thể điều hòa được, cũng như tình trạng rối loạn xãhội hầu như không chấm dứt, các nhà Nho phải viện tới “ý trời”,
“mệnh trời” Theo đó, cái trật tự đẳng cấp, phân vị ấy là do trờisắp đặt, là ý trời và không thể đảo ngược được Và những hành
vi hành động nào làm nguy hại đến trật tự đó là “có tội với trời
và dù có cầu đảo thì trời cũng không tha thứ” (Khổng Tử) Nhưvậy, dù Nho giáo có đưa ra quan niệm về một xã hội đại đồng lýtưởng thì chẳng qua cũng chỉ nhằm tô vẽ, bảo vệ sự tồn tại vĩnhviễn của chế độ phong kiến cũng như quyền lợi và địa vị thốngtrị của giai cấp địa chủ phong kiến, nhằm duy trì vĩnh viễn sựbất công, bất bình đẳng Xét đến cùng, quan niệm của Nho giáo
về một xã hội lý tưởng - thái bình, ổn định, có trật tự, kỷcương là hết sức nghiệt ngã, hết sức hình thức và thù địch vớicuộc sống, với con người, với nhân dân, là cản trở và đi ngượclại xu thế phát triển tất yếu của lịch sử
Trang 11II.1.2) Giáo dục trong xã hội
Trong quan niệm cua các nhà Nho, xã hội lý tưởng phải là
xã hội có giáo dục, mọi người phải được giáo dục, giáo hoá và
có đạo đức Ở các nhà Nho, giáo dục, giáo hóa cũng là mộttrong những biện pháp chính trị căn bản để xây dựng một xã hội
ổn định, thái bình, thịnh trị, có trật tự, kỷ cương, và tạo ra nhữngcon người có đạo đức, những mẫu người lý tưởng Chính vì vậy
mà Nho giáo đặc biệt đề cao, coi trọng giáo dục, giáo hóa Nhậnthức được vai trò của con người, của giáo dục, giáo hóa mà ngay
từ đầu Khổng Tử đã đưa ra chủ trương “Hữu giáo vô loại”, “Phúnhi hậu giáo” với phương châm “Học không biết chán, dạykhông biết mỏi” Tất nhiên, nội dung giáo dục, giáo hóa trướcsau vẫn là những lời dạy của các bậc Thánh hiền trong Tứ thư,Ngũ kinh - những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của đạo làmvua, đạo làm bề tôi và đạo làm người Hầu hết các nhà Nho đềukhẳng định vai trò quyết định của đạo đức đối với việc hoànthiện con người và ổn định, hoàn thiện xã hội Khổng Tử đãtừng nói: “Muốn dẫn dắt dân chúng, nhà cầm quyền phải dùngđức hạnh, muốn trị dân, nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết, thìchẳng những dân biết xấu hổi họ lại còn cảm hoá mà trở nên tốtlành”
Song, để làm cho dân có đức hạnh và tuân phục, để làmtròn trách nhiệm là người “thay trời trị dân” , “cha mẹ của muôndân”, để xứng đáng với cương vị là người giáo hoá, “dưỡngdân”, theo các nhà Nho, người cầm quyền, kẻ cai trị trước hếtphải là người được giáo dục, tự mình giáo hoá và có đạo đứcKhổng Tử nói: “Này, nếu người bề trên chuộng lễ, thì dân chẳngdám bỏ niềm cung kính Nếu người bề trên háo nghĩa, thì dânchẳng bội lẽ công chính Nếu người bề trên biết tín thật, thì dânchẳng dám sai ngoa trong tình giao ước Nếu nhà cầm quyền đủ
lễ, nghĩa, tín như vậy, thì dân chúng từ bốn phương xa sẽ sai conđến để phục dịch mình Cần chi phải học nghề cày cấy”
Các nhà Nho, tiêu biểu là Khổng Tử và Mạnh Tử, coi việcdân đủ ăn, đủ mặc là một công việc hàng đầu để trị nước, là mộttrong những tiền đề cho sự ổn định của xã hội, cho việc giáo hoáthành công (có hằng sản mới có hằng tâm) Nhưng các nhà Nho