1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP- QUY TRÍNH SẢN XUẤT GỐM CHU ĐẬU

34 1,6K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT I.1- KHÁI NIỆM CHUNG VỀ GỐM SỨ Gốm là sản phẩm được sản xuất từ bột liệu mịn sau khi tạo hìnhđược sấy và nung đến nhiệt độ cao để đạt yêu cầu kỹ thuật cần thiết.

Trang 1

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

I.1- KHÁI NIỆM CHUNG VỀ GỐM SỨ

Gốm là sản phẩm được sản xuất từ bột liệu mịn sau khi tạo hìnhđược sấy và nung đến nhiệt độ cao để đạt yêu cầu kỹ thuật cần thiết.Chính vì vậy mà gốm được phân loại theo tính chất và phạm vi sử dụngcủa chúng

1.3- Tính chất.

- Độ trắng

Độ trắng là một đặc trưng cho sản phẩm sứ vì độ trắng càng cao thìchất lượng sứ càng cao, độ tinh tế càng cao, tính hấp dẫn càng tăng Độtrắng của gốm sứ phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu ban đầu để sảnxuất

- Độ trong

Trong quá trình nung gốm sứ, ở nhiệt độ cao pha thủy tinh sẽ xuấthiện xen lẫn các tinh thể Chính lượng pha thủy tinh này có ảnh hưởng

Trang 2

lớn đến độ kết khối và độ trong của sứ.

- Độ bền hóa

Độ bền hóa hay khả năng chịu tác dụng hóa học của môi trường nhưthức ăn hay nước uống, chanh hay dấm, nước mắm, nước rửa và nhiềuloại khác nữa

- Độ bền nén ở nhiệt độ thường

Độ bền nén của sản phẩm phản ánh mức độ kết khối hay mật độ cũngnhư đánh giá cả quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm đó Tuy nhiênsản phẩm có cùng mật độ như nhau nhưng độ bền nén có thể khác nhau

do cấu trúc cũng như loại liên kết khác nhau

- Độ xốp, độ hút nước

Tất cả các vật liệu gốm đều có độ xốp, độ hút nước.Nhìn chung độ xốpcàng lớn, độ hút nước càng lớn thì khối lượng thể tích vật liệu gốm càngthấp Qua độ xốp, độ hút nước và khối lượng thể tích của vật liệu, người

ta có thể đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh công nghệ sản xuất

- Cường độ uốn

Về nguyên tắc người ta cũng có thể thí nghiệm theo tiêu chuẩn songcường độ gốm xấp xỉ bằng 1/3 cường độ nén Chỉ trong những trườnghợp đặc biệt người ta mới tiến hành đo giá trị này

Ngoài ra còn có một số tính chất khác như: cường độ chống bào mòn, độdẫn điện, độ giãn nở nhiệt,độ dẫn điện bề mặt, điện thế xuyên thủng…

1.4- Ứng dụng của gốm sứ

Phạm vi ứng dụng vật liệu gốm sứ rất rộng và rất lớn Hầu như tất cácngành công nghiệp đều dùng đến gốm sứ dưới nhiều dạng khác nhaunhư:

- Công nghiệp xây dựng

- Công nghiệp luyện kim,công nghiệp điện

- Công nghiệp điện tử

- Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng

Trang 3

I.2 TỔNG QUAN VỀ SƠ ĐỒ QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT GỐM SỨ

+ Sơ đồ quy trình sản xuất

Định lượng

Chế tạo phối liệu

Khuôn thạch cao Tạo hình dẻo, đổ rót

Sấy, sửa sản phẩm môc Năng lượng nhiệt

Các nguyên liệu

Trang trí,tráng men

Năng lượng nhiệt

Men, chất màu

Nung

Kiểm tra phân loại

Trang 4

I.3 - NGUYÊN LIỆU LÀM GỐM SỨ

Nguyên liệu chủ yếu để sản xuất gốm sứ là các loại đất đá có trongthiên nhiên, nó phân bố khắp nơi trên mặt đất và có những mỏ tập trungnhư mỏ đất sét, cao lanh, trường thạch, thạch anh, đá vôi, hoạt thạch Căn cứ vào tính năng vật lý của nguyên liệu, người ta chia làm 2 loại:

+ Nguyên liệu dẻo: Cao lanh, đất sét

+Nguyên liệu không dẻo: Thạch anh, trường thạch

1.3.1- Nguyên liệu dẻo (Cao lanh và đất sét.)

- Các loại cao lanh và đất sét khác nhau gọi chung là nguyên liệusét Nguyên liệu sét – danh từ để chỉ các loại khoáng vật mảnhvụn có thành phần hóa thông thường là hydroalumosilicat

- Nguyên liệu sét hình thành do sự phong hóa của đá gốc nhưfenpat, granit, mica, thạch anh Trong suốt nhiều thế kỷ nguyênđịa chất

- Dựa vào điều kiện hình thành mà các nguyên liệu sét được phânthành loại sét nguyên sinh và thứ sinh

+ Sét nguyên sinh được tạo thành và nằm tại nơi phong hóa có đặcđiểm là hạt thô, kém dẻo và chứa ít tạp chất.Đa só các loại cao lanhthuộc về sét nguyên sinh

+ Sét thứ sinh là sản phẩm phong hóa được mang đi nơi khác vàđược lấy đọng lại Đặc điểm của sét thứ sinh là chứa nhiều hạt mịn, dẻo

và lẫn nhiều tạp chất Các loại đất sét khác nhau, tùy theo cấu tạo tạpchất và điều kiện hình thành, thường thuộc về sét thứ sinh

1.3.2-Nguyên liệu không dẻo

Nguyên liệu không dẻo, có thể chia thành hai loại:

- Loại giảm dẻo như cát, Samot mảnh gốm sứ…

- Loại giảm dẻo và hạ nhiệt nung như: trường thạch đá vôi, hoạtthạch…

+ Thạch anh.

Công thức toán học là SiO2 Thạch anh trong thiên nhiên tồn tạidưới 2 dạng;

Trang 5

-Loại tinh thể như quac-zit, cát sông, cát biển…

-Loại vô định hình như: đá cuội( Flint), diatonit…

Thạch anh có tỷ trọng từ 2.21 đến2.65 tùy theo cấu tạo của tinh thể.Thạch anh biến đổi tinh thể khi nhiệt độ thay đổi và kèm theo hiện tượngtăng giảm thể tích

+ Trường thạch.

Trong tự nhiên thường hay gặp:

-Trường thạch KaLi: K2O.Al2O3.SiO2

-Trường thạch Natri: Na2O.Al2O3.6SiO2

-Trường thạch CanXi: Ca2O.Al2O3.2SiO2

Trường thạch có tỉ trọng từ 2.50 đến 2.70 Độ cứng từ 6 ÷ 6.5 Nhiệt độnóng chảy từ11500c đến 12900c Khi nung đến 13000c rồi để nguội,trường thạch chảy thành thủy tinh màu trắng đục

Công thức toán học CaCO3 thành phần hóa học: CaO = 56%; CO2 = 44%

-Đá vôi pha vào phế liệu sứ để hạ thấp nhiệt độ nung Đá vôi dùngtrong men gốm sứ khi ở nhiệt độ cao sẽ phản ứng mãnh liệt với cao lanh

và thạch anh tạo thành lớp thủy tinh trong suốt, tạo thành lớp trung giantốt giữa xương và men

+Đôlômit

Đôlômit là loại đá có màu trắng xám, vàng, nâu, lục, nhạt, độ cứng

Trang 6

3,5% ÷ 4 Tỷ trọng 1,8 ÷ 2,9.

-Công thức hóa học: CaMg(CO3)2

-Đôlômit cho vào phê liệu sứ chủ yếu cung cấp CaO và MgO để hạ thấpnhiệt độ nung Tăng tính bền điện, bền nhiệt, bền hóa…

1.3.3-Gia công chế biến nguyên liệu.

+Trong sản xuất gốm sứ thì khâu gia công phối liệu xương là quantrong nhất Tùy theo nguyên liệu sử dụng và yêu cầu chất lượng của sảnphẩm mà người ta lựa chọn thiết bị và dây chuyền công nghệ cho phùhợp

+Đối với gốm chu đậu hiện nay đang sản xuất dây chuyền sau:-Phương pháp gia công phối liệu ướt( hồ rót)

- Phương pháp gia công phối liệu dẻo( đất xây)

1.3.4- Phương pháp gia công phối liệu ướt( hồ rót).

+Các mặt hàng gốm sứ có hình khối phức tạp như tượng mỹ nghệ,

ấm trà… đều phải dùng phương pháp đổ rót bằng khuôn thạch cao

+Hồ rót phải đạt các yêu cầu kỹ thuật sau:

- Lượng nước phải ít nhất để giảm thời gian đổ rót và thời gian sấy sảnphẩm

- Hồ phải có độ linh động cao để vận chuyển trong đường ống

- Hồ phải bền không lắng, không đóng cục

- Tốc độ đóng khuôn nhanh

- để thoát khuôn bề mặt sản phẩm phải bóng đẹp

Trang 7

-1.3.5 -Dây truyền gia công hồ rót như sau:

Bể chứa Cân phối liệu

Thành hình

Bể ủ Bơm

Trang 8

1.3.6 - Dây truyền gia công phối liệu dẻo( đất xây).

I.4 - THẠCH CAO

Thạch cao là vật liệu làm khuôn cho sản phẩm gốm sứ, khuônthạch cao chế tạo dễ, giá thành hạ, thạch cao tồn tại trong thiên nhiênhàng triệu năm nhưng mãi đến năm 1760 người Pháp mới tìm ra côngnghệ chế biến thạch cao

* Quá trình lý hóa khi nung thạch cao

Bơm-lọc ép

Luyện Khô Cân phối liệu

Kho ủ

Luyện chân không

Thành hình

Bể chứa

Trang 9

Thạch cao bao gồm thạch cao thiên nhiên, anhydric thiên nhiên và cácphế phẩm của công nghẹ hóa học.

1.4.1-Thạch cao thiên nhiên

1.4.2-Anhydric thiên nhiên ( CaSO 4 )

Thành phần hóa của anhydric

- Ở 1000C CaSO4.2H2O phân hủy nhanh chóng thành CaSO4.0,5H2O

CaSO4.2H2O = CaSO4.0.5H2O + 1,5H2O Hơi nước thoát ra sủi bọt nhanh làm cho thạch cao sôi, bột thạccao lúc này linh động như chất lỏng CaSO4.0,5H2O có 2 dạng thù hình

là β hai dạng thù hình này khác nhau về chỉ số khúc xạ, kích thướctinh thể và một số chỉ số khác

- α CaSO4.0,5H2O đóng rắn và ninh kết chậm cường độ cơ học cao

- β CaSO4.0,5H2O đóng rắn và ninh kết nhanh , cường độ cơ học thấp

- Khi nâng nhiệt độ lên 2000c quá trình mất nước càng nhanh và CaSO4

có tính hòa tan trong nước

- Tiếp tục nâng nhiệt độ lên 3000c lượng CaSO4 càng nhiều và chuyểnthành CaSO4 không hòa tan trong nước

- Đến 4500c và 4700c sản phẩm hoàn toàn là anhydric(CaSO4) không

Trang 10

hòa tan trong nước và mất tính liên kết, đóng rắn.

1.4.4 - Chế tạo khuôn thạch cao

- Khuôn thạch cao dùng trong kỹ thuật sản xuất gốm sứ thông thường

để làm khuôn cho phương pháp tạo hình dẻo các loại hình xoay trònnhư: bát , đĩa, chén v.v và phương pháp tạo hình ướt (đổ rót) như : lọhoa, ấm trà, tượng mỹ nghệ… Khuôn có thể một mảnh hoặc nhiềumảnh ghép lại Muốn sản xuất khuôn phải qua các bước sản xuấtkhuôn đầu, khuôn mẹ, khuôn con

- Sản phẩm được thiết kế trên bản vẽ có kích thước chính xác ví dụmột bát cơm: Người ta đổ thạch cao có phôi sơ bộ to hơn thiết kế, sau

đó sẽ tiện trên bàn xoay theo hình dáng và kích thước phía ngoài sảnphẩm gọi là khuôn đầu

- Tiếp tục bôi xà phòng, lau khô Nhiều lần làm như vậy, để chốngdính, rồi đổ thạch cao lên trên khuôn đầu Khi thạch cao đóng rắn tiếptục tiện theo thiết kế của khuôn con (3) Sau đó lại bôi xà phòng, laukhô để chống dính rồi lại đổ thạch cao lên khuôn (3) vừa tiện xong.Chờ thạch cao đóng rắn lại tiện theo thiết kế của khuôn bao (2) Khithạch cao đóng rắn đủ cường độ và đủ thời gian ta tháo rời khuôn rathành 3 mảnh 1,2,3

Trang 11

Ta ghép mảnh 1 ( khuôn đầu ) và mảnh 2 ( khuôn bao ) ta được bộkhuôn gọi là khuôn mẹ.

- Từ khuôn mẹ ta có khoảng trống 3, ta bôi xà phòng lau khô để chốngdính và hòa thạch cao đổ vào khoảng trống Để thạch cao đóng rắn đủcường độ ta lấy ra được khuôn con 3,như vậy từ khuôn mẹ ta có thểsản xuất hàng trăm khuôn con giống nhau

- Khuôn con 3 chính là khuôn dùng để sử dụng trong sản xuất các mặthàng gốm sứ

I.5 - TẠO DÁNG VÀ SẤY SẢN PHẨM

Tạo dáng sản phẩm.

Hình dáng các sản phẩm gốm sứ rất đa dạng, phong phú Tính năngcủa sản phẩm gốm sứ có yêu cầu rất cao Những sản phẩm sứ kỹ thuậtđòi hỏi kích thước chính xác Vì vậy phương pháp tạo dáng sản phẩmgốm sứ cũng rất phong phú Tùy theo yêu cầu của sản phẩm mà lựa chọn

từ công nghệ đến pha chế nguyên liệu và tạo dáng cho phù hợp, để đạtđược hiệu qur cao nhất

1.5.1- Phương pháp dẻo.

a)Phương pháp xây bằng máy bàn tua.

Máy bàn tua dùng dao bản để thành hình các loại sản phẩm nhỏ có hìnhdáng tròn xoay như : chậu hoa để bàn, các loại bát ,chén uống nước…

Trang 12

+ Nguyên lý hoạt động của máy như sau :

Phối liệu dẻo được nắm thành phôi đất, ném vào khuôn thạch cao(5) Cho motơ quay để truyền động cho trục (8) và bề thạch cao (6) quaytròn làm cho khuôn (5) quay theo Hạ cầu dao (2) xuống dao bản sẽ nénđất vào thành khuôn Phôi thừa được cắt bỏ bằng dao biên và văng rangoài, nhấc cầu dao lên, lấy khuôn (5) ra ta được sản phẩm mà phíatrong lòng là hình của dao bản (4) và phía ngoài sản phẩm là hình dángcủa khuôn (5) Thạch cao sẽ hút ẩm và sản phẩm sẽ khô, bong ra khỏikhuôn lấy ra ta được sản phẩm có độ ẩm khoảng 20% ÷ 22% Cho sảnphẩm vào phòng sấy và chuyển đi cáo công đoạn tiếp theo

+Tạo hình bằng máy bàn tua có những yêu điểm sau:

-Dễ thao tác

-Vốn đâu tư thấp giá thành hạ

+Tuy vậy có những nhược điểm là: Kết cấu của sản phẩm không đều, lựcnén yếu, độ ẩm thành hình cao, nên sản phẩm dễ bị biến dạng

+Để khắc phục những nhược điểm trên người ta thường dùng các loạimáy ép lăn với nhiều kiều dáng khác nhau như loại hai bệ quay ngượcchiều với tốc độ khác nhau, loại hai đầu nén, loại đầu nén có gia nhiệt…

b- phương pháp dùng máy ép loại hai đầu nén

Trang 13

1.5.2- Phương pháp đổ rót.

Hồ rót có độ linh động cao, có độ ẩm từ 32÷ 40% được rót vàokhoảng trống (4) Do khuôn thạch cao có khả năng hút nước nên hồchuyển động theo hướng thành khuôn Phối liệu rót sẽ bám vào thànhkhuôn đều đặn và xít đặc, theo thời gian chiều dầy sản phẩm tăng dân,khi độ dầy sản phẩm đạt yêu cầu ta đổ hồ thừa ra và được sản phẩm theo

Trang 14

ý muốn Chờ cho sản phẩm khô tách ra khỏi khuôn( độ ẩm khoảng 20÷22%) ta tháo từng mảnh khuôn và chờ sản phẩm đủ cường độ ta mang đisấy, sửa, tráng men.

Nguyên lý của sự hình thành lớp xương mộc như sau:

-Nếu gọi chiều dầy lớp bám vào khuôn là x trong một thời gian dt, lớpxương tăng được chiều dầy dx

-dx sẽ giảm dần khi chiều dầy lớp xương mộc tăng

Giả thiết khả năng hút nước của thạch cao là a và coi a là hằng số,thì quan hệ giữa chiều dày lớp mộc và thời gian sẽ là:

dx = dt

dt = dx; t = ; t = x2; x = =A

Như vậy chiều dầy lớp xương mộc bám vào khuôn tỷ lệ với căn bậc 2của thời gian t

Thời gian càng lâu lớp xương mộc bám khuôn càng dày

Phương pháp đổ rót có yêu điểm sau:

Tạo dáng được những sản phẩm có hình dáng phức tạp, mật độ kết cấucủa xương sít đặc đồng đều nhưng có nhược điểm năng xuất thấp,

Trang 15

c - Sửa ướt và gắn sản phẩm

-Sản phẩm sau khi thoát khỏi khuôn cần được bảo quản độ ẩmđồng đều khoảng từ 15% - 17%, chuyển sản phẩm lên bàn xoay ( hoặcmáy sửa ) đánh cân rồi dùng dao chuyên dụng cắt gọt các ba via dư thừa

để điều chỉnh hình dáng sản phẩm theo mong muốn

1.5.3 - Sấy và sửa khô sản phẩm gốm sứ.

a- sấy sản phẩm

Trong quá trình tạo dáng sản phẩm chúng ta đã thêm vào phối liệumột lượng nước khá lớn như tạo hình dẻo là 25% Để sản phẩm đủcường độ tiếp tục các công đoạn sau như sửa, tráng men và vận chuyểngiữa các công đoạn khác nhau ta phải tiến hành sấy sản phẩm

Khi sấy hơi nước sẽ thoát ra, phần hơi nước ở bề mặt sẽ bốc hơinhanh, phần nước ở giữa sản phẩm sẽ khó bốc hơi và phải di chuyển ởgiữa ra bề mặt, do đó sẽ có sự chênh lệch về độ ẩm và sự co rút sảnphẩm sẽ bị chênh lệch, gây lực nén làm nứt sản phẩm Mặt khác do nhiệt

độ sấy và áp lực hơi nước phía trong sẽ lớn làm nổ sản phẩm nếu chế độsấy không hợp lý

Vấn đề chủ yếu của kỹ thuật sấy là đảm bảo chất lượng sản phẩmnhưng phải tìm ra biện pháp kỹ thuật để rút ngắn thời gian sấy, giảm vốnđầu tư thiết bị, giảm diện tích sấy, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm

Quy trình sấy sản phẩm được tiến hành qua các giai đoạn sau:

+Giai đoạn I: Đốt nóng sản phẩm

Giai đoạn này hàm ẩm của khí sấy ≥ 90%

+Giai đoạn II: Giai đoạn thoát ẩm nhiệt độ của động lực sấy giữ ở 500c,giảm hàm ẩm của không khí sấy xuống còn 75% và giữ không đổi chođến cuối giai đoạn II Ở giai đoạn này nhiệt độ giữ ở 450c thời gian sấygiai đoạn này khoảng 10h

Ở giai đoạn II sản phẩm co nhiều, nếu không khống chế được các thông

số kỹ thuật một cách chính xác sẽ xảy ra co rút không đều, làm cho sảnphẩm bị nứt hoặc méo Sản phẩm ngừng co khi độ ẩm trên bề mặt bằng

độ hấp phụ của xương đất( tức là độ ẩm cân bằng của xương mộc tiếpxúc với không khí có độ ẩm tương đối φ=100%)

Trang 16

+Giai đoạn III: Sấy kết thúc.

Độ ẩm của khí sấy giảm từ 75% xuống còn 20% sau 5h sau đó giảm tiếpcòn 10% Nhiệt độ khí sấy tăng từ 500c ÷800c và giữ nguyên ở nhiệt độ

đó Ở giai đoạn này thể tích của sản phẩm hầu như không đổi Lượngnước bốc hơi sẽ tạo lỗ xốp, sản phẩm không co rút nên có thế sấy nhanhđược Tuy nhiên việc sấy nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào độ dầy củasản phẩm, hình dáng đơn giản hay phức tạp

Việc lựa chọn quy trình sấy hợp lý sẽ góp phần hạ giá thành sản phẩm,tăng năng xuất

b- Sửa khô sản phẩm

Sản phẩm sau khi được sấy ( hoặc để khô tự nhiên ) tới độ ẩm từ 2-5 % Phải kiểm tra chất lượng, những sản phẩm bị nứt hoặc cong vênh khôngđảm bảo các yêu cầu kỹ thuật cần phải được loại bỏ

I.6 - MEN VÀ MÀU TRANG TRÍ GỐM SỨ 1.6.1-Màu trang trí gốm sứ.

Sản phẩm gốm sứ có rất nhiều hình dáng đa dạng, màu sắc phongphú.Để hiểu sơ bộ cách sản xuất và công nghệ trang trí người ta chiamàu trang trí gốm sứ làm 3 loại: màu trên men, màu trong men và màudưới men

a-Màu trên men

Màu trên men là loại màu được trang trí trên sản phẩm gốm sứ đãnung chín và nung lại ở nhiệt độ 600 – 800oC Màu trên men phong phú,

đa dạng và rực rỡ nên được sử dụng nhiều trong nghành gốm sứ, các chấtnhuộm màu trên men có thể là các oxyt kim loạimàu, hỗn hợp Các oxytmàu, các loại màu silicat…

b-Màu dưới men

Màu dưới men thường được nung chung với sản phẩm ở nhiệt độcao khoảng 1250oC vì vậy chúng phải bền nhiệt không bị phá hủy khimen chảy, vì vậy màu dưới phải đáp ứng những yêu cầu sau:

- Phải có độ liên kết nhất định để có thể dùng bút lông vẽ hoặc inđược như mực in

- Bám chắc vào xương khi vẽ và khi nung ở nhiệt độ cao

Trang 17

- Bền với nhiệt độ cao.

- Không tan hoặc hòa tan rất ít vào men khi men nóng chảy

- Để đáp ứng các yêu cầu trên người ta thường pha thêm vào màudưới men đất sét và cao lanh dẻo

c- Màu trong men

Màu trong men và men màu là các tinh thể màu khác nhau phân tánđều trong men, loại màu này không tham gia phản ứng khi men chảy ởnhiệt độ cao Vì vậy màu trong men thông thường là các tinh thể màubền vững

Màu trong men được nghiền mịn và pha với các chất keo để vẽ gọi

là màu vẽ trong men, nếu pha vào men sống sẽ trở thành men màu

1.6.2 - Men gốm sứ

Men là một lớp thủy tinh có chiều dày 0.15- 0.4mm phủ lên bề mặtgốm sứ, lớp thủy tinh này hình thành trong quá trình nung, làm cho bềmặt sản phẩm nhẵn bóng, tăng cường độ cơ học, tăng độ ben hóa của sảnphẩm

Men gốm sứ rất phức tạp và nhiều màu sắc phong phú, men có thểnung ở nhiệt độ 700oC và có loại nung ở 1450oC Men có loại dùngnguyên liệu đất đá ( men sống) và có loại dùng hóa chất nấu chảy ( menfrit )

1.6.3- Các tính năng của men gốm sứ

a, Độ nhớt

Men không có điểm nóng chảy xác định mà chuyển đổi dần từ trạng tháidẻo quánh sang trạng thái chảy lỏng, do đó độ nhớt cũng sẽ thay đổi theokhi nhiệt độ tăng thì độ nhớt giẩm và ngược lại.Độ nhớt của men phụthuộc vào thành phần hóa của men.Vì vậy khi pha chế men cần tìm mộtbài men có khoảng chảy mềm rộng, nghĩa là men có độ nhớt ít thay đổi,khi thay đổi nhiệt độ để cho men có thể nóng chảy và bám chắc vàoxương gốm sứ

b, Sức căng bề mặt

Sức căng bề mặt tác dụng lên danh giới của pha lỏng theo chiều hướngthu nhỏ bề mặt Đối với các hợp chất silicat nóng chảy, sức căng bề mặtnằm trong khoảng 300 dyn/cm

Ngày đăng: 02/06/2015, 17:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình dáng các sản phẩm gốm sứ rất đa dạng, phong phú. Tính năng của sản phẩm gốm sứ có yêu cầu rất cao - BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP- QUY TRÍNH SẢN XUẤT GỐM CHU ĐẬU
Hình d áng các sản phẩm gốm sứ rất đa dạng, phong phú. Tính năng của sản phẩm gốm sứ có yêu cầu rất cao (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w