MỤC LỤCTIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 1 Khái quát về tỉ giá hối đoái và cán cân thương mại 1.1 Tỉ giá hối đoái 1.1.1 Định nghĩa tỉ giá h
Trang 1MỤC LỤC
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN CÁN CÂN
THƯƠNG MẠI
1 Khái quát về tỉ giá hối đoái và cán cân thương mại
1.1 Tỉ giá hối đoái
1.1.1 Định nghĩa tỉ giá hối đoái
Tỉ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỉ giá) là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của hai nước, hay nói cách khác tỉ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác
1.1.2 Đồng tiền yết giá, đồng tiền định giá
Trong tỉ giá có hai đồng tiền, một đồng tiền đóng vai trò là đồng tiền yết giá và một đồng tiền đóng vai trò là đồng tiền định giá Đồng tiền yết giá là đồng tiền có số đơn vị
cố định và bằng một Đồng tiền định giá là đồng tiền có số đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hê cung cầu trên thị trường ngoại hối
1.1.3 Phương pháp yết tỉ giá
Chúng ta có hai phương pháp yết tỉ giá Đó là phương pháp yết tỉ giá trực tiếp và phương pháp yết tỉ giá gián tiếp
Phương pháp yết tỉ giá trực tiếp 1: là phương pháp yết tỉ giá, trong đó: Ngoại tệ, với vai trò là hàng hoá, là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và bằng 1 đơn vị
Nội tệ, với vai trò là tiền tệ, là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối
1 Trong phạm vi bài tiểu luận này, khi nói đến tỉ giá sẽ được hiểu rằng tỉ giá được yết theo phương pháp yết tỉ giá trực tiếp.
Trang 2 Phương pháp yết tỉ giá gián tiếp: là phương pháp yết tỉ giá, trong đó:
Nội tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và bằng 1 đơn vị
Ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan
hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối
1.1.4 Phân loại tỉ giá hối đoái:
Chúng ta có hai loại tỉ giá quan trọng nhất , đó là tỉ giá hối đoái danh nghĩa và tỉ giá hối đoái thực tế
1.1.4.1 Tỉ giá hối đoái danh nghĩa
Tỷ giá danh nghĩa là tỉ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng
Tỉ giá danh nghĩa song phương (Bilateral Nominal Exchange Rate – NER)
NER là giá cả của một đồng tiền so với một đồng tiền khác, nó phản ánh tỉ lệ trao đổi
giữa hai đồng tiền trên các thị trường ngoại hối Những thay đổi trong tỉ giá danh nghĩa thường được biểu thị bằng chỉ số tỉ giá danh nghĩa, và chỉ số này có thể được tính theo hai cách:
Cách thứ nhất là so sánh các tỉ giá tại các thời điển khác nhau với tỉ giá kì cơ sở:
et 0 = Et /E0
Trong đó:
et0 : chỉ số tỉ giá danh nghĩa của thời điểm t so với kì cơ sở
Et : tỉ giá danh nghĩa song phương tai thời điểm t
E0 : tỉ giá danh nghĩa song phương kì cơ sở
Cách thứ hai là so sánh tỉ giá kì sau với tỉ giá kì trước:
et t-1 = Et /Et-1
Trong đó:
ett-1: chỉ số tỉ giá danh nghĩa của thời điểm t so với thời điểm t-1
Et : tỉ giá danh nghĩa song phương tai thời điểm t
Et-1 : tỉ giá danh nghĩa song phương tai thời điểm t-1
Chúng ta sẽ thấy rằng khi tỉ giá danh nghĩa tăng làm cho đồng tiền yết giá lên giá, đồng tiền định giá giảm giá Ngược lại, khi tỉ giá danh nghĩa giảm, đồng tiền yết giá sẽ giảm giá và đồng tiền định giá lên giá Ví dụ như tỉ giá danh nghĩa của đồng VND với USD (phương pháp yết giá trực tiếp) vào thới điểm t là: Et(VND/USD)=19500, diều này có nghĩa rằng 1USD=19500VND, nếu như tại thới điểm t+1, Et(VND/USD)=20000, điều này có nghĩa rằng 1USD=20000, và ta thấy rõ ràng rằng cũng với 1USD tại thới điểm t
ta chỉ cần phải mất 19500VND để mua nhưng tại thới điểm t+1 ta lại phải chi tới
Trang 320000 để mua 1USD, điều này cũng có nghĩa rằng khi tỉ giá danh nghĩa tăng lên thì VND (đồng tiền định giá) bị mất giá, và USD (đồng tiền yết giá) lên giá
Ngày nay chúng ta có thể sẽ nghe thấy các phương tiện truyền thông nói rằng 1 đơn vị tiền tệ mạnh hay yếu Các thuật ngữ này thường được dùng để chỉ sự thay đổi trong tỉ giá hối đoái danh nghĩa Khi một đồng tiền lên giá thì người ta nói đồng tiền đó mạnh lên vì nó có thể mua được nhiều ngoại tệ hơn Ngược lại, khi một đồng tiền xuống giá thì người ta nói nó yếu đi
Tỉ giá danh nghĩa đa phương (Nominal Effective Exchange Rate – NEER)
NEER không phải là tỉ giá, nó là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra một số loại ngoại tệ đặc trưng (rổ tiền tệ) và tính tỉ giá trung bình các tỉ giá danh nghĩa của các đồng tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỉ trọng tỉ giá tương ứng Tỉ giá trung bình phản ánh sự thay đổi giá trị của một đồng tiền đối với tất cả các đống tiền còn lại
Để tính NEER ta cần phải tiến hành theo hai bước:
Bước 1: Chọn một rổ các đồng tiền đặc trưng Đồng tiền đặc trưng là đồng tiền của nước có quan hệ thương mại Ví dụ như đối với Việt Nam thì rổ các đồng tiền đặc trưng có thể bao gồm USD, JPY, CNY, EUR,
Bước 2: tính NEER Ta có được công thức tính NEER như sau:
Gọi ei là chỉ số tỉ giá danh nghĩa đồng nội tệ với đồng ngoại tệ thứ j tại thời điểm thứ i
wj là tỉ trọng thương mại của đồng tiền các nước
NEERJ= ej i.wj
1.1.4.2 Tỉ giá hối đoái thực tế
Tỉ giá hối đoái thực là tỉ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong nước và ngoài nước
Tỉ giá thực song phương (Bilateral Real Exchange Rate – RER)
• Tỉ giá thực dang tuyệt đối
Tỉ giá thực dạng tuyệt đối là tỉ giá được xác định trên cơ sở tỉ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỉ lệ lạm phát giữa trong nước bới nước ngoài, do đó tỉ giá thực dạng tuyệt đối chính là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ
Từ khái niệm trên, tỉ giá thực dạng tuyệt đối được xác định bởi công thức sau:
ER =
Trong đó: ER: Tỷ giá hối đoái thực tế
E: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (phương pháp trực tiếp)
P : Mức giá trong nước
P’: Mức giá nước ngoài
Trang 4Nếu ER = 1, ta nói rằng đồng tiền trong nước và đồng ngoại tệ có ngang giá sức mua Nếu ER >1, đồng nội tệ được định giá thấp Khi đồng nội tệ định giá thấp, về lý thuyết
sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu
Nếu ER <1, đồng nội tệ được định giá cao, giá hàng hóa trong nước sẽ cao hơn giá hàng hóa ở nước ngoài Do đó, ngược lại với trường hợp trên, đồng nội tệ định giá cao sẽ hạn chế xuất khẩu và tăng nhập khẩu
• Tỉ giá thực dạng tương đối
Ta chỉ có thể quan sát và tính toán được tỉ giá thực dạng tuyệt đối tại một thời điểm Hơn nữa công thức tính tỉ giá thực dạng tuyệt đối chỉ có ý nghĩa về mặt lí thuyết, bởi vì hiện nay các quốc gia không tính toán và không công bố mức giá của một rổ hàng hoá nào Thay vào đó, họ công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chính vì vậy, để quan sát được sự thay đổi của tỉ giá thực từ thời gian này sang thời gian khác, người ta sử dụng
tỉ giá thực tương đối Công thức tính tỉ giá thực tương đối dược xác định như sau:
eRt = (et o.CPIt */CPIt).100%
Trong đó: eRt: chỉ số tỉ giá thực tại thời điểm t so với kì cơ sở
eto: chỉ số tỉ giá danh nghĩa tại thời điểm t so với kì cơ sở CPIt*: chỉ số giá tiêu dùng ở nước ngoài tại thời điểm t so với kì cơ sở
CPIt: chỉ số giá tiêu dùng ở trong nước tại thời điểm t so với kì cơ sở
Tỉ giá thực đa phương (Real Effective Exchange Rate – REER)
Tỉ giá thực song phương chỉ cho chúng ta biết được sự lên giá hay xuống giá của đồng nội tệ so với một đồng ngoại tệ Ngày nay, quan hệ thương mại trên trường quốc tế là quan hệ đa phương, do đó một vấn đề phức tạp được đặt ra là làm sao chúng ta có thể xác định được sự lên giá hay xuống giá của một đồng tiền so với các đồng tiền còn lại tại một thời điểm nhất định Để giải quyết vấn đề này, người ta đã dùng đến tỉ giá thực
đa phương Tỉ giá thực đa phương là một chỉ số phản ánh mức độ cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở để đánh giá đồng nội tệ bị định giá cao hay thấp Chỉ số này rất hữu ích cho việc đạt được mục tiêu thích hợp trong cơ chế tỷ giá hỗn hợp giữa linh hoạt và cố định Vì vậy, nó được nhìn nhận như là dữ liệu cơ bản cho quá trình thực thi chính sách
Tỉ giá thực song phương có thể được tính theo hai phương pháp:
Thức nhất, tính chỉ số tỉ giá thực song phương với từng đồng tiền trong rổ, sau đó tính chỉ số tỉ giá thực đa phương giống như khi tính chỉ số tỉ giá danh nghĩa trung bình (bao gồm cả yếu tố tỉ trọng)
Thứ hai, ta sẽ tiến hành qua ba bước sau:
Bước một: tính tỉ giá NEER
Trang 5Bước hai: tính chỉ số lạm phát trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ theo ti trong GDP của mỗi nước
Bước ba: tính REER theo công thức:
REERi = NEERi.CPIi w/CPIi VN
Trong đó: CPIi w =CPIJ
i.GDPJ
Với CPIiw: chỉ số giá tiêu dùng trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ tại kì thứ i
so với kì cơ sở
CPIiVN: chỉ số giá tiê dùng của nội tệ tại thời kì thứ i so với kì cơ sở
CPIJ
i: chỉ số giá tiêu dùng của đồng tiền thứ j tại thời điểm thứ i so với kì cơ sở
1.2 Cán cân thương mại
1.2.1 Định nghĩa cán cân thương mại
Xuất khẩu ròng của một nước chính là kim ngạch xuất khẩu trừ đi kim ngạch nhập khẩu Do xuất khẩu ròng cho biết về tổng thể một nước là người mua hay bán hàng hoá trên thị trường hàng hoá dịch vụ thế giới, nên xuất khẩu ròng còn được gọi là cán cân thương mại (TB) Cán cân thương mại là một thành phần chủ yếu trong cán cân vãng lai (bao gồm cán cân thương mại, cán cân dịch vụ và chuyển nhượng đơn phương) Ta
có công thức tính cán cân thương mại như sau:
TB = X – M
Trong đó: TB là cán cân thương mại
X là giá trị xuất khẩu
M là giá trị nhập khẩu
Nếu xuất khẩu ròng dương, tức là xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, thì nền kinh tế bán hàng hoá ra nhiều hơn là mua vào Trong trường hợp này, nền kinh tế được coi là có thặng dư thương mại Nếu xuất khẩu ròng âm, tức là xuất khẩu nhỏ hơn nhập khẩu, thì nền kinh tế mua hàng hoá từ nước ngoài nhiều hơn là nó bán ra Trong trường hợp này, nền kinh tế được coi là đang có thâm hụt thương mại Nếu xuất khẩu ròng bằng không, tức là xuất khẩu bằng đúng nhập khẩu, nền kinh tế được gọi là có cán cân thương mại cân bằng2 Việc quan sát và phân tích diễn biến của cán cân thương mại có ý nghĩa trong thực tiễn, bởi vì:
Cán cân thương mại là bộ phận chính cấu thành cán cân vãng lai
Cán cân thương mại phản ánh kịp thời xu hướng vận động của cán cân vãng lai Điều này xảy ra là vì, cơ quan hải quan thường cung cấp kịp thời các số liệu về xuất nhập khẩu hàng hoá, trong khi đó việc thu thập các số liệu về dịch vụ, thu nhập và chuyển
2 Nguyên lý kinh tế học Principles of economics, N Gregory Mankiw, NXB Thống Kê, 2003.
Trang 6giao vãng lai thường diễn ra chậm hơn, tức là có một độ chênh lệch về thời gian nhất định
Do tầm quan trọng của cán cân thương mại như thế cho nên hầu hết các nước phát triển thường công bố tình trạng cán cân thương mại hàng tháng
Bên cạnh đó chúng ta có thể dễ dàng xác định được các yếu tố có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu, nhập khẩu và xuất khẩu ròng bao gồm:
• Thị hiếu của người tiêu dùng về hàng hoá trong nước và hàng hoá nước ngoài
• Giá cả hàng hoá trong nước và nước ngoài
• Tỉ giá hối đoái mà tại đó mọi người có thể sử dụng đồng tiền trong nước
để mua các đồng tiền nước ngoài
• Thu nhập của người tiêu dùng trong nước và nước ngoài
• Chi phí vận chuyển hàng hoá từ nước này sang nước khác
• Các chính sách của chính phủ đối với thương mại
1.2.2 Tình hình của cán cân thương mại trong những năm gần đây
Cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn 1999-20103
Qua số liệu thống kê cho thấy từ năm 1999 đến năm 2001, cán cân thương mại Việt Nam ở trạng thái cân bằng hoặc thặng dư, nhưng từ năm 2002 đến nay cán cân thương mại liên tục ở trạng thái thâm hụt và giá trị thâm hụt ngày càng lớn
Nếu trong năm 2003 thâm hụt thương mại vào khoảng 2,581 tỉ USD thì đến năm 2008 mức thâm hụt lên đến 12,782 tỷ USD, gấp 5 lần so với năm 2003 Năm 2009 mức thâm hụt là 15,412 tỉ USD, gấp 5,9 lần so với năm 2003.Trong năm 2010, cán cân thương
Trang 7mại tiếp tục nghiêng về nhập siêu với mức thâm hụt vào khoảng trên 12 tỷ USD Nếu so sánh giá trị thâm hụt thương mại với giá trị GDP qua các năm thì từ năm 2002 (năm bắt đầu có thâm hụt thương mại) tỉ lệ thâm hụt thương mại so với GDP ngày càng gia tăng và trở nên đáng báo động trong những năm gần đây (2007-2010), khi tỉ lệ này vượt trên 10%GDP
2 Tác động của tỉ giá đến cán cân thương mại
Ta có thể thấy rằng, trạng thái cán cân thương mại có tác động mạnh đến nhiều mặt của nền kinh tế, ví dụ như: nếu cán cân thương mại ở trạng thái thặng dư thì nó sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới, tăng tích luỹ quốc gia dưới dạng dự trữ ngoại hối, tạo uy tín và tiền đề để đồng nội tệ được tự do chuyển đổi, Chính vì vậy, trạng thái cán cân thương mại, mà thực chất là hoạt động xuất nhập khẩu, luôn được các nhà kinh tế và những nhà quản lí quan tâm phân tích, tìm ra những nguyên nhân tác động làn cho cán cân thương mại thặng dư hay thâm hụt, từ đó
có thể đề ra những giải pháp đưa các cân thương mại về trạng thái có lợi cho nền kinh
tế Trong số các nhân tố tác động đến các cân thương mại thì tỉ giá hối đoái luôn được xem là một trong những nhân tố chính, có ảnh hưởng nhanh, mạnh và trực tiếp lên hoạt động xuất nhập khẩu Bây giờ chúng ta sẽ đi vào phân tích các loại tỉ giá tác động lên cán cân thương mại như thế nào?
2.1 Ảnh hưởng của tỉ giá danh nghĩa song phương (NER) lên cán cân thương mại
Như đã đề cập ở trên, tỉ giá danh nghĩa song phương chính là giá cả của một đồng tiền được biểu thị qua một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hoá giữa chúng, do đó, khi tỉ giá danh nghĩa song phương này thay đổi không nhất thiết phải tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá Khi tỉ giá danh nghĩa tăng, ví dụ như tỉ giá E(VND/USD) tăng thì ta mới chỉ biết được rằng USD lên giá (danh nghĩa)
và VND giảm giá (danh nghĩa), mà chưa biết được là tỉ giá tăng như vậy có tác động thúc đẩy xuất, nhập khẩu hay không
2.2 Ảnh hưởng của tỉ giá danh nghĩa đa phương (NEER) đến cán cân thương mại.
Ta biết được rằng NEER là chỉ số trung bình của các chỉ số tỉ giá danh nghĩa song phương, cho nên NEER cũng thuộc loại tỉ giá danh nghĩa, tức chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hoá giữa đồng nội tệ với các đồng tiền còn lại, do đó, khi NEER
thay đổi không nhất thiết phải tác động đến cán cân thương mại
2.3 Ảnh hưởng của tỉ giá thực song phương (RER) lên cán cân thương mại
Như ta đã biết thì tỉ giá thực song phương phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ Trong thực tế để theo dõi và phân tích sự biến động của tỉ giá thực, người ta
sẽ sử dụng chỉ số tỉ giá thực (eRt)
Xét ở trang thái tĩnh
Nếu eR > 1, thì nội tệ được xem là định giá thực quá thấp và ngoại tệ được xem là định giá thực quá cao Điều này có nghĩa là:
Trang 8Nếu chuyển đổi mỗi đồng nội tệ ra ngoại tệ thì ta chỉ mua được ít hàng hoá hơn ở nước ngoài so với trong nước
Nếu chuyển đổi mỗi đồng ngoại tệ ra nội tệ ta sẽ mua được nhiều hàng hoá hơn ở trong nước so với nước ngoài
Do đó, khi chỉ số tỉ giá thực lớn hơn 1 đơn vị sẽ giúp cải thiện được cán cân thương mại
Nếu eR < 1 thì nội tệ được coi là định giá thực quá cao và ngoại tệ được coi là định giá thực quá thấp Khi chỉ số tỉ giá thực nhỏ hơn 1 đơn vị sẽ tác động là cho cán cân thương mại trở nên xấu đi
Nếu eR = 1 thì sức mua đối nội và sức mua đối ngoại của hai đồng tiền là như nhau, tức hai đồng tiền là ngang giá sức mua, do đó, nó có tác động làm cho cán cân thương mại cân bằng
Xét ở trạng thái động
Nếu tỉ giá thực tăng, có tác dụng kích thích tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu Điều này giúp cải thiện cán cân thương mại và qua đó cán cân vãng lai cũng sẽ được cải thiện
Nếu tỉ giá thực giảm, có tác dụng kích thích tăng nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu, làm cho cán cân thương mại trở nên xấu đi, qua đó cán cân vãng lai cũng trở nên xấu hơn Nếu tỉ giá thực không đổi thì nó không có tác động làm thay đổi trạng thái cán cân thương mại và đương nhiên cũng sẽ không làm thay đổi trạng thái cán cân vãng lai
Vì giá cả hàng hoá ít thay đổi trong ngắn hạn, do đó khi phá giá tiền tệ, (chỉ số e tăng) tức là làm giảm giá trị đồng nội tệ so với các ngoại tệ khác Phá giá sẽ làm tăng tỉ giá danh nghĩa kéo theo tỉ giá thực tăng sẽ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, cải thiện cán cân thương mại Khi tỉ giá tăng (phá giá), giá xuất khẩu rẻ đi khi tính bằng
ngoại tệ, giá nhập khẩu tính theo đồng nội tệ tăng được gọi là hiệu ứng giá cả Khi tỉ
giá giảm làm giá hàng xuất khẩu rẻ hơn đã làm tăng khối lượng xuất khẩu trong khi
hạn chế khối lượng nhập khẩu Hiện tượng này gọi là hiệu ứng khối lượng Cán cân
thương mại xấu đi hay được cải thiện tùy thuộc vào hiệu ứng giá cả và hiệu ứng số lượng cái nào trội hơn
Trong ngắn hạn, khi tỉ giá tăng trong lúc giá cả và tiền lương trong nước tương đối cứng nhắc sẽ làm giá hàng hóa xuất khẩu rẻ hơn, nhập khẩu trở nên đắt hơn: các hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết với tỉ giá cũ, các doanh nghiệp trong nước chưa huy động đủ nguồn lực để sẳn sàng tiến hành sản xuất nhiều hơn trước nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu tăng lên, cũng như nhu cầu trong nước tăng lên Ngoài ra, trong ngắn hạn, cầu hàng nhập khẩu không nhanh chóng giảm còn do tâm lý người tiêu dùng Khi phá giá, giá hàng nhập khẩu tăng lên, tuy nhiên, người tiêu dùng có thể lo ngại về chất lượng hàng nội hay trong nước chưa có hàng thay thế xứng đáng hàng nhập làm cho cầu hàng nhập khẩu chưa thể giảm ngay Do đó, số lượng hàng xuất khẩu trong ngắn hạn không tăng lên nhanh chóng và số lượng hàng nhập cũng không giảm mạnh Vì
Trang 9vậy, trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả có tính trội hơn hiệu ứng số lượng làm cho cán cân thương mại xấu đi Nhưng trong dài hạn, giá hàng nội địa giảm đã kích thích sản xuất trong nước và người tiêu dùng trong nước cũng đủ thời gian tiếp cận và so sánh chất lượng hàng trong nước với hàng nhập khẩu Mặt khác, trong dài hạn, doanh nghiệp có thời gian tập hợp đủ các nguồn lực để tăng khối lượng sản xuất Lúc này sản lượng bắt đầu co giãn, hiệu ứng số lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được cải thiện
Đường cong J là một đường mô tả hiện tượng cán cân vãng lai bị xấu đi trong ngắn hạn
và chỉ cải thiện trong dài hạn Đường biểu diễn hiện tượng này giống hình chữ J Theo kết quả nghiên cứu của Krugman (1991), người đã tìm ra hiệu ứng đường cong J khi phân tích cuộc phá giá đô la Mỹ trong thời gian 1985 –1987, thì ban đầu cán cân vãng lai xấu đi, sau đó khoảng hai năm cán cân vãng lai đã được cải thiện
0
Hiệu ứng đường cong J Nguyên nhân xuất hiện đường cong J là do trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả có tính trội hơn hiệu ứng số lượng nên làm xấu đi cán cân thương mại, ngược lại trong dài, hiệu ứng số lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được cải thiện Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải để ý đến một số nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tác động lên cán cân thương mại trong lý thuyết hiệu ứng đường cong J:
Thặng dư
Thời gian
Thâm hụt
Trang 10Năng lực sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu Đối với các nền kinh tế đang phát
triển (Việt Nam thuộc nhóm nước này), có một số hàng hóa các nền kinh tế này không thể sản xuất được hay có sản xuất được đi nữa thì chất lượng không tốt bằng hoặc giá
cả có thể cao hơn Vì vậy, mặc dù giá nhập khẩu có đắt hơn, người tiêu dùng cũng không thể lựa chọn hàng trong nước Điều này làm kéo dài thời gian của hiệu ứng giá cả
Tỉ trọng hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Đối với các nước phát triển tỉ lệ hàng
hóa đủ chuẩn tham gia thương mại quốc tế cao nên hiệu ứng giá cả có thời gian tác động lên cán cân thương mại thường là thấp Ngược lại, các nước đang phát triển tỉ trọng loại hàng hóa này nhỏ, cho nên một sự phá giá tiền tệ làm cho khối lượng xuất khẩu tăng chậm hơn Điều này làm cho hiệu ứng khối lượng ít có tác động đến cán cân thương mại hơn ở các nước đang phát triển Vì vậy, tác động cải thiện cán cân thương mại của phá giá ở các nước phát triển thường mạnh hơn ở các nước đang phát triển
Tỉ trọng hàng nhập khẩu trong giá thành hàng sản xuất trong nước Nếu tỉ trọng
này cao, giá thành sản xuất của hàng hóa trong nước sẽ tăng lên khi hàng nhập khẩu tăng giá Điều này làm triệt tiêu lợi thế giá rẻ của hàng xuất khẩu khi phá giá Cho nên, phá giá tiền tệ chưa hẳn đã làm tăng khối lượng hàng xuất khẩu
Mức độ linh hoạt của tiền lương Động thái phá giá tiền tệ thường làm chỉ số giá
hàng tiêu dùng tăng lên Nếu tiền lương linh hoạt, nó sẽ tăng theo chỉ số giá Điều này làm tăng chi phí sản xuất, từ đó làm cho giá hàng trong nước giảm bớt lợi thế có được
từ phá giá tiền tệ
Tâm lý người tiêu dùng và thương hiệu quốc gia của hàng hóa trong nước Nếu
người tiêu dùng trong nước có tâm lý sùng hàng ngoại, thì một sự đắt lên của hàng nhập và sự rẻ đi của hàng trong nước có tác động đến hành vi tiêu dùng của họ, họ sẽ
tiếp tục sử dụng hàng nhập mặc dù giá có đắt hơn Tiếp theo, mức độ gia tăng số lượng
hàng xuất khẩu phụ thuộc vào sự tin tưởng và ưa chuộng hàng hóa xuất khẩu của người
tiêu dùng nước ngoài
Như vậy chúng ta có thể thấy được tính tích cực của việc phá giá tác động lên cán cân thương mại trong dài hạn Vậy một câu hỏi được đặt ra lúc này đó là liệu rằng Việt Nam có nên thực hiện một cuộc đại phá giá tiền đồng để cải thiện cán cân thương mại hay không? Và ảnh hưởng của cuộc phá giá này lên nền kinh tế của Việt Nam như thế nào? Chúng ta sẽ được gì và phải đánh đổi gì để có được những mặt tích cực đó?
Việc thực hiện một cuộc phá giá tiền đồng ở Việt Nam là điều rất khó xảy ra vì khi Việt Nam thực hiện một cuộc phá giá mạnh như vậy có thể sẽ có tác động rất xấu đến
sự ổn định của sản xuất trong nước nhất là những doanh nghiệp có nhập khẩu nguyên liệu đầu vào chi phí sẽ tăng Phá giá mạnh cũng đẩy rủi ro và gánh nặng tỷ giá cho các doanh nghiệp có vay bằng ngoại tệ, gánh nặng nợ nần nước ngoài của chính phủ cũng tăng lên… Mặt khác, do sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam rất kém trên thị trường thế giới, cho nên một sự phá giá đồng nội tệ không thể hỗ trợ, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu và cải thiện cán cân thương mại Hơn nữa, hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam chủ yếu là hàng thô chưa qua chế biến, hàng hóa sản xuất theo dây