Môi giới chứng khoán Là một hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán trong đó công tychứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giaodịch tại Sở giao dịc
Trang 1I- KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN:
1.Khái niệm
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp
vụ trên thi trường chứng khoán
2 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán
2.1 Môi giới chứng khoán
Là một hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán trong đó công tychứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giaodịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽphải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó
Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán phải mở tài khoảngiao dịch chứng khoán và tiền cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kếtgiữa khách hàng và công ty
Trong trường hợp khách hàng của công ty chứng khoán mở tài khoản lưu
ký chứng khoán tại tổ chức lưu ký là ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngânhàng nước ngoài, công ty chứng khoán có trách nhiệm hướng dẫn các thủ tục giaodịch, mua bán cho khách hàng và phải ký hợp đồng bằng văn bản với tổ chức lưu
ký Tiền hoa hồng môi giới thường được tính phần trăm trên tổng giá trị của mộtgiao dịch
Theo Điều 20 quy chế hoạt động và tổ chức của công ty chứng khoán số55/2004/QĐ-BTC ngày 17/6/2004 quy định về hoạt động tự doanh của công tychứng khoán như sau:
- Công ty chứng khoán phải đảm bảo có đủ tiền và chứng khoán để thanhtoán các lệnh giao dịch của chính mình
Trang 2- Khi tiến hành nghiệp vụ tự doanh, công ty chứng khoán không được:+ Đầu tư vào cổ phiếu của công ty có sở hữu trên 50% vốn điều lệ củacông ty chứng khoán.
+ Đầu tư vượt quá 20% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chứcniêm yết
+ Đầu tư quá 15% số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức không niêmyết
Hoạt động tự doanh hiện nay được xem là một trong những hoạt động quantrọng nhất của các công ty chứng khoán tại Việt nam trong việc nâng cao lợinhuân Tuy nhiên, do nghiệp vụ tự doanh và môi giới dễ nảy sinh xung đột lợi íchnên các nước thường quy định các công ty chứng khoán phải tổ chức thực hiện 2nghiệp vụ ở 2 bộ phận riêng biệt nếu công ty chứng hoán đó được thực hiện cả 2nghiệp vụ
2.3 Nghiêp vụ quản lý danh mục đầu tư
- Là hoạt động quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán, vànắm giữ các chứng khoán vì quyền lợi khách hàng theo hợp đồng được ký kết giữacông ty chứng khoán và khách hàng
- Nghiệp vụ này đươc thực hiện khi một số nhà đầu tư tổ chức hoặc cá nhânmuốn tham gia TTCK nhưng họ không có đủ điều kiện về thời gian hoặc kiến thứcchuyên môn để quyết định đầu tư, vì vậy, họ ủy thác cho công ty chứng khoán đầu
tư kèm theo thỏa thuận lãi, lỗ Người ủy thác đầu tư thường không can dự vào việcđầu tư của công ty chứng khoán và trả một khoản phí cho công ty chứng khoántheo thỏa thuận
- Các công ty chứng khoán khi thực hiệp nghiệp vụ này ngoài việc đượchưởng phí quản lý, họ còn có thể nhận được những khoản tiền thưởng nhất địnhkhi mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư
- Khi thực hiện quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán phải quản
lý tiền và chứng khoán cho từng khách hàng ủy thác và sử dụng tiền trong tàikhoản theo đúng các điều kiện quy định trong hợp đồng đã ký kết Hợp đồng phảixác định rõ mức độ ủy quyền của khách hàng cho công ty chứng khoán và điềuquan trọng nữa là phải xác định khách hàng phải chịu mọi rủi ro của hoạt động đầu
tư Để đảm bảo quyền lợi của khách hàng, định kỳ, công ty chứng khoán phải gửi
Trang 3báo cáo giá trị các khoản đầu tư theo giá thị trường tại thời điểm báo cáo chokhách hàng.
2.4 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
- Là việc bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khichào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chứcphát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết
- Tổ chức phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhấtđịnh trên số tiền thu được từ đợt phát hành
Hiện nay trên thế giới có một số hình thưc bảo lãnh phát hành sau:+ Bảo lãnh cam kết chắc chắn: là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnhphát hành cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phốihết hay không
+ Bão lãnh cố gắng tối đa: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảolãnh thỏa thuận làm đại lý phát hành cho tổ chức phát hành Tổ chức bảo lãnhkhông cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng tối đa Sốchứng khoán còn lại nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành
+ Bảo lãnh tất cả hoặc không: là phương thức bảo lãnh mà theo đó, tổ chứcphát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải bán hết số chứng khoán dự định pháthành, nếu không phân phối hết sẽ hủy bỏ đợt phát hành Theo phương thức này,không có một sự bảo đảm đợt phát hành có thành công hay không, nên UBCKNNthường quy định số chứng khoán mà nhà đầu tư đã mua trong thời gian chào bán
sẽ được giữ bởi một người thứ ba để chờ kết quả cuối cùng của đợt phát hành Nếuđợt phát hành không thành công thì nhà đầu tư sẽ được trả lại toàn bộ số tiền đặtcọc
+ Bảo lãnh với hạn mức tối thiều: là phương thức kết hợp giữa phương thứcbảo lãnh cố gắng tối da và phương bảo lãnh tất cả hoặc không Theo phương thứcnày, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứngkhoán nhất định Nếu số lượng chứng khoán bán ra dưới hạn mức này thì đợt pháthành sẽ được hủy bỏ và toàn bộ tiền đặt cọc mua chứng khoán sẽ được trả lại chonhà đầu tư Đây là phương thức bảo lãnh tương đối hiệu quả, vừa bảo vệ lợi íchcho tổ chức phát hành, vừa hạn chế rủi ro cho tổ chức bảo lãnh
Trang 4Riêng tại Việt Nam hiện nay chỉ áp dụng hình thức bảo lãnh với cam kếtchắc chắn nhằm mục đích bảo vệ của nhà đầu tư và gắn kết trách nhiệm của cáccông ty chứng khoán Điều này gây ra một số khó khăn cho các công ty chứngkhoán trong việc triển khai nghiệp vụ này.
2.5 Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán
Là dịch vụ mà công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng trong lĩnhvực tư vấn đầu tư chứng khoán; tư vấn tái cơ cấu tài chính, chia, tách, sáp nhập,hợp nhất doanh nghiệp; tư vấn cho doanh nghiệp trong việc phát hành và niêm yếtchứng khoán
Đây là nghiệp vụ mà vốn của nó chính là kiến thức chuyên môn, kinhnghiệm nghề nghiệp của đội ngũ chuyên viên tư vấn của công ty chứng khoán
· Tư vấn tài chính (Tư vấn cho người phát hành):
Đây là một mảng hoạt động quan trọng mang lại nguồn thu tương đối caocho công ty chứng khoán Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải
ký hợp đồng với tổ chức được tư vấn và liên đới chịu trách nhiệm về nội dungtrong hồ sơ xin niêm yết Hoạt động này tương đối đa dạng bao gồm:
+ Xác định giá trị doanh nghiệp: là việc định giá các tài sản hữu hình và vôhình của doanh nghiệp trước khi chào bán chứng khoán
+ Tư vấn về loại chứng khoán phát hành: tùy theo điều kiện cụ thể của từngdoanh nghiệp như tình hình tài chính, chiến lược phát triển của công ty… mà xácđịnh loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu hay trái phiếu
+ Tư vấn chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiêp…: khi một doanhnghiệp muốn thâu tóm hay hợp nhất với một doanh nghiệp khác, họ tìm đến cáccông ty chứng khoán để nhờ trợ giúp về các vấn đề kỹ thuật, phương pháp tiếnhành sao cho phù hợp và đỡ tốn chi phí…
+ Tư vấn đầu tư chứng khoán: là việc các chuyên viên tư vấn sử dụng kiếnthức chuyên môn của mình để tư vấn cho nhà đầu tư về thời điểm mua bán chứngkhoán, loại chứng khoán mua bán, thời gian nắm giữ, tình hình diễn biến thịtrường, xu hướng giá cả… Theo quy định tại Việt Nam, khi thực hiện tư vấn đầu
tư chứng khoán cho khách hàng, các công ty chứng khoán và nhân viên kinhdoanh phải:
- Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp
Trang 5- Bảo đảm tính trung thực, khách quan và khoa học của hoạt động tư vấn.
- Không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và côngchúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của bất kỳ loại chứng khoán nào
- Không được có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật để dụ dỗ hay mờigọi khách hàng mua bán một loại chứng khoán nào đó
- Bảo mật các thông tin nhận được từ người sử dụng dịch vụ tư vấn trừtrường hợp đươc khách hàng đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động tư vấn và bồi thường thiệthại cho người sử dụng dịch vụ tư vấn khi vi phạm cam kết trong hợp đồng tư vấn
II – THỰC TRẠNG :
1.Giai đoạn 2000 – 2005
1.1.Số lượng và quy mô hoạt động của công ty chứng khoán
Ngày 28/11/1996, Chính phủ ra nghị định thành lập Ủy Ban Chứng khoánNhà Nước
Ngày 11/7/1998, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hai Trung tâmgiao dịch chứng khoán thuộc Ủy ban Chứng khoán nhà nước
20/07/2000 : Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM chính thức đi vàohoạt động với:
4 Cty chứng khoán :SSI với vốn điều lệ ban đầu là 6 tỷ đồng
2 cổ phiếu niêm yết : Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) và Công ty cổphần Cáp và Vật liệu viễn thông (Sacom) Một tuần chỉ có hai phiên giao dịch.Giátrị cổ phiếu niêm yết là 270 tỷ đồng (theo mệnh giá)
Trong những năm đầu, thị trường chứng khoán Việt Nam còn non nớt, sốnhà đầu tư tham gia thị trường còn ít, không nhiều cá nhân, tổ chức mặn mà vớiviệc thành lập các CTCK Thị trường chứng khoán phát triển chậm, không có biếnđộng lớn.Đến 05/05/2001 mới chỉ có 5 công ty niêm yết và 7 công ty kinh doanhchứng khoán hoạt động tại trung tâm giao dịch chứng khoán
Thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục phát triển chậm chạp trong cácnăm tiếp theo Số lượng các CTCK sau 3 năm thị trường hoạt động chỉ là 12 công
ty với tổng vốn điều lệ là 465 tỷ đồng, thực hiện tất cả các nghiệp vụ chứng khoán
Số lượng mã cổ phiếu được giao dịch trên thị trường không cao (73 mã) với giá trịvốn hóa không lớn Thị trường mới chỉ có 14000 nhà đầu tư Số nhà đầu tư là tổ
Trang 6chức và nhà đầu tư nước ngoài không lớn Tình trạng trên là do thị trường chứngkhoán chưa thực sự trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.Nhìn vào biểu đồ ta thấy chỉ số vn index không tăng mà thậm chí còn sụt giảmtrong 3 năm đầu.
Cũng trong năm 2005 trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội chính thức
đi vào hoạt động là một động lực lớn cho TTCK và cũng là một cơ hội lớn cho cáccông ty chứng khoán
Qua 5 năm hoạt động đã có 14 CTCK được thành lập và hoạt động trênTTCK Năm 2005, cả 14 công ty đều có lãi Các CTCK SSI, Bảo Việt, ACB,VCBS đều có mức lợi nhuận trên 30% Sự lớn mạnh của các CTCK không chỉthể hiện qua việc mở rộng quy mô hoạt động ra một số tỉnh-thành trong nước như
Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TPHCM, Bình Dương, Cần Thơ…, mà tiềm lực vềvốn và nguồn nhân lực cũng không ngừng gia tăng, góp phần nâng cao năng lựchoạt động của thị trường
Trang 7Chỉ tiêu 7/2005
Ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp
vụ lưu ký chứng khoán
5 (2 trong nước và 3 nước ngoài)
tư Nguồn vốn điều lệ của các CTCK đã lên tới trên 810 tỷ đồng, hoạt động kinhdoanh đã ổn định hơn sau một số năm đầu khó khăn, đến năm 2004 các CTCK đều
có lãi và đã thực hiện trích quỹ dự phòng tài chính để tăng vốn điều lệ
Cụ thể:
+ Về kết quả triển khai các hoạt động nghiệp vụ được cấp phép: CácCTCK đã chủ động triển khai mạnh hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp: cungcấp dịch vụ định giá doanh nghiệp, tư vấn cổ phần hoá, thực hiện đấu giá pháthành cổ phiếu qua CTCK, tư vấn niêm yết và phát hành bổ sung tăng vốn quaTTCK Trong năm 2004, các CTCK đã làm đại lý phát hành cổ phiếu cho gần 20công ty và tư vấn cổ phần hoá cho gần 100 doanh nghiệp, tư vấn niêm yết mới vàniêm yết bổ sung cho 10 doanh nghiệp, đây là đóng góp của các CTCK trong tiếntrình đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN của nhà nước
Trang 8Trong năm 2004 đã có 6/13 CTCK triển khai nghiệp vụ quản lý danh mụcđầu tư với tổng giá trị chứng khoán trong danh mục trên 240 tỷ đồng Bên cạnh
đó, các CTCK đã thực hiện bảo lãnh phát hành với tổng giá trị là 9.034 tỷ đồng
+ Về kết quả kinh doanh: Hầu hết các CTCK đều có lãi So với năm 2003doanh thu tự doanh tăng 8 lần (tự doanh trái phiếu chiếm 90% tổng giá trị tựdoanh), doanh thu môi giới tăng 3 lần và doanh thu tư vấn tăng 1,6 lần
+ Về tiềm năng phát triển: các CTCK bắt đầu xác định thế mạnh nghiệp vụcủa từng công ty Một số công ty đã thực hiện tăng vốn điều lệ (như Công ty cổphần chứng khoán Sài gòn, CTCK Ngân hàng Công thương)
+ Các tổ chức kinh doanh chứng khoán đã thành lập Hiệp hội để phối hợphoạt động giữa các hội viên và thúc đẩy phát triển TTCK, bước đầu đã tham gianghiệp vụ cho các nhân viên hành nghề
Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế và tồn tại:
- Khung pháp lý và chính sách phát triển thị trường ck cũng như các công
ty chứng khoán vẫn chưa hoàn thiện Chúng ta chưa có Luật Chứng khoán, hệthống các văn bản về chứng khoán và TTCK hiện hành có tính pháp lý chưa cao
và còn nhiều bất cập Các văn bản pháp quy ở mức thấp vì vậy không bao trùmđược hết phạm vi hoạt động của thị trường, chưa tạo ra được một thể chế hoànchỉnh theo nguyên lý vốn có của nó Điều này đã gây khó khăn cho các công tychứng khoán trong việc hoạt động cũng như chấp hành luật
- Quy mô của thị trường cổ phiếu nhỏ nên chưa thu hút các nhà đầu tư Với
30 CTNY mà đa phần là các doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ, tổng giá trị vốn hóathị trường cổ phiếu hiện chỉ vào khoảng 0,6% GDP (nếu tính cả trái phiếu thì tổnggiá trị niêm yết toàn thị trường là 30.800 tỷ đồng, chiếm 4,8% GDP), hãy còn quánhỏ để có thể đại diện cho nền kinh tế Quy mô nhỏ đã gây khó khăn cho các công
ty chứng khoán trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh.Hơn nữa “miếng bánhnhỏ” này lại bị các ông lớn như SSI,Bảo Việt … nắm giữ đa phần nên sẽ càng khókhăn cho các công ty nhỏ và mới
- Cơ chế hoạt động của TTCK chưa thực sự ổn định đã ảnh hưởng xấu đếncác công ty chứng khoán
- Năng lực trình độ của cán bộ quản lý, các nhân viên hành nghề chưa đápứng được với yêu cầu phát triển lâu dài của thị trường.Điều nãy cũng dễ hiểu vìTTCK VN là một thị trường non trẻ,thiếu kinh nghiệm
Trang 9- Máy móc thiết bị chưa hiện đại nên việc giám sát và thông tin của thịtrường không hiệu quả,hệ thống công nghệ thông tin còn ở trình độ thấp.
-Chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ trên TTCK chưa cao, tính minhbạch và hiệu quả còn hạn chế, thể hiện ở chất lượng công tác công bố thông tin,chất lượng hoạt động của TTGDCK cũng như các thành viên thị trường Các biểuhiện vi phạm trên thị trường ở một số CTCK cũng như công ty niêm yết đã ảnhhưởng đến lòng tin của công chúng đầu tư, các giải pháp phát triển thị trường chưađồng bộ
Nguyên nhân của tình trạng trên là do: tính chủ động, hiệu quả trong côngtác quản lý, giám sát hoạt động TTCK chưa cao Chưa có một chương trình hànhđộng thống nhất để phát huy vai trò và khả năng của các thành viên thị trườngtrong nỗ lực chung để phát triển TTCK, đặc biệt là vai trò phối kết hợp của các
Bộ, ngành, địa phương với cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và TTCKcòn hạn chế Đồng thời, năng lực và kinh nghiệm thực tiễn của cán bộ quản lýcũng như nhân viên hành nghề còn có hạn chế nhất định; chưa xây dựng và thựchiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của tổ chức và người kinh doanh chứngkhoán
và Tp Hồ Chí Minh So với nhu cầu giao dịch của nhà đầu tư, nhu cầu tư vấnCPH, niêm yết Việc phân tích một cách tương đối đơn giản các con số như trêncho thấy, sự gia tăng của số lượng các CTCK trong thời gian vừa qua có xu hướngphù hợp với xu hướng gia tăng của quy mô và hàng hóa trên thị trường Giá trị thịtrường tăng mạnh, số lượng hàng hóa lớn đòi hỏi một lực lượng trung gian thị
Trang 10trường mạnh có tiềm lực tài chính, công nghệ, chuyên môn tốt Mặt khác, khi thịtrường phát triển trong giai đoạn nóng, số lượng CTCK dù tăng nhanh vẫn chưathể đáp ứng được đòi hỏi giao dịch của nhà đầu tư, cũng như nhu cầu về tư vấn cổphần hóa (CPH), tư vấn niêm yết Năm 2001 chỉ có 8.700 tài khoản nhà đầu tư,năm 2006 tăng lên 72.700 tài khoản, năm 2007 là 303.980 tài khoản và đến đầunăm 2008 là 383.980 tài khoản Có thể thấy sự quá tải của các CTCK trong giaiđoạn 2006-2007 trong việc thực hiện các nghiệp vụ môi giới, tư vấn niêm yết Mặtkhác, số lượng CTCK tuy tăng nhưng về cơ bản, số lượng chi nhánh vẫn hạn chế(tính đến cuối 2007 chỉ có 45 chi nhánh/78 CTCK) So sánh với các nước, ví dụ tạiNhật Bản hay Hàn Quốc, các CTCK thường có và tiềm năng phát triển của thịtrường, thiết nghĩ với số lượng CTCK như hiện nay chưa phải là nhiều, nhất làtrong điều kiện thị trường phát triển mạnh, không bị sụt giảm như những năm
Số tài khoản giao dịch 303.980
Mức vốn hóa của thị trường 304.000 tỷ đồng (31%GDP)
2.1 Về quy mô vốn
Giá trị vốn hóa của thị trường tính đến hết năm 2006 tăng hơn 20 lần so vớinăm 2001, tăng gần 3 lần so với năm 2005 Trong giai đoạn này, mức tăng của sốlượng các CtyCK thấp hơn nhiều so với mức tăng của giá trị vốn hóa của thịtrường/GDP và số lượng CTNY Số lượng CtyNY cũng tăng gần 4 lần so với năm
2005 và đạt các chỉ tiêu tăng trưởng tốt TTCK thu hút được sự quan tâm của đôngđảo công chúng đầu tư và các thành phần kinh tế Giá cổ phiếu trên thị trường liêntục tăng trong một giai đoạn dài Bối cảnh chung nền kinh tế đạt tốc độ tăng