Theo một con số thống kê không chính thức thì hiện có khoảng 100 thương hiệuquốc tế hoạt động kinh doanh tại Việt Nam bằng phương thức nhượng quyền và rất ănnên làm ra.. Theo định nghĩa
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Gần đây, tại Việt Nam nói chung và tại thủ đô Hà Nội nói riêng ta thấy sự xuất hiệnngày càng nhiều của các thương hiệu quốc tế Từ đồ ăn nhanh, khách sạn, nhà hàng chođến mỹ phẩm, quần áo, tất cả đang nhanh chóng bước vào thị trường Việt Nam bằngcon đường nhượng quyền thương mại Chúng đã và đang mang lại sự phát triển mạnh
mẽ của các thương hiệu nước ngoài tại thị trường trẻ được đánh giá đầy tiềm năng này
Chưa bao giờ có nhiều thương hiệu nổi tiếng thế giới xuất hiện tại Việt Nam nhưhiện nay: Lotteria, Goloria Jeans Coffees, Lee’s Sandwiches, Jollibee, KFC, Coffe Bean
& Tea Leaf, Bread Talk, Pizza Hut… (thực phẩm), Louis Vuitton, Gucci, CK, Mango,Timberland… (thời trang) Nhiều thương hiệu khá thành công trong việc chiếm lĩnh thịtrường, số lượng cửa hàng tăng lên nhanh chóng dưới hình thức nhượng quyền thươngmại
Theo một con số thống kê không chính thức thì hiện có khoảng 100 thương hiệuquốc tế hoạt động kinh doanh tại Việt Nam bằng phương thức nhượng quyền và rất ănnên làm ra Đây là sự đón đầu của các Doanh nghiệp nước ngoài bởi qua được giai đoạnkhủng hoảng tài chính thì thị trường franchise tại Việt Nam sẽ rất sôi động do đây là thịtrường còn sơ khai, chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng mạnh, dân số đông tiềmnăng của thị trường rất lớn
Có thể nói vấn đề nhượng quyền thương mại đang trở nên rất hấp dẫn và thu hút cácnhà đầu tư Việt Nam Tôi có may mắn là trong dịp hè đã tìm được một công việc part-time tại một trong những thương hiệu nhượng quyền phát triển nhất thế giới và đangtích cực xâm nhập thị trường Việt Nam Đó là thương hiệu café Ý Segafredo ZanettiEspresso Chắc hẳn những ai đã từng tới các nước châu Âu, châu Mỹ hay các nước chấu
Á khác không còn lạ gì với thương hiệu café Ý này Và trong báo cáo thực tập dướiđây, tôi sẽ tổng kết những tìm hiểu của tôi về franchise và thực tế tại shop café qua đó
Trang 2phần nào phác họa được cơ bản các đặc trưng của franchise, những cơ hội và thách thứccủa mô hình này với Việt Nam.
Trong quá trình làm báo cáo thực tập này, tôi rất biết ơn các thầy cô giáo trong bộmôn Luật kinh doanh-Khoa Luật-ĐHQG HN đã nhiệt tình cung cấp cho tôi các tài liệuquý báu về franchise trên thế giới và Việt Nam Tôi cũng xin chân thành cám ơn công
ty cổ phần mua sắm cao cấp (đại diện thương hiệu Segafredo Espresso Zanetti tại ViệtNam) đã giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo này với chất lượng tốt nhất
Trang 3Bố cục báo cáo thực tập
Lời nói đầu
Mục lục
Phần I Khái quát chung về nhượng quyền thương mại
1.1.Khái niệm nhượng quyền thương mại
1.2.Quá trình phát triển của franchise trên thế giới và Việt Nam
1.3.Những nội dung quan trọng của franchise
1.4.Ưu nhược điểm của franchise
1.5.Các mô hình nhượng quyền thương mại
Phần II Pháp Luật về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
2.1 Tổng quan hệ thống pháp luật về nhượng quyền tại Việt Nam
2.2 Nhứng bất cập còn tồn tại
Phần III Nhượng quyền thương mại sản phẩm café Segafredo Espresso Zanetti tại Việt Nam
3.1 Cơ cấu tổ chức, lĩnh vực kinh doanh
3.2 Hoạt động kinh doanh thực tế
Kết luận
Trang 4Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 5Phần I
Khái quát chung về nhượng quyền thương mại
1.1.Khái niệm nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại được dịch từ tiếng Anh là franchise và có nhiều địnhnghĩa khác nhau Theo định nghĩa của Hội đồng thương mại Liên bang Hoa Kỳ:
“franchise là một hợp đồng hay thỏa thuận giữa ít nhất hai người, trong đó: người muafranchise được cấp quyền bán hay phân phối sản phẩm, dịch vụ theo cùng một kế họahhay hệ thống tiếp thị cuat người chủ thương hiệu Hoạt động kinh doanh của người muafranchise phải triệt để tuân theo kế hoạch hay hệ thống tiếp thị này, gắn liền với nhãnhiệu, thương hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu, tiêu chí, quảng cảo và những biểu tượngthương mại khác của chủ thương hiệu người mua franchise phải trả một khoản phí trựctiếp hay gián tiếp, gọi là franchise”
Còn theo định nghĩa trong Luật thương mại 2005 của Việt Nam thì “Nhượng quyềnthương mại là một hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêucầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theocác điều kiện sau đây:
(1) Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức
tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệuhàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượngkinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
Trang 6(2) Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận nhượngquyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”
Trong nhượng quyền thương mại thì yếu tố thương hiệu thực sự là yếu tố then chốtđem lại sự nhận biết và sự tiêu dùng của khách hàng Thêm vào đó, bên nhận quyền cóquyền được phân phối hay bán các hàng hóa dịch vụ của bên nhượng quyền ở một khuvực nhất định, trong thời gian nhất định, nhưng phải tuân theo các kế hoạch hay hệthống marketing của bên nhượng quyền để đảm bảo thương hiệu được thống nhất vàkhông bị ảnh hưởng
1.2.Quá trình phát triển của franchise trên thế giới và Việt Nam
Franchise có xuất xứ từ châu Âu cách nay hàng trăm năm và sau đó lan rộng và bùng
nổ tại Mỹ Từ “franchise” có nguồn gốc từ tiếng Pháp là “franc” có nghĩa “freedom” (tựdo) Vào thời đó, người được nhượng quyền là một người rất quan trọng, đuợc traoquyền hạn và quyền tự do để thay mặt Nhà nước điều hành, triển khai các luật lệ tại một
số lãnh thổ nhất định, ví dụ như việc ấn định mức thuế và thu thuế Khái niệm traoquyền này sau đó được áp dụng trong ngành kinh doanh và khu vực kinh tế tư nhân
Hầu hết các tài liệu, sách vở về franchise đều cho rằng hình thức franchise hiện đại
có lẽ bắt đầu từ việc phát triển ồ ạt các trạm xăng dầu và các gara buôn bán xe hơi ngaysau Thế chiến thứ nhất kết thúc Điều này có đúng có sai Các đại lý xăng dầu hay gara
xe hơi được cấp giấy phép hoạt động dưới tên một thương hiệu nào đó đều cho rằngmình là đối tác mua franchise, tuy nhiên họ không phải trả một khoản phí franchise nàonhư những hợp đồng franchise thông thường Theo thông lệ của các ngành kinh doanhloại này thì điều kiện gần như duy nhất để các đại lý được cấp phép hoạt động với tênthương hiệu có sẵn là phải mua sản phẩm độc quyền cung cấp bởi chủ thương hiệu Dĩnhiên, các đại lý sẽ mua từ nhà máy hay chủ thương hiệu với giá sỉ và bán lại tại cửahàng của mình với giá bán lẻ Ngược lại, đối với các thương hiệu trong ngành nhà hàng
Trang 7chẳng hạn, đối tác mua franchise không bị bắt buộc phải mua hàng độc quyền từ chủthương hiệu, trừ một số thành phần gia vị, nguyên liệu mang tính “bí quyết”.
Do đó, sự lớn mạnh của mô hình kinh doanh franchise thật sự chỉ bắt đầu sau Thếchiến thứ hai khi hàng loạt thương hiệu trong các ngành dịch vụ, bán lẻ, chuỗi kháchsạn, nhà hàng thức ăn nhanh ra đời Mô hình kinh doanh franchise sau đó ngày càngphát triển và phổ biến khắp thế giới và đặc biệt là trong thập niên 90 Trong số đókhông thể không kể đến các thương hiệu đã gắn liền với văn hóa nước Mỹ nhưMcDonald’s, Jiffy Lube, Jani King, Holiday Inn, Dairy Queen, Quality Inn, BurgerKing, Subway, Midas Muffler, Dunkin’s Donuts, 7-Eleven… Cho đến nay, trên thế giới
có khoảng 16,000 hệ thống franchise hoạt động trong hơn 100 khu vực kinh doanh khácnhau đặc biệt là lĩnh vực nhà hàngm khách sạn và phân phối dịch vụ
Ngày nay, quá trình toàn cầu hoá trên thế giới diễn ra rất nhanh, mạnh trong tất cảcác lĩnh vực Hình thức nhượng quyền càng phát huy vai trò của nó trên toàn thế giới.Theo các nghiên cứu mới nhất, cứ 12 phút lại có một hệ thống nhượng quyền mới rađời Ở Mỹ, 90% công ty kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại tiếp tụchoạt động sau 10 năm trong khi 82% công ty độc lập phải đóng cửa và cũng chỉ có 5%công ty theo hợp đồng thương hiệu thất bại trong năm đầu tiên so với 38% công ty độclập Điều đó cho thấy sự bùng nổ hình thức này trên thế giới là điều tất yếu
Một số kết quả thực sự ấn tượng của hệ thống này mang lại trên thế giới : Doanh thu
từ hoạt động kinh doanh nhượng quyền trên toàn thế giới năm 2000 đạt 1.000 tỷ USDvới khoảng 320.000 DN từ 75 ngành khác nhau Nếu so sánh với GDP của Việt Namcùng năm thì hệ thống này gấp trên 28 lần và còn có dấu hiệu vượt hơn nữa trongnhững năm gần đây Tại Mỹ, hoạt động nhượng quyền chiếm trên 40% tổng mức bán
lẻ, thu hút được trên 8 triệu người lao động tức là 1/7 tổng lao động ở Mỹ và có hơn550.000 cửa hàng nhượng quyền và cứ 8 phút lại có một cửa hàng nhượng quyền mới
ra đời
Trang 8Ở Châu Âu, tổng cộng có hơn 4.000 hệ thống NQTM; với 167.500 cửa hàng NQTM,doanh thu đạt khoảng 100 tỉ Euro Tạo ra hơn 1.5 triệu việc làm Riêng ở Anh, NQTM
là một trong những hoạt động tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế với khoảng32.000 DN nhượng quyền, doanh thu mỗi năm 8,9 tỷ bảng Anh, thu hút một lượng laođộng khỏang 317.000 lao động và chiếm trên 29% thị phần bán lẻ
Tại Úc, tổng cửa hàng nhượng quyền thương mại khoảng 54.000, đóng góp 12% vàoGDP cả nước và tạo hàng trăm ngàn việc làm cho người lao động Theo Hiệp hội nhượng quyền Quốc tế (IFA) thì nhượng quyền kinh doanh ở châu Á đãtạo doanh thu hơn 500 tỷ USD mỗi năm Một số nước có hệ thống nhượng quyền đónggóp vai trò quan trọng trong sự phát triển của mình như: Tại Thái Lan, số hợp đồngnhượng quyền đang tăng rất nhanh, trong đó có tới 67% thuộc khu vực doanh nghiệpvừa và nhỏ, với số vốn ban đầu cho mỗi hợp đồng 20.000-65.000 USD
Bộ thương mại Thái Lan công bố chương trình khuyến khích và quảng bá thươnghiệu nội địa ra thị trường quốc tế qua NQTM Các doanh nghiệp kinh doanh theo hìnhthức này được hỗ trợ đào tạo trung và ngắn hạn về công nghệ NQTM Do vậy, năm
2004 đạt doanh số 25 triệu Baht, năm 2005 tăng 10% và tăng rất nhanh cho các nămtiếp theo Tại Nhật Bản, NQTM phát triển mạnh từ năm 1996, đến năm 2004 đã có1.074 hệ thống NQTM và 220.710 cửa hàng kinh doanh theo hình thức NQTM, doanhthu từ hệ thống này vào khoảng 150 tỉ USD, tăng trưởng hàng năm 7%
Từ năm 1980, NQTM vào Trung Quốc Đến năm 2004, nước này đã có 2.100 hệthống nhượng quyền (nhiều nhất thế giới), với 120.000 cửa hàng nhượng quyền trong
60 lĩnh vực khác nhau Biểu đồ tăng trưởng hoạt động nhượng quyền của Trung Quốcdựng đứng kể từ khi nước này gia nhập WTO
Từ năm 2000, bình quân mỗi năm hệ thống nhượng quyền tăng 38% vượt xa mứctăng trưởng 10%/năm của hàng tiêu dùng, các cửa hàng nhận nhượng quyền tăng 55%
Trang 9Đặc biệt, hệ thống nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranhngang hàng với thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng của nước ngoài Ở Malaysia, nhìnthấy lợi ích của NQTM từ 1992, Chính phủ thành lập chương trình quốc gia về chuyểnnhượng (Franchise Development Programme - FDP) với 2 mục tiêu: (i) Gia tăng sốDoanh nghiệp bán / mua nhượng quyền thương mại; (ii) Thúc đẩy phát triển những sảnphẩm dịch vụ đặc thù nội địa thông qua nhượng quyền thương mại.
Ở Việt Nam, phương thức kinh doanh mới mẻ này du nhập từ đầu những năm 1990
và hiện đang phát triển với một tôc độ nhanh Tuy nhiên, ở Việt Nam vì thị trường mới
mở cửa trong những năm gần đây nên chưa có nhiều thương hiệu nước ngoài xâm nhập.Theo số liệu của Bộ thương mại cung cấp thì hiện Việt Nam có hơn 90 hệ thống kinhdoanh trên các lĩnh vực khác nhau Có thể kể tới một số thương hiệu nổi tiếng như:KFC, Lotteria, Pizza Hut, Trung Nguyên, Kinh đô, Forci… Một só tập đoàn quốc tếcũng đang đàm phán để đưa sản phẩm của họ và Việt Nam như McDonald’s, tập đoànbán lẻ 7 Eleven… Thương hiệu Việt Nam như Phở 24 đã có 35 cửa hàng sau 3 nămnhượng quyền Dự kiến, đến năm 2008, sẽ có khoảng 100 cửa hàng tại Việt Nam Phở
24 đã xuất hiện tại Philippines, Indonesia và chuẩn bị ra mắt tại Canada, Hàn Quốc,Nhật Bản và Trung Quốc Mức giá nhượng quyền thương hiệu trong nước là 7.000USD và ở nước ngoài là 12.000 USD, chưa kể phí vận hành 3% trên tổng doanh thu củatừng cửa hàng đã chuyển nhượng Foci đã áp dụng nhượng quyền từ năm 1998 với 35đối tác nhận nhượng quyền và đã mở 48 cửa hàng trên cả nước
Đến cuối năm 2007, Foci sẽ có mặt tại tất cả địa phương và năm 2008 dự kiến có tốithiểu 100 cửa hàng Dự kiến 2007 Foci mở 7 cửa hàng tại Mỹ theo hình thức NQTM.Công ty Kinh Đô đã mở được 30 cửa hàng bánh Bakery, theo kế hoạch sẽ có 100 cửahàng và tiến đến mở rộng hình thức kinh doanh thành tiệm cà phê, bánh ngọt và thức ănnhanh Kinh Đô Trà sữa trân châu Tapio đã mở được 10 cửa hàng và đang cho ra môhình mới là Grand Tapio – bán kèm thêm thức ăn nhanh
Trang 101.3.Những nội dung quan trọng của franchise
1.3.1. Tính đồng bộ và hệ thống
Đây là điểm bắt buộc của các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền và đượcchuyên nghiệp đến mức cao nhất để đảm bảo hiệu quả kinh doanh tối đa Tính đồng bộcủa hệ thống nhượng quyền được thể hiện không chỉ ở logo, nhãn hiệu mà còn ở cáchbài trí cửa hiệu, màu sắc trang trí, phương thức hoạt động… Vì tất cả các cửa hàngthuộc hệ thống của chủ thương hiệu đều phải đảm bảo không chỉ bán cùng sản phẩmvới cùng chất lượng mà còn phải mang đến cùng một thông điệp cho khách hàng nên hệthống franchise phải đảm bảo tính hệ thống cáo
Có thể ví dụ như sau: khi bước vào các cửa hàng KFC ở Hà Nội ta sẽ thấy cách trangtrí chủ đạo với logo bên ngoài và màu sắc đỏ đặc trưng, bào bì đựng đồ ăn và đồ uốnggiống nhau tại nhiều quán không chỉ ở nước ta mà còn ở các nước khác Chính việc tạodựng một hình ảnh duy nhất, đồng nhất đến khách hàng sẽ giúp khách hàng thấy tintưởng về chất lượng, uy tín của thương hiệu hơn
Tuy nhiên, thùy theo từng vị trí địa lý, phong tục tập quán địa phương mà có thể cómột vài thay đổi cho phù hợp nên không phải lúc nào franchise cũng nguyên gốc 100%
1.3.2. Thương hiệu
Trong hoạt động franchise, thương hiệu là yếu tố cốt lõi để hoạt động này có thể thựchiện được vì thực chất người chủ thương hiệu đã nhượng lại quyền được sử dụngthương hiệu của mình cho bên nhận nhượng quyền tại một khu vực nhất định và trongkhoảng thời gian nhất định Do đó, thương hiệu đóng một vai trò rất quan trọng đối với
cả người mua và người bán franchise
1.3.3. Phí nhượng quyền
Trang 11Quyền kinh doanh được bên bán bán cho bên mua để thu về một số tiền ban đầu,thường gọi là phí gia nhập hay phí nhượng quyền Số tiền này phụ thuộc nhiều yếu tốnhư mức độ nổi tiếng của thương hiệu địa điểm nhượng quyền, ngành nghề…vàthường thì rất khó xác định Phí nhượng quyền bao gồm phí nhượng quyền ban đầu vàphí duy trì thương hiệu hằng tháng Ngoài ra, các chi phí bất đọng sản, trang bị máymóc, bàn ghế không được tính là phí nhượng quyền nhưng vẫn được các chủ thươnghiệu yêu cầu đầu tư để đảm bảo tính đồng bộ, khả năng thành công của doanh nghiệpnhận quyền.
Phí nhượng quyền ban đầu chỉ bao gồm quyền sử dụng tên và hệ thống sản xuất, điềuhành, và không bao gồm tài sản cố định, bất động sản
Phí duy trì được trích ra từ doanh thu bán hàng, nhưng cũng có thể là một khoản xácđịnh Phí này dao động từ 1-8% trên doanh thu
1.4.Ưu nhược điểm của franchise
1.4.1. Ưu điểm
Với bên nhượng quyền
(1) Đây là cách nhanh nhất để một thương hiệu xâm nhập vào một quốc gia,lãnh thổ hay khu vực mà người chủ thương hiệu chưa nắm nhiều về thói quen,tiêu dung, văn hóa, phân phối…
(2) Tiết kiệm chi phí đầu tư nhân lực, vật lực, tiếp thị, quảng cáo…
(3) Gia tăng sự nổi tiếng của thương hiệu
Với bên nhận nhượng quyền
(1) Giảm tính rủi ro và dễ thành công hơn trong hoạt động kinh doanh, nhất làđối với những cá nhân còn mới mẻ trong hoạt động vốn không dễ dàng