Yếu tố địa lý đa dạng và khắc nghiệt này chính là cơ sở để hình thànhsớm những tư tưởng tôn giáo và triết học của người Ấn Độ cổ đại.. Về khoa học, ngay từ thời kỳ cổ đại, người Ấn Độ đã
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN
THỦY 3
1.1 Sự ra đời của Phật giáo 3
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời Phật giáo ở Ấn Độ 3
1.1.2 Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca 4
1.1.3 Phật giáo nguyên thủy và các tông phái Phật giáo 5
1.2 Những tư tưởng cơ bản trong triết lý nhân sinh của Phật giáo nguyên thủy8 1.2.1 Tư tưởng nghiệp báo, tái sinh 8
1.2.2 Triết lý Tứ Diệu Đế 8
CHƯƠNG II: Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY 14
3.1 Lời tuyên ngôn chống lại sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội 15
3.2 Giáo dục con người giác ngộ chân lý và đạt được hạnh phúc (giải thoát) 16
3.3 Giáo dục đạo đức, hướng thiện cho con người và xây dựng tính nhân bản sâu sắc 17
3.3.1 Giáo dục đạo đức, hướng thiện cho con người 17
3.3.2 Xây dựng tính nhân bản 17
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Albert Einstein (1879 - 1955), nhà bác học nổi danh của thế kỷ thứ 20 đã từng phát
biểu: "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ Tôn giáo ấy phải vượt lên Thượng đế của cá nhân và tránh giáo điều cùng lý thuyết thần học Bao trùm cả tự nhiên và tâm linh, nó phải được căn cứ trên cảm nhận phát sinh từ kinh nghiệm của tất cả mọi thứ tự nhiên và tâm linh như một sự hợp nhất đầy đủ ý nghĩa Đạo Phật trả lời cho những sự mô tả này Nếu có một tôn giáo mà có thể đương đầu với những nhu cầu của khoa học hiện đại, đấy sẽ là Đạo Phật” Ông vẫn thường nhắc nhở các nhà
khoa học nên học hỏi ở các tôn giáo để bổ sung cho những khiếm khuyết của khoa học
Ông nói : "Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng" Thật vậy, sự tiến bộ quá nhanh của khoa học kỹ thuật đã tạo ra nhữngkhủng hoảng xã hội, mất thăng bằng về sinh thái, về văn hóa, tâm lý, đạo đức Chonên, tôn giáo với cốt lõi là tình yêu, lòng từ bi và mong muốn hướng con người đếncuộc sống tốt đẹp hơn, nhân ái hơn sẽ là chỗ đứng cho khoa học Không ai khác hơn,con người chính là cơ sở cho những phát minh tốt đẹp của khoa học ra đời, để phục vụ
và khoa học phải là “ngọn đuốc” để soi sáng rõ cho tôn giáo khỏi những điều mùquáng, mê tín; nếu không, thì những phát minh và thành tựu khoa học ấy sẽ trở nên vônghĩa
Phật giáo chính là một trường phái triết học – tôn giáo với hệ thống giáo lý đồ sộ, lâuđời, ảnh hưởng sâu rộng và chứa đựng nhiều tư tưởng triết lý sâu sắc Điểm nổi bậtnhất trong triết lý Phật giáo nguyên thủy chính là tư tưởng nhân sinh quan đầy tínhnhân bản mà ở đó, con người chính là trung tâm của lý luận Phật giáo Tuy đã trải quabao cuộc thăng trầm biến thiên của lịch sử nhân loại, Phật giáo vẫn mãi là tiếng nói củatình thương và độ lượng Qua mọi miền xứ sở và thời đại khác nhau, Đạo Phật đã khéoléo thích ứng với từng nền văn hóa khác nhau Do vậy, để ngọn đèn chính pháp đượcmãi thắp sáng và lưu truyền trong nhân loại, chúng ta phải biết sống cho tốt, phù hợpvới đạo lý mà Phật đã dạy
Trang 4CHƯƠNG I: SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN
THỦY
1.1 Sự ra đời của Phật giáo
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời Phật giáo ở Ấn Độ
Về điều kiện thiên nhiên, Ấn Độ cổ đại là một vùng đất có điều kiện tự nhiên đa dạng.Đất nước này vừa có dãy núi Hymalaya hùng vĩ án ngữ kéo dài trên hai ngàn km ởphía Bắc, vừa có biển Ấn Độ Dương rộng mênh mông; vừa có sông Ấn chảy về phíaNam, lại có sông Hằng chảy về phía Tây Vì thế, đất nước Ấn Độ bao gồm nhiều miềnkhí hậu khác biệt, từ những vùng đồng bằng trù phú màu mỡ cho đến những vùng nóng
ẩm mưa nhiều, vùng lạnh giá quanh năm tuyết phủ, hay lại có những vùng sa mạc khôcằn, nóng bức Yếu tố địa lý đa dạng và khắc nghiệt này chính là cơ sở để hình thànhsớm những tư tưởng tôn giáo và triết học của người Ấn Độ cổ đại
Về kinh tế – xã hội, từ thế kỷ VI – I TCN, nền kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ Ấn Độ
đã phát triển, thổ dân trên bán đảo Nam Á là người Dravidian và Sumerian đã có nềnvăn minh khá cao Đầu thế kỷ II TCN, một nhánh người Aryan thâm nhập vào bán đảo
Ấn Độ, dần dần chuyển sang định cư và sống bằng nghề nông Đặc điểm nổi bật củanền kinh tế – xã hội của xã hội Ấn Độ cổ, trung đại là sự tồn tại rất sớm và kéo dài củakết cấu kinh tế – xã hội theo mô hình “công xã nông thôn” Mô hình này có đặc trưng
là ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước của các đế vương, gắn liền với nó là sự bầncùng hoá của người dân trong công xã, và quan hệ giữa gia đình thân tộc được coi làquan hệ cơ bản, cùng với xã hội được phân chia thành các đẳng cấp Xã hội thời kỳnày được phân chia thành 4 đẳng cấp lớn là: tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và tiện nô(hay nô lệ) Ngoài sự phân biệt đẳng cấp, xã hội Ấn Độ cổ đại còn có sự phân biệt vềchủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo Chính sự phân chia đẳng cấp đó làm cho
xã hội xuất hiện những mâu thuẫn gay gắt dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp giữa cácđẳng cấp trong xã hội Trong cuộc đấu tranh ấy, nhiều tôn giáo và trường phái triết học
đã ra đời, trong đó có Phật giáo
Về văn hóa – khoa học, Ấn Độ cổ đại có một nền triết học phát triển từ rất sớm Văn
Trang 5gọi là nền văn minh sông Ấn, từ thế kỷ XV – VII TCN gọi là nền văn minh Vêđa, đãcho ra đời bộ thánh kinh Vêđa và từ thế kỷ VI – I TCN là thời kỳ hình thành cáctrường phái triết học tôn giáo lớn gồm hai hệ thống đối lập nhau là chính thống vàkhông chính thống Thời kỳ này, tiêu chuẩn của chính thống và không chính thống là
có thừa nhận uy thế của kinh Vêđa và đạo Bàlamôn hay không Thời kỳ VI-I TCN làthời kỳ triết học Bàlamôn (1000-800 năm TCN) và Upanishad (800-600 năm TCN).Trong Upanishad đã đề cập đến nhiều vấn đề có ý nghĩa triết học thực sự như mốiquan hệ giữa tinh thần vũ trụ (Brahman) và linh hồn cá thể (Atman), thuyết luân hồi,nghiệp nhân quả, vấn đề giải thoát Những tư tưởng đó đã đặt nền móng vững chắc đểcho các trào lưu tư tưởng mới sau này phát triển Thế giới quan thần thoại, chủ nghĩaduy tâm trong thánh kinh Vêđa, Upanishad và đạo Bàlamôn thống trị đời sống tinhthần của xã hội Ấn Độ cổ đại Về khoa học, ngay từ thời kỳ cổ đại, người Ấn Độ đã đạtđược những thành tựu về khoa học tự nhiên như có kiến thức phong phú về thiên văn,sáng tạo ra lịch pháp, đã biết quả đất xoay tròn và tự xoay quanh trục của nó, phátminh ra số thập phân, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, bằng cây thuốc…
Như vậy, tất cả những đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nói trên là cơ sở cho
sự nảy sinh và phát triển những tư tưởng triết học của Ấn Độ thời cổ, trung đại với cáchình thức phong phú đa dạng Và Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VI TCN với tưcách là một hệ tư tưởng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳngcấp xã hội khắc nghiệt, phủ nhận uy thế của kinh Vêđa, lý giải căn nguyên nỗi khổ vàtìm đường giải thoát cho con người khỏi nỗi khổ triền miên, đè nặng trong xã hội nô lệ
Ấn Độ Có thể nói rằng, ngay từ lúc mới ra đời, đạo Phật với triết lý nhân sinh sâu sắc
đã trở thành một trong những ngọn cờ tiên phong của phong trào đòi tự do tư tưởng vàbình đẳng xã hội Ấn Độ đương thời.Vì chống lại sự ngự trị của đạo Bàlamôn đặc biệt
là quan điểm của kinh Vêđa nên Phật giáo được xem là dòng triết học không chínhthống
1.1.2 Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca
Trang 6Người sáng lập Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhattha), họ
là Cù Đàm (Goutama), thuộc bộ tộc Sakya Tất Đạt Đa là thái tử của vua Tịnh Phạn,một nước nhỏ nằm ở Bắc Ấn Độ (nay thuộc vùng đất Nepan) Ông sinh ngày 8 tháng 4năm 563 TCN, theo truyền thống Phật lịch là ngày 15/04 (rằm tháng tư) còn gọi làngày Phật Đản
Mặc dù ông được sống trong cảnh cao sang quyền quý, dòng dõi đế vương, lại có vợđẹp con ngoan nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bấtlực của con người trước khó khăn của cuộc đời Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ conđường vương giả xuất gia tu đạo Sau 6 năm tu hành, năm 35 tuổi, Tất Đạt Đa đã giác
ngộ tìm ra chân lí “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, tìm ra con đường giải
thoát nỗi khổ cho chúng sinh Từ đó ông đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình
Về sau, ông được suy tôn với nhiều danh hiệu khác nhau: Đức Phật, Đức Thế Tôn,Thích Ca Mâu Ni, Thánh Thích Ca… trong dân gian thường gọi là Phật hay Bụt
Qua hơn 40 năm hoằng pháp và truyền đạt giáo lý Phật giáo khắp Ấn Độ Ông qua đời
ở tuổi 80 và để lại cho nhân loại những tư tưởng triết học Phật giáo vô cùng quý báu.Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức
độ của con người, Phật giáo nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đôngđảo quần chúng lao động Nó đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi bác ái trong đạođức truyền thống của các dân tộc Châu Á Kinh điển của phật giáo rất đồ sộ gồm 5000quyển, chia thành Tam tạng kinh (Tạng kinh, Tạng luật và Tạng luận).Tam tạng lạichia làm hai loại là Đại thừa và Tiểu thừa Tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáonguyên thủy được trình bày trong tạng Kinh, chủ yếu nói về thế giới quan và nhân sinhquan của Phật Thích Ca
1.1.3 Phật giáo nguyên thủy và các tông phái Phật giáo
Đạo Phật có một lịch sử phát triển thăng trầm trong suốt hơn 2500 năm và nó lan toả từ
Ấn Độ ra khắp nơi Do đó, việc hình thành các bộ phái khác nhau có phương pháp tuhọc và cách giải thích khác nhau về giáo lý cho thích hợp với tình hình của mỗi xã hội
Trang 7ở mỗi thời điểm là chuyện tất yếu Tuy vậy, bản thân giáo lý Phật giáo không hề thayđổi theo sự phân chia tông phái này.
Sự phân chia thành bộ phái rõ nét đã bắt đầu xảy ra vào thời kỳ kết tập kinh điển lầnthứ II (khoảng 100 năm sau khi Thích Ca Mâu Ni mất) Lần phân chia đầu tiên là do sựbất đồng về yêu cầu thay đổi 10 điều giới luật Các điều này tuy không phải là nhữngthay đổi lớn lao nhưng đủ để gây ra sự tách biệt tăng đoàn thành Đại Chúng bộ(Mahàsamghika) mà đa số là các tì kheo trẻ muốn thay đổi Số còn lại bảo thủ các giớiluật nguyên thuỷ hình thành Thượng Tọa bộ (Theravada)
Các cuộc phân phái về sau trở nên phức tạp và đa dạng hơn Đại Chúng bộ có trungtâm hoạt động tại Amgotara, thuộc vùng Trung Ấn Các cuộc phân hoá này tất cả đềutách ra từ Đại Chúng Bộ và hình thành tổng cộng thành 9 bộ phái trong đó quan trọng
về mặt lý luận bao gồm: Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ, Kê dận bộ,
Đa văn bộ, Thuyết giả bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ và Bắc sơn trụ bộ Sự thayđổi về điều kiện xã hội và địa lý và sự phân hoá trong Đại Chúng bộ có thể là nguyênnhân gây ra sự chia phái của Thượng Tọa bộ thành tổng cộng 11 bộ Các phái có sựchuyển hoá về lý luận bao gồm: Tuyết sơn bộ, Thuyết nhất thiết hữu bộ, Độc tử bộ,Pháp thượng bộ, Hiền vị bộ, Chánh lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Hóa địa bộ, Pháp tạng
bộ, Ẩm quang bộ và Kinh lượng bộ
Các bộ phái chính ngày nay:
tông, tên quen gọi là Phật giáo Tiểu thừa Tông phái này hình thành ngay trong
thế kỷ đầu tiên sau khi Thích Ca viên tịch Chữ Theravada có nghĩa là “lời dạy của bậc trưởng thượng”, do đó nhiều sách còn gọi nhóm này là Trưởng Lão bộ.
Trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ III, hội đồng tham gia kết tập đã công nhậngiáo pháp gọi là thuyết trưởng lão Sau đó, con trai của vua Asoka (A Dục) làMahinda đã đem cả ba tạng kinh đến Tích Lan (Sri Lanka ngày nay) Ba tạngkinh đã được dịch sang tiếng Pali và các tạng kinh này trở thành nguồn kinh sửdụng của Theravada cho đến ngày nay
Trang 8 Mahayana: Mahayana có tên gọi khác là Phật giáo Đại thừa Từ thế kỷ I TCN
các tư tưởng “đại thừa” đã bắt đầu xuất hiện và thuật ngữ Mahayana, hay “đạithừa”, chỉ thực sự có khi nó được đề cập trong bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa.Nói chung, ý tưởng Mahayana là có xu hướng rộng rãi và tự do hơn là các phéptắc ràng buộc của Theravada Đến thế kỷ III, khái niệm Mahayana mới đượcxác định rõ ràng qua bồ tát Long Thọ (Nagarjuna) trong Trung Luận (hay TrungQuán Luận), chứng minh tính không của vạn vật Các ý này đã được Long Thọkhai triển dựa trên khái niệm “Vô ngã” và “Duyên sinh” đã có từ trong các kinhđiển Pali
Tông phái này xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI Phái này chia sẻ chung nhiều tưtưởng với Đại thừa nhưng có nhấn mạnh trong việc thực hành Các truyền giảngđược tập trung vào nhiều phương pháp tu học thực nghiệm mãnh liệt để đẩynhanh việc thăng tiến và có thể ngay trong cuộc sống hiện tại sẽ đạt đuợc giácngộ các thực nghiệm này thường được gọi là phương tiện Nếu như Đại thừa cónhiều tính chất thiên về triết lý, tư duy thì Mật tông đi xa hơn về mặt thựcnghiệm và cũng thể hiện sự thích ứng linh hoạt của Phật giáo
sư Huệ Viễn Tư tưởng về Tịnh Độ thì có sẵn trong Phật giáo Ấn Độ nhưng tớikhi sang Trung Quốc thì nó phát triển thành một tông phái Tịnh Độ tông cũngđuợc xem là một nhánh của Đại thừa song tông này không có sự truyền thừanhư các tông phái khác mà chỉ do sự đóng góp công sức để phát huy giáo lýTịnh Độ Nguyên lý của tông phái dựa vào nguyện lực (tha lực) của Phật A Di
Đà và sự nhất tâm niệm danh hiệu Phật
Thiền na Thiền là một phương tiện căn bản đã được đạo Phật sử dụng ngay từkhởi thủy Nhưng cho đến khi thiền sư sơ tổ của môn phái thiền Trung Hoa là
Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) du hành sang Trung Quốc (năm 520) và truyềnlại thì Thiền tông bắt đầu trở thành một tông phái riêng biệt Đến đời thứ 6, sư
Trang 9Huệ Năng (Hui-neng) đã đưa Thiền tông phát triển và nó đã thịnh hành hơn tất
cả các tông phái Phật giáo khác ở Trung Quốc Huệ Năng cũng là người đã hủy
bỏ thông tục truyền thừa, nghĩa là không có sư tổ đời thứ 7 của Thiền Tông,thay vào đó là hàng loạt các thiền sư có khả năng mở thành các phái thiền khácdựa theo sự phân biệt về cung cách luyện tập và cách để đưa thiền giả đến chỗchứng ngộ chân lý
1.2 Những tư tưởng cơ bản trong triết lý nhân sinh của Phật giáo nguyên thủy
Nói đến nhân sinh quan là nhắc đến những quan niệm của chúng ta về những định luậtdiễn biến trong đời sống nhân loại và sự sống của con người
1.2.1 Tư tưởng nghiệp báo, tái sinh
Nghiệp: chữ Phạn là Karma, bao gồm thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp mà gốc rễ
là do tham dục
Nghiệp báo trong một đời
Luật nhân quả? Nghiệp cũng bị chi phối bởi luật nhân quả
Nghiệp và tái sinh không những chỉ là những khái niệm của triết học Phật giáo mà có
từ trong Upanishad
1.2.2 Triết lý Tứ Diệu Đế
Nhân sinh quan là nội dung chủ yếu của triết lý Phật giáo nguyên thủy, nó mang tínhnhân bản sâu sắc nhưng cũng chứa đầy tính chất duy tâm chủ quan, bi quan yếm thế,không tưởng về đời sống xã hội và thần bí về đời sống con người Nhân sinh quan củaPhật giáo nguyên thủy tiếp tục kế thừa những tư tưởng truyền thống được hình thành
từ trong thời kỳ Vêđa như tư tưởng nhân quả, nghiệp báo, tái sinh – luân hồi,… Tuynhiên, tư tưởng nổi bật tạo nên cốt lõi của quan niệm nhân sinh quan của Phật giáo
nguyên thủy là thuyết Tứ diệu đế (Tứ thánh đế – Catvary Arya Satya) với bốn bộphận là khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế
Trang 10Triết lý nhân sinh Phật giáo cho rằng, bản chất cuộc đời con người là khổ:“Đời là bể khổ, đời là cả những chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phương đều là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển, vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh mặn hơn nước biển” Đức Phật chỉ rõ: “Ba giới không chút nào yên như là lò lửa, nỗi khổ đầy rẫy trong đó, thật là đáng sợ” hay “ta thấy các chúng sinh đắm chìm trong bể khổ”
(Kinh Pháp Hoa) Chân lí về sự khổ trên thế gian, cho rằng mọi dạng tồn tại đều mangtính chất khổ não, không trọn vẹn, cuộc đời con người là một bể khổ Phật xác nhậnchân tướng của cuộc đời là vô thường, vô ngã và vì vậy mà con người phải chịu khổ.Nỗi khổ thế gian là khôn cùng, tuy nhiên có thể chia làm 8 nỗi khổ (bát khổ) trầm
luân bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, áibiệt ly khổ (yêu thương mà phải chia ly, xa cách), sở cầu bất đắc khổ (muốn mà khôngđạt được), oán tăng hội khổ (ghét nhau mà phải sống với nhau), ngũ uẩn khổ (năm yếu
tố vô thường nung nấu làm khổ – sắc, thụ, tưởng, hành, thức)
Như vậy, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hoàncảnh, sự không toại nguyện của tâm lý về bản chất Khổ đế là một chân lý khách quanhiện thực Khổ hay hình thái bất an là kết quả hàng loạt nhân duyên được tạo tác từtâm thức Như vậy tri nhân thực tại là một cách trực tiếp đi vào soi sáng mọi hình tháikhổ đau của con người Để thấu hiểu triệt để cái căn nguyên của khổ đau, con ngườikhông thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn, mà phải đi vào soisáng cái bản chất nội tại của nó
Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối Do đó, con người
ở đâu, làm gì cũng khổ Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại nào khác Ngay cả cáichết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ mới Phật ví sự khổ của conngười bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển”
Lý luận về sự phát sinh, những nguyên nhân gây ra nỗi khổ nơi cuộc sống con người
“Tập” là tụ hợp, kết tập lại Phật giáo cho rằng con người còn chìm đắm trong bể khổkhi không thoát ra khỏi dòng sông luân hồi Mà luân hồi là do nghiệp tạo ra Sở dĩ cónghiệp là do lòng ham muốn, tham lam (ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang…), do