1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP-Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam về phát triển kinh tế biển

17 1,4K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 110,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt độ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

=================

Tiểu luận đường lối cách mạng của

Đảng Cộng Sản Việt Nam

VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

Giảng viên hướng dẫn :Nguyễn Thu Thủy

Hà Nội, 2014

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu 1

Nội dung 2

I Khái quát về biển đảo Việt Nam và vai trò của kinh tế biển 2

1 Khái quát về biển, đảo Việt Nam 2

2 Sự cần thiết của phát triển kinh tế biển 2

II Thực trạng phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện nay 3

1 Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế biển 3

1.1 Cơ sở lí luận 3

1.2 Các chỉ thị về định hình chiến lược kinh tế biển 4

2 Thực trạng phát triển kinh tế biển ở Việt Nam 8

2.1 Đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản 8

2.2 Du lịch biển 8

2.3 Khai thác và chế biến khoáng sản 9

2.4 Giao thông vận tải biển 9

2.5 Nghề làm muối 10

2.6 Kinh tế đảo 10

2.7 Các lĩnh vực kinh tế biển khác 10

III Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước 11

1 Định hướng 11

2 Một số giải pháp và kiến nghị 11

KẾT LUẬN 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

Mở đầu

Trước thềm thế kỷ XXI, nhân loại xác định, thế kỷ XXI là “Thế kỷ của đại dương” Và

sự thật, trong sự phát triển toàn diện và mạnh mẽ của thế giới, trước hết tại các quốc gia có biển và hướng ra biển, hơn một thập niên vừa qua, đã chứng minh rất sinh động và đầy thuyết phục điều dự báo ấy

Đối với Việt Nam, nếu nhìn gần nhất, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, nghĩa là khoảng hơn hai mươi năm trước, Đảng ta đã hạ quyết tâm chính trị chiến lược và tổ chức phát triển mạnh mẽ kinh tế vùng biển và kinh tế biển, đảo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6-1996), xác định: “Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế

và an ninh, quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài Khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng biển, ven biển, kết hợp với an ninh, quốc phòng, tạo thế và lực để phát triển mạnh kinh

tế – xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc”

Nước ta có diện tích khoảng 329000 km², vùng đặc quyền kinh tế ở biển Đông hơn 1 triệu km² Biển có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng: thực vật, động vật có giá trị kinh tế cao, tài nguyên năng lượng rất thuận lợi cho phát triển KT XH, biển có nhiều thuận lợi để phát triển GTVT, công nghiệp biển, dịch cụ du lịch, thương mại… Biển Đông được nhân dân ta khai thác từ lâu, nhưng tiềm năng và tầm quan trọng về kinh tế chưa được nhận thức đúng giá trị, làm lãng phí và ô nhiễm môi trường Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này với mục đich phân tích thực trạng và đưa ra những giải pháp cho vấn đề để phát triển kinh tế biển ở nước ta một cách toàn diện và hiệu quả

Với tiểu luận này, chúng tôi hướng tới hoàn thành ba nhiệm vụ chính sau: Đưa ra và phân tích các chính sách nhà nước về vấn đề phát triển kinh tế biển; tìm hiểu thực trạng biển đảo Việt Nam từ 1986 đến nay; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc phát triển kinh tế biển trong giai đoạn hiện tại và tương lai

Tiểu luận tập trung vào nghiên cứu hai đối tượng: thực trạng kinh tế biển Đông ở nước

ta và các chính sách của nhà nước thông qua các hội nghị về vấn đề này từ năm 1986 đến nay

Với lí do, mục đích và nhiệm vụ nêu trên, chúng tôi hi vọng rằng tiểu luận sẽ góp phần làm sáng rõ hơn về vấn đề phát triển kinh tế biển của nước ta hiện nay, cũng như đề xuất một

số định hướng để công cuộc này được diễn ra toàn diện hơn

Trang 4

Nội dung

I Khái quát về biển đảo Việt Nam và vai trò của kinh tế biển

1 Khái quát về biển, đảo Việt Nam

Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có

Theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 thì nước ta có diện tích biển khoảng trên 1 triệu km², gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu km²), bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới Dọc bờ biển

có hơn 100 cảng biển, 48 vụng, vịnh và trên 112 cửa sông, cửa lạch đổ ra biển Vùng biển Việt Nam có hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ với diện tích phần đất nổi khoảng 1.636 km2, được phân

bố chủ yếu ở vùng biển Đông Bắc và Tây Nam với những đảo nổi tiếng giàu, đẹp và vị trí chiến lược như Bạch Long Vĩ, Phú quốc, Thổ Chu, Côn Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quý, Cát Bà, Hoàng Sa, Trường Sa Ở Việt Nam trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển

2 Sự cần thiết của phát triển kinh tế biển

Kinh tế biển hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền nhưng trực tiếp liên quan đến khai thác biển Cụ thể là:

Các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu bao gồm: (1) Kinh tế hàng hải (vận

tải biển và dịch vụ cảng biển); (2) Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); (3) Khai thác dầu khí ngoài khơi; (4) Du lịch biển; (5) Làm muối; (6) Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; và (7) Kinh tế đảo

Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra

trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: (1) Đóng và sửa chữa tàu biển (hoạt động này cũng được xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải); (2) Công nghiệp chế biến dầu, khí; (3) Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; (4) Cung cấp dịch vụ biển; (5) Thông tin liên lạc biển; (6) Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển; (7) Đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển; và (8) Điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển

Trang 5

Với cơ cấu ngành, nghề đa dạng, trong đó có nhiều ngành, nghề then chốt như khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải, khai thác biển cho phát triển kinh tế là một cách làm đầy hứa hẹn, mang tính chiến lược và được đánh giá là đóng vai trò ngày càng quan trọng trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của nước ta

II Thực trạng phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện nay

1 Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế biển

1.1.Cơ sở lí luận Kinh tế biển của Việt Nam ngày càng phát triển mạnh với hai lợi thế quan trọng sau: Một là tiềm năng tự nhiên (lợi thế tĩnh) to lớn (bờ biển dài, diện tích lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến các đại dương, có các nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có – thủy sản, dầu khí và nhiều loại khoáng sản khác, nhiều bãi biển đẹp, v.v.)

Hai là vị trí địa - kinh tế và địa - chiến lược đặc biệt (nằm trên các tuyến hải hành và các luồng giao thương quốc tế chủ yếu của thế giới, nhất là trong thời đại bùng nổ phát triển của châu Á – Thái Bình dương)

Trên thực tế, cách tư duy được phản ánh trong việc đầu tư cho nghiên cứu, cho việc phát triển năng lực và các lĩnh vực kinh tế biển cụ thể - tập trung cho các ngành khai thác tài nguyên biển - thủy sản, dầu khí, làm muối, v.v.- dưới dạng “thô” Khai thác hàng hải, du lịch

và cảng biển chưa phát triển, ở trình độ nhìn chung còn thấp Nhiều loại tài nguyên biển quý báu khác, ẩn sâu trong lòng biển, dưới đáy đại dương, hoàn toàn chưa được khai thác, chưa nói đến những ngành “công nghiệp biển” dựa trên công nghệ cao Sự thiên lệch đó là kết quả

tự nhiên, tất yếu của sự tiếp nối tư duy phát triển truyền thống, coi khai thác tài nguyên thô, dựa vào trình độ kỹ thuật, công nghệ thấp và những năng lực hạn chế là cách thức chủ đạo của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế cần có những đột phá mới trong tư duy và chiến lược phát triển kinh tế biển Phải chuyển nhanh từ phương thức “mò cua bắt ốc” sang phương thức kết hợp: khai thác mặt tiền (biển – lợi thế địa chiến lược) + tự do hóa (thể chế vượt trước) Đây là công thức thành công của nhiều quốc gia đi trước trong nỗ lực phát triển kinh

tế biển để trở thành cường quốc biển

Với cách tiếp cận biển truyền thống như vậy, trong điều kiện của thế giới hiện đại, thật khó kỳ vọng đạt được những kết quả mang tính đột phá trong nỗ lực chinh phục biển thông qua việc triển khai chiến lược kinh tế biển đầu tiên của Việt Nam, đã được thông qua tại Hội nghị Trung ương Đảng 4 khóa X, năm 2007 Chính vì thế cần có những chiến lược chính xác

“hướng ra biển”, phát triển kinh tế biển một cách chiến lược – như Nghị quyết về Chiến lược

Trang 6

phát triển kinh tế biển xác định: Làm cho phát triển kinh tế biển trở thành một nhu cầu bức bức bách, một trọng tâm chiến lược hàng đầu của quốc gia

1.2 Các chỉ thị về định hình chiến lược kinh tế biển

Với cơ cấu ngành, nghề đa dạng, trong đó có nhiều ngành, nghề đóng vai trò đặc biệt quan trọng, đóng góp cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của nước ta Trong mấy thập kỷ gần đây, Ðảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ trương, chính sách, biện pháp quan trọng nhằm quản lý, bảo vệ, khai thác biển Chính tiếp cận với chiến lược phát triển biển, mở rộng một không gian phát triển mới, tăng cường động lực phát triển hiện đại ở tầm chiến lược

Có ý nghĩa quan trọng đối với các hoạt động kinh tế biển phải kể đến Nghị quyết 03-NQ/TW ngày 6/5/1993 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt, trong đó khẳng định rằng, phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia Song song với nhiệm vụ đó là bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái biển, phấn đấu trở thành một nước mạnh về biển vào năm 2020 Sau Nghị quyết này, Thủ tướng Chính phủ đã có các chỉ thị triển khai thực hiện như Chỉ thị 399 ngày 5/8/1993 về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt và Chỉ thị 171/TTg năm 1995 triển khai Nghị quyết 03-NQ/TW

Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa ra một số quan điểm trong phát triển kinh tế biển Đó là: “Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá kinh tế biển hướng mạnh vào xuất khẩu, dựa trên những tiến bộ khoa học, công nghệ làm động lực; vừa thúc đẩy nghiên cứu, quản lý, khai thác tiềm năng biển có hiệu quả, vừa tái tạo tài nguyên biển, bảo vệ môi trường, đào tạo nhân lực” Quan điểm này được cụ thể hoá bằng các giải pháp: “Đầu tư thích đáng cho khoa học- công nghệ; tăng cường năng lực điều tra khảo sát, nghiên cứu khí tượng- thuỷ văn và môi trường, thực trạng tài nguyên và dự báo xu thế biến động trong những thập kỷ tới Từ nay đến năm 2000 cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm thăm dò dầu khí, khoáng sản biển, nguồn lợi hải sản và năng lượng biển, nghiên cứu và bảo vệ môi trường biển, tiếp tục hiện đại hoá khí tượng- thuỷ văn” Thi hành Chỉ thị này, một loạt kế hoạch về phát triển kinh tế biển đã được thông qua như: Chiến lược phát triển thuỷ sản 2010; Chiến lược phát triển du lịch 2010; Chiến lược phát triển giao thông vận tải 2010…

Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) khẳng định mục tiêu: “Xây dựng chiến lược phát

triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục địa Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển Đẩy mạnh công tác nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản; thăm dò, khai thác và chế biến dầu

Trang 7

khí; phát triển đóng tàu thuyền và vận tải biển; mở mang du lịch; bảo vệ môi trường; tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển” Những nội dung nêu trên tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ X (2006)

Từ những quan điểm, biện pháp nêu trên, cùng với việc tiếp tục nhấn mạnh chủ trương lớn xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh về biển, phát triển kinh tế- xã hội vùng biển, hải đảo, ven biển phải gắn kết với yêu cầu bảo vệ đất nước, có thể thấy rõ hơn chủ trương rất quan trọng là: cần đặt kinh tế biển trong tổng thể kinh tế cả nước, trong quan hệ tương tác với các vùng và trong xu thế hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới

Việc thực hiện những chủ trương, chính sách nêu trên đã đạt được một số thành tựu quan trọng Ðến nay, kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp gần 50% GDP của cả nước (trong đó riêng kinh tế trên biển chiếm hơn 20% GDP), với quy mô tăng khá nhanh, cơ cấu ngành nghề chuyển dịch theo hướng phục vụ xuất khẩu đem về một lượng ngoại tệ lớn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hình thành một số trung tâm phát triển để hướng ra biển Tuy nhiên, xét cả về mặt chủ quan và khách quan, thực tế hiện nay cho thấy trong việc khai thác lợi thế

từ biển còn không ít hạn chế, khó khăn và yếu kém Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển nước ta vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị tổng sản phẩm hằng năm còn nhỏ bé, chỉ bằng 1/20 của Trung Quốc, 1/94 của Nhật Bản, 1/7 của Hàn Quốc và 1/260 kinh tế biển của thế giới Tính đồng bộ của các chủ trương, chính sách ở tầm vĩ mô, nhận thức về vai trò, vị trí của biển, sự quan tâm phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển của một số cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, các ngành, cả Trung ương và địa phương còn nhiều hạn chế Cho đến trước kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XII, cũng chưa có cơ quan chuyên trách giúp Chính phủ quản lý, điều hành chung, dẫn đến những hoạt động đầu tư manh mún, chưa đồng bộ, hiệu quả thấp, kinh tế biển phát triển chậm, thiếu bền vững và cơ cấu chưa hợp lý

Thực tế trên đặt ra yêu cầu cấp bách là Đảng và Nhà nước ta cần nâng các quan điểm chỉ đạo nêu trên lên tầm của một văn bản chiến lược Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X đã thông qua Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm

2020 (Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9/2/2007), nhằm đáp ứng yêu cầu nêu trên Quan điểm chỉ đạo được nêu trong phần định hướng Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là "nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ

Trang 8

phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn" Phấn đấu đến năm 2020, kinh

tế biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP, 55 – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển Trong đó, nhiệm vụ chiến lược kinh tế "làm giàu từ biển" được chỉ đạo bởi quan điểm: kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường Sự phát triển các ngành kinh tế biển được gắn kết hữu cơ với nhau trên cơ sở phát huy cao nhất lợi thế của mỗi ngành

Tiếp đó ngày 24/04/2012, chương trình hành động của chính phủ ban hành kèm theo nghị quyết số 10/NQ-CP, căn cứ vào Hiến Pháp nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Quốc hội ban hành luật biển ban hành 09/08/2012 có quy đinh rõ các điều luật sau về định hướng phát triển kinh tế biển:

- Nguyên tắc phát triển kinh tế biển (Điều 42)

Các nguyên tắc phát triển kinh tế biển là phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật

tự an toàn trên biển; phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; gắn với phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo

- Phát triển các ngành kinh tế biển (Điều 43)

Luật biển Việt Nam quy định Nhà nước ưu tiên tập trung phát triển các ngành kinh tế biển: tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; du lịch biển và kinh tế đảo; khai thác, nuôi trồng, chế biển hải sản; phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển

- Quy hoạch phát triển kinh tế biển (Điều 44)

Trước hết việc lập quy hoạch phát triển kinh tế biển phải căn cứ vào chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, định hướng chiến lược phát triển bền vững và chiến lược biển của ta; đặc điểm, vị trí địa lý, quy luật tự nhiên của các vùng biển, vùng ven biển, hải đảo; kết quả điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường biển, nguồn lực

để thực hiện

Trang 9

Luật biển Việt Nam xác định những nội dung chính của quy hoạch phát triển kinh tế biển như phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, xác định phương hướng mục tiêu và định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên; phân vùng sử dụng biển v.v

- Xây dựng và phát triển kinh tế biển (Điều 45)

Trên cơ sở Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, Luật biển Việt Nam quy định việc xây dựng và phát triển kinh tế biển dựa trên nguyên tắc Nhà nước đầu tư xây dựng, phát triển các khu kinh tế tổng hợp, cụm công nghiệp ven biển, kinh tế huyện đảo theo quy hoạch, đảm bảo hiệu quả, phát triển bền vững và việc sử dụng biển của các cá nhân, tổ chức phải được thực hiện theo đúng quy định của Chính phủ

- Khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế biển trên các đảo và hoạt động trên biển (Điều 46)

Những hoạt động của nhân dân trên các đảo, quần đảo và trên các vùng biển của nước

ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện chủ quyền quốc gia trên các vùng biển, đảo và thực hiện phát triển kinh tế biển Do đó, Luật biển Việt Nam quy định Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mạng lưới hậu cần, phát triển kinh tế biển, có chính sách

ưu đãi để nâng cao đời sống của dân cư sinh sống trên các đảo; đồng thời, khuyến khích, ưu đãi về thuế, vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân đầu tư trên các đảo và hoạt động của ngư dân trên biển

Với Chiến lược phát triển kinh tế biển đã được xây dựng, cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và bối cảnh thế giới đang chuyển mạnh sang thời đại toàn cầu hóa (tự do hóa) và công nghệ cao, khi phát triển kinh tế biển được mọi quốc gia coi là một trọng tâm chiến lược hàng đầu, việc định hướng phát triển được nêu rõ trong nghị quyết như góp phần tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, trong đó, việc “nạp” kinh tế biển ở một tầm nhìn mới vào mô hình tăng trưởng mới là một nội dung hết sức quan trọng

Có thể nói rằng, Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã kế thừa những quan điểm về phát triển kinh tế biển và các lĩnh vực khác liên quan đến biển đã ban hành trước đó, nhưng phải khẳng định rằng, đây là Nghị quyết của Trung ương toàn diện đầu tiên về biển, mở ra một chương mới trong tư duy về biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21

Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại toàn cầu hóa, được dẫn dắt bởi công nghệ cao và bị chi phối bởi hai thuộc tính – tự do hóa và tốc độ cao, cộng thêm vào đó là xu hướng tranh chấp và xung đột trên biển (biển Đông) tăng nhanh, việc phát triển kinh tế biển luôn đi kèm những thách thức to lớn cũng như những cơ hội tiềm tàng mà Việt Nam đối mặt

Trang 10

trong nỗ lực phát triển kinh tế biển với những mục tiêu chiến lược to lớn, có thể nói là đầy tham vọng

2 Thực trạng phát triển kinh tế biển ở Việt Nam

2.1.Đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản

2.1.1 Về đánh bắt, nuôi trồng hải sản : Đánh bắt hải sản là nghề biển truyền thống có thế mạnh của nước ta, là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện ba mục tiêu chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam Từ năm

1993, sau khi thuỷ sản được coi là ngành kinh tế mũi nhọn, nghề đánh bắt thuỷ sản đã có những bước phát triển đáng kể Trong giai đoạn 1995-2005, sản lượng thuỷ sản tăng bình quân 7,7%/năm, sản lượng khai thác tăng bình quân 5%/năm Đánh bắt hải sản đã tạo việc làm cho hơn 5 vạn lao động đánh cá trực tiếp và 10 vạn lao động dịch vụ nghề cá Số lượng tàu thuyền cũng tăng đều đặn qua các năm, theo thống kê trong khoảng 20 năm (1990 - 2010), tàu cá Việt Nam tăng 4,7 lần về số lượng và 5,7 lần về công suất, bình quân công suất đã vượt quá 60 CV/tàu Tuy nhiên, nghề khai thác hải sản của Việt Nam cũng đang đứng trước không

ít khó khăn và bất cập

Bên cạnh đánh bắt hải sản, nuôi trồng hải sản cũng có nhiều tiềm năng và lợi thế Tính trên phạm vi cả nước, diện tích có khả năng nuôi trồng hải sản trên biển gồm hơn 400.000 ha vùng vịnh và đầm phá; nhiều vùng biển có điều kiện phát triển như Quảng Ninh - Hải Phòng, khu vực ven biển miền trung từ Thừa Thiên - Huế đến Bà Rịa - Vũng Tàu, khu vực Ðông và Tây Nam Bộ, Giống loài thủy sản nuôi phong phú, đối tượng nuôi chủ yếu là tôm hùm, cá song, cá giò, cua, ghẹ, hải sâm, bào ngư, nuôi trai lấy ngọc, nuôi ngao, nghêu, hầu, trồng rong sụn, nuôi sứa đỏ và san hô

2.1.2 Về chế biến hải sản : Ngành chế biến hải sản cũng nhận được sự chú trọng đặc biệt của các cấp, các ngành

và các địa phương Đến nay, cả nước đã có tổng số hơn 470 cơ sở - doanh nghiệp chế biến thủy sản Trong đó, 248 cơ sở - doanh nghiệp (chiếm gần 53%) đã đạt tiêu chuẩn của thị trường EU - một thị trường khó tính vào bậc nhất thế giới Hiện nay, hàng thủy sản Việt Nam

đã có mặt trên 140 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường lớn như Nhật Bản, EU và Bắc Mỹ Về giá trị kim ngạch xuất khẩu, thủy sản Việt Nam hiện đã vươn lên đứng hàng thứ 7 trên thế giới Năm 2006, sản lượng thuỷ sản Việt Nam đạt 3,75 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 3,75 tỉ USD

2.2.Du lịch biển

Ngày đăng: 02/06/2015, 17:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Cổng TTĐT Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – TIẾP TỤC NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG, PHÁT HUY SỨC MẠNH TOÀN DÂN TỘC, ĐẨY MẠNH TOÀN DIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, TẠO NỀN TẢNG ĐỂ ĐẾN NĂM 2020 NƯỚC TA CƠ BẢN TRỞ THÀNH NƯỚC CÔNGNGHIỆP THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI –http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/noidungvankiendaihoidang?categoryId=10000716&articleId=10038382 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TIẾP TỤC NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG, PHÁT HUY SỨC MẠNH TOÀN DÂN TỘC, ĐẨY MẠNH TOÀN DIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, TẠO NỀN TẢNG ĐỂ ĐẾN NĂM 2020 NƯỚC TA CƠ BẢN TRỞ THÀNH NƯỚC CÔNGNGHIỆP THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI
4. Đại tá, ThS. Nguyễn Đức Thắng – Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW, “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” – http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Dan-so-vung-bien-dao/2014/29111/Day-manh-thuc-hien-Nghi-quyet-09NQTW-Ve-chien-luoc-bien-Viet.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW, “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”
Tác giả: Đại tá, ThS. Nguyễn Đức Thắng
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
1. Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội đảng toàn quốc lần thứ X (18/4-25/4/2006) – http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/ListObjectNews.aspx?co_id=30396 Link
5. TS. Hà Văn Siêu – Phát triển du lịch biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới – http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2014/29123/Phat-trien-du-lich-bien-dao-Viet-Nam-trong-tinh-hinh-moi.aspx Link
6. Văn phòng Đảng ủy trường Đại học Cần Thơ – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam – http://cpv.ctu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=135:vn-kin-i-hi-i-biu-toan-quc-ln-th-xi-ca-ng-cng-sn-vit-nam&catid=36:trung-ng&Itemid=64 Link
2. Bộ giáo dục và đào tạo – Giáo trình Đường lối Cách Mạng Đảng Cộng Sản Việt Nam – NXB Chính trị quốc gia – năm 2011 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w