Những nguyên tắc chung Việc vệ sinh, bảo vệ môi trường được thực hiện dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:Thứ nhất, phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -ooo -
Bài tập thuyết trình Luật Môi Trường Chủ đề: Một số vấn đề về pháp luật trong lĩnh vực vệ
sinh môi trường
Trang 2M c l c ục lục ục lục
Phần 1: Khái quát 3
I Khái niệm 3
II Những nguyên tắc chung 3
III Chính sách của Nhà nước 3
Phần 2: Pháp luật về vấn đề vệ sinh nơi công cộng 4
I Thực tiễn vệ sinh nơi công cộng hiện nay 4
II Pháp luật về vệ sinh nơi công cộng 6
Phần 3: Pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm 10
I Khái quát chung 10
II Trách nhiệm nhà nước về quản lý thực phẩm 13
III Chất bảo quản 13
IV Ghi nhãn hàng hóa 15
V Cơ sở chế biến thực phẩm 17
VI Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu 18
VII Thực phẩm biến đổi gen 20
VIII Kinh doanh và sử dụng những sản phẩm dinh dưỡng dành cho trẻ nhỏ 22
Phần 4: Pháp luật về vệ sinh môi trường trong lĩnh vực hoạt động mai táng 23
I Thực tiễn tình hình hoạt động mai táng ở Việt Nam hiện nay 23
II Nội dung pháp luật vệ sinh môi trường trong hoạt động mai táng 24
III Đánh giá – Kết luận 30
Trang 3Phần 1: Khái quát
I Khái niệm
Vệ sinh môi trường là các hoạt động làm sạch môi trường, giữ cho môi trường trong lành,sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môitrường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sửdụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Có thể nói vệ sinh môi trường cũng làmột khái niệm có nội dung tương tự với bảo vệ môi trường
II Những nguyên tắc chung
Việc vệ sinh, bảo vệ môi trường được thực hiện dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:Thứ nhất, phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội đểphát triển bền vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trườngkhu vực và toàn cầu
Thứ hai, bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của
cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
Thứ ba, hoạt động này phải tiến hành thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kếthợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường
Thứ tư, phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độphát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn
Thứ năm, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có tráchnhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm khác theo quy định củapháp luật
III Chính sách của Nhà nước
Trên cơ sở những nguyên tắc trên, Nhà nước đã đưa ra những quy định cơ bản về nhữngchính sách cần thực hiện để đảm bảo vệ sinh môi trường Các chính sách đó bao gồm:
1 Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ giađình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường
2 Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hànhchính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạtđộng bảo vệ môi trường
Trang 43 Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch,năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải.
4 Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở gây ônhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suythoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
5 Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tưcho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngânsách nhà nước hằng năm
6 Ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường vàcác sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và sử dụng có hiệuquả các thành phần môi trường cho phát triển
7 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng vàchuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình thành vàphát triển ngành công nghiệp môi trường
8 Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kếtquốc tế về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tácquốc tế về bảo vệ môi trường
9 Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốcgia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại
Và trong tình cảnh vấn đề vệ sinh môi trường ngày càng trở nên nóng bỏng, thu hút được
sự chú ý, theo dõi của toàn xã hội, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm phápluật nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này Đây là một mảng đề tàirất rộng nên trong bài tập thuyết trình với khung thời gian và độ dài có hạn, nhóm chúng
em chỉ xin đi vào tìm hiểu pháp luật vệ sinh môi trường trong 3 lĩnh vực nổi bật, đượcchú ý nhất hiện nay Đó là:
- Pháp luật về vệ sinh nơi công công
- Pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
- Pháp luật về vệ sinh trong hoạt động mai táng
Phần 2: Pháp luật về vấn đề vệ sinh nơi công cộng
I Thực tiễn vệ sinh nơi công cộng hiện nay
Trang 5- Ngày nay, trên thế giới, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu Ở các quốcgia tiên tiến, vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường được quan tâm thường xuyên nhằm đảmbảo một môi trường sống xanh – sạch – đẹp Ở Việt Nam, có rất nhiều văn bản quy phạmpháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực môi trường Trong đó, phápluật về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh môi trường cũng là một trong những nộidung trọng tâm Các hoạt động nhằm bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trườngcông cộng nói riêng cũng thường xuyên được tổ chức: Ngày Quốc tế không khói xe, 360
độ Xanh, hưởng ứng ngày môi trường thế giới… Mặc dù việc giữ gìn vệ sinh môi trườnghiện nay đã được các cấp, ban, ngành quan tâm và đầu tư Tuy nhiên, môi trường củachúng ta hiện nay còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm hơn nữa: ô nhiễm đất, nước,không khí, tiếng ồn, bụi, …vv Trong những năm gần đây, một vấn đề được nhiều cơquan chức năng thường xuyên đề cập tới và chưa tìm được ra giải pháp khắc phục đó làvấn đề vệ sinh nơi công cộng: vệ sinh trên đường phố, nhà ga, bệnh viện, công viên,trung tâm văn hóa…vv Tại những nơi này phát sinh rất nhiều nguồn gây mất vệ sinh: rácthải, tiếng ồn, quảng cáo, tờ rơi, nước thải…vv
- Liên quan đến vấn đề ô nhiễm bụi, theo kết quả quan trắc của Sở TN&MT năm
2009 cho thấy, tại 250 điểm đo kiểm có tới 180 điểm đo (chiếm 72%) có hàm lượng bụi
lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) Cụ thể, đường Nguyễn Trãi có vị trí vượtTCCP tới 11 lần; đường Nguyễn Văn Linh vượt 10,8 lần; ngã ba Tam Trinh - Lĩnh Nam
có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn 5,2 lần; đường Phạm Văn Đồng vượt 3,6 lần; đường 428 Pháp Vân tại ngã ba Guột có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn 4,4 lần Một loạt các "phố bụi"khác như Khuất Duy Tiến, Lê Văn Lương, Kim Giang, Khương Đình có nồng độ bụi caogấp từ 3,8 đến 6,3 lần so với tiêu chuẩn So sánh kết quả quan trắc bụi tại 45 điểm trong 2năm cho thấy, có những đường phố có hàm lượng bụi cao gấp đôi, thậm chí gấp 5 lần chỉtrong vòng 1 năm Cụ thể như đường Hoàng Quốc Việt năm 2007 nồng độ bụi là 222,2micrôgam /m³, sang năm 2008 lên tới 414,3 micrôgam
Về ô nhiễm tiếng ồn, ở Hà Nội mức ồn trên quốc lộ 5 (Sài Đồng) là 80 dB, quốc lộ
1 (Giáp Bát) là 77 dB Riêng tiếng ồn vào ban đêm (từ 22g-6g sáng hôm sau), so với tiêuchuẩn cho phép (50dB) thì kết quả quan trắc đo được ở đoạn đường nào cũng vượt tiêuchuẩn 1 - 2 lần
- Vấn đề rác thải cũng được quan tâm nhiều trong thời gian gần đây đặc biệt là rácthải y tế Theo báo cáo từ Bộ Y tế, tính đến năm 2005 cả nước có hơn 1047 bệnh viện vớikhoảng 140.000 giường bệnh và hơn 10.000 trạm y tế Trung bình mỗi ngày đêm, mỗigiường bệnh thải ra môi trường khoảng 2,5 kg rác thải, chất thải trong đó từ 10-15% làchất thải độc hại, dễ gây nguy hiểm cần được xử lý theo quy định đặc biệt, bao gồm cácchất tiết dịch, bông băng, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá chất, cácchất phóng xạ và cả các bộ phận của cơ thể người bệnh bị cắt bỏ sau phẫu thuật Vẫn
Trang 6theo Bộ Y tế, khoảng 2/3 bệnh viện chưa áp dụng phương pháp tiêu huỷ rác thải đảm bảo
vệ sinh Hầu hết rác thải y tế bệnh phẩm chưa được phân theo đúng chủng loại, chưađược khử khuẩn khi thải bỏ Nhà lưu chứa không đúng tiêu chuẩn, không đảm bảo vệsinh và có nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng Hiện nay hầu hết các bệnh viện mới chỉ đầu
tư cho việc xử lý chất thải rắn bằng hệ thống các lò đốt Đốt với chất thải lỏng mới chỉdừng lại ở công đoạn thu gom Trong khi đó nước thải bệnh viện có đến 20% là chất thảinguy hại đặc biệt với các loại thuốc điều trị bệnh ung thư hoặc sản phẩm chuyển hoá củachúng, nếu xả thải ra bên ngoài không qua xử lý, có khả năng gây quái thai, ung thư chongười tiếp xúc Theo kết quả khảo sát của viện Viện y học Lao động và vệ sinh môitrường cho thấy, nước thải bệnh viện ô nhiễm nặng gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn, tổng
số coliform trung bình là 2 x 107 MPN/100ml cao hơn 20.000 lần tiêu chuẩn thải
- Ngoài ra, quảng cáo bằng hình thức rao vặt xuất hiện ngày càng tràn lan trên cáctuyến đường, làm ảnh hưởng rất lớn đến vẻ mỹ quan đô thị và vấn đề vệ sinh môi trường
Dễ dàng bắt gặp ở mọi nơi nhất là những hình thức quảng cáo như khoan cắt bê tông, rúthầm cầu, rao bán đất được in, treo, dán trái phép ở khắp mọi nơi Trên các cột điện, trụđèn giao thông, trụ đèn chiếu sáng, tường rào cơ quan, nhà dân đến các thân cây trên cáctuyến đường Nói chung, nơi nào có chỗ trống là nơi đó có những thông tin quảng cáonhư thế này Còn có một hình thức quảng cáo rao vặt khác cũng gây mất vệ sinh môitrường không kém đó là quảng cáo bằng hình thức phát tờ rơi trên đường Tại các nút tínhiệu giao thông trên các tuyến đường đông người qua lại, chúng ta thường bắt gặp nhữngngười phát tờ rơi quảng cáo về các thông tin khuyến mại của các siêu thị, cửa hàng đếncác chương trình học tiếng Anh, vi tính, sửa chữa điện thoại Ở những nơi này, ngườiphát cứ phát, còn người đi đường muốn đón nhận hay không thì tùy, thế nên rất nhiều tờrơi cứ mặc nhiên rơi xuống mặt đường Kết quả là, sau những đợt phát tờ rơi như thế, mặtđường trở nên nhếch nhác hơn vì những tờ giấy quảng cáo này bay lung tung
II Pháp luật về vệ sinh nơi công cộng
II.1 Pháp luật Singapore về bảo vệ môi trường
Chính phủ Singapore rất coi trọng việc giữ gìn vệ sinh môi trường Nhằm bảo đảm choviệc kiểm soát và bảo vệ môi trường ở Singapore, một loạt các văn bản liên quan đếnpháp luật về môi trường được ban hành, bao gồm: đạo luật về môi trường và sức khỏecộng đồng, đạo luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, đạo luật về hệ thống cống tiêuthoát nước Để đảm bảo cho các đạo luật có hiệu lực thi hành trên thực tế, thì các biệnpháp cưỡng chế là không thể thiếu, do đó pháp luật về môi trường của Singapore cũng đãđặt ra các biện pháp cưỡng chế khác nhau cho các mức vi phạm pháp luật về môi trườngnhư sau:
II.1.1 Biện pháp xử lý hình sự
Trang 7Pháp luật môi trường Singapore lấy chế tài hình sự là công cụ cơ bản để thực thi, biệnpháp này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tiền, phạt tù, bắt bồi thường và đốivới những vi phạm nhỏ thì phạt cải tạo lao động bắt buộc (chỉ áp dụng với những bị cáo
đủ 16 tuổi trở lên và đủ tiêu chuẩn y tế) Cụ thể là:
- Hình phạt tiền: Đây là hình phạt phổ biến nhất trong các đạo luật về môi trường củaSingapore, phạt tiền được xem là công cụ hữu hiệu trong việc tăng cường hiệu lực phápluật về bảo vệ môi trường của Singapore Theo các đạo luật ở Singapore thì có nhiều mức
độ vi phạt tiền khác nhau, tuỳ thuộc vào các đạo luật khác nhau và mức độ nguy hiểm củahành vi gây ra Ví dụ trường hợp đổ rác nơi công cộng, nếu bị Toà án kết tội thì người viphạm sẽ bị phạt đến 10.000$ với vi phạm lần đầu và nếu tái phạm sẽ bị phạt tới 20.000$.Ngoài ra, các đạo luật về môi trường của Singapore cũng quy định phạt tiền một cách rấtlinh hoạt đối với các vi phạm ít nghiêm trọng, đó là việc cho phép người vi phạm trả mộtkhoản tiền thích hợp cho Bộ Môi trường Singapore và vụ việc sẽ tự kết thúc mà khôngphải đưa ra Toà
- Hình phạt tù: Đây là chế tài nghiêm khắc nhất nhằm trừng trị những người vi phạmngoan cố, khi mà các hành vi phạm tội có thể mang lại cho người phạm tội những khoảnlợi nhuận lớn nếu họ không bị phát hiện và hình phạt tiền vẫn không ngăn chặn được cáchành vi mà người đó gây ra Ví dụ: theo Đạo luật về môi trường sức khoẻ cộng đồng vàĐạo luật kiểm soát ô nhiễm thì những người vi phạm lần đầu bị buộc tội về hành vi đưachất thải hoặc các chất độc hại vào nguồn nước ngầm có thể bị phạt tù đến 12 tháng Đốivới những người tái phạm thì có thể bị phạt tù với chế độ khắc nghiệt từ 1 đến 12 tháng
- Tạm giữ và tịch thu: Một số luật về môi trường quy định về việc tạm giữ và tịch thucác công cụ, phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội Ngoài ra, nếu trường hợp thựcphẩm không phù hợp cho con người có thể bị tịch thu và tiêu huỷ theo Đạo luật về môitrường và sức khoẻ cộng đồng và Đạo luật về mua bán thực phẩm
II.1.2 Biện pháp hành chính
Tuy pháp luật Singapore xem chế tài hình sự là quan trọng nhất trong việc bảo vệ môitrường nhưng không vì thế mà xem nhẹ các chế tài hành chính và dân sự bởi nếu chỉriêng chế tài hình sự thì không thể bảo vệ môi trường một cách có hiệu quả Không giốngnhư các chế tài hình sự và dân sự thường là các biện pháp tức thời, các chế tài hành chínhthường có hiệu lực trong việc bảo đảm các biện pháp liên tục, đặc biệt là các hoạt độnggây ô nhiễm Một số chế tài hành chính đã được chấp nhận là các kế hoạch sử dụng đất,giấy phép và việc ban hành cá mệnh lệnh thông báo Cụ thể là:
- Giấy phép, giấy chứng nhận: Việc cấp giấy phép và giấy chứng nhận thuộc thẩmquyền của Bộ Môi trường nhằm đảm bảo kiểm soát và quản lý chặt chẽ các hoạt động cókhả năng tác động có hại tới môi trường Cụ thể là trước khi một hoạt động được phéptiến hành, Bộ Môi trường phải đảm bảo là hoạt động đó sẽ không gây ra tác hại gì cho
Trang 8môi trường Ví dụ về Đạo luật kiểm soát ô nhiễm về môi trường, các hoạt động côngnghiệp có khả năng gây ô nhiễm không khí đều phải được phép của Bộ Môi trường trướckhi công việc được triển khai.
- Thông báo và lệnh: Thông báo và lệnh được áp dụng trong trường hợp người chủ sởhữu hoặc quản lý một tài sản không tuân thủ các quy định tiêu chuẩn hoặc điều kiện vềmôi trường được quy định trong các đạo luật liên quan Thông báo và lệnh này sẽ yêu cầuchủ sở hữu hoặc quản lý tài sản phải tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong đó Nếu khôngthực hiện các yêu cầu đó, chủ sở hữu hoặc quản lý phải chịu trách nhiệm trước toà án vàphải chịu hình phạt
- Ngoài ra, chế tài hành chính còn thực hiện chức năng giám sát nhằm đảm bảo hạnchế tiếng ồn tại các công trường không được vượt quá giới hạn cho phép Nếu có tiếngkhiếu nại từ phía dân chúng, Bộ Môi trường phải tiến hành đánh giá độc lập về mức độtiếng ồn Nếu tiếng ồn vượt quá mức độ quy định, thì chủ sở hữu, người quản lý côngtrường xây dựng có liên quan, căn cứ vào chứng cứ đã có quản chịu một khoản tiền phạttối đa là 2.000USD, nếu tái phạt phải nộp 100USD cho mỗi ngày tái phạm tiếp theo
II.2 Pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường nơi công cộng
II.2.1 Yêu cầu và trách nhiệm về bảo vệ môi trường nơi công cộng
- Điều 51, Luật Bảo vệ môi trường 2005 có quy định cụ thể yêu cầu về bảo vệ môitrường đối với đô thị, khu dân cư tập trung :
+ Đô thị phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường: Thứ nhất, có kết cấu hạtầng về bảo vệ môi trường phù hợp với quy hoạch đô thị, khu dân cư tập trung đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Thứ hai, có thiết bị, phương tiện thu gom,tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại chất thải và đủ khảnăng tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ gia đình trong khu dân cư.Thứ ba, bảo đảm các yêu cầu về cảnh quan đô thị, vệ sinh môi trường
+ Khu dân cư tập trung phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau đây:
Có hệ thống tiêu thoát nước mưa, nước thải phù hợp với quy hoạch bảo vệ môi trườngcủa khu dân cư và có nơi tập trung rác thải sinh hoạt bảo đảm vệ sinh môi trường
- Yêu cầu bảo vệ môi trường nơi công cộng: Tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình,
cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh ởnơi công cộng; đổ, bỏ rác vào thùng chứa rác công cộng hoặc đúng nơi quy định tậptrung rác thải; không để vật nuôi gây mất vệ sinh nơi công cộng ( khoản 1 điều 52, Luậtbảo vệ môi trường 2005 )
- Yêu cầu bảo vệ môi trường đối với bệnh viện và các cơ sở y tế được quy định cụ thểtại khoản 1 điều 39, Luật bảo vệ môi trường 2005:
+ Có hệ thống hoặc biện pháp thu gom, xử lý nước thải y tế và vận hành thườngxuyên, đạt tiêu chuẩn môi trường;
Trang 9+ Bố trí thiết bị chuyên dụng để phân loại bệnh phẩm, rác thải y tế tại nguồn;+ Có biện pháp xử lý, tiêu huỷ bệnh phẩm, rác thải y tế, thuốc hết hạn sử dụng bảođảm vệ sinh, tiêu chuẩn môi trường;
+ Có kế hoạch, trang thiết bị phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường do chất thải y
+ Buộc lao động vệ sinh môi trường có thời hạn ở nơi công cộng;
+ Tạm giữ phương tiện có liên quan gây ra ô nhiễm môi trường
- Đối với biện pháp xử lý hành chính, Nghị định 73/2010/NĐ-CP về “ Quy định xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội” có hướng dẫn
Đổ nước hoặc để nước chảy ra khu tập thể, lòng đường, vỉa hè, nhà
ga, bến xe, nơi công cộng, trên các phương tiện giao thông hoặc ở những nơi khác làmmất vệ sinh chung;
Tiểu tiện, đại diện ở đường phố, trên các lối đi chung;
Để gia súc, gia cầm hoặc các loại động vật khác phóng uế ở nơi côngcộng;
Trang 10 Lấy, vận chuyển phân bằng phương tiện giao thông thô sơ trongthành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không đảm bảo vệ sinh.
+ Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành visau đây:
Vận chuyển phân bằng phương tiện giao thông cơ giới trong thànhphố, thị xã để rơi vãi hoặc không đảm bảo vệ sinh;
Đổ rác hoặc bất cứ vật gì khác vào hố ga, hệ thống thoát nước côngcộng;
Vứt rác, xác động vật hoặc bất cứ vật gì khác ra nơi công cộng, chỗ
có vòi nước, giếng nước ăn, ao, đầm, hồ mà thường ngày nhân dân sử dụng trong sinhhoạt làm mất vệ sinh;
Tự ý đốt chất thải, chất độc hoặc các chất nguy hiểm khác ở khu vựcdân cư, nơi công cộng
+ Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi làm nhà vệ sinhkhông đúng quy định gây mất vệ sinh chung
+ Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi
đổ chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc,nơi sản xuất, kinh doanh của người khác
- Điều 182 BLHS 2005 cũng có quy định về tội gây ô nhiễm môi trường Đây là chếtài nghiêm khắc nhất nhằm trừng trị người thực hiện tội gây ô nhiễm môi trường Tộiphạm này bao gồm các hành vi như thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ônhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia vềchất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng thì bịphạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến banăm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm
- Bên cạnh việc quy định các biện pháp xử lý như vậy, Nhà nước còn khuyến khíchcộng đồng dân cư thành lập các tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường nhằm thực hiệnmột số nhiệm vụ như: kiểm tra các hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định về giữ gìn vệsinh và bảo vệ môi trường, tổ chức thu gom, tập kết và xử lý, giữ gìn vệ sinh chung vv
Trên đây là một số quy định về tổng quan pháp luật về bảo vệ môi trường nơi côngcộng Như vây, pháp luật về môi trường được quy định một cách toàn diện là công cụhữu hiệu nhất để đảm bảo sự sạch, đẹp cho môi trường nơi công cộng ở Việt Nam
Phần 3: Pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm
I Khái quát chung
Trang 11Ngày 01 tháng 7 năm 2011, Luật An toàn thực phẩm sẽ có hiệu lực thi hành, Luật
gồm 11 Chương và 72 Điều, có nhiều điểm mới và khác biệt về nội dung so với Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003.
Về nguyên tắc quản lí an toàn thực phẩm, trong đó, quy định trách nhiệm trước tiên
về an toàn đối với thực phẩm do cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu tráchnhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh Quản lý an toàn thựcphẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sởphân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm, đồng thời phải bảo đảm phân công, phâncấp rõ ràng và phối hợp liên ngành và phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Về xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm: Luật quy định rõ tổ chức, cá nhânsản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tínhchất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của phápluật Mức phạt tiền đối với vi phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính; trường hợp áp dụng mức phạt cao nhất theo quy định của pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thìmức phạt được áp dụng không quá 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm
Về điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm Đây là quy định hoàn toàn mới sovới Pháp lệnh, theo đó, các loại thực phẩm phải đáp ứng đủ hai điều kiện lớn: các điềukiện chung về bảo đảm an toàn và những điều kiện riêng về bảo đảm an toàn tùy theo loạithực phẩm được quy định cụ thể tại Chương III, IV
Về Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm: Luật An toàn thực phẩm
2010 quy định về Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm cụ thể trongChương V Để được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, cơ sở đóphải đáp ứng đủ các điều kiện sau: Có đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm phù hợpvới từng loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm; có đăng ký ngành, nghề kinh doanhthực phẩm trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Thêm vào đó, Luật An toàn thựcphẩm 2010 đã giới hạn thời hạn cơ sở được chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm
là 3 năm, trong khi Pháp lệnh không quy định thời hạn Trước 06 tháng tính đến ngàyGiấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm hết hạn thì tổ chức, cá nhân sản xuất,kinh doanh thực phẩm phải nộp hồ sơ xin cấp lại giấy Chứng nhận nếu tiếp tục sản xuất,kinh doanh Trong Pháp lệnh chỉ quy định tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinhdoanh những thực phẩm có nguy cơ cao mới cần có Giấy chứng nhận đủ điều kiện vệsinh an toàn thực phẩm do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp
Trang 12Về phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm là điểm mới được quy định tạiChương VIII, Luật An toàn thực phẩm 2010 Trách nhiệm thực hiện phân tích nguy cơđối với an toàn thực phẩm thuộc về Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, BộCông thương
Ngoài ra, Luật An toàn thực phẩm 2010 tại Chương IX còn quy định về thông tin,giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm nhằm mục đích nâng cao nhận thức về antoàn thực phẩm, thay đổi nhận thức, hành vi, phong tục tập quán sản xuất, kinh doanh lạchậu, gây mất an toàn thực phẩm góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng của con người
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định rõ các chính sách của Nhà nước về an toàn thựcphẩm, theo đó, cần phải xây dựng chiến lược bảo đảm an toàn thực phẩm, quy hoạchvùng sản xuất thực phẩm an toàn theo chuỗi cung cấp thực phẩm
Một số hạn chế
- Luật an toàn thực phẩm đã có những thay đổi kịp thời để bảo vệ sức khỏe của ngườitiêu dùng, tuy nhiên việc nâng cao uy tín của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thế giớichưa được chú trọng
- Đối với thực phẩm tươi sống như rau quả, thịt, cá… luật vẫn chưa phân biệt rõ ràngthế nào là thực phẩm cuối cùng và thế nào là thực phẩm còn trong quá trình chế biến.Đây là một trong những kẽ hở nghiêm trọng Một doanh nghiệp đưa ra ví dụ: nếu cơquan chức năng kiểm tra và phát hiện thực phẩm không đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinhkhi thực phẩm đang được vận chuyển thì người bán có thể nêu lý do là thực phẩm nàycòn đang trong quá trình chế biến
- Khoản 1 điều 25 luật An toàn thực phẩm quy định: Dụng cụ ăn uống, chứa đựng thựcphẩm phải được rửa sạch, khử trùng trước khi sử dụng Tuy nhiên đối với doanhnghiệp kinh doanh ăn uống, nhà hàng thì những dụng cụ như chén, đĩa, thìa… khôngthể mỗi lần sử dụng là phải khử trùng Đây là cái cớ để một số cán bộ cơ quan chứcnăng lợi dụng để sách nhiễu các doanh nghiệp
- Luật chưa dứt khoát trong việc cấm không cho dùng hóa chất để bảo quản thực phẩm.Hiện tại, hầu như 100% các hộ sản xuất kinh doanh đều không biết phân biệt liềulượng hóa chất thế nào là đảm bảo tiêu chuẩn, thế nào là không đảm bảo Mặt khác,
do đặc thù nền nông nghiệp nước ta, nông dân, tiểu thương Việt Nam phần lớn làmtheo phong trào, nghe ai nói thế nào thì làm thế đấy, điều này cực kỳ quy hiểm, nhất
là đối với hóa chất độc hại
Trang 13Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm được thể hiện cụ thể tại các điểm sau:
II Trách nhiệm nhà nước về quản lý thực phẩm
II.1 Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
2 Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thựcphẩm
3 Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có tráchnhiệm phối hợp với Bộ Y tế thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
4 Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong phạm
vi địa phương
II.2 Một số điểm hạn chế
- Hiện nay, có đến 3 bộ và ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm chính trong chuỗicung ứng thực phẩm Cùng với các cơ quan này là hàng trăm văn bản quy phạm phápluật về an toàn thực phẩm Sự chồng chéo về quản lý đã nảy sinh mâu thuẫn và đùnđẩy trách nhiệm
- Luật nên bỏ chương quản lý Nhà nước mà thay bằng phân công trách nhiệm quản lýATTP Từng bộ phải chịu trách nhiệm từng giai đoạn Ví dụ như khi chưa thành thựcphẩm thì giao cho bộ sản xuất (Bộ Nông nghiệp, Bộ Công Thương) Thành thực phẩmrồi thì giao bộ quản lý thực phẩm (Bộ Y tế) Bộ Y tế cần đánh giá tác động giữa thựcphẩm và sức khỏe, phát triển nòi giống (đánh giá nguy cơ) Bộ này cũng cần ban hành
và chứng nhận tiêu chuẩn ATTP, ban hành về chứng nhận đủ điều kiện ATTP Vàđương nhiên Bộ Y tế cũng có chức năng thanh tra ATTP, phòng ngừa, điều trị ngộđộc thực phẩm, các bệnh truyền qua thực phẩm
- Ngoài ra cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an toànthực phẩm, nâng cao năng lực và chất lượng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm,đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến thực sự vềhành vi an toàn thực phẩm, đẩy mạnh xã hội hóa công tác an toàn thực phẩm
III Chất bảo quản.
III.1 Khái niệm các chất bảo quản
Trang 14Chất bảo quản: là phụ gia thực phẩm được sử dụng với mục dích kéo dài thời hạn
sử dụng của sản phẩm bằng cách ngăn chặn sự hư hỏng do ô nhiễm vi sinh vật
Việc quản lý nhà nước về chất bảo quản được quy định tại quy chuẩn kĩ thuật quốcgia về phụ gia thực phẩm – chất bảo quản (QCVN 4 – 12:2010/ BYT)
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia này quy định các yêu cầu kỹ thuật và quản lý về chấtluợng, vệ sinh an toàn dối với các chất bảo quản duợc sử dụng với mục dích làm phụ giathực phẩm
III.2 Thực trạng sử dụng chất bảo quản thực phẩm
Dùng đúng giới hạn sẽ an toàn nhưng tình trạng lạm dụng đang rất phổ biến nhằmbảo quản thực phẩm được lâu hơn Kết quả nguy cơ gây bệnh cho người tiêu dùng rấtcao, kể cả bệnh ung thư Trong các biện pháp để bảo quản thực phẩm, việc sử dụng cácchất như chống mất màu, mất hương vị, chống nấm mốc, oxy hóa v.v được các nhà sảnxuất sử dụng khá phổ biến
Một số chất nhất định được sử dụng ở một mức độ cho phép hoàn toàn không gây hạicho người tiêu dùng Bộ Y tế đã có danh mục quy định các loại chất được phép sử dụng
và giới hạn, chủng loại v.v rất cụ thể Nhưng trong thực tế, rất nhiều nhà sản xuất vìkhông trang bị quy trình sản xuất đủ đáp ứng, nguyên liệu không tốt, sản phẩm làm ratiêu thụ chậm v.v đã lạm dụng các chất bảo quản để kéo dài thời gian chờ phân phốitrên thị trường Vì vậy, chúng lại trở nên vô cùng nguy hiểm cho người tiêu dùng
Việc sử dụng các chất bảo quản, dù nằm trong danh mục, vẫn như con dao hai lưỡi.Khi sử dụng tùy tiện hoặc lạm dụng luôn đưa lại những hậu quả khó lường về sức khỏe.Chẳng hạn như diêm tiêu, là muối nitrat và nitric, thường được sử dụng trong các sảnphẩm thịt như lạp xưởng, xúc xích, jambon nhằm duy trì màu đỏ cho thịt và có tính sátkhuẩn, nhất là vi khuẩn chịu nhiệt cao, liều lượng dùng cũng được quy định rất rõ Dùngdiêm tiêu ở mức quá giới hạn cho phép thì sẽ dẫn đến nguy cơ lượng nitric dư kết hợp vớiaxid amin có trong thịt tạo thành nitrosamin gây ung thư
Việc sử dụng trái phép chất bảo quản ở nước ta đang trở nên rất phổ biến và khôngthể kiểm soát được Có thể kể ra ở đây những trường hợp các thương gia Trung Quốc bánhoa quả vào Việt Nam phun các chất bảo quản làm cho hoa quả trở nên bóng bẩy, màusắc bắt mắt, lâu hỏng Hay có thể kể đến các thương lái ở phía nam dùng rất nhiều cácchất bảo quản, chất kích thích, đặc biệt là chất 2,4D làm cho trái cây trở nên to hơn, đểđược lâu hơn Hay phần lớn người trồng trọt sử dụng các hoạt chất gibberellin, NAA,xytokinin để kích thích tăng trưởng, ra hoa
Trang 15 Chính vì vậy, việc quy định cụ thể những chất bảo quản nào được phép sử dụng và sửdụng bao nhiêu là cần thiết, ngoài ra các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải cónhững biện pháp tuyên truyền giáo dục người sử dụng chất bảo quản không lạm dụngquá mức chất bảo quan gây hại cho người tiêu dùng Nếu những người đó cố tình viphạm thì cần phải xử lý nặng tay để mang tính răn đe cho người khác.
IV Ghi nhãn hàng hóa
IV.1 Khái niệm
- Nhãn hàng hoá là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh đượcdán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoáhoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá
- Ghi nhãn hàng hoá là thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hoá lên nhãn hàng
hoá để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng; để nhà sảnxuất, kinh doanh quảng bá cho hàng hoá của mình và để các cơ quan chức năng thực hiệnviệc kiểm tra, kiểm soát
- Những quy định về những hàng hóa nào cần phải ghi nhãn, trách nhiệm của việc ghi
nhãn hàng hóa hay việc tổ chức thực hiện, kiểm tra việc ghi nhãn hàng hóa được quy định
cụ thể trong NĐ 89/2006/NĐ-CP về việc ghi nhãn hàng hóa
IV.2 Thực trạng việc ghi nhãn hàng hóa
Qua các đợt kiểm tra chuyên đề về nhãn hàng hoá đối với nhóm hàng hoá thực phẩmtrên địa bàn tỉnh ta trong thời gian gần đây, cho thấy, có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh
vi phạm qui chế ghi nhãn Phổ biến là ghi không đủ các nội dung về tên, địa chỉ nơi sảnxuất, tên chất bảo quản, phụ gia thực phẩm,…và ghi không đúng các nội dung theo quyđịnh Ví dụ: Ngày sản xuất (NSX) và hạn sử dụng (HSD) là một nội dung bắt buột phảighi rõ ngày tháng năm nhưng không ít nhà sản xuất chỉ ghi HSD là 30 ngày hoặc 45ngày,…mà không ghi NSX
Nghiêm trọng hơn, là việc một số trường hợp sử dụng bao bì, nhãn mác in sẵn bántrên thị trường để đóng gói bánh trung thu do các cơ sở sản xuất thu công không đăng kýkinh doanh để tiêu thụ, kể cả ở siêu thị G7Mart cũng phát hiện có bày bán loại hàng nàytrong dịp lễ tết trung thu năm 2006 vừa qua Rồi việc ghi không trung thực các nội dungbắt buột làm sai lệch thông tin về hàng hoá Chẳng hạn tại thời điểm cơ sở đang đóng góinhưng sử dụng nhãn hàng hoá có NSX sau đó cả 10 ngày ! Hoặc ghi hạn sử dụng trênnhãn 4 tháng trong khi tiêu chuẩn công bố áp dụng thì cam kết chỉ có 2 tháng Hoặc có
Trang 16trường hợp cơ sở kinh doanh tự sửa lại HSD theo hướng kéo dài thêm thời gian sử dụng.Việc ghi các nội dung không bắt buột thiếu căn cứ, khó hiểu gây nhằm lẫn cho người tiêudung như sản phẩm cao cấp, sử dụng nguyên liệu thượng hạn,…
Hàng Việt Nam chất lượng cao (HVNCLC) phù hợp tiêu chuẩn trong đó HVNCLCthì được in to hơn và bố trí tách rời dòng chữ phù tiêu chuẩn, mã số hàng hoá, hoặc lạmdụng ISO 9001:2000 để đưa lên nhãn hàng hoá là không tuân thủ khuyến cáo của tổ chứcISO vì ISO 9001:2000 không phải là tiêu chuẩn để làm căn cứ chứng nhận cho sản phẩm
cụ thể Việt này sắp đến sẽ được chấn chỉnh, thực hiện nghiêm ngặt hơn
Bên cạnh những cơ sở cung cấp thông tin trên nhãn hàng hoá thiếu trung thực, thiếucăn cứ như trên thì cũng có cơ sở đạt nhiều thành tích nhưng lại không thể hiện trên nhãnnhư trường hợp cơ sở lạp xưởng Bà Chị (Quy Nhơn) Cơ sở này từ năm 1997 đã đượcCục Sở hữu công nghiệp (nay là Cục SHTT) cấp văn bằng bảo hộ quyền SHTT đối vớinhãn hiệu “Bà Chị” cho nhóm sản phẩm lạp xưởng Năm 2004 Cục Bản quyền tác giãvăn học nghệ thuật (Bộ Văn hoá thông tin) cấp văn bằng bảo hộ quyền tác giả cho tác giả,đồng thời là chủ sở hữu nhãn hiệu Bà Chị đối với một số tác phẩm hộp đựng, túi đựng lạpxưởng Tuy nhiên điều đáng tiết là trong một thời gian dài vừa qua những thành tựu nàychưa được cơ sở thông tin lên nhãn “vì lo làm ăn, không ai tư vấn, hướng dẫn nên cơ sởnày không biết “bà Đỗ Thị Đải chủ cơ sở giải thích Cho nên thời gian vừa qua việc tuyêntruyền, tập huấn, kiểm tra về nhãn hàng hoá chưa nhiều nên có thể có nhiều cơ sở sảnxuất kinh doanh chưa biết, chưa nhận thức hết tầm quan trọng của việc ghi nhãn hànghoá,… cũng là nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên
IV.3 Những hạn chế, bất cập
Việc thực trạng ghi nhãn hàng hóa đang có những vi phạm nghiêm trọng, một phần là
do sự quản lý yếu kém của nhà nước, một phần cũng là bởi những quy định trong luậtcòn sơ hở nhiều
- Tại khoản 4 điều 5 về hàng hóa phải ghi nhãn nghị định 89 quy định: ”Hàng hóathuộc lĩnh vực An ninh, quốc phòng, hàng hóa là chất phóng xạ, hàng hóa sử dụngtrong trường hợp khẩn cấp nhằm khắc phục vụ thiên tai, dịch bệnh, phương tiện giaothông đường sắt, đường thủy, đường không, hàng hóa do các cơ quan nhà nước tịchthu đem bán đấu giá, thanh lý có quy định riêng” Như vậy, tất cả những hàng hóatrên vẫn phải ghi nhãn và có quy định ghi nhãn riêng, nhưng cho đến nay chưa có quyđịnh nào cụ thể hướng dẫn cách ghi cho các loại hàng hóa này và chưa có quy định