Là một sinh viên, hơn nữa là sinh viên chuyên ngành kinh tế, nhận thấy tầm quan trọng của việc hiểu rõ mối quan hệ giữa xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ với tích cực chủ động hội
Trang 1Mục Lục
Lời mở đầu 1
1 Trên phương diện lý luận 2
1.1 Thế nào là xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ 2
1.1.1 Khái niệm nền kinh tế độc lập tự chủ 2
1.1.2 Tính tất yếu của việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 3 1.2 Thế nào là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế 4
1.2.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế 4
1.2.2 Cơ sở lí luận của tư tưởng Marxist về toàn cầu hoá 4
1.2.3 Tính tất yếu trong việc hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta 6 1.2.4 Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế 7
1.3 Mối liên hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 8
2 Trên phương diện thực tiễn 11
3 Kết luận 14
Tài liệu tham khảo 15
Trang 2Lời mở đầu
Trong bối cảnh toàn cầu hoá trở thành xu thế phát triển chung của thời đại, nhiệm
vụ hội nhập kinh tế quốc tế được đặt ra vô cùng bức thiết Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nêu rõ chủ trương và phương châm của ta là: “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường, hợp tác bình đẳng cùng có lợi, chống lại sự áp đặt không công bằng, không bình đẳng"1 Như vậy, không thể phủ nhận rằng giữa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
và mục tiêu xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong quá trình vận dụng học thuyết Hình thái Kinh tế-Xã hội vào sự nghiệp Xây dựng chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam, đặc biệt trong thời gian gần đây, vấn đề hội nhập kinh tế cũng là một vấn đề rất được quan tâm, trong thời điểm trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Việt Nam đang xúc tiến tiến trình gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới WTO Là một sinh viên, hơn nữa là sinh viên chuyên ngành kinh
tế, nhận thấy tầm quan trọng của việc hiểu rõ mối quan hệ giữa xây dựng một nền kinh
tế độc lập tự chủ với tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, em đã cố gắng tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ để từ đó có cơ sở và nền tảng cho việc học tập trong tương lai đồng thời
có cơ hội để trau dồi thêm kiến thức cả về nhận thức lý luận và về mặt kinh tế
Do kiến thức về lý luận và hiểu biết thực tiễn còn nhiều hạn chế, trong phạm vi bài tiểu luận em chỉ đưa ra những nét chung nhất về vấn đề nghiên cứu chứ chưa đi sâu vào phân tích các khía cạnh chi tiết của vấn đề, em hy vọng trong thời gian tới sẽ có cơ hội được nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa xây dựng kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế có nhận thức lý luận đúng đắn phù hợp với tình hình thực tiễn Tiểu luận sẽ gồm những nội dung chính như sau:
-Những nét chung về Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
-Những nét chính về Vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế
-Mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế
-Những vận dụng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới
1 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr 120
Trang 31 Trên phương diện lý luận
1.1 Thế nào là xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ
Nhiệm vụ xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ đã được Đảng ta đưa ra từ rất sớm Nhưng phải hiểu như thế nào là một nền kinh tế độc lập tự chủ.Về khái niệm nền kinh tế độc lập tự chủ, cần nhìn nhận rằng nó phải được xây dựng theo tiêu chí, một mặt, xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, mặt khác, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới Nhưng, xét cho cùng, điều quan trọng nhất của độc lập
tự chủ về kinh tế chính là quyền tự quyết của quốc gia, dân tộc về đường lối phát triển kinh tế, cơ chế vận hành, chính sách phát triển kinh tế đối ngoại Nếu như trước kia khái niệm nền kinh tế độc lập tự chủ được hiểu là việc tự lực cánh sinh hoặc biệt lập, khép kín, ít giao lưu hay chính là “bế quan toả cảng” và kém hiệu quả, thì ngày nay, khái niệm này được hiểu một cách mềm dẻo và linh hoạt hơn, độc lập tự chủ có tính tương đối Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế có thể thự thân vận động, không
bị lệ thuộc, phụ thuộc vào nước khác, người khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào
đó về đường lối, chính sách phát triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh
tế, tài chính, thương mại, viện trợ để áp đặt, khống chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc, sử dụng và phát huy được nội lực, chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới, có khả năng đối phó và đứng vững trước những thách thức, tác động tiêu cực từ bên ngoài
Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của thị trường, trước sự khủng hoảng kinh tế tài chính ở bên ngoài, nó vẫn có khả năng cơ bản duy trì
sự ổn định và phát triển; trước sự bao vây, cô lập và chống phá của các thế lực thù địch, nó vẫn có khả năng đứng vững, không bị sụp đổ, không bị rối loạn
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ được đặt trong mối quan hệ biện chứng với việc đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, mở cửa, giao lưu với các nền kinh
tế, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, hợp tác bình đẳng và cùng
có lợi Nói một cách chung nhất, “nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế có thể tự thân vận động, sử dụng và phát huy được nội lực, chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, không bị lệ thuộc vào bất cứ ai, thế lực nào, có khả năng đối phó và đứng vững trước những thách thức, tác động tiêu cực từ bên ngoài”1 Trong Bản dự thảo văn kiện đại hội Đảng X cũng đã cụ thể hoá thế nào là xây dựng một nền kinh tế tự chủ: “xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh: có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và có một số ngành công nghiệp nặng then chốt; có năng lực nội sinh về khoa học công nghệ; giữ vững ổn định kinh tế tài chính vĩ mô; bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môi trường ”2
1 Tạp chí cộng sản số 4-2001
2 Dự thảo văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Trang 41.2 Tính tất yếu của việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Trong việc vận dụng Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng ta đã xác định con đường phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây không chỉ là mục tiêu mà còn
là phương tiện quan trọng trong quá trình tiến lên Chủ nghĩa xã hội Trong khi “xác định độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản, bảo đảm sự bền vững của độc lập, tự chủ về chính trị”1 trên “nguyên tắc bao trùm là bảo đảm giữ vững độc lập,
tự chủ và định hướng XHCN, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường; hợp tác bình đẳng cùng có lợi, chống lại sự áp đặt không công bằng, không bình đẳng” Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không chỉ xuất phát từ quan điểm, đường lối chính trị độc lập tự chủ mà còn là đòi hỏi của thực tiễn, nhằm bảo đảm độc lập tự chủ vững chắc về chính trị, bảo đảm phát triển bền vững và có hiệu quả cho chính ngay nền kinh tế, cho việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế Nói cách khác, có xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ thì mới tạo được cơ sở kinh tế, cơ
sở vật chất - kỹ thuật của chế độ chính trị độc lập tự chủ Độc lập tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất để bảo đảm cho sự độc lập tự chủ bền vững về chính trị Độc lập tự chủ về kinh tế được đặt trong mối quan hệ biện chứng với độc lập tự chủ về các mặt khác sẽ tạo ra sự độc lập tự chủ và sức mạnh tổng hợp của một quốc gia
Thật vậy, không thể có độc lập tự chủ về chính trị nếu bị lệ thuộc về kinh tế Để giải thích vấn đề này, chúng ta hãy nhìn nhận nó dưới quy luật về mối quan hệ giữa Cơ
sở hạ tầng và Kiến trúc thượng tầng Ở đây, nền kinh tế thuộc về phạm trù Cơ sở hạ tầng còn chế độ chính trị thuộc phạm trù Kiến trúc thượng tầng xã hội Theo Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội nếu Cơ sở hạ tầng là nội dung thì Kiến trúc thượng tầng là hình thức, vì nội dung có tính chất quyết định hình thức nên Cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng Như vậy có sự quyết định của quan hệ kinh tế tới quan hệ chính trị Do đó, nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là tiền đề quan trọng để thực hiện bảo vệ độc lập chủ quyền và ổn định chính trị của đất nước Bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế cũng có nghĩa là bảo đảm vững chắc định hướng xã hội chủ nghĩa và giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc trong công cuộc phát triển kinh tế, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Không phải chờ đến khi có trình độ phát triển cao mới đặt vấn đề giữ vững độc lập tự chủ, mà ngay
từ đầu, ngay bây giờ đã phải bảo đảm yêu cầu cơ bản về độc lập tự chủ, trước hết là về đường lối chính trị, các nguyên tắc cơ bản về phát triển kinh tế Đương nhiên, xây dựng kinh tế độc lập tự chủ là một quá trình lâu dài, đi từ thấp đến cao, ngày càng hoàn chỉnh, ngày càng bền vững
Như vậy, tất yếu phải xây dựng nền kinh tế tự chủ, nhưng xây dựng như thế nào?
Để trả lời câu hỏi này Đại hội Đảng IX đã xác định: “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với hội nhập kinh tế quốc tế, phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh”2 sau đó dự thảo Đại hội Đảng X một lần nữa khẳng định “Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”3 Vậy,
1 Nguyễn Đức Bình "Đôi điều suy nghĩ về vận mệnh của CNXH" Nhân dân, 5/7/2000
2 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr 120
3 Dự thảo văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Trang 5chúng ta hãy cùng xem xét thế nào là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để hiểu rõ hơn nhận định này
1.2 Thế nào là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Nói đến hội nhập kinh tế quốc tế, không thể không đề cập đến toàn cầu hóa, trước hết là toàn cầu hóa kinh tế Hội nhập kinh tế quốc tế có liên quan trực tiếp và là quá trình đồng hành với quá trình toàn cầu hóa kinh tế Không thể có toàn cầu hóa kinh tế nếu không có sự tham gia ngày càng đông của các quốc gia, dân tộc Để hiểu rõ thế nào là hội nhập kinh tế quốc tế, trước hết, chúng ta sẽ nghiên cứu về khái niệm Toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá (globalization) theo nghĩa rộng được hiểu là một hiện tượng hay một quá trình trong quan hệ quốc tế làm tăng sự tuỳ thuộc lẫn nhau trên nhiều mặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hoá đến môi trường…) giữa các quốc gia hay nói cách khác là “một xu hướng làm cho các mối quan hệ xã hội trở nên ít
bị ràng buộc bởi địa lý lãnh thổ”, xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, toàn cầu hoá là một khái niệm kinh tế chỉ quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia
Nếu toàn cầu hoá khái niệm chỉ xu thế vận động khách quan bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - kỹ thuật của thương mại và đầu tư quốc tế với sự nâng cao vai trò của các công ty xuyên quốc gia và đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của nhân loại gắn với thời đại kinh tế tri thức thì khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế mang tính chủ quan của chủ thể quốc gia hội nhập, phản ánh năng lực nhận thức và hành động của mỗi quốc gia trước yêu cầu và thách thức của toàn cầu hoá kinh
tế Vậy hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hoá
và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương, và đa phương.1 Hội nhập thực chất chính là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế bao trùm chi phối toàn bộ sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế Xu thế khách quan này bắt nguồn từ quy luật phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế: toàn cầu hoá kinh tế là một giai đoạn mới của quốc tế hoá sản xuất, đặc biệt từ những năm 80 của thế kỷ 20 trở lại đây trở thành xu thế quan trọng nhất trong phát triển của nền kinh tế thế giới đầu thế kỷ 21
Trước Marx, cũng có một số học thuyết lý giải về toàn cầu hoá, sự hình thành và
xu hướng phát triển của nó chúng ta sẽ xem xét một cách khái quát và sơ bộ về các học thuyết này
1 Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002,
tr 55
Trang 6Tư tưởng trọng thương với tư tưởng chính là xã hội muốn giàu có, nhiều tiền bạc phải phát triển công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp, trong đó ngoại thương giữ vai trò quan trọng nhất Thông qua buôn bán với nước ngoài, không những trao đổi được nhiều sản phẩm, thu lợi làm giàu mà còn có thể kiểm soát được nước ngoài, sai khiến được chư hầu và làm tổn hại kẻ thù.1Từ giữa thế kỷ XVIII, chủ nghĩa Trọng thương không còn chiếm vị trí thống trị trong tư tưởng kinh tế và thực tiễn hoạt động kinh tế trên thế giới tuy nhiên đã có ảnh hưởng sâu sắc đến thực tiễn hoạt động kinh tế của quốc tế trong nhiều thế kỷ, thuyết trọng thương đã cung cấp những cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu và hoạch định chính sách để đối phó với toàn cầu hoá
Thuyết Hiện thực ra đời trong khoảng chiến tranh thế giới thứ hai, trong khi các học thuyết khác cố gắng lý giải tiến trình phát triển của xu thế toàn cầu hoá qua các thời kỳ lịch sử khác nhau và lợi ích chung mà các quốc gia đạt được nhờ thương mại
và đầu tư quốc tế, thuyết Hiện thực lại cho rằng các quốc gia khi tham gia quá trình toàn cầu hoá đều xuất phát từ cơ sở an ninh – chính trị, và do đó hệ thống kinh tế thế giới đều vận hành trên cơ sở những lợi ích về chính trị và an ninh
Theo quan điểm Marxist, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và thị trường thế giới dưới chủ nghĩa tư bản là một thể thống nhất và là biểu hiện của phân công lao động quốc tế
- cơ sở của thị trường thế giới Sự phát triển của phân công lao động quốc tế quyết định
sự phát triển của thị trường thế giới Ngược lại, sự phát triển của thị trường thế giới thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động quốc tế Lý luận thị trường thế giới tư bản chủ nghĩa của chủ nghĩa Marx là một cách tiếp cận mang tính lịch sử và biện chứng về toàn cầu hoá Tuy có mặt hạn chế là nhấn mạnh mặt trái của thị trường thế giới, chưa phân tích đầy đủ những mặt tích cực của nó, nhưng chủ nghĩa Marx có cách giải thích sâu sắc và toàn diện hơn các học thuyết khác về nguyên nhân của toàn cầu hoá
Theo cách nhìn Marxist, toàn cầu hoá là một xu thế lịch sử tất yếu bắt nguyền từ tính chất xã hội của lao động sản xuất và là kết quả của sự phát triển và quốc tế hoá của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa
Xã hội loại người được hình thành và phát triển thông qua quá trình lao động sản xuất để tạo ra của cải và đấu tranh giữa con người với nhau để bảo vệ sự sinh tồn Quá trình lao động sản xuất và đấu tranh đó buộc từng con người phải tập hợp nhau lại thành những cộng đồng và liên kết nhiều cộng đồng lại thành các dân tộc và tổ chức thành các quốc gia, rồi các quốc gia tập hợp lại thành những nhóm quốc gia và cộng đồng thế giới Đó là một quá trình phát triển xã hội một cách tự nhiên và không thể khác được Bản thân lao động sản xuất và đấu tranh sinh tồn là một hoạt động xã hội
và tính xã hội của hoật dộng này ngày càng cao hơn, thể hiện ở chỗ ngày càng có nhiều công việc và sản phẩm được thực hiện ở chỗ ngày càng có nhiều công việc và sản phẩm được thực hiện không chỉ bởi một cá nhân mà còn do sự đống góp của rất nhiều thành viên có khi ở nhiều quốc gia khác nhau Xã hội càng phát triển thì sự phân công lao động xã hội trên phạm vi quốc tế càng sâu rộng hơn và tinh vi hơn Mức độ quốc tế hoá ngày càng cao của quá trình lao động sản xuất này cũng đồng nghĩa với sự gia tăng của xu thế toàn cầu hoá
Trao đổi sản phẩm và các yếu tố sản xuất giữa người với người, giữa các cộng đồng và giữa các quốc gia với nhau đóng góp hết sức quan trọng vào quá trình quốc tế
1 Viện Nghiên cứu và Phổ biến tri thức bách khoa: Đại từ điển kinh tế thị trường, Hà Nội, 1998, tr 134, 141
Trang 7hoá lực lượng sản xuất Đây chính là yếu tố trực tiếp thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá Trong các xã hội xa xưa, các quốc gia, các dân tộc tồn tại trương đối biệt lập, ít có quan hệ với nhau Nhưng cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, sự mở rộng thị trường thì các mối quan hệ cũng dần dần vượt ra khỏi ranh giới quốc gia, hình thành các mối quan hệ quốc tế và quá trình quốc tế hoá bắt đầu Quá trình này được đặc biệt đẩy mạnh với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản Những phát kiến về địa lý, những cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa, cuộc cách mạng công nghiệp và những thành tựu khoa học, công nghệ, sự
mở rộng thị trường quốc tế và các mối giao lưu quốc tế đã làm cho lực lượng sản xuất của thế giới, đặc biệt là ở châu Âu và Bắc Mỹ , tăng lên mạnh mẽ, làm cho chủ nghĩa
tư bản thắng thế ở đây Quá trình này đồng thời xoá đi tính chất cát cứ, biệt lập, khép kín trong phạm vi quốc gia, mở rộng không gian hoạt động cho chủ nghĩa tư bản trên phạm vi khu vực và toàn cầu.Marx và Engels đã nhận định: "Thay cho tình trạng cô lập truớc kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc"1 Từ đó, cách đây 150 năm, trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, hai ông đã chỉ ra rằng : "Ðại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới"2 và “nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn cả đến những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy
là trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục”3.Phân tích nói trên của Marx và Engels cho thấy sự phát triển và quốc tế hoá sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản đã làm cho các nước gắn kết lại với nhau và tạo ra xu thế toàn cầu hoá.4
Như vậy, có thể thấy toàn cầu hóa là quy luật phát triển khách quan của nền kinh
tế thế giới Nó bắt nguồn từ quá trình quốc tế hóa lực lượng sản xuất dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu, là tiến trình lịch sử, nó đang và sẽ cuốn hút hầu hết các nước trên thế giới vào guồng máy của nó
Trước hết, như phần trên đã kết luận, toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu đồng thời
nó là một tiến trình lịch sử chứ không phải là một sự phổ cập tức thì, là một bối cảnh chứ không phải là một giải pháp, thừa nhận sự tất yếu của toàn cầu hoá thì trên quan điểm lịch sử cụ thể cũng phải thừa nhận tính khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế Hơn nữa, Việt Nam kiên định xây dựng Chủ nghĩa xã hội nhưng bỏ qua Chủ nghĩa tư bản với tư cách là một hình thái Kinh tế xã hội, bỏ qua kiến trúc thượng tầng chính trị, bỏ qua quan hệ sản xuất tư bẩn với tư cách là quan hệ sản xuất thống trị, nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận sự phát triển của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa Theo quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, để thực hiện được mục tiêu xây dựng thành công Chủ
1 2 3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t 4, tr 598, 602
2
3
4 Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002,
tr 34-38
Trang 8nghĩa xã hội, trước hết, chúng ta phải phát triển lực lượng sản xuất đến trình độ tương ứng với quan hệ sản xuất Xã hội Chủ nghĩa Trong thời điểm hiện nay, lực lượng sản xuất ở Việt Nam có sự phát triển không đồng đều, biểu hiện ở chỗ:
- Trình độ phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở giai đoạn sơ khai
- Thị trường dân tộc thống nhất đang hình thành nhưng chưa đồng bộ
- Nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường
- Trình độ ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất còn yếu
- Quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội còn yếu
Hội nhập kinh tế quốc tế vừa là đòi hỏi khách quan của kinh tế quốc tế nói chung, vừa là nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế của đất nước Hội nhập giúp cho việc
mở rộng cơ hội kinh doanh, thâm nhập thị trường thế giới, tìm kiếm và tạo lập thị trường ổn định, từ đó có điều kiện thuận lợi để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển kinh tế đất nước Chính vì lẽ đó, mục tiêu tất yếu là phải hội nhập kinh tế quốc tế
để tranh thủ các ngoại lực để học hỏi trình độ ứng dụng khoa học kĩ thuật, trình độ quản lí tổ chức tiến bộ để phát triển lực lượng sản xuất trong nước đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế cải thiện đời sống cho nhân dân Cho nên, tại Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Tổng bí thư Ðỗ Mười cũng đã phát biểu "Trong thời đại ngày nay, bất cứ nước nào, dù phát triển đến đâu, cũng không thể tự khép kín được Với điểm xuất phát rất thấp như nước ta, tranh thủ nguồn lực bên ngoài là rất quan trọng Phải có chính sách khôn khéo, cách làm có kết quả để mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài nhằm khai thác tốt nhất tiềm lực và lợi thế bên trong” Như vậy, sự bức thiết không chỉ chủ động mà còn phải tích cực hội nhập kinh tế quốc tế đúng như Nghị quyết 07 của Bộ chính trị nêu rõ: “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”1
Xuất phát từ cách hiểu thuật ngữ hội nhập như được xác định ở trên, tức là sự chủ động tham gia của các quốc gia vào quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá, hội nhập bao hàm các nỗ lực về mặt chính sách và thực hiện của các quốc gia để tham gia vào các định chế, tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực Nội dung chủ yếu của quá trình này bao gồm:
Thứ nhất, ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế; cùng các thành viên đàm phán xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các quy định, cam kết đối với thành viên của các định chế, tổ chức đó
Thứ hai, tiến hành các công việc cần thiết ở trong nước để bảo đảm đạt được mục tiêu của quá trình hội nhập cũng như thực hiện các quy định, cam kết quốc tế về hội nhập Các nội dung quan trọng cần được triển khai thực hiện bên trong mỗi nước gồm: Điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hoá và mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào quan thuế và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ, đầu tư
và sự luân chuyển vốn, lao động, kỹ thuật – công nghệ giữa các nước thành viên ngày càng thông thoáng hơn
1 Nghị quyết 07- NQ/TW, ngày 27-11-2001
Trang 9Điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế (bao gồm cả cơ cấu sản xuất kinh doanh, cơ cấu ngành và mặt hàng, cơ cấu đầu tư) phù hợp với quá trình tự do hoá và mở cửa nhằm làm cho nền kinh tế thích ứng và vận hành có hiệu quả trong điều kiện cạnh tranh quốc tế
Tiến hành các cải cách cần thiết về kinh tế, xã hội, đặc biệt là cải cách hệ thống các doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh
Đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ công chức, những người quản lý doanh nghiệp và lực lượng công nhân lành nghề có thể đáp ứng tốt các đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Các nước đang phát triển vừa có yêu cầu tự bảo vệ, vừa có yêu cầu phát triển nên cũng tham gia để bảo vệ và tranh thủ lợi ích cho mình, nhất là các nước đang tiến hành công nghiệp hoá Lợi ích ở đây và mở được thị trường cho hàng xuất khẩu, tiếp nhận vốn và công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp, nhờ đó tạo ra công ăn việc làm, đảm bảo tăng trưởng kinh tế, học tập được kinh nghiệm quản lý Vì vậy ngày nay; hầu hết các nước trên thế giới đều thực hiện chính sách hội nhập (ngay cả Trung Quốc, một nước
có thị trường 1,3 tỷ dân, lớn hơn bất cứ một khu vực mậu dịch tự do nào, lại có khả năng tự sản xuất được gần như hầu hết mọi thứ, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn kiên trì chủ trương hội nhập vào nền kinh tế thế giới) Nhiều nước trình độ phát triển kinh tế kém như Campuchia, Nepan cũng đã trở thành thành viên của WTO (sau hội nghị Can-cun ở Mexico)
1.3 Mối liên hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Để giải quyết mối liên hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trước hết chúng ta nghiên cứu về nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, một nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật Khi khẳng định thế giới thống nhất
ở tính vật chất được tạo thành từ những sự vật, hiện tượng cụ thể khác nhau Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, thế giới là một chỉnh thể thống nhất Các sự vật, hiện tượng và các quá trình cấu thành nên thế giới đó tồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau và tách biệt nhau Ở đây, chúng ta cũng nhìn nhận xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc
tế là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Ta có thể nhận thấy mối liên hệ này qua các luận điểm sau:
Trước hết, phải nhìn nhận khách quan rằng hội nhập kinh tế quốc tế có những tác động quan trọng đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Về tác động tích cực, có thể thấy rằng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hội mà các nước có thể tận dụng để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh
tế, nên xét cho đến cùng, hội nhập kinh tế quốc tế chính là một trong những giải pháp
để tiến hành xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ Trong quá trình hội nhập, thương mại và đầu tư được toàn cầu hoá, làm cho các rào cản đối với trao đổi thương mại và đầu tư bị loại bỏ dần, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để các nước tăng cường thương mại quốc tế, thu hút đầu tư và các nguồn lực bên ngoài, phát huy các nguồn lực bên trong nhằm phát triển những ngành sản xuất mà mỗi nước có khả năng nhất và hiệu quả nhất Hơn nữa, quá trình hội nhập và tự do hoá thương mại còn làm tăng cường quá trình trao đổi và chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia trên thế giới, nhờ
Trang 10đó, những nước còn thấp kém về mặt công nghệ có khả năng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và nâng cao khả năng ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, do đó để tránh khỏi nguy cơ tụt hậu và hơn nữa đẩy nhanh kinh tế đất nước cả về “thế” lẫn về
“lực”, không thể không mở cửa hội nhập để học tập và tiếp thu từ bên ngoài Như khái niệm nền kinh tế độc lập tự chủ mà Đại hội Đảng IX được nêu ở trên, có thể thấy rằng trong bối cảnh toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu như hiện nay, mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi và gắn chặt với hội nhập kinh tế
Tuy vậy, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt các nước trước thách thức của cạnh tranh và điều chỉnh Xu thế toàn cầu hoá đang lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia Quá trình này đòi hỏi các nước mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoá thương mại, đầu tư Điều đó cũng có nghĩa là đưa nền kinh tế và các doanh nghiệp tham gia vào cuộc cạnh tranh quốc tế Có thể coi cạnh tranh là một khía cạnh tích cực của sản xuất, đó chính là động lực thúc đẩy sản xuất và mang đến nhiều lợi ích cho người tiêu dùng, thông qua cạnh tranh, nền kinh tế có thể học hỏi cho mình những kinh nghiệm và đồng thời nâng cao nội lực của kinh tế trong nước, với cơ hội mở rộng thị trường các mặt hàng thế mạnh ra nước ngoài Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh quốc tế đặt các nền kinh tế và doanh nghiệp của các nước trước những thách thức ngày càng lớn Vì một vấn đề được đặt ra là với trình độ vốn yếu kém trong cạnh tranh của các nhà sản xuất trong nước, liệu mở cửa có và áp lực cạnh tranh có phải là một liều thuốc quá sức với đứa trẻ có thể trạng còn yếu ớt, thiếu kinh nghiệm sống và chưa sẵn sàng để vào cuộc chơi với những đàn anh hùng hậu cả về “thế” và “lực” Dưới áp lực của xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, tất cả các nước đều phải tiến hành điều chỉnh chính sách và các hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng tự do hoá và mở cửa nhiều hơn Thách thức này đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường là hết sức lớn Do đó đòi hỏi không những phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế mà còn phải thay đổi toàn bộ cơ chế quản lý cũ bằng một cơ chế quản lý mới cũng như phải sửa đổi, bổ sung hệ thống luật pháp và các quy định liên quan đến chính sách kinh tế, thương mại, đầu tư, các thủ tục hành chính, pháp lý, một số chính sách xã hội để đảm bảo thực hiện được các cam kết quốc tế và làm cho quá trình hội nhập đưa lại hiệu quả thiết thực đối với sự phát triển đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Những chi phí và thời gian cho việc điều chỉnh trên là rất lớn Sai lầm trong bước đi và phương thức tiến hành có thể dẫn đến những hậu quả tai hại, thậm chí cả đổ
vỡ về kinh tế xã hội
Ngoài ra bên cạnh những tác động vào lĩnh vực kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế còn có những ảnh hưởng rõ rệt vào chính trị - xã hội mà chúng ta có thể kể ra đây:
Sự phát triển của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởn sâu sắc tới vai trò của các nhà nước hiện đại Một mặtc, quá trình này củng cố quyền lực nhà nước trên một số phương diện Mặt khác, nó cũng làm giảm vai trò của các nhà nước đơn lẻ trên những phương diện nhất định Như vậy, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang làm biến đổi vai trò của các nhà nước, đặt chúng trước những thách thức của hàng loạt vấn đề mới
và các mối quan hệ tương tác ngày một tặc lên giữa chúng với cá chủ thể khác của quan hệ quốc tế Vấn đề đặt ra đối với các nước không phải là tìm cách