CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BÁN BUÔN VẬT LIỆU XÂY DỰNG1.1.Khái niệm và đặc điểm của bán buôn 1.1.1.Khái niệm bán buôn Thương mại bán buôn theo nghĩa chức năng, tồn tại khi những người tham gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
- -ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BÁN BUÔN VẬT LIỆU XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
- -ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BÁN BUÔN VẬT LIỆU XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
1.Tính tất yếu của đề tài 5
2.Mục đích nghiên cứu 6
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.Phương pháp nghiên cứu 6
5.Kết cấu đề tài 6
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BÁN BUÔN VẬT LIỆU XÂY DỰNG 8
1.1.Khái niệm và đặc điểm của bán buôn 8
1.1.1.Khái niệm bán buôn 8
1.1.2.Đặc điểm của bán buôn 8
1.1.3.Các loại hình bán buôn 9
1.2.Khái niệm, đặc điểm và nội dung của bán buôn vật liệu xây dựng 12
1.2.1.Khái niệm, đặc điểm và phân loại vật liệu xây dựng 12
1.2.2.Các hình thức bán vật liệu xây dựng chủ yếu 13
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến bán buôn vật liệu xây dựng 14
1.3.1.Các yếu tố vĩ mô 14
1.3.2.Các yếu tố tác nghiệp 15
1.3.3.Yếu tố bên trong 16
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG BÁN BUÔN VẬT LIỆU XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM 19
2.1.Khái quát chung về hệ thống bán buôn vật liệu xây dựng ở Việt Nam 19
2.1.1.Tình hình chung về hệ thống bán buôn vật liệu xây dựng tại Việt Nam 19
2.1.2.Các hình thức bán buôn vật liệu xây dựng tại Việt Nam 20
2.1.3.Vai trò của hệ thống bán buôn vật liệu xây dựng đối với Việt Nam 21
2.2 Thực trạng bán buôn vật liệu xây dựng ở Việt Nam 22
2.2.1.Môi trường kinh tế 22
2.2.2.Yếu tố về Chính sách 27
2.2.3.Yếu tố về tự nhiên 32
2.2.4.Yếu tố về khoa học công nghệ 34
2.2.5.Yếu tố về khách hàng 37
Trang 42.2.6.Nguồn cung 41
2.2.7.Sản phẩm 46
2.2.8.Cơ sở hạ tầng,kho tàng,bến bãi và khoa học công nghệ 49
2.2.9.Nhân lực 51
2.2.10.Nguồn vốn 54
2.3 Các kết luận rút ra từ phân tích thực trạng 56
2.3.1.Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 56
2.3.2.Các yếu tố bên trong doanh nghiệp 58
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH BÁN BUÔN VẬT LIỆU XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM 61
3.1 Dự báo về thị trường vật liệu xây dựng ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra cho hệ thống bán buôn vật liệu xây dựng 61
3.1.1.Dự báo về Cầu thị trường xi măng và thép 61
3.1.2.Dự báo về Cung xi măng và thép 65
3.2 Các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh bán buôn vật liệu xây dựng ở Việt Nam 69
3.2.1.Phát triển dịch vụ logistics trong bán buôn vật liệu xây dựng 69
3.2.2.Tăng cường khả năng huy động vốn 71
3.2.3.Tăng cường sự liên kết 72
3.2.4.Đa dạng hóa trong kinh doanh 72
3.2.5.Tăng cường chất lượng dịch vụ 73
3.2.6 Thiết lập hệ thống sàn giao dịch ( sở giao dịch) hàng hóa cho các doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng 73
3.2.7 Giảm bớt khâu trung gian trong phân phối vật liệu xây dựng 77
3.2.8 Các đề xuất về công tác quản lý giá của các cơ quan chức năng 78
3.2 Điều kiện thực hiện giải pháp 80
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính tất yếu của đề tài
Những năm gần đây chứng kiến sự đầu tư mạnh mẽ của nhà nước, doanh nghiệpvào xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, giao thông đô thị và các cơ sở thiết yếu khác củanền kinh tế, cũng như sự gia tăng không ngừng nhu cầu xây dựng của người dân khi mứcsống ngày càng được nâng lên Bên cạnh đó là sự phát triển nhanh chóng của các ngànhxây dựng, chế tạo, sản xuất vật liệu xây dựng và cung ứng vật liệu đến những nơi tiêu thụ
Do sử dụng nhiều vốn, lao động cũng như tầm quan trọng đối với sự phát triển của cáclĩnh vực khác mà ngành xây dựng nói chung và hệ thống bán buôn vật liệu xây dựng nóiriêng đã trở thành một thành phần quan trọng của nền kinh tế quốc dân
Thị trường vật liệu xây dựng đang khởi sắc và có những hoạt động diễn biến khá phức tạp, trong đó các hoạt động bán buôn vật liệu xây dựng là một mắt xích khá quan trọng Nó đã tạo ra sự kết nối giữa nhà sản xuất với các đại lý và các công trình lớn, giúp vật liệu xây dựng được lưu thông trong cả nước một cách dễ dàng Đồng thời, các doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng cũng đóng góp một phần rất quan trọng vào việc phát triển kinh tế của đất nước, tác động tới nhiều ngành nghề lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, hoạt động của các doanh nghiệp này đã thực sự hiệu quả hay chưa? Các chính sách quản lý tác động đến họ như thế nào? Và có giải pháp nào giúp các doanh nghiệp này phát triển hơn, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển chung của đất nước? Việc phát triển doanh nghiệp bán buôn thực sự là một vấn đề mang tính cấp thiết, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình toàn cầu hoá đã bao trùm hầu hết các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc sống, thì sự phát triển của các doanh nghiệp này đóng một vai trò và ý nghĩa quan trọng với sự phát triển và hội nhập của đất nước
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động bán buôn vật liệu xây dựng, các công ty sản xuất cũng đã cố gắng phát triển hệ thống tổng đại lý, đại lý nhằm phát thúc đẩy đầu ra có hiệu quả và tăng khả năng xoay vòng vốn Đồng thời, các doanh nghiệp bánbuôn vật liệu xây dựng cũng đang cố gắng đưa hoạt động của mình vào khuôn khổ hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng khả năng sinh lời Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề nội
Trang 6tại cũng như bên ngoài doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng chúng ta cần nghiên cứu
để làm rõ điểm mạnh- điểm yếu, cũng như cơ hội- nguy cơ mà các doanh nghiệp này có,
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào “THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BÁN BUÔN VẬT LIỆU XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 2011-2015”
Do hiểu biết cũng như nguồn lực có hạn nên nhóm chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vicác doanh nghiệp bán buôn đầu ngành về thép, xi măng (đại lý, tổng đại lý trực tiếp lấy hàng từ nhà sản xuất) trên lãnh thổ Việt Nam Và thời gian đánh giá thực trạng là từ năm 2007-2010
4.Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ đã xác định ở trên, trong đề tài sử dụng các phương pháp điều tra, phân tích, tổng hợp
5.Kết cấu đề tài
Nội dung của đề tài gồm:
Lời mở đầu
Chương 1: Tổng quan về hoạt động bán buôn vật liệu xây dựng.
Chương 2: Phân tích thực trạng bán buôn vật liệu xây dựng tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động bán buôn vật liệu xây dựng tại Việt Nam
Trang 7Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Hoạt động bán buôn vật liệu xây dựng là một vấn đề phức tạp và tương đốirộng,khả năng thu thập số liệu thống kê hạn chế do vậy trong đề tài trong tránh khỏikhiếm khuyết rất được sự góp ý của thầy cô giáo
Trang 8CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BÁN BUÔN VẬT LIỆU XÂY DỰNG
1.1.Khái niệm và đặc điểm của bán buôn
1.1.1.Khái niệm bán buôn
Thương mại bán buôn theo nghĩa chức năng, tồn tại khi những người tham gia thịtrường mua hàng hóa mà về nguyên tắc không do họ tự sản xuất ra, từ người sản xuấthoặc các nhà cung cấp khác, sau đó bán cho người chuyển bán, người tiếp tục chế biếnhoặc người sử dụng vào mục đích nghề nghiệp( ví dụ, cơ quan nhà nước, cơ sở đào tạo )hoặc các tổ chức khác mà không phải là các hộ gia đình( ví dụ căng tin, hiệp hội)
Thương mại bán buôn theo nghĩa tổ chức, còn gọi là doanh nghiệp thương mại bánbuôn, hay công ty bán buôn, bao gồm tất cả các tổ chức mà họat động kinh tế của nó chủyếu hoặc chỉ tập trung vào họat động bán buôn theo chức năng Một doanh nghiệp haycông ty chỉ được coi là thương mại bán buôn khi họat động bán buôn dẫn tới việc tạo ragiá trị lớn hơn các họat động thứ hai hoặc các họat động khác
Dịch vụ bán buôn bao gồm việc bán hàng cho những người bán lẻ, những doanhnghiệp sử dụng của các ngành công nghiệp, thương mại, các tổ chức hoặc các đơn vịchuyên môn, hoặc cho những người bán buôn khác
1.1.2.Đặc điểm của bán buôn
Đối tượng: Là siêu thị, đại lý, các cấp bán buôn nhỏ hơn, các nhà bán lẻ Các đốitượng này mua về để bán chứ không phải tiêu dùng, tức là tiếp tục quá trình lưu chuyểnhàng hóa Hàng hóa lúc này có thể đến các cấp phân phối nhỏ hơn hoặc đến tay người tiêudùng
Khối lượng hoặc giá trị hàng hóa mua bán lớn, bởi hàng hóa mua về để bán lại Tính chất pháp lý: Thường được mua bán theo hợp đồng, tùy theo mặt hàng và tínhchất của giao dịch
Trang 9Hình thức thanh toán: dùng tiền mặt hoặc chuyển khoản… Thông thường, vớinhững giao dịch liên quan tới công ty thường dùng hình thức chuyển khoản hơn, vì mức
độ an toàn và chính xác của nó
Kết thúc quá trình bán hàng, hàng hóa vẫn nằm trong khâu lưu thông, khác với bán
lẻ (bán cho người tiêu dùng cuối cùng) Do đó, trong quá trình này hàng hóa thể hiện giátrị của nó, còn giá trị sử dụng thì vẫn ở dạng tiềm ẩn
Giá cả: có giá của đơn vị sản phẩm thấp hơn so với giá bán lẻ, thường bằng hoặccao hơn giá của nhà máy một chút (do được hưởng hoa hồng của bán buôn)
Tầm ảnh hưởng: Có tầm ảnh hưởng đối với thị trường tương đối lớn, đặc biệt làkhả năng chi phối giá Bán buôn có thể qua nhiều kênh, tới nhiều địa bàn khác nhau, nênthị trường rộng hơn so với bán lẻ rất nhiều
1.1.3.Các loại hình bán buôn
Dạng doanh nghiệp trong thương mại bán buôn được phân loại theo mặt hàng, phạm
vi tiêu thụ và mua hàng, cũng như hình thức phục vụ và chuyên chở hàng hóa.Dạngdoanh nghiệp trong thương mại bán buôn chủ yếu bao gồm thương mại bán buôn mặthàng tổng hợp và thương mại bán buôn chuyên doanh; thương mại bán buôn xuất khẩu,nhập khẩu và quá cảnh; thương mại bán buôn thu mua và tiêu thụ; thương mại bán buônbày hàng, trưng bày, trả tiền mặt- chuyển hàng đi và gửi hàng; thương mại bán buôn hàngtiêu dùng và tư liệu sản xuất Các dang doanh nghiệp hợp tác của thương mại bán buônbao gồm các liên hiệp mua hàng của thương mại bán buôn, bán lẻ, các nhóm liên kết tựnguyện
- Các doanh nghiệp bán buôn mặt hàng tổng hợp có xu hướng kinh doanh mặt hàngrộng và không sâu
- Các doanh nghiệp bán buôn chuyên doanh có xu hướng kinh doanh mặt hàng hẹp
và sâu
- Các doanh nghiệp thương mại thu mua thường chuyên môn hóa vào việc thumua( thu gom hàng hóa), phân loại và đóng gói, chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp( vídụ như rau, quả, khoai tây, bông ), cũng như tái phân phối hàng cũ và phế liệu cho người
sử dụng( ví dụ: tái chế phế thải bằng sắt, giấy, thủy tinh, chất dẻo ) Trong thương mại
Trang 10thu mua, những người thu gom mua lượng hàng nhỏ, sau đó bán lại cho những người thugom lớn để tiếp tục cung cấp cho những người sử dụng và chế biến, hoặc tái phân phối.Đối với các sản phẩm nông nghiệp, thương mại thu mua thường tồn tại dưới hình thức cáchợp tác xã ( như hợp tác xã rau, hợp tác xã quả- trái cây, hợp tác xã bò sữa ).
- Doanh nghiệp thương mại bán buôn trả tiền mặt và tự chuyển hàng đi( bán buôn tựphục vụ) như METRO Cash& Carry, thường cung cấp mặt hàng rộng bao gồm nhiều loạithực phẩm, đồ uống, hàng tiêu dùng một lần và lâu bền Người mua hàng trả tiền mặt, tựđóng gói và chuyển hàng đi
- Doanh nghiệp bán buôn bày hàng thường có diện tích bán hàng hoặc diện tích đặtgiá bày hàng ở các doanh nghiệp thương mại bán lẻ hoặc ở trong các doanh nghiệp bánbuôn trả tiền mặt- chuyển hàng đi Họ thường xuyên trưng bày và quản lý hàng hóa ở đó.Mặt hàng thường bao gồm dụng cụ gia đình, hàng dệt, giấy, đồ chơi, băng đĩa, sách và mỹphẩm nhằm bổ sung cho mặt hàng chủ yếu Các doanh nghiệp này tổ chức mua hàng,cung cấp và trao đổi hàng hóa, niêm yết giá tại cửa hàng, trưng bày hàng hóa và xếp hànghóa vào giá bày hàng Họ phải trả tiền cho việc cung cấp thiết bị và diện tích bày hàng tùythuộc vào doanh số bán ra
- Nhóm liên kết tự nguyện trong thương mại bán buôn là sự kết hợp của các doanhnghiệp thương mại độc lập với nhau về kinh tế và pháp lý, trong việc mua hàng, tiêu thụ,đầu tư, tài chính, cũng như quản lý thông qua việc thành lập doanh nghiệp chung( trungtâm của các nhóm liên kết, thường dưới hình thức pháp lý là hợp tác xã hay công ty cổphần) Nhóm liên kết bao gồm các cộng đồng mua hàng của thương mại bán buôn và bán
lẻ, cũng như thợ thủ công Mục tiêu của các nhóm liên kết là tăng cường hiệu quả và khảnăng cạnh tranh của các thành viên để đảm bảo sự tồn tại của họ, nhiệm vụ có thể rất đadạng Các trung tâm của nhóm liên kết mua hàng hóa và bán nó cho các thành viên, qua
đó mang lại hiệu quả cho các thành viên( như phát triển và xúc tiến các nhãn hiệu thươngmại, thực hiện các đợt bán hạ giá, xây dựng các mẫu hàng, thực hiện chức năng quản lý
và điều khiển chung, xử lý thông tin, tư vấn và đào tạo ) Ngòai việc hỗ trợ cho cácthành viên, các trung tâm của nhóm liên kết còn tự kinh doanh thương mại bán lẻ
Trang 11- Các doanh nghiệp thương mại bán buôn hàng tư liệu sản xuất chủ yếu thực hiệnviệc cung ứng hàng nguyên vật liệu cho các xí nghiệp, nhà máy sản xuất công nghiệp vàtiểu thủ công nghiệp.
- Doanh nghiệp thương mại bán buôn nội bộ có xu hướng độc lập về mặt pháp lý,chủ yếu mua hàng hóa từ một hay nhiều doanh nghiệp sản xuất mà nó góp vốn
- Trung tâm thương mại bán buôn là khu vực quần tụ về không gian của nhiều doanhnghiệp bán buôn và các doanh nghiệp khác Các doanh nghiệp phù hợp với trung tâm baogồm các doanh nghiệp bán buôn, các nhà môi giới thương mại, các kho cung ứng củacông nghiệp, tổng kho của thương mại bán buôn, bán lẻ, các doanh nghiệp thực hiện cáchọat động dịch vụ logistics và phụ trợ của ngành thương mại( như bảo quản, lưu kho hànghóa, lắp ráp, sắp xếp và phân lọai đối với hàng hóa khối lượng lớn, bốc dỡ và phân phốilại đối với hàng hóa khối lượng nhỏ, dịch vụ giao hàng, dịch vụ bảo quản lạnh, các dịchvụ khuyến mãi do những người bán buôn thực hiện )
Nếu phân lọai theo hoạt động kinh doanh, trung tâm bán buôn có thể phân chia thànhtrung tâm kho vận, trung tâm trung chuyển và trung tâm phân phối:
+ Trung tâm phân phối chủ yếu phục vụ bán buôn của các nhà sản xuất, đại diệnthương mại, công ty bán buôn hoặc liên hiệp mua hàng, thường xuyên trưng bày hàngmẫu và thực hiện các cuộc triển lãm bán hàng và giới thiệu hàng hóa
+ Trung tâm kho vận và trung tâm trung chuyển hàng hóa chủ yếu phục vụ cho việcphối hợp các hoạt động diễn ra trong quá trình lưu thông hàng hóa( ví dụ, cùng nhau sửdụng các diện tích nhà kho, kỹ thuật bảo quản, chuyên chở và các thiết bị chung để nângcao tốc độ vận chuyển hàng hóa )
+ Trung tâm đại diện thương mại thường là nhà trưng bày hàng mẫu, quần tụ vềkhông gian của nhiều đại diện thương mại, với mục đích làm giảm nhẹ họat động muahàng của khách hàng, giảm chi phí cũng như cải thiện năng lực họat động của các đại diệnthương mại thông qua việc cùng nhau sử dụng những cơ sở hạ tầng nhất định( như diệntích văn phòng, diện tích kho, bãi để hàng, thiết bị xử lý thông tin hay bãi đỗ xe )
Trang 121.2.Khái niệm, đặc điểm và nội dung của bán buôn vật liệu xây dựng
1.2.1.Khái niệm, đặc điểm và phân loại vật liệu xây dựng
a Khái niệm
Vật liệu xây dựng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong các công trình xâydựng.Tùy theo đặc tính và quy mô của công trình,việc lựa chọn vật liệu đóng vai trò quyếtđịnh đến chất lượng, tuổi thọ và giá thành của công trình.Muốn sử dụng vật liệu đạt hiệuquả kinh tế và kỹ thuật cao cần hiểu biết về vật liệu xây dựng
Vật liệu xây dựng là sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ, vô cơ hoặc kim loại được sửdụng để tạo nên công trình xây dựng, trừ các trang thiết bị điện
b Đặc điểm
Khác với các hàng hóa tiêu dùng khác, mặt hàng vật liệu xây dựng lưu thông trênthị trường phần lớn là loại hàng hoá có khối lượng lớn và khá cồng kềnh Tùy theo từngloại mà có những yêu cầu về kho bãi, phương tiện vận chuyển đặc thù, khác nhau Vớinhững vật liệu như cát, gạch, đá… thường sử dụng kho hở (có thể để ngoài trời, có cheđậy) Với xi măng, thép, ống đồng, thì phải sử dụng kho kín Thông thường, điều kiệnbảo quản với vật liệu xây dựng không quá khắt khe, và nói chung là cần kho bãi rộng lớn.Bên cạnh đó, các xe chuyên chở dành cho vật liệu xây dựng cũng có những đòi hỏi nhấtđịnh như trọng tải lớn (ví dụ như với đá là xe 25 khối), mui trần hoặc hở (với cát, gạch làmui trần, có phủ bạt; với thép thường là mui kín) Do đó, với nhiều nơi có quy định chỉcho xe tải đi vào nội thành trong những khoảng giờ nhất định, cũng gây khó khăn choviệc vận chuyển vật liệu xây dựng từ nơi sản xuất tới các hệ thống phân phối vật liệu xâydựng cũng như các công trình
Trang 13đá nhân tạo không nung và vật liệu đá nhân tạo nung.
- Vật liệu đá nhân tạo không nung: nhóm vật liệu mà sự rắn chắc của chúngxảy ra ở nhiệt độ không cao lắm và sự hình thành cấu trúc là kết quả của sựbiến đổi hóa học và hóa lý của chất kết dính, ở trạng thái dung dịch (phân tử,keo, lỏng và rắn, pha loãng và đậm đặc)
- Vật liệu đá nhân tạo nung: nhóm vật liệu mà sự rắn chắc của nó xảy ra chủyếu là quá trình làm nguội dung dịch nóng chảy Dung dịch đó đóng vai trò làchất kết dính
Đối với vật liệu đá nhân tạo khi thay đổi thành phần hạt của cốt liệu, thành phầnkhoáng hóa của chất kết dính, các phương pháp công nghệ và các loại phụ gia đặc biệtthì có thể làm thay đổi và điều chỉnh cấu trúc cũng như tính chất của vật liệu
1.2.2.Các hình thức bán vật liệu xây dựng chủ yếu
Tùy theo từng cách phân loại mà có thể có nhiều hình thức bán buôn vật liệu xây dựng khác nhau:
- Theo kênh phân phối có: tổng đại lý, đại lý cấp 1, đại lý cấp 2, cửa hàng bán lẻ
- Theo hình thức phân phối có: bán buôn, bán lẻ vật liệu xây dựng
- Theo quan hệ với nhà sản xuất: trực thuộc nhà sản xuất ( văn phòng đại diện,chi nhánh…), độc lập tương đối với nhà sản xuất ( các đại lý, cửa hàng…)
- Theo cấp độ : đầu mối khu vực, đầu mối vùng
Trang 14- Theo sự đa dạng về chủng loại: phân phối chuyên sâu và phân phối tổng hợp.
Ví dụ như có những doanh nghiệp chỉ chuyên bán về thép, chuyên bán xi măng,
… Cũng có những doanh nghiệp bán cả gạch, xi măng, thép…
- Theo nguồn gốc sản phẩm: bán hàng nhập khẩu, bán hàng nội địa, bán tổng hợp(cả hàng nội địa và hàng nhập khẩu)
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến bán buôn vật liệu xây dựng
1.3.1.Các yếu tố vĩ mô
a Yếu tố về kinh tế
động bán buôn vật liệu xây dựng của DOANH NGHIỆP chịu rất nhiều ảnh hưởng của sựbiến động tỷ giá Khi tỷ giá tăng giảm sẽ tác động tới cung- cầu thị trường, đặc biệt vớinhững vật liệu xây dựng nhập khẩu hoặc nguyên liệu làm ra nó là nhập khẩu
- Yếu tố về lạm phát : lạm phát là yếu tố tồn tại tất yếu trong một nền kinh tế
có sự tăng trưởng Tuy nhiên, khi lạm phát tăng cao,sẽ ảnh hưởng tới sức cầu của ngườitiêu dùng cũng như khả năng cung của người sản xuất Điều này cũng không là ngoại lệvới ngành vật liệu xây dựng Do đó, gián tiếp nó đã ảnh hưởng tới hoạt động bán buôn vậtliệu xây dựng với những đơn hàng số lượng, giá trị lớn
b Yếu tố về tự nhiên
Địa hình ảnh hưởng tới quá trình vận chuyển của DOANH NGHIỆP bán buôn vìDoanh nghiệp cần vận chuyển sản phẩm từ nhà sản xuất tới các nhà kho, sau đó phân phốicho các nhà bán buôn nhỏ hơn hoặc các nhà bán lẻ Yếu tố này quyết định rất nhiều tớigiá thành sản phẩm và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, sản phẩm vậtliệu xây dựng cũng chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khí hậu,thời tiết (gỗ, ximăng, sắt thép…)
c Yếu tố về chính sách của nhà nước
Trang 15Các chính sách của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh Ví dụ như việc có mở cửa thị trường bán buôn hay ko, hoặc thời hạn khi nào mởcửa cũng ảnh hưởng tới nhiều DOANH NGHIỆP bán buôn trong nước cũng như DOANHNGHIỆP bán buôn nước ngoài muốn xâm nhập vào thị trường trong nước.
- Các quy định của luật pháp về đầu tư
- Chính sách của nhà nước về bình ổn giá cả trong điều kiện nền kinh tế lạm phát
- Chính sách hạn chế nhập khẩu các sản phẩm vật liệu xây dựng mà nội địa đã sảnxuất được
- Chính sách về thuế đối với các Doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng, với mặthàng vật liệu xây dựng xuất và nhập khẩu
d Yếu tố toàn cầu hóa ( hội nhập)
Ảnh hưởng của toàn cầu hóa là rất mạnh mẽ vì khi hội nhập, chúng ta chịu ảnhhưởng rất lớn của sự biến động bên ngoài Điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế trongnhững năm quá, dẫn tới lãi suất của ngân hàng cũng thay dổi Điều này gây khó khăn chocác doanh nghiệp bán buôn vì phải huy động nguồn vốn lớn mà chủ yếu từ vay ngânhàng
Toàn cầu hóa dẫn tới sự cạnh tranh ngày một gay gắt giữa Doanh nghiệp bán buôntrong nước với nước ngoài, đòi hỏi các doanh nghiệp phải giảm chi phí, đồng thời nângcao dịch vụ để tăng khả năng cạnh tranh
1.3.2 Các yếu tố tác nghiệp
a Khách hàng
Đối tượng chủ yếu của các doanh nghiệp bán buôn là các doanh nghiệp, cửa hàngbán lẻ Đối tượng này hiện nay rất đa dạng và phổ biến Doanh nghiệp cần có chiến lượctiêu thụ sản phẩm phù hợp Để đáp ứng được nhu cầu khách hàng trên thị trường cácDoanh nghiệp cần nghiên cứu thị trường và đưa ra các kế hoạch dài hạn và ngắn hạn hợplí
b Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Trang 16Việc cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành làm hoàn thiện hơn dịch vụcung ứng của các doanh nghiệp, ổn định giá cả, và tạo ra sự hoàn thiện thị trường.
c Nguồn cung sản phẩm
Nguồn cung cho các Doanh nghiệp bán buôn là các nhà sx vật liệu xây dựng trong
và ngoài nước Hiện nay , các Doanh nghiệp sx được phát triển khá mạnh và phân bố trênphạm vi rộng Sức cung với các mặt hàng vật liệu xây dựng đang vượt cầu và có xuhướng cần mở rộng thị trường tiêu thụ
1.3.3.Yếu tố bên trong
a.Vốn
Vốn chủ sở hữu: là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành
viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần Có 3 nguồn tạonên vốn chủ sở hữu: số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản.Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn kinh doanh (vốn góp và lợi nhuận chưa chia), chênh lệchđánh giá lại tài sản, các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khenthưởng phúc lợi Ngoài ra vốn chủ sở hữu còn gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và kinhphí sự nghiệp (kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp phát không hoàn lại )
Nợ phải trả: Là nguồn được doanh nghiệp đưa vào hoạt động kinh doanh qua
những khoản như: vay ngắn hạn, nợ đến hạn phải trả, phải trả cho người bán, thuế và cáckhoản phải nộp nhà nước, phải trả người lao động…
Với doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng, vốn chủ sở hữu phải đòi hỏi khálớn, tương ứng với một lượng lớn vật liệu xây dựng được thu gom Ngay cả với một cửahàng bán buôn vật liệu xây dựng, con số này cũng lên tới và trăm triệu,vài tỷ, rất lớn sovới các mặt hàng khác trong cùng lĩnh vực bán buôn Sự biến động giá cả vật liệu xâydựng rất nhạy cảm trong thời gian gần đây cũng cho thấy điều đó Mặc dù giá thép liêntục tăng, nhưng các đại lý, nhà phân phối vẫn ôm hàng vì sợ giá tăng cao thêm Như vậy,trước hết đòi hỏi nguồn vốn của doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng là khá lớn Bêncạnh đó, doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng hiện nay cũng sử dụng có hiệu quả
Trang 17phần nợ phải trả Thứ nhất, nó giúp các doanh nghiệp tăng được nguồn vốn, luân chuyểnvốn trong kinh doanh Đối với các nguồn vay, phải trả lãi, doanh nghiệp được khấu trừvào thuế thu nhập doanh nghiệp Riêng đối với khoản nợ lại nhà sản xuất hay doanhnghiệp đầu mối vẫn xảy ra, nhưng thời gian cho nợ không lâu, thường là hình thức gốiđầu Với việc tăng giá cả vật liệu xây dựng trong những tháng gần đây, thậm chí cácdoanh nghiệp bán buôn phải đặt trước tiền để giữ hàng do lo sợ giá tiếp tục tăng cao.
b Nguồn nhân lực
Đối với các doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng, nguồn nhân lực cũng đóngmột vai trò hết sức quan trọng Từ lao động giản đơn như nhân viên bốc dỡ đến nhân viênkinh doanh, nhân viên có năng lực chuyên môn kỹ thuật đều rất quan trọng
Nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ thuật còn thiếu hụt Còn thiếu những nhân viên
có trình độ chuyên môn cao, có thể tư vấn hỗ trợ cho khách hàng để đáp ứng dịch vụ saubán.Nguồn nhân lực kinh doanh: hầu hết nhân viên được đào tạo mới chỉ đáp ứng ở mức
độ quy mô nhỏ ( chủ yếu là bán lẻ), nên bước vào lĩnh vực bán buôn có nhiều khó khăn,
do đòi hỏi của nghiệp vụ,quy trình và khối lượng công việc lớn hơn
c Cơ sở hạ tầng, kho bãi, phương tiện và khoa học công nghệ
Như đã phân tích ở trên về nguồn vốn của các doanh nghiệp bán buôn hiện nay,
do lượng vốn của các doanh nghiệp còn hạn hẹp nên không đủ khả năng đầu tư cho cơ sở
hạ tầng với quy mô lớn Do đó, chưa có nhiều hệ thống bán buôn trên thị trường ViệtNam Các cơ sở khác về kho tàng để bảo quản hàng chưa đáp ứng được yêu cầu ngàycàng một tăng của thị trường, làm cho chất lượng sản phẩm bị giảm sút, ảnh hưởng tớiviệc tiêu thụ của doanh nghiệp bán buôn
Trang 18Nguồn cung chủ yếu của các doanh nghiệp bán buôn là các nhà sản xuất, do hệthống bán buôn chưa phát triển nên việc tạo lập mối quan hệ với nhà cung cấp còn rất hạnchế,việc tạo sức ép chi phối với nhà cung cấp cũng chưa tạo lập được.
Trang 19CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG BÁN BUÔN VẬT LIỆU XÂY DỰNG
Ở VIỆT NAM
2.1.Khái quát chung về hệ thống bán buôn vật liệu xây dựng ở Việt Nam
2.1.1.Tình hình chung về hệ thống bán buôn vật liệu xây dựng tại Việt Nam
Cùng với sự sôi động của thị trường bất động sản trong những năm trở lại đây,bánbuôn vật liệu xây dựng của Việt Nam ngày càng được phát triển về quy mô Những chung
cư hiện đại, tòa nhà cao cấp, nhà ở… được xây dựng, hoàn tất trong thời gian gần đây đãtrực tiếp và gián tiếp tác động tới hệ thống bán buôn vật liệu xây dựng Họ ngày càng hiểu
và nắm bắt tâm lý thị trường tốt hơn, do đó chủ động tích trữ hàng với số lượng phù hợp,nhằm tối đa hóa lợi ích và doanh thu
Các nhà bán buôn vật liệu xây dựng của Việt Nam cũng đa dạng hóa sản phẩm rấttốt, tạo cơ hội của các nhà bán lẻ và người tiêu dung cuối cùng có nhiều sự lựa chọn hơn.Tuy nhiên, sự tăng giá của tỷ giá và những nghị quyết, thông tư, báo cáo của chính phủ,ngân hàng nhà nước hiện nay đều cho thấy hoạt động nhập khẩu của các nhà bán buôn sẽgặp nhiều khó khăn
Hình thức bán buôn này càng hiện đại hơn Với siêu thị Mê Linh Plaza là siêu thịbán buôn vật liệu xây dựng đầu tiên của Việt Nam, một tương lai với những mô hình, cơcấu, cách thức mới đang mở ra cho chúng ta
Tuy nhiên, bên cạnh đó thì bán buôn vật liệu xây dựng của Việt Nam hiện nay vẫncòn nhiều vấn đề bất cập:
Thứ nhất, sự tập trung không cao, vẫn phân phối theo kiểu tự phát Cho tới thời
điểm này, Việt Nam mới chỉ có duy nhất một siêu thị vật liệu xây dựng (Melinh Plaza).Hầu hết, những nhà bán buôn vật liệu xây dựng lớn đều có sự đa dạng hóa theo cả chiềudọc và chiều ngang Việc gắn liền bán buôn vật liệu xây dựng, với dịch vụ tư vấn thiết kếnhà ở, hay tự sản xuất, gia công chế biến một phần… đã trở lên khá phổ biến đối với cácdoanh nghiệp lớn Bên cạnh đó, là những nhà nhập khẩu vật liệu vây dựng cũng bán đadạng các chủng loại nhập khẩu khác nhau cùng với hàng trong nước Nhà sản xuất vật
Trang 20liệu xây dựng trong thời gian gần đây cũng đã và đang xây dựng những hệ thống phânphối của riêng họ, với những cửa hàng đại diện là nơi giao dịch bán hàng.
Thứ hai là sự bất ổn về giá cả Đó là một trong những lý do khiến trong những
năm trở lại đây khiến thị trường vật liệu xây dựng lại càng trở nên căng thẳng Việc tănggiá do tỷ giá hối đoái và giá điện, giá xăng tăng đã tác đông rất lớn đến giá cả vật liệu xâydựng Các nhà bán buôn ôm và tích trữ hàng, lại càng đẩy giá lên cao Điển hình là năm
2008, và 3 tháng đầu năm 2011 Mặc dù giá tăng nhưng lượng cầu không giảm, do lạingại giá tiếp tục tăng cao hơn nữa Bên cạnh đó, việc tăng giá vật liệu xây dựng do cácyếu tố ăn theo, hoặc do việc trữ hàng cuối năm cũng làm đẩy giá vật liệu xây dựng lên rấtnhiều
2.1.2.Các hình thức bán buôn vật liệu xây dựng tại Việt Nam
Hiện nay, không có cách phân loại chính thống về các hình thức bán buôn vật liệuxây dựng Dựa trên việc tìm hiểu, nhóm nghiên cứu đưa ra một số cách phân loại như sau:
Nếu phân theo cấp độ bán buôn, có thể chia thành:
o Doanh nghiệp bán buôn đầu nguồn (đại lý, tổng đại lý, nhà phân phối) : nhậphàng trực tiếp từ nhà sản xuất và phân phối lại cho các cấp độ bán buôn, bán lẻnhỏ hơn Thông thường, doanh nghiệp đầu nguồn này còn thay mặt cho nhà sảnxuất để bán vật liệu xây dựng cho các công trình lớn
hơn trong kênh phân phối, nhập vật liệu xây dựng từ tổng đại lý, nhà phân phối,đại lý…(không trực tiếp từ nhà sản xuất) rồi bán lại cho các cấp độ bán buôn,bán lẻ nhỏ hơn
Nếu phân theo hình thức thành lập, có thể chia thành:
Trang 21Với những doanh nghiệp bán buôn lớn, họ thường thành lập/ chuyển đổi dưới hìnhthức công ty cổ phần nhằm tăng khả năng huy động vốn và liên doanh, liên kết theo chiềudọc, chiều ngang.
Nếu phân theo sự đa dạng trong sản xuất, kinh doanh có thể phân thành:
o Doanh nghiệp đơn ngành: chỉ kinh doanh vật liệu xây dựng
o Doanh nghiệp đa ngành: Ngoài kinh doanh vật liệu xây dựng, còn tham gia vàocác hoạt động khác như: thầu công trình xây dựng, sản xuất bê tông, kinhdoanh vận tải, kho bãi…
Ngoài ra còn có thể có nhiều cách phân loại khác Trong các phần tiếp theo, nhóm nghiêncứu theo cách phân loại đầu tiên, và chủ yếu tìm hiểu về doanh nghiệp bán buôn đầungành
2.1.3.Vai trò của hệ thống bán buôn vật liệu xây dựng đối với Việt Nam
a Đối với ngành
Ở Việt Nam, thông thường, nhà sản xuất không thích bán sản phẩm trực tiếp chocông trình vì sợ bị trả chậm, bởi công trình có vốn từ ngân sách thường bị giải ngân chậm.Nhà sản xuất không gánh nổi lãi suất vay vốn Do đó, các nhà sản xuất chọn giải phápgiảm bớt lãi bằng chiết khấu để bán cho các tổng đại lý lấy “tiền tươi, thóc thật” Về phíacác công trình cũng không muốn mua hàng trực tiếp của nhà máy bởi rất khó “gửi giá”.Việc gửi giá dễ dàng chỉ có thể làm ở các công ty làm dịch phân phối, các đại lý Trênthực tế, không có hệ thống bán buôn hoàn toàn Các doanh nghiệp, cửa hàng bán buôn cóthể bán trực tiếp với số lượng rất lớn với các công trình như vừa đề cập Do đó, hệ thốngbán buôn vật liệu xây dựng không chỉ là cầu nối giữa nhà sản xuất với hệ thống bán lẻ,
mà còn là cầu nối giữa nhà sản xuất với những công trình tương đối lớn, giải quyết bàitoán về vốn cho phía nhà sản xuất
Mặt khác, địa điểm nhà bán buôn phân bố rộng khắp, thuận tiện cho việc lấy vậtliệu xây dựng của hệ thống bán lẻ, cũng như của các công trình, giảm thời gian vậnchuyển Đồng thời, với doanh nghiệp sản xuất, nó cũng có ý nghĩa quan trọng trong việclưu kho, dự trữ, và tăng khả năng quay vòng vốn cho doanh nghiệp sản xuất, thực hiệnchức năng lưu thông hang hóa Hiện nay, các nhà bán buôn cũng đa dạng về chủng loại
Trang 22mặt hàng, đặc biệt là các nhà bán buôn hàng nhập khẩu, tạo ra nhiều sự lựa chọn khácnhau cho khách hàng, mở rộng khả năng tiêu dùng cho khách hàng.
b Đối với nền kinh tế quốc dân
Là doanh nghiệp thương mại, các doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng thựchiện chức năng lưu chuyển vốn, mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho xã hội Đồng thời,việc kinh doanh có hiệu quả của các doanh nghiệp này góp phần vào tổng kim ngạchchung của xã hội, tạo việc làm cho người lao động, và đóp góp một khoản thuế không nhỏcho nhà nước Rất nhiều doanh nghiệp bán buôn lớn, sau khi có lãi từ hoạt động kinhdoanh, đã tiếp tục đầu tư sang nhiều lĩnh vực khác, từ đó làm nhiều ngành nghề cũng pháttriển hơn
2.2 Thực trạng bán buôn vật liệu xây dựng ở Việt Nam
2.2.1.Môi trường kinh tế
a Tốc độ tăng trưởng
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng trung bình của giai đoạn
2001 – 2010 là 7,25% Trong đó, tăng trưởng trung bình giai đoạn 2001 – 2005 là 7,51%
và giai đoạn 2006 – 2010 tăng trưởng chững lại, còn 7%.Nhìn chung chất lượng tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam còn thấp và chưa đạt được độ bền vững Chất lượng tăngtrưởng kinh tế thấp thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, tính hiệu quả của kinh
tế thấp, đồng thời, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu Các vấn đề về xã hội như laođộng – việc làm, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội… đều đang là những vấn đề bứcxúc, còn môi trường đang ở mức báo động Thiệt hại môi trường do các hoạt động kinh tếgây ra chiếm khoảng 5,5% GDP hàng năm
Những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng tăng trưởng chất lượng thấp là năngsuất lao động, hiệu quả sử dụng vốn vật chất và năng lượng thấp Với mức tăng 5,13%trong giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam được cho là thấp
so với các nước trong khu vực khi Trung Quốc gấp trên 2 lần so với Việt Nam; Thái Langấp 4,5 lần; Malaysia gấp 12 lần và Hàn Quốc gấp 23,5 lần.Lĩnh vực sản xuất và kinh
Trang 23doanh vật liệu xây dựng của Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều nhà máyđược xây mới với trang thiết bị hiện đại,tuy nhiên phần lớn vẫn là các công nghệ cũ,năngsuất thấp,sử dụng nhiều tài nguyên và không thân thiện với môi trường.Các cơ sở bánbuôn vật liệu cũng chưa thực sự ý thức trong việc tổ chức khoa học hoạt động kinh doanhnhằm tăng năng suất tiếp nhận và cung ứng hàng hóa,mặt khác cũng gây không ít ô nhiễmmôi trường không khí,nước và âm thanh.
Theo tính toán, tỷ trọng đầu tư toàn xã hội đã tăng liên tục trong vòng hơn mộtthập kỷ qua từ mức 28,4% của GDP năm 1996 đến mức cao kỷ lục là 43,1% năm 2007 và42,2% năm 2008 Nếu năm 1997, chỉ với mức đầu tư chiếm 28,7% GDP Việt Nam đạtđược mức tăng trưởng 8,2% thì năm 2008 chúng ta đạt tốc độ tăng trưởng tương tự 8,5%nhưng với lượng vốn đầu tư tới 43,1% GDP.Xây dựng và vật liệu xây dựng là 2 trongnhững ngành được đầu tư nhiều nhất trong thời gian,nhiều doanh nghiệp và sản phẩm mớitham gia vào ngành góp phần tăng tính cạnh tranh hơn cho thị trường
Trong suốt thời gian vừa qua, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam mới chỉtập trung vào chiều rộng, tăng trưởng nhờ tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sức laođộng chứ chưa tập trung vào tăng trưởng chiều sâu.Đồng thời, năng lực cạnh tranh củanền kinh tế thấp và hầu như không được cải thiện từ năm 2001 đến nay Năm 2009, ViệtNam bị tụt 5 hạng so với năm 2008, trong khi các nước trong khu vực lại cải thiện được vịthế cạnh tranh của mình trong bảng xếp hạng Bên cạnh đó, cấu trúc đầu vào của tăngtrưởng, những bất ổn về môi trường và hệ số co giãn giảm nghèo đang giảm dần và bấtbình đẳng đều có xu hướng tăng mạnh… cũng là những nguyên nhân tác động không nhỏtới chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Là một ngành nghề trong nền kinh tế quốcdân,kinh doanh bán buôn chưa cung cấp được dịch vụ làm hài lòng khách hàng mà chủyếu tập trung vào tăng trưởng doanh số khiến khả năng cạnh tranh thấp
Tuy nhiên Việt Nam vẫn được đánh giá một trong những nền kinh tế năng độngnhất trong khu vực, Việt Nam là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanhnhất trong khu vực Đông Á Thái Bình Dương trước cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu,
và vẫn duy trì được vị trí đó cả sau khủng hoảng.Năm 2011 chính phủ đã đặt mục tiêu tốc
độ tăng trưởng kinh tế khoảng 7 - 7,5%; chỉ số giá tiêu dùng tăng khoảng 7% Ngân hàngThế giới đã công bố báo cáo “Securing the Present Shaping the Future” trong đó có đưa
Trang 24ra dự báo kinh tế Việt Nam tiếp tục hồi phục nhanh từ khủng hoảng toàn cầu,tăng trưởngkhoảng 6,3% năm 2011.Trong dài hạn báo cáo dự đoán tăng trưởng kinh tế toàn cầu 40năm tới của Citigroup cho biết 11 nước đang phát triển sẽ là những đầu tàu tăng trưởngkinh tế thế giới, gồm Việt Nam, Bangladesh, Trung Quốc, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia,Iraq, Mông Cổ, Nigeria, Philippines và Sri Lanka.
Tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế sẽ là động lực cho các doanh nghiệp bánbuôn mở rộng quy mô hoạt động đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đối phóvới các doanh nghiệp bán buôn nước ngoài được phép đầu tư trực tiếp vào Việt Nam
b Lãi suất
Cuối năm 2010 chính phủ quyết định không tiếp tục chủ trương giảm lãi suấtVNĐ, mà để các ngân hàng thương mại tự điều chỉnh lãi suất theo thị trường do chỉ sốCPI những tháng cuối năm tang cao.Nếu duy trì lãi suất VNĐ càng thấp thì đồng USD lạicàng có giá so với VNĐ.Chính sách này có tác dụng trong việc kìm hãm lạm phát,tuynhiên lãi suất tăng lại là gánh nặng đối với các doanh nghiệp.Mặc dù Ngân hàng Nhànước yêu cầu các ngân hàng tăng cường vốn cho lĩnh vực sản xuất, nhưng các doanhnghiệp vẫn khó tiếp cận nguồn vốn do lãi suất quá cao, khiến hoạt động kinh doanh gặpnhiều khó khăn.Nguồn vốn vay từ ngân hàng không thiếu nhưng với mức lãi suất lên tới19,2% đa phần các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bán buôn không thể tiếp cậnđược vốn.Với mức lãi suất này, doanh nghiệp phải lãi ít nhất 20% mới đủ khả năng trả lãivay và cổ tức cho cổ đông Trong bối cảnh hiện nay lợi nhuận 20% là điều vô cùng khókhăn nên rất nhiều doanh nghiệp phải tạm dừng các khoản vay.Kinh doanh bán buôn vậtliệu xây dựng cần nguồn vốn tương đối lớn để có thể nhập hàng và duy trì hoạt động củacác cơ sở,vì thế các doanh nghiệp bán buôn đã chịu ảnh hưởng tiêu cực từ thực trạng lãisuất cao trong thời gian gần đây,đặc biệt trong bối cảnh đầu năm 2011
c Tỷ giá hối đoái
Thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hànhthực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 và nhằm tăng tính thanh khoảncủa thị trường ngoại hối, ngày 11/2/2011 Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá bình
Trang 25quân liên ngân hàng lên mức 20.693 VND/USD (tăng 9,3% so với mức 18.932 VNDtrước đó) và thu hẹp biên độ giao dịch từ +/-3% xuống +/-1%.Với điều chỉnh trên, mứcgiá trần bán ra theo biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại ngày 11/2 sẽ ở mức20.900 VND, mức sàn là 20.486 VND.Một điểm đáng chú ý là Ngân hàng Nhà nước cũngcho biết sẽ điều hành tỷ giá bình quân liên ngân hàng tương đối linh hoạt trong thời giantới, thay vì cố định kéo dài như trong thời gian qua.
Động thái này có nhiều ý nghĩa tích cực.Việc tăng tỷ giá tham chiếu USD/VND sẽlàm giảm bớt những áp lực đối với dự trữ ngoại hối của Việt Nam, hỗ trợ tích cực cholĩnh vực xuất khẩu, theo đó làm giảm bớt áp lực đối với cán cân thương mại.Quỹ Tiền tệQuốc tế (IMF) tỏ ý hoan nghênh động thái này của Ngân hàng Nhà nước, xem đây là một
nỗ lực để thu hẹp khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá “chợ đen”
Tuy nhiên, bên cạnh đó,chính sách điều hành tỷ giá của ngân hàng nhà nước cũnglàm nảy sinh khả năng leo thang của lạm phát và áp lực đối với triển vọng tín nhiệm nợcủa Việt Nam sau khi tỷ giá tham chiếu được điều chỉnh tăng.Không giống như xu hướngđang diễn ra ở nhiều nền kinh tế châu Á khác - nơi đồng tiền đang tăng giá vì áp lực dòngvốn ngoại đổ vào và kinh tế phục hồi mạnh - đồng VND của Việt Nam thời gian qua đãliên tục mất giá so với USD Lần điều chỉnh tỷ giá mới nhất này có thể dẫn tới tình trạnglạm phát nhập khẩu cao hơn trong những tháng tới, đặc biệt khi giá hàng hóa cơ bản trênthế giới tăng cao
Ngoài ra việc tăng giá USD so với VND có thể làm tăng số nợ quốc gia của ViệtNam nếu quy ra nội tệ.Tháng 12/2010, Moody’s Investors Service đã cắt giảm điểm tínnhiệm nợ công của Việt Nam xuống B1 từ Ba3, với các lý do về rủi ro cán cân thanh toán,
áp lực mất giá đối với tiền đồng, lạm phát tăng, rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô Sau khi Ngânhàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá, Moody’s nhận định, động thái này hỗ trợ cho mức triểnvọng tiêu cực mà họ dành cho điểm tín nhiệm nợ công hiện nay của Việt Nam.Điều này
có thể làm giảm lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài khi tìm hiểu đầu tư vào ViệtNam,dẫn đến giảm nguồn vốn có thể tiếp cận của các doanh nghiệp để mở rộng hoạt độngkinh doanh
Việc tăng tỷ giá mạnh khiến cơ hội giảm lãi suất trong ngắn hạn càng giảm đi Tỷgiá tăng lên có lợi cho xuất khẩu nhưng cũng gia tăng áp lực nhập khẩu và lạm phát.Áp
Trang 26lực tăng giá một số mặt hàng trong nước, đặc biệt là xăng dầu đã trở nên lớn hơn khidoanh nghiệp nhập khẩu đã lỗ từ trước thời điểm tăng tỷ giá Áp lực này càng lớn hơn khiđồng nội tệ yếu đi hơn 9% do lần điều chỉnh này.Các doanh nghiệp xuất khẩu có thể đượclợi từ việc điều chỉnh tỷ giá lên cao,tuy nhiên các nhà nhập khẩu sẽ gặp khó khăn rất lớntrong khi Việt Nam chưa hoàn thiện các công cụ phòng tránh rủi ro tỷ giá.Các doanhnghiệp nhập khẩu vật liệu xây dựng có thể phải chịu thiệt hại lớn hơn khi nhập khẩu vậtliệu từ Trung Quốc vì đồng Nhân dân tệ tăng giá so với USD,tức là VNĐ giảm giá kép.
d Tỷ lệ lạm phát
Việt Nam hiện nay rơi vào tình trạng không mong muốn với tỉ lệ lạm phát cao nhấttrong toàn bộ khu vực Đông Á Thái Bình Dương (6,5%) trong năm 2009 và khoảng trên11% trong năm 2010.Từ tháng 11/2010 đến tháng 2/2011, chỉ số CPI ở Việt Nam đều ởmức hai chữ số Tỷ lệ lạm phát tháng Hai lên tới 12,31%, cao nhất trong hai năm nay.Sovới tháng 1/2011, chỉ số CPI vào tháng 2 tăng 2,09%, mức tăng nhanh nhất tính theo từngtháng kể từ tháng 6/2008
Vào tháng Một, chỉ số CPI tăng 12,17% so với cùng kỳ năm trước, và đã tăng1,74% so với tháng 12/2010 Tổng cục Thống kê chính thức công bố chỉ số giá tiêu dùngtháng 3/2011, tăng 2,17% so với tháng 2, mức cao nhất trong vòng 34 tháng qua So vớicùng kỳ, CPI tháng 3 đã tăng 13,89%; CPI bình quân quý 1/2011 so với quý 1/2010 đãtăng 12,79%, đều tăng cao hơn so với cách đây một tháng.Với kết quả này, chỉ số giá tiêudùng trong quý 1/2011 đang hình thành xu hướng tăng dần qua các tháng, từ mức 1,74%tại tháng 1/2011, kéo tiếp đến 2,09% của tháng 2 và chốt ở con số cao hơn nữa tại thángnày
Giá xăng dầu, điện, những nguyên liệu quan trọng trong quá trình sản xuất vật liệuxây dựng tăng khiến giá bán của các vật liệu này cũng tăng.Trên thực tế từ đầu tháng2/2011, một số doanh nghiệp trong ngành xi măng đã điều chỉnh tăng giá thêm 60.000đồng/tấn và bán ra ở mức từ 900.000 đồng- 1,36 triệu đồng/tấn, tuỳ theo chủng loại vàkhu vực.Sau khi giá xăng dầu và giá điện chính thức được điều chỉnh tăng, hầu hết cácdoanh nghiệp vẫn đang trong quá trình xem xét, chưa công bố về mức giá mới, tới đây khigiá than bán cho sản xuất xi măng tiếp tục tăng thì giá bán của mặt hàng này chắc chắn
Trang 27cũng sẽ bước vào đợt tăng mới.Hai tháng đầu năm 2011 lượng tiêu thụ đối với mặt hàngnày chỉ đạt 6,2 triệu tấn, thấp hơn so với mức cùng kỳ năm trước là 7 triệu tấn, và thấphơn so với dự báo tăng trưởng 10% đạt khoảng 8 triệu tấn.
Từ 1/3, các doanh nghiệp sản xuất thép cũng đã chính thức tăng giá bán thêm từ300.000- 500.000 đồng/tấn Giá thép xuất xưởng tại các tỉnh miền Bắc đang được bán raở mức 17 triệu đồng, còn tại các tỉnh phía Nam là 18- 18,5 triệu đồng/tấn Khi đến tayngười tiêu dùng giá bán vào khoảng gần 20 triệu đồng/tấn.Giá vật liệu xây dựng tăng tácđộng trực tiếp đến các nhà bán buôn vì theo quy luật cầu vật liệu xây dựng những thángđầu năm rất thấp dẫn đến khó tăng giá bán,trong khi giá nhập tăng khiến các nhà phânphối đối mặt với nguy cơ thua lỗ hoặc hòa vốn.Mặt khác lạm phát làm tăng các yếu tố đầuvào khiến chi phí của nhà bán buôn tăng gây khó khăn cho mục tiêu mở rộng kinh doanhtrong điều kiện doanh thu sụt giảm
Chính phủ đã đặt mục tiêu năm 2011 kiềm chế lạm phát ở mức 7%.Tuy nhiên dựbáo của ngân hàng Standard Chartered, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm 2011 sẽ ở mức10,5% sau khi đã được kiềm chế quá mức trong năm 2010.Rõ ràng kiềm chế lạm phát lànhiệm vụ không dễ thực hiện, tuy nhiên sử dụng quá nhiều các công cụ kiềm chế lạm phát
có thể khiến lãi suất đứng ở mức cao, đây cũng là điều mà các doanh nghiệp không mongmuốn Các doanh nghiệp nói chung và các nhà phân phối bán buôn vật liệu xây dựng nóichung phải xây dựng được kế hoạch kinh doanh hợp lý nhắm đối phó với các rủi ro về tỷgiá hay lạm phát
2.2.2.Yếu tố về Chính sách
Mặc dù chỉ có tác động gián tiếp đến hoạt động bán buôn vật liệu xây dựng, songnhững chính sách của nước ta về bất động sản cũng như về xây dựng có ảnh hưởng rất lớntới các nhà bán buôn vật liệu xây dựng trong thời gian gần đây, thông qua sự tác động vàocung và cầu
a Tác động tới nguồn cung
Hiện nay, ở nước ta, Bộ xây dựng và Bộ công thương đang đảm nhiệm vai trògiám sát chỉ đạo về xây dựng nói chung và vật liệu xây dựng nói riêng Hai bộ này có sựđiều chỉnh dựa trên các quyết định và chỉ thị về quy hoạch xây dựng, nâng cấp các công
Trang 28trình của các tỉnh, thành phố và các công tình quốc gia… cũng như là các điều chỉnh vềmặt khuyến khích, hay hạn chế việc phát triển các ngành nghề sản xuất và kinh doanh vậtliệu xây dựng của chính phủ Điển hình là quyết định số:121/2008/QĐ-TTg đã tác độngtới việc sản xuất kinh doanh đối với nhiều loại vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng.Việc khuyến khích khai thác, và định hướng phát triển việc khai thác sản xuất xi măng cótác động phần nào đến các nhà bán buôn vật liệu xây dựng Việc khuyến khích này giúpcho nguồn cung xi măng trong tương lai sẽ trở nên dồi dào hơn, và các nhà sản xuất nàycũng cạnh tranh với nhau, do đó, các nhà bán buôn xi măng sẽ có điều kiện thuận lợi đểphát triển hơn.
Ngành công nghiệp sản xuất thép và xi măng của Việt Nam trong những năm gầnđây tương đối phát triển, đôi khi gây ra tình trạng cung vượt quá cầu Trước tình trạng đó,
Bộ Xây dựng nhiều lần đã đưa ra những giải pháp, công văn hướng dẫn Đầu năm 2010,trước bài toán cung vượt quá cầu của ngành xi măng, Bộ Xây dựng đã có công văn gửiCông ty Xi măng Nghi Sơn, Công ty Xi măng Chinfon Hải Phòng, Công ty Xi măng PhúcSơn về việc xúc tiến tìm kiếm thị trường xuất khẩu xi măng Tháng 7/2010, Vụ Côngnghiệp nặng, Bộ Công thương cũng đã xem xét và trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung,điều chỉnh Quy hoạch cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội Bộ đã chủ trì,phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách, trong việc bảo vệ hiệuquả sản xuất thép trong nước; tăng cường công tác quản lý thị trường chống hàng giả,gian lận thương mại; phát triển hệ thống phân phối thép góp phần bình ổn thị trường thép.Hiện nay, Bộ Công Thương đang thực hiện kiểm soát việc nhập khẩu các mặt hàng thép
Và thời gian tới, các cơ quan quản lý thị trường sẽ có kế hoạch phối hợp với sở côngthương các địa phương tăng cường công tác kiểm soát giá thép trên thị trường Tháng7/2010 Bộ Xây dựng vừa ban hành Chỉ thị số 02/CT-BXD yêu cầu các doanh nghiệp, đơnvị thuộc Bộ tăng cường các giải pháp thúc đẩy sản xuất - kinh doanh, mở rộng thị trường,đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu các sản phẩm vật liệu xây dựng trong nước đãsản xuất được Các doanh nghiệp phải kiểm soát chặt chẽ hệ thống phân phối đối với cácsản phẩm vật liệu xây dựng do đơn vị sản xuất, để ngăn chặn tình trạng đầu cơ; thực hiệncông khai, minh bạch giá bán và tỷ lệ chiết khấu cho các đại lý, không tăng giá bất hợp lý,
Trang 29tích cực tham gia việc bình ổn thị trường, nhất là đối với các mặt hàng thiết yếu như ximăng, thép.
Bên cạnh đó, ngày 20/5/2010 Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư BCT về việc áp dụng giấy phép nhập khẩu tự động đối với một số sản phẩm thép như:thép xây dựng, thép cuộn cán nguội là những sản phẩm trong nước đã thừa công suất sovới nhu cầu Ngày 27/7/2010, Bộ Công Thương tiếp tục ban hành Thông tư 31/2010/TT-BCT nhằm bổ sung mặt hàng áp dụng Giấy phép nhập khẩu tự động được quy định tạiThông tư 22 đối với một số sản phẩm thép Như vậy, việc hạn chế nguồn nhập khẩuthép bằng các biện pháp khác nhau cũng tác động đến một phần không nhỏ đầu vào củacác doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng Tuy nhiên, sau 2 thông tư trên thì lượngthép nhập về vẫn không giảm Cụ thể, cả năm 2009, lượng thép nhập khẩu về Việt Namchỉ là 496 nghìn tấn, thì sau khi áp dụng chế độ cấp giấy phép nhập khẩu tự động, trong
22/2010/TT-11 tháng qua con số này đã lên tới 475 nghìn tấn (trung bình 45 nghìn tấn/tháng), với kimngạch nhập khẩu 249 triệu USD
b.Tác động tới cầu
Nói tới tác động, ảnh hưởng của chính sách tới bán buôn vật liệu xây dựng khôngthể không kể đến những chính sách của nhà nước về quy hoạch đô thị hóa, những chínhsách về bất động sản , việc quy hoach các dự án, công trình của nhà nước, quy hoạch khudân cư, khu công nghiệp cũng có tác động lớn đến nguồn cầu Trong thời gian vừa qua,những công trình chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, những chung cư, khucông nghiệp mới, nhà ở….mọc lên đã khiến cho thị trường vật liệu xây dựng trở nên khánóng Do đó, nó sẽ có tác động về quy mô, việc phân bổ vị trí các nhà bán buôn, nhàphân phối vật liệu xây dựng Như chúng ta thấy trong thực tế, những tỉnh, thành phố dangphát triển có mức độ quy hoạch của nhà nước cao, thì tập trung khá nhiều doanh nghiệpbán buôn vật liệu xây dựng với quy mô lớn nhỏ khác nhau
Tại các công trình, dự án do các doanh nghiệp thuộc Bộ Xây dựng làm chủ đầu tư,
sẽ ưu tiên sử dụng các sản phẩm vật liệu xây dựng trong nước đã sản xuất được, đáp ứngyêu cầu chất lượng, các yêu cầu về kỹ, mỹ thuật, cũng như về giá cả, hạn chế sử dụnghàng nhập khẩu Với các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, Bộ sẽ chỉ đạo người
Trang 30đại diện phần vốn nhà nước chủ động và đôn đốc thực hiện nghĩa vụ xuất khẩu theo camkết được quy định trong giấy phép đầu tư.
Như vậy, Bộ Xây Dựng, Bộ Công Thương đã có những chính sách nhằmđảm bảo cho cung cầu hợp lý, bình ổn giá trên thị trường Do đó các doanh nghiệp bánbuôn vật liệu xây dựng khó ép giá nhà sản xuất cũng như nâng giá với đầu cầu của mìnhhơn Nhờ vậy mà thị trường minh bạch hơn, cơ hội cạnh tranh cũng trở nên bình đẳng hơngiữa các doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng
c Tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO
Theo lộ trình cam kết WTO, bắt đầu từ năm 2010, một số sản phẩm thép ngoại sẽđược giảm thuế khi nhập khẩu vào Việt Nam Điều này đồng nghĩa với việc ngành théptrong nước vốn kém tính cạnh tranh nay lại hụt hơi với thép ngoại Mỗi một năm, mứcthuế của thép ngoại sẽ có những mức giảm khác nhau Riêng trong năm 2010, thuế củamột số sản phẩm thép ngoại đã phải giảm, có loai giảm 1%, hay 2% tùy từng loại sảnphẩm thép Điều này dẫn đến mức cạnh tranh của thép nội với thép ngoại ngày càng khốcliệt
Thép ngoại đang có “cơ hội vàng” tiếp tục tràn vào Việt Nam, gây khó khăn chocác doanh nghiệp trong nước khi mà việc áp dụng giấy phép nhập khẩu tự động đối vớimột số sản phẩm thép để bảo vệ ngành thép trong nước sẽ chính thức hết hiệu lực vàongày 31/12/2010 Theo lộ trình cam kết gia nhập WTO, năm 2010, lượng thép từ cácnước ASEAN, Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam ngày càng nhiều do được giảm thuế(ít nhất 1% với mỗi mặt hàng) Hơn là giá bán của thép ngoại thường rẻ hơn thép nội từ500-700 nghìn đồng/tấn, thậm chí có thời điểm gần 1 triệu đồng/tấn, đã đẩy các doanhnghiệp thép trong nước rơi vào tình cảnh khốn đốn Bên cạnh đó, mặc dù các nhà máy cánthép xây dựng trong nước hiện mới chỉ sử dụng khoảng 70% công suất thiết kế nhưngnăng lực sản xuất thép (chưa kể các dự án đang xây dựng) đã vượt xa cầu gần gấp đôi.Chỉ tính riêng năm 2010, sản xuất thép cả nước đạt trên 8 triệu tấn, nhưng nhu cầu sửdụng thép chỉ ở mức 5,6 triệu tấn Đối với nhà bán buôn vật liệu xây dựng, đây có thể coi
là tín hiệu tốt Nguồn cung tăng lên, khả năng ép giá với nhà sản xuất của họ cũng tăng
Trang 31lên Tuy nhiên, những chính sách hiện hành cũng gây nhiều khó khăn cho các doanhnghiệp bán buôn vật liệu xây dựng tiếp cận điểm lợi trên.
Tham gia vào WTO, ngành vật liệu xây dựng của chúng ta cũng có nhiều tiềmnăng để xuất khẩu, tiếp cận với những thị trường mới, với thuế suất ưu đãi hơn và các thủtục cũng được đơn giản hóa Ngày 8/12, Vụ Thị trường châu Phi (Bộ Công thương) phốihợp với Vụ Hợp tác Quốc tế (Bộ Xây dựng) cùng CTCP IEC tổ chức Hội thảo “Xúc tiếnxuất khẩu vật liệu xây dựng Việt Nam” Đây không chỉ là cơ hội tốt cho các nhà sản xuấtvật liệu xây dựng mà còn là tín hiệu mừng cho các doanh nghiệp bán buôn Việt Nam.Những doanh nghiệp bán buôn lớn, thành thạo nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ
có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ ra nước ngoài nhiều hơn
Bên cạnh những tác động tích cực mà việc gia nhập WTO mang lại cho Việt Nam,thì cũng có những tác động trái chiều Việc mở cửa thị trường bán buôn của Việt Namtheo lộ trình sẽ có nhiều tác động đến doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng Hiện naychúng ta mới chỉ có duy nhất 1 siêu thị bán buôn vật liệu xây dựng, và hệ thống phân phốicủa chúng ta vẫn còn yếu kém Khi mở cửa thị trường bán buôn, trong tương lai, nhữngnhà bán buôn nước ngoài có điều kiện thâm nhập, và cạnh tranh với hệ thống vẫn còn nonkém của chúng ta
Gia nhập WTO, chúng ta cũng chịu nhiều tác động của thế giới Khi giá thép trênthế giới tăng, thì giá bán thành phẩm thép xây dựng trong nước cũng theo đà tăng giá, làmgiá bán lẻ thép bị đẩy lên theo, có thể chênh với giá niêm yết trong nước tới vài trăm ngànđồng/ tấn Điều này cho thấy sự yếu kém ,của hệ thống phân phối thép tại Việt NamBên cạnh những tác động trực tiếp như trên thì việc Việt Nam gia nhập WTO cũng cónhững tác động gián tiếp như chúng ta tiếp cận với những phương thức quản lý mới, hiệuquả; máy móc công nghệ hiện đại; nguồn đầu tư FDI sẽ tăng trong tương lai giúp pháttriển nguồn cung và cầu của ngành vật liệu xây dựng Do đó, gián tiếp có tác động tớidoanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng buộc các doanh nghiệp bán buôn vật liệu xâydựng phải đổi mới phương thức quản lí,phương thức bán hàng và thanh toán sao cho phùhợp với điều kiện đòi hỏi trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 322.2.3.Yếu tố về tự nhiên
a Thuận lợi
Vị trí địa lý của việt nam nằm ở rìa Đông của bán đảo Đông Dương và gần trungtâm khu vực Đông Nam Á VIệt Nam có đường biên giới hơn 4600km và đường bờ biểndài 3260km,do đó:
- Việt Nam có vị trí địa lí rất thuận lơi để giao lưu buôn bán với các nướctrong khu vực và thế giới Do có vị trí địa lí thuận lợi nên các doanh nghiệp kinh doanh ởViệt Nam có điều kiện mở rộng quy mô và tăng hiệu quả kinh doanh
- Việt nam có đường bờ biển dài, và có điều kiện phát triển giao thông đường
bộ, đường hàng hải và đường hàng không với nhiều quốc gia trên thế giới, chính điều nàytạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh nghiệp bán buôn ở Việt Nam thu hút được nhiềukhách hàng không những ở trong nước mà còn ở khu vực và quốc tế
nhập với các nước trên thế giới Hội nhập mang lại nhiều cơ hội kinh doanh cho cácdoanh nghiệp Việt Nam, đồng thời cũng thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài
b Khó khăn
- Địa hình của Việt Nam với đồng bằng chiếm ¼ diện tích cả nước và đồi núichiếm ¾ diện tích mang lại không ít khó khăn cho các doanh nghiệp bán buôn vật liệuxây dựng Việt Nam
bán buôn, đặc biệt là phải vận chuyển với số lượng lớn, nhiều mặt hàng chiếm không gianlớn, diện tích lớn.Quá trình vận chuyển từ doanh nghiệp bán buôn tới các cơ sở bán lẻ vàcác khách hàng khác gặp khó khăn làm tăng chi phí vận chuyển cũng đồng nghĩa với việclàm tăng giá thành sản phẩm, giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
- Việt Nam mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với :
Nhiệt độ trung bình năm trên 200 độ C
Tổng số giờ nắng từ 1400 – 3000 giờ/năm
Lượng mưa trung bình năm cao: 1500–2000 mm Mưa phân bốkhông đều
Trang 33 Độ ẩm không khí cao trên 80%.
Chính các nhân tố về khí hậu có ảnh hưởng rất lớn tới các doanhnghiệp bán buôn vật liệu xây dựng ở Việt Nam hiện nay
- Vật liệu xây dựng ( như xi măng) chịu tác động mạnh mẽ của khí hậu, điều
đó đòi hỏi các doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng cần thiết kế nơi lưu trữ hàng vậtliệu xây dựng cho phù hợp, tránh các phản ứng cơ lí, hóa học của môi trường với sảnphẩm (như sản phẩm xi măng phải được bảo quản trong kho kín trên nền gỗ và khôngđược lưu kho quá 3 tháng) Đây cũng là thách thức với các doanh nghiệp bán buôn, vìthường buôn bán với số lượng lớn, nên việc giảm giá thành kho, chi phí lưu trữ hàng hóanhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng của sản phẩm là rất khó khăn Hơn nữa, để đảm bảovật liệu xây dựng giữ nguyên được phẩm chất sản phẩm đòi hỏi các nghiệp vụ bảo quảnhợp lí Dưới tác động của điều kiện khí hậu làm quá trình bảo quản trở lên khó khăn hơn,chi phí cho phương tiện bảo quản cũng nhiều hơn, các thiết bị bảo quản bị hao mòn bởikhí hậu Việt Nam
- Ngoài vấn đề về kho, lưu trữ hàng hóa, doanh nghiệp bán buôn còn phải chú
ý tới các hệ thống phân phối của mình về địa điểm, cấu trúc cửa hàng và các điều kiện khíhậu ở đó để giảm những thiệt hại do điều kiện khí hậu tác động tới vật liệu xây dựng Hệthống phân phối cần đảm bảo các tiêu chuẩn về bảo quản nhưng chi phí phải giảm để tăngkhả năng cạnh tranh
- Điều kiện khí hậu còn ảnh hưởng tới quá trình vận chuyển của doanhnghiệp bán buôn Trong quá trình vận chuyển doanh nghiệp cũng cần bảo quản sản phẩmtránh tác động của môi trường Hầu hết các doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựngchuyên chở bằng các phương tiện như xe tải, ô tô đối với nội địa và tàu thuyển đối vớikhách hàng nước ngoài.Nhưng những hình thức vận tải này có tính rủi ro cao vì chịunhiều tác động của thời tiết và khí hậu Với phương thức vận tải đường biển, chịu nhiềuảnh hưởng của gió bão, chỉ cần một rủi ro xảy ra thì thiệt hại đối với doanh nghiệp bánbuôn là rất lớn vì mỗi lần vận chuyển có giá trị rất lớn
mòn các thiết bị của doanh nghiệp ( như các thiết bị bảo quản, bốc xếp hàng hóa, thiết bị
Trang 34trưng bày hàng hóa…) gây ra chi phí lớn Đây cũng là khó khăn cho các doanh nghiệpbán buôn nói riêng và doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng ở Việt Nam nói chung.
2.2.4.Yếu tố về khoa học công nghệ
- Doanh nghiệp có thể cắt giảm được chi phí nhiên liệu, tổn thất do những rủi
ro trong quá trình vận chuyển mang lại Đặc biệt với các doanh nghiệp bán buôn sảnphẩm là mặt hàng xây dựng thì chi phí về phương tiện vận tải chiếm tỉ trọng lớn
- Ngoài các phương tiện vận tải truyền thống thì khoa học công nghệ còn đưa
ra các phương tiện vận tải ngày một hiệu quả hơn an toàn hơn Hiện nay việc vận tải bằngtàu thuyền trên biển ngày một an toàn hơn hay vận tải bằng đường hàng không nhanhhơn
Doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng cũng như các doanh nghiệp khác đã biết tậndụng những thành tựu của công nghệ thông tin
dưng xóa đi khoảng cách về địa lí, về không gian, ngày càng mởrộng phạm vi đối tượng khách hàng
Không những thuận tiện trong thông tin liên lạc với khách hàng,CNTT còn giúp cho các doanh nghiệp bán buôn thu thập được nhiềuthông tin về nhà cung cấp,tìm được nhà cung cấp với giá thành vàchất lượng phù hợp
Trang 35 Công nghệ thông tin còn mang lại cơ hội kinh doanh cho các doanhnghiệp Thông tin quyết định yếu tố về th ời cơ kinh doanh của cácdoanh nghiệp CÓ thể thấy ngày nay trong nền kinh tế thị trườngcạnh tranh gay gắt, nếu các doanh nghiệp biết tận dụng công nghệthông tin thì đây sẽ là một vũ khí cạnh tranh hiệu quả cho doanhnghiệp.
- Khoa học công nghệ đã tạo ra các trang thiết bị hiện đại, hỗ trợ hữu hiệucho các doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng các trang thiết bịngày một hiện đại đã giúp giảm bớt những tổn thất trong quá trìnhbảo quản hàng hóa, tránh được tác hại của điều kiện thời tiết tới vậtliệu xây dựng
Trong quá trình tiêu thụ, ngày nay trang thiết bị ở các điểm, cửahàng của doanh nghiệp bán buôn ngày một được nâng cấp, khôngnhững giúp doanh nghiệp lưu trữ tốt hàng hóa mà còn giúp kiểmsoát được tình trạng mất mát trong khâu tiêu thụ Ví dụ như ở một
số hệ thống cửa hàng hay siêu thị của các doanh nghiệp bán buôn đãlắp đặt hệ thống camera để bao quát toàn bộ quá trình tiêu thụ
- Ở các quốc gia hiện nay, dưới sự hỗ trợ của tiến bộ khoa học công nghệ đãlàm cho cơ sở hạ tầng giao thông ngày một thuận tiện hơn Các công trình giao thôngđược nâng cấp đã giúp cho quá trình vận chuyển của doanh nghiệp bán buôn bớt đi nhữngkhó khăn, giảm chi phí vận tải Đồng thời, cơ sở hạ tầng phát triển đã đẩy nhanh tốc độlưu thông hàng hóa, nhờ đó đã tăng được hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp
- Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự đổi mới trong nhận thứccủa người tiêu dùng thì các mặt hàng vật liệu xây dựng ngày càng đòi hỏi phải đảm bảomôi trường Khoa học công nghệ giúp đưa ra các sản phẩm thân thiện với môi trường, từ
đó các doanh nghiệp kinh doanh loại sản phẩm sạch với môi trường sẽ được khách hàngủng hộ Người tiêu dùng đang hướng tới sử dụng các sản phẩm không gây hại tới môitrường, đây là cơ hội và cũng là xu hướng cho các nhà kinh doanh vật liệu xây dựng trongtương lai
Trang 36- Bán buôn cũng là một lĩnh trong nền kinh tế quốc dân Điểm khác biệtmang lại lợi thế cho các doanh nghiệp bán buôn chính là loại hình kinh doanh này vừamang lại lợi nhuận mà không gây ô nhiễm môi trường Các doanh nghiệp bán buôn đangtham gia vào lĩnh vực sản xuất không khói.
b Khó khăn
- Ở Việt Nam hiện nay các phương tiện giao thông vận tải còn kém hiện đại
so với thế giới Đây là điểm bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam Với doanh nghiệpbán buôn vật liệu xây dựng, những phương tiện vận tải cũ với khoa học công nghệ kémhiện đại sẽ làm tăng chi phí trong quá trình vận tải của doanh nghiệp làm tăng giá bángiảm sức cạnht ranh cảu các doanh nghiệp, đồng thời cũng đem lại những rủi ro chodoanh nghiệp trong khi tham gia lưu thông, vận chuyển hàng hóa
- Công nghệ thông tin hiện đại mang lại nhiều tiện ích cho doanh nghiệp bánbuôn nhưng cũng đem lại không ít bất lợi Vì khối lượng thông tin lớn, nguồn tin đa dạngdẫn tới có thể thông tin mà doanh nghiệp có được không chính xác gây tác động không tốttới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Hay nếu doanh nghiệp không kịp thời nắm bắtthông tin thì sẽ mất đi cơ hội kinh doanh và sẽ là bất lợi lớn cho doanh nghiệp
- Khoa học công nghệ ở Việt Nam còn chậm phát triển so với thế giới Điềunày gây khó khăn cho các doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường cũng như giảm khảnăng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam Các sản phẩm vật liệu xây dựng củaViệt Nam vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kĩ thuật của nhiều quốc gia trên thế giới.Bởi vậy việc doanh nghiệp bán buôn muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sẽ bị hạn chế Docác nước phát triển( như Nhật Bản, EU, Mỹ …) chưa chấp nhận sản phẩm vật liệu xâydựng của Việt Nam Các doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng của Việt Nam mớichỉ có thể xuất sang một số thị trường có trình độ phát triển tương đượng như Lào,Campuchia, Thái Lan
Trang 372.2.5.Yếu tố về khách hàng
Khách hàng chính là nguồn nuôi sống các doanh nghiệp nói chung Các doanhnghiệp bán buôn hiện nay tại Việt Nam đang có những cơ hội và thách thức mới trongviệc thu hút khách hàng, tăng lượng cầu về sản phẩm Đặc biệt là trong lĩnh vực bán buônvật liệu xây dựng có rất nhiều tác động bởi yếu tố khách hàng tới các doanh Nghiệp.Hiệntại đối tượng khách hàng của các doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng chủ yếu là cácđại lý, doanh nghiệp bán lẻ và bán cho khu vực công Mỗi đối tượng này đều có tác độngmạnh mẽ tới nhân tố cầu của các doanh nghiệp
Đối với các cửa hàng, đại lý bán lẻ đây chính là lực lượng mang lại doanh số lớn
nhất cho các doanh nghiệp bán buôn ở Việt Nam hiện nay.Với đối tượng này, khách hànggồm 2 nhóm: Khách hàng nội địa và khách hàng nước ngoài
Các cửa hàng bán lẻ nội địa có phạm vi phân bố rộng trên khắp tỉnh thành cảnước, là trung gian giữa các doanh nghiệp bán buôn với người tiêu dùng trực tiếp.Nhu cầuvật liệu xây dựng đối với một số mặt hàng trong nước hiện nay đang ở tình trạng bão hòa.Điển hình là với mặt hàng xi măng ở trong nước đang có tình trạng dư cung Năm 2010,nhu cầu tiêu thụ xi măng của cả nước đạt khoảng 50 - 51,5 triệu tấn, trong khi đó, nănglực sản xuất của các nhà máy xi măng hiện có và các nhà máy dự kiến đưa vào hoạt độngnăm 2010 không những sẽ đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước, mà còn dư thừa từ 1-2triệu tấn Không những đối với doanh nghiệp sản xuất chịu tác động trực tiếp bởi tìnhtrạng này mà lượng cầu thấp hơn lượng cung cũng đặt ra những khó khăn cho doanhnghiệp bán buôn.Các doanh nghiệp bán buôn phải đầu tư xúc tiến thương mại và có cácphương án để giải quyết vấn đề này Tình trạng dư cung mang lại bất lợi cho doanhnghiệp bán buôn bởi tính cạnh tranh cao giữa các doanh nghiệp Để thu hút được kháchhàng, bán được sản phẩm thì các doanh nghiệp bán buôn buộc phải có chiến lược về giảmgiá hay về các dịch vụ khách hàng Tuy nhiên với các doanh nghiệp sau khủng hoảng thìđây là một trở ngại lớn
Và một tác động nữa làm ảnh hưởng tới yếu tố khách hàng của doanh nghiệp, đóchính là sự biến đổi khí hậu dẫn đến mưa, lũ lụt, triều cường nhiều hơn đặc biệt ở khu vựcmiền Trung và miền Nam dẫn tới nhu cầu xi măng giảm so với dự tính của các doanh
Trang 38nghiệp Đây lại là một thách thức nữa tác động tới lượng khách hàng của các doanhnghiệp bán buôn và sản xuất doanh nghiệp bán buôn cần có hệ thống phân phối ở đâu,các điều kiện của hệ thống phân phối để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong từngkhu vực Đây là câu hỏi đặt ra cho các doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng khi vừaphải chịu cả tác động của khủng hoảng kinh tế lẫn biến đổi khí hậu.
Cùng tình trạng có chiều hướng như mặt hàng xi măng, theo dự kiến, đến năm
2015 Việt Nam cần khoảng 15 triệu tấn thép và đến năm 2020 là 20 triệu tấn Nếu các dự
án thực hiện theo đúng công suất thiết kế là 35,29 triệu tấn/năm thì cung sẽ vượt cầukhoảng 1,5 - 1,8 lần (đặc biệt là thép tấm, lá) Cũng như dư cung về xi măng, quy luậtcung cầu của thị trường sẽ tác động trực tiếp tới lượng khách hàng cũng như nhu cầu vềthép của các Doanh nghiệp bán buôn
Trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam, các doanh nghiệp đều chịu tác độngbởi quy luật cung cầu của thị trường Việt Nam vừa trải qua cuộc khủng hoảng kinh tếtoàn cầu cùng với các quốc gia khác trên thế giới Khủng hoảng kinh tế có tác động khôngnhỏ tới các doanh nghiệp bán buôn Việt Nam.Khủng hoảng kinh tế buộc giá của các mặthàng tăng cao, khiến các doanh nghiệp bán buôn buộc đặt trong tình thế khó khăn giữa lợinhuận của doanh nghiệp và giữ chân khách hàng.Theo các số liệu được thu nhập mới nhấtcủa quý 1 năm 2011 cho thấy: Hai tháng đầu năm lượng tiêu thụ đối với mặt hàng ximăng chỉ đạt 6,2 triệu tấn, thấp hơn so với mức cùng kỳ năm trước là 7 triệu tấn Trênthực tế từ đầu tháng hai, một số doanh nghiệp trong ngành xi măng đã điều chỉnh tăng giáthêm 60.000 đồng/tấn và bán ra ở mức từ 900.000 đồng- 1,36 triệu đồng/tấn Với tốc độtăng trưởng tiêu thụ theo dự báo vào khoảng 10% và đạt mức 55- 56 triệu tấn, lẽ ra trong
2 tháng đầu năm 2011, sản lượng tiêu thụ phải đạt khoảng 8 triệu tấn mới là đạt yêu cầunhưng thực tế mới chỉ tiêu thụ được 6,2 triệu tấn Cũng chung tình trạng với mặt hàng ximăng, mặt hàng thép cũng đang trên đà tăng giá: Từ 1/3/2011 các doanh nghiệp bán théptăng giá bán thêm từ 300.000- 500.000 đồng/tấn Giá thép xuất xưởng tại các tỉnh miềnBắc đang được bán ra ở mức 17 triệu đồng, còn tại các tỉnh phía Nam là 18- 18,5 triệuđồng/tấn Khi đến tay người tiêu dùng giá bán vào khoảng gần 20 triệu đồng/tấn Vì mụctiêu lợi nhuận doanh nghiệp phải tăng giá để bù đắp các chi phí về nguồn sản phẩm nhập
từ các doanh nghiệp sản xuất cũng như các chi phí về vận chuyển và bảo quản Tuy nhiên
Trang 39tăng giá các mặt hàng sẽ làm giảm lượng cầu của khách hàng cũng như giảm tính cạnhtranh của các doanh nghiệp bán buôn sẽ không giữ được khách hàng Đây cũng chính làbài toán khó của các doanh nghiệp bán buôn hiện nay.
Như thực tế của bán buôn vật liệu xây dựng ở Việt Nam cho thấy hệ thống bánbuôn vật liệu xây dựng ở Việt Nam gồm 2 hình thức điển hình là đại diện bán của ngườisản xuất và hệ thống doanh nghiệp Thương Mại với hoạt động bán buôn độc lập với sảnxuất
Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt nam đều có kênhphân phối bán buôn là đại diện bán của các doanh nghiệp sản xuất Hệ thống đại diện này
đã góp phần không nhỏ vào Doanh số của ngành bán buôn ở Việt Nam
Trong năm 2010 vừa qua, sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế các doanh nghiệp vậtliệu xây dựng nói chung và bán buôn vật liệu xây dựng nói riêng đã tìm hướng đi xuấtkhẩu để mở rộng đối tượng khách hàng và phạm vi tiêu thụ Ta có thể điểm qua một sốgương mặt là anh cả trong ngành vật liệu xây dựng như:
thứ 2 sang thị trường Trung Đông cho đối tác là Công ty Peakward Enterprises (Holding)Ltd Công ty đang tiếp tục tìm kiếm đối tác tại một số thị trường quen thuộc nhưCampuchia, Lào
xuất khẩu gần 100.000 tấn clinker sang thị trường khó tính nhất châu Á là Singapore và70.000 tấn clinker sang Ấn Độ Sau đó, công ty đã ký được hợp đồng xuất khẩu 1,2 triệutấn clinker sang Bangladesh, với khối lượng 100.000 tấn/tháng, bắt đầu thực hiện từ cuốinăm 2010
- Gần đây nhất, ngày 28/1/2011, tại Quảng Ninh, Công ty cổ phần Xi măngThăng Long đã xuất khẩu lô hàng 25.000 tấn xi măng đầu tiên trong hợp đồng xuất khẩu50.000 tấn sang thị trường Châu Phi Đây là lô hàng xuất khẩu lớn nhất từ trước đến naycủa một nhà máy xi măng Việt Nam Lô hàng 25.000 tấn xi măng còn lại sẽ xuất trongtháng 2/2011 Được biết trong năm 2011 này, Công ty cổ phần Xi măng Thăng Long dựkiến sẽ xuất khẩu 300 nghìn tấn xi măng bao và 200.000 tấn xi măng rời sang thị trườngcác nước Singapore, Brunei, thị trường châu Phi, châu Mỹ và Trung Đông… Đây thực sự
Trang 40là những tín hiệu đáng mừng cho xi măng Thăng Long và ngành xi măng của Việt Namtrong đầu năm 2011.
- Theo nhận định tình hình thị trường Lào ( cũng chính là khách hàng cho cácdoanh nghiệp) cũng đang là điểm tới lý tưởng cho các doanh nghiệp kinh doanh vật liệuxây dựng của Việt Nam Bởi hiện nay 6 nhà máy sản xuất xi măng của Lào không thể đápứng được nhu cầu xi măng trong nước đang ngày càng gia tăng khoảng 20%/ năm.Hơnthế nữa tháng 4 năm 2011 Lào và Trung Quốc đang triển khai dự án xây dựng đường siêutốc nối Lào và Trung Quốc Để đáp ứng đủ nhu cầu vật liệu xây dựng cho công trình thìLào sẽ cần nhập khẩu một lượng lớn vật liệu xây dựng Đây là cơ hội cho cả doanhnghiệp sản xuất và doanh nghiệp bán buôn vật liệu xây dựng Việt Nam Vì Việt nam cónhiều lợi thế thuận lợi về địa lý và vận chuyển nên tiềm năng dành cho các doanh nghiệpViệt Nam là rất lớn
Đối tượng khách hàng là khu vực công là đối tượng khách hàng hiện diện rất rõ
ràng ở Việt Nam Các công trình cơ sở vật chất công cộng như cầu, đường, nhà máy,trường học, bệnh viện….đều phải sử dụng đến vật liệu xây dựng
Mới đây nhất Bộ Xây dựng đã ban hành Chỉ thị 02/CT-BXD về việc thực hiện cácgiải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chếnhập khẩu các sản phẩm vật liệu xây dựng trong nước đã sản xuất đối với các doanhnghiệp thuộc Bộ Theo đó sẽ đẩy cầu lên bằng việc đưa xi măng vào các công trình giaothông, công trình thủy lợi, kênh mương, nội đồng, đường giao thông nông thôn và cảđường quốc lộ
Hiện nay theo Số liệu của Tổng cục Đường bộ Việt Nam cho thấy hiện cả nước có7.650,2km đường bê tông nhựa, 6.447km đường đá nhựa, gần 3.000km đường đá răm vàđường cấp phối đất Riêng đường bê tông xi măng mới dừng ở con số gần 1.100km quy rađường cấp 4 (chiếm 6%) là quá ít trong khi nhu cầu thực tế rất lớn Tuổi thọ đường bêtông xi măng cao gấp 5 - 7 lần đường nhựa và thích hợp với địa hình vùng dốc, mưanhiều, hay có bão lũ Hiện nay Việt Nam đang trong tiến trình phát triển đất nước và xâydựng cơ sở hạ tầng là một tất yếu cần thiết Cơ sở hạ tầng công cộng của Việt Nam hiệnnay còn nhiều công trình đã xuống cấp, cần được xây mới Cũng như hệ thống đường xá