Chính sách mở cửa nền kinh tế và tích cực tham gia vào tiến trình khu vực hóa, toàncầu hoá đã mở ra nhiều cơ hội cho mặt hàng thủ công mỹ nghệ, việc xuất khẩu hàngTCMN đã thật sự thổi mộ
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 2
Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. 1.1 Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Đặc điểm của hàng TCMN 6
1.1.3 Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 8
1.2 Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 8
1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân 8
1.2.2 Đối với các doanh nghiệp 11
Chương II: Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu TCMN ở Việt Nam trong thời gian qua. 2.1 Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam 12
2.1.1 Thực trạng về sản xuất thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề 12
2.1.2 Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam 14
2.2 Mục tiêu xuất khẩu hàng TCMN năm 2010 20
Chương III: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN vào thị trường Thế giới. 3.1 Xu thế phát triển hàng thủ công mỹ nghệ 22
3.2 Các hạn chế và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN vào thị trường thế giới 23
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hướng vềxuất khẩu, tận dụng mọi nguồn lực sẵn có đồng thời từng bước tham gia hội nhập nềnkinh tế khu vực, kinh tế thế giới thì việc tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước
để phát triển những mặt hàng xuất khẩu là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiệnnay
Trong “Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 - 2010” của Bộ Thương mại, định
hướng phát triển nhóm hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) chiếm một vị trí rất quan trọng.
Hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu có sẵn trong nước,nguyên phụ liệu nhập khẩu chiếm trong sản phẩm thấp : 3-5% giá trị xuất khẩu Vì vậyTCMN là một trong số ngành được đánh giá có nhiều tiềm năng phát triển bền vững, xuấtkhẩu lớn và có tỷ suất lợi nhuận cao, không chỉ mang lại lợi ích thiết thực mà còn có ýnghĩa chính trị xã hội rộng lớn
Chính sách mở cửa nền kinh tế và tích cực tham gia vào tiến trình khu vực hóa, toàncầu hoá đã mở ra nhiều cơ hội cho mặt hàng thủ công mỹ nghệ, việc xuất khẩu hàngTCMN đã thật sự thổi một luồng sinh khí mới vào các làng nghề truyền thống, tạo công
ăn việc làm cho hàng triệu lao động đồng thời duy trì và phát triển được các ngành nghềtruyền thống với các nghệ nhân, thợ giỏi góp phần vào việc duy trì các di sản văn hoá dântộc từ đời này qua đời khác Trải qua những bước thăng trầm, hàng TCMN của Việt Namhiện đã có mặt trên 163 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, được nhiều người ưa chuộng.Tuy nhiên mức độ phát triển của ngành thủ công mỹ nghệ vẫn còn hạn chế so với tiềmnăng của nó: đặc biệt những năm gần đây doanh thu xuất khẩu của ngành thủ công mỹnghệ mặc dù có tăng trưởng nhưng vẫn không đạt được chỉ tiêu đề ra, ngoài một số mặthàng gốm sứ mỹ nghệ, các mặt hàng TCMN còn lại đã bộc lộ nhiều điểm yếu như mẫu
mã sản phẩm chậm cải tiến, thiếu mặt hàng mới, kiểu dòng sản phẩm không theo kịp tậpquán và thói quen của thị trường xuất khẩu …
Xuất phát từ ý tưởng đó cùng với những kiến thức đã học ở trường em chọn đề tài
“Một số giải pháp hỗ trợ và thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào thị trường thế giới” làm đề án môn học Kinh tế quốc tế.
Nội dung của đề án được chia làm 3 phần như sau:
Trang 3Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Chương II: Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN ở Việt Nam trong thời gian qua.
Chương III: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN vào thị trường Thế giới.
Trang 4Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU
HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ.
1.1 Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản.
Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đều cho thấy làng xã ViệtNam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sống nhân dân ở nông thôn.Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những lệ làng phép nước và phong tụctập quán ở nông thôn vẫn được duy trì đến ngày nay
Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời, nó thường gắn liền với nông nghiệp vàsản xuất nông thôn Theo kết quả nghiên cứu sử học, làng xã Việt Nam xuất hiện từ thờicác vua Hùng dựng nước, những xóm làng định canh đã hình thành, dựa trên cơ sở nhữngcông xã nông thôn Mỗi công xã gồm một số gia đình sống quây quần trong một khu vựcđịa giới nhất định Đồng thời là nơi gắn bó các thành viên với nhau bằng khế ước sinhhoạt cộng đồng, tâm thức tín ngưỡng, lễ hội, tập tục, luật lệ riêng nhằm liên kết với nhautrong quá trình sản xuất và đời sống
Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm nông nghiệp,càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau,khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành cácphường hội: phường gốm, phường đúc đồng, phường dệt vải… từ đó, các nghề được lantruyền và phát triển thành làng nghề Bên cạnh những người chuyên làm nghề thì đa phầnvừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề phụ Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, cácnghề mang tính chuyên môn sâu hơn và thường chỉ giới hạn trong quy mô nhỏ dần dầntách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công Những làng nghề phát triểnmạnh, số hộ, số lao động làm nghề truyền thống tăng nhanh và sống bằng nghề đó ngàycàng nhiều
Trang 5Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống và các sảnphẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh dân tộc Quá trình phát triển củalàng nghề là quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Lúc đầu sự pháttriển đó từ một vài gia đình rồi đến cả họ và lan ra cả làng Trải qua một quá trình lâu dàicủa lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có những nghề được gìn giữ, có những nghề bị mai mộthoặc mất hẳn và có những nghề mới ra đời Trong đó có những nghề đạt tới trình độ côngnghệ tinh xảo với kỹ thuật điêu luyện và phân công lao động khá cao.
Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã xuất hiện
từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta còn tồn tại cho đến ngày nay, bao gồm
cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiệnđại để hỗ trợ cho sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống
Như vậy từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu cụ thể về hàng thủ công mỹ nghệ như
sau: sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo
của từng vùng, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệthuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc vănhoá của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất ra chúng
Hàng thủ công mỹ nghệ bao gồm các nhóm hàng sau:
Trang 71.1.2.2 Tính mỹ thuật
Sản phẩm mang tính mỹ thuật cao, mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ là một tác phẩmnghệ thuật, được tạo ra từ những đôi tay khéo léo, vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trịthẩm mỹ Nhiều loại sản phẩm vừa là phục vụ tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà,đền chùa nơi công sở…các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinhxảo với sự sáng tạo nghệ thuật Các sản phẩm nổi bật nhờ sự tinh xảo qua các đường nétvăn hoá trạm trổ, hay những kiểu dáng mẫu mã độc đáo, tạo dáng tuyệt vời mặc dùnguyên liệu rất đơn giản có khi chỉ là một hòn đá, xơ dừa, mảnh gỗ … qua bàn tay tàihoa, khối óc và cả tấm lòng của các nghệ nhân đã trở thành các tác phẩm nghệ thuật cógiá trị
1.1.2.3 Tính đơn chiếc
Hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đều mang tính cá biệt và có sắc thái riêng củamỗi làng nghề Người ta có thể phân biệt được các loại sứ khác nhau nhờ các hoa văn,màu men, hoạ tiết trên sản phẩm, hay các sản phẩm gỗ mỹ nghệ thông qua các đường néttrạm trổ, cách thức thể hiện Bên cạnh đó, tính đơn chiếc có được là do hàng thủ công mỹnghệ Việt Nam mang hồn của dân tộc Việt Nam, mang nét văn hoá và bản sắc của dân tộcViệt Nam, chính vì vậy hàng của Trung Quốc hay Nhật bản cho dù có phong phú hay đadạng đến đâu cũng không thể có được những nét đặc trưng đó, cho dù kiểu dáng có thểgiống nhưng không thể mang “hồn” của dân tộc Việt Nam
1.1.2.4 Tính đa dạng
Tính đa dạng của sản phẩm thủ công mỹ nghệ thể hiện ở phương thức, nguyên liệulàm nên sản phẩm đó và chính nét văn hoá trong sản phẩm Nguyên liệu làm nên sảnphẩm có thể là gạch, đất, cói, dây chuối, xơ dừa…mỗi loại sẽ tạo nên một sản phẩm thủcông mỹ nghệ với những sắc thái khác nhau, cho người sử dụng có những cảm nhận khácnhau về sản phẩm Bên cạnh đó, tính đa dạng còn được thể hiện qua những nét văn hoátrên sản phẩm thủ công mỹ nghệ bởi vì mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ đêù mang nhữngnét văn hoá đặc trưng của từng vùng, từng thời đại sản xuất ra chúng
1.1.2.5 Tính thủ công
Trang 8Có thể cảm nhận ngay tính thủ công qua tên gọi của sản phẩm thủ công mỹ nghệ.Tính chất thủ công thể hiện ở công nghệ sản xuất, các sản phẩm đều là sự kết giao giữaphương pháp thủ công tinh xảo và sáng tạo nghệ thuật Chính đặc tính này tạo nên sựkhác biệt giữa sản phẩm thủ công mỹ nghệ và những sản phẩm công nghiệp hiện đại đượcsản xuất hàng loạt và ngày nay, cho dù không sánh kịp tính ích dụng của các sản phẩmnày nhưng sản phẩm thủ công mỹ nghệ luôn gây được sự yêu thích của người tiêu dùng.
1.1.3 Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác hàng hoá khác ở chỗ nó vừa có thể sử dụng vừa
có thể là vật trang trí, làm đẹp cho nhà cửa, văn phòng hay cũng có thể là đồ lưu niệm hấpdẫn trong mỗi chuyến du lịch của khách quốc tế Chính vì vậy, hàng thủ công mỹ nghệ cóthể được xuất khẩu ra nước ngoài theo 2 phương thức sau:
- Xuất khẩu tại chỗ: khi khách du lịch đến từ nước ngoài vào Việt Nam và mua hàng
thủ công mỹ nghệ sản xuất tại Việt Nam Với xu hướng phát triển của du lịch như hiệnnay, hình thức xuất khẩu này sẽ góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu hàng thủcông mỹ nghệ của Việt Nam hàng năm
- Xuất khẩu ra nước ngoài: là hình thức các doanh nghiệp bán hàng thủ công mỹ
nghệ cho các đối tác nước ngoài bằng cách mang hàng sang tận nơi bằng các phương tiệnvận tải khác nhau và phải chịu sự ràng buộc của một số thủ tục xuất khẩu nhất định
1.2 Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân.
* Tận dụng các nguyên liệu sẵn có mang về nguồn ngoại tệ
- Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là mặt hàng có truyền thống lâu đời của Việt Nam,được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác, đã đóng góp tích cực vào tổng kimngạch xuất khẩu chung của cả nước, đồng thời có vai trò quan trọng trong giải quyết một
số vấn đề kinh tế xã hội tại nông thôn Các mặt hàng này mức độ tăng trưởng bình quânkhá cao 20%/năm, với kim ngạch xuất khẩu đạt 300 triệu USD trong năm 2004 và đạt hơn
750 triệu USD vào năm 2007, năm 2008 mặc dù bị tác động của suy thoái kinh tế toàncầu nhưng kim ngạch xuất khẩu của cả nước cũng đạt gần 1 tỷ USD Thời gian qua, thị
Trang 9trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ ở nước ta ngày càng được mở rộng, nogài các nướcchủ yếu như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan Hiện hàng thủcông mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
- Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này mang lại giá trị gia tăng lớn đượccoi là 1 ngành hàng mũi nhọn để tập trung phát triển xuất khẩu trong những năm tới Sovới một số mặt hàng khác như may mặc, gỗ và giày da do nguyên liệu đều phải nhập khẩu
từ nước ngoài giá trị gia tăng của các ngành này chủ yếu là chi phí gia công và khấu haomáy móc thiết bị, cho nên giá trị thực thu ngoại tệ mang về cho đất nước chỉ chiếm một tỷtrọng từ 5-20% trong tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu Nhưng đối với mặt hàng này thìnguyên vật liệu lại được thu lượm từ phế liệu và thứ liệu của nông lâm mang lại hiệu quả
từ thực thu giá trị ngoại tệ rất cao Cứ 1 triệu USD xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệthì lãi gấp 5-10 lần so với ngành khai thác; giải quyết việc làm từ 3 đến 5 ngàn lao động,nhóm hàng thủ công mỹ nghệ được xếp vào nhóm sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn
và có tỉ suất lợi nhuận cao Ngoài ra, đây là mặt hàng được liệt vào danh sách 10 mặthàng có mức tăng trưởng cao nhất, vì đến nay hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã cómặt trên 100 nước và vùng lãnh thổ
- Bên cạnh đó TCMN đã giúp xã hội thu hồi một bộ phận chất thải nông nghiệp sauchế biến và thu hoạch, đã biến phế liệu trở thành những sản phẩm xuất khẩu, góp phầntích cực cho việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế đất nước
* Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng hiện đại hoá, tạo công ăn việc làm cho người lao động
- Tuy kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong những năm qua tuy khônglớn, nhưng lại có vai trò quan trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo công ăn việclàm cho lao động nhàn rỗi, người già, trẻ nhỏ góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn
- Xuất khẩu đã thực sự thổi một luồng sinh khí vào các làng nghề truyền thống, theoHiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nước ta có khoảng 2.000 làng nghề sản xuất trực tiếp
và gián tiếp các sản phẩm TCMN, với 1,4 triệu hộ gia đình (khoảng 13 triệu lao động) vàhơn 1.000 doanh nghiệp làm việc trong lĩnh vực này Sản xuất trên 300 chủng loại hàngvới bốn nhóm chính là: mây, tre, cói, lá, thảm; gốm sứ; thêu, ren, dệt; sản phẩm đá và kim
Trang 10loại quý Lao động của ngành này mặc dù chưa cao nhưng vẫn gấp 3-4 lần so với làmnông nghiệp.
- Nhờ có nguồn vốn thu được từ việc xuất khẩu, các làng nghề truyền thống Việt
Nam có điều kiện đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề và kỹ thuật cao cho ngành thủ công mỹnghệ
- Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn
mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động Khác với sản xuất nông nghiệp, sảnxuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự cung cấp thường xuyên trongviệc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽvới nhiều hình thức đa dạng và phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động.Như vậy, sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiệnđại hoá, mở rộng quy mô và địa bàn sản xúât, thu hút rất nhiều lao động Cho đến nay cơcấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40% cho nôngnghiệp
* Góp phần giữ gìn các giá trị văn hoá và ngành nghề truyền thống của dân tộc.
Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống luôn gắn liền với lịch sử phát triểnvăn hoá của dân tộc, nó là nhân tố tạo nên nền văn hoá ấy đồng thời là sự biểu hiện tậptrung nhất bản sắc của dân tộc
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ với tính độc đáo và độ tinh xảo của nó có ý nghĩarất lớn với nhu cầu đời sống của con người Những sản phẩm này là sự kết tinh, sự bảotồn các giá trị văn hoá lâu đời của dân tộc, là sự bảo lưu những văn hoa nghệ thuật và kỹthuật truyền từ đời này sang đời khác tạo nên những thế hệ nghệ nhân tài ba với nhữngsản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng Chính vì vậy xuất khẩu thủ công mỹ nghệ khôngnhững góp phần bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá của dân tộc Việt nam mà còn cónhằm quảng bá chúng trên khắp thế giới
1.2.2 Đối với các doanh nghiệp
Trang 11- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sảnphẩm do doanh nghiệp sản xuất ra Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của các doanh nghiệpkhông chỉ được khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở thị trường nước ngoài.
- Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ, qua đó nâng caokhả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trìnhphát triển
- Xuất khẩu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham gia xuấtkhẩu trong và ngoài nước Chính vì vậy, các doanh nghiệp buộc phải nâng cao chất lượnghàng hoá, tìm mọi cách để nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, từ đó tiết kiệmcác yếu tố đầu vào hay tiết kiệm nguồn lực
- Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động và tăngthêm thu nhập, ổn định đời sống cán bộ công nhân viên và tăng lợi nhuận cho doanhnghiệp
Chương II THỰC TRẠNG VỀ SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU TCMN Ở VIỆT NAM TRONG
THỜI GIAN QUA 2.1 Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam
Trang 122.1.1 Thực trạng về sản xuất thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề.
2.1.1.1 Tình hình sản xuất tại các làng nghề
- Mặc dù có trên 200 làng nghề, 1,4 triệu lao động và 1000 doanh nghiệp sản xuất
và kinh doanh hàng TCMN, nhưng đa số vẫn là các đơn vị vừa và nhỏ, quy mô sản xuấtmanh mún, nhà xưởng sản xuất còn thiếu và máy móc thiết bị phụ trợ sản xuất còn đơn
sơ, lạc hậu không đáp ứng được nhu cầu của những đơn hàng lớn, hoặc khi có đơn hànglớn lại gặp phải thiếu nguyên liệu, thiếu lao động, phải huy động các cơ sở gia công riêng
lẻ, dẫn đến chất lượng hàng hoá không ổn định, hoặc thời gian giao hàng kéo dài khôngđảm bảo được thời gian hợp đồng
- Sự liên kết giữa các nhà sản xuất và kinh doanh còn hạn chế, thiếu chiến lược cộngtác lâu dài Hợp tác giữa nhà kinh doanh và nhà sản xuất không được quan tâm, thiếu tincậy lẫn nhau: tranh mua tranh bán, làm giảm hiệu quả kinh doanh, chưa phát huy được thếmạnh của cộng đông Lực lượng lao động thiếu ổn định do thu nhập của ngành mỹ nghệcòn thấp so với các ngành khác Lao động sau đào tạo nghỉ việc tự lập cơ sở sản xuất hoặcchuyển qua các ngành có thu nhập cao, làm cho đơn vị sản xuất TCMN thường gặp khókhăn về lao động có tay nghệ
- Các đơn vị sản xuất nhỏ thường thiếu thông tin, thiếu vốn, khả năng tiếp thị và xúctiến thương mại rất hạn chế, hàng hoá nhiều lúc phải bán qua nhiều trung gian, làm chogiá bán thấp, sản xuất thiếu hiệu quả, không có khả năng đầu tư mở rộng nhà xưởng, muasắm trang bị và cải tiến máy móc thiết bị, hạn chế việc phát triển và nâng cao chất lượnglẫn số lượng sản phẩm Đặc biệt trong 2 năm qua, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu là một thử thách quá lớn với các làng nghề Làng nghề đã bộc lộ nhiều điểmyếu cần được khắc phục Trong năm 2008 và đầu năm 2009, thị trường xuất khẩu hàng
thiếu vốn đã là bài toán muôn thuở với các làng nghề (do doanh nghiệp và các hộ sản xuấtchủ yếu đi lên từ sản xuất nhỏ lẻ), cùng với việc không xuất khẩu được càng khiến khókhăn thêm chồng chất Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ gói kích cầu lần thứ nhất hồi đầu năm
2009 đã không đến được địa chỉ Theo Trung tâm hỗ trợ đầu tư phát triển làng nghề, cókhoảng 8% doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ không tiếp cận được vốn và
Trang 13có tới 70% cơ sở sản xuất, doanh nghiệp thuộc làng nghề không đủ điều điều kiện vay.Tính đến nay, có tới 50% làng nghề trên cả nước bị giải thể Tại Đồng Kỵ, Bắc Ninh, nơi
có 120 doanh nghiệp làng nghề chủ yếu sản xuất đồ gỗ, trong hơn một năm qua, cácdoanh nghiệp hầu hết phải ngừng sản xuất do thiếu vốn Hiện nay, phần lớn các doanhnghiệp làng nghề đều tự phải xoay sở để có vốn
2.1.1.2 Nguyên vật liệu cho sản xuất
- Hầu hết các làng nghề truyền thống đếu được hình thành xuất phát từ việc có sẵnnguồn nguyên liệu ngay tại địa phương Nhưng hiện nay do các địa phương đã khai thácbừa bãi, thiếu quy hoạch và đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu dẫn đến tình trạng nguồn:
gỗ, tre, trúc, giang, nứa, mây dần cạn kiệt Hệ quả là hiện các doanh nghiệp phải nhậpkhẩu khoảng 50% mây từ Lào, Cam phuchia và Indonesia Giá của nguyên liệu tre đãtăng lên từ 7000 tới 17000 đồng/cây chỉ trong vòng 2 năm gần đây Nhìn chung, tìnhtrạng cạn kiệt nguồn nguyên liệu thô là nguy cơ chung đối với các nhà sản xuất Việt Nam.Trong khi đó, các ngành phụ trợ của Việt Nam hiện nay chưa phát triển, các nhà xuấtkhẩu thường phải nhập rất nhiều loại nguyên liệu và phụ trợ từ nước ngoài, ví dụ như sơnmài PU và chất nhuộm màu để thực hiện các khâu hoàn thiện sản phẩm Vải có chấtlượng cho sản xuất hàng thêu ren hầu như phải nhập khẩu hoàn toàn làm chi phí chonguyên liệu chiếm từ 60 đến 80% chi phí sản xuất
2.1.1.3 Tình hình lao động tại các làng nghề
- Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của lao động vẫn còn thấp kém Laođộng thủ công chiếm chủ yếu nhưng trình độ học vấn của họ phần lớn chỉ đạt mức tốtnghiệp phổ thông trung học, thậm chí có người còn ở trình độ thấp hơn Trong khi đó, sốlao động lành nghề, thợ bậc cao và các nghệ nhân chỉ chiếm 2,1% Cán bộ quản lý, kỹthuật trình độ đại học còn ít Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển nghề cũng nhưtiếp nhận có hiệu quả sự đầu tư
- Bên cạnh đó là vấn đề dạy nghề, chủ yếu việc dạy nghề trước đây là theo phươngthức truyền nghề trong gia đình hoặc bí truyền nhằm bảo lưu nghề trong phạm vi làngnghề hay phố nghề Cách truyền nghề theo phương thức vừa học vừa làm như hiện nay có
ưu điểm là đào tạo được những người thợ giỏi, tài hoa song lại không đào tạo được đội
Trang 14ngũ lao đồng lành nghề đông đảo để đáp ứng nhu cầu phát triển của các làng nghề Đâycũng là một vấn đề bất cập hiện nay của làng nghề cần giải quyết.
2.1.2 Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
*Xuất khẩu ra nước ngoài
2.1.2.1 Kim ngạch xuất khẩu
Từ thế kỷ 11, hàng TCMN Việt Nam đã được xuất khẩu qua cảng Vân Đồn, VạnNinh Trải qua bao bước thăng trầm đến sau ngày đất nước thống nhất (1975), xuất khẩuhàng thủ công mỹ nghệ bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của mình Bình quântrong 10 năm (1976-1985) hàng thủ công mỹ nghệ chiếm 40% giá trị tổng kim ngạch cảnước, đỉnh cao năm 1979 chiếm 53,4% Xuất khẩu đã thổi một luồng sinh khí vào cáclàng nghề truyền thống như sơn mài Hạ Thái (Hà Tây), chạm khắc gỗ Vân Hà, thêu renSơn Tây, thảm len Tràng Kênh (Hải Phòng), gốm Bát Tràng, Thổ Hà, gốm sứ BìnhDương, Đồng Nai , chiếu cói Kim Sơn, đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng), tranh thêu ĐàLạt Sau khi mất thị trường Đông Âu và Liên Xô năm 1991, hàng thủ công mỹ nghệ đãtrải qua bao gian truân vất vả trong cơ chế mới để tổ chức lại sản xuất - kinhdoanh, chuyển đổi thị trường, tìm kiếm và xây dựng lại quan hệ bạn hàng Nhờ sự đổi mớitích cực đó mà những năm sau, nhóm hàng này trở lại thời kỳ hoàng kim Liên tục nhữngnăm gần đây mặt hàng TCMN đều có mức độ tăng trưởng khá cao, bình quân 20% trên 1năm, với kim ngạch xuất khẩu có những bước tiến dài và được xếp vào một trong 10 mặthàng xuất khẩu tiềm năng, dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh trong năm nay
Doanh thu xuất khẩu hàng năm của hàng thủ công truyền thống (Nghìn USD)
Trang 152.1.2.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Hàng TCMN có nhiều nhóm mặt hàng phong phú với mẫu mã riêng, kiểu dáng đẹp, Dưới đây là những nhóm mặt hàng chính:
- HÀNG GỐM SỨ
Hiện nay gốm sứ Việt Nam, nhất là những sản phẩm gốm ngoài vườn làm bằng tayđang rất được ưa chuộng trên thị trường châu Âu, vốn là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới Theo các thương nhân nước ngoài, chất lượng gốm sứ Việt Nam không thua kém cáccường quốc sản xuất khác như Italia, Trung Quốc, Malaysia
Do trình độ điêu khắc, tạo dáng sản phẩm tuyệt vời, với ưu điểm được làm bằng tay,chủng loại và chất liệu phong phú cho phép người mua hàng có nhiều lựa chọn từ hàngmen, không men, đất đỏ Các sản phẩm cũng đa dạng như chậu tròn, oval, vuông, chữnhật, hình thú, đôn, hũ, bình Điều này giúp khách hàng có một bộ sưu tập đầy đủ trongkhi họ chỉ có thể mua hàng đất đỏ tại Trung Quốc, hàng men dạng tròn tại Malaysia vàhàng cao cấp tại Italia
- HÀNG MÂY TRE LÁ