Vì vậy ở trong các trường nói chung và trường Đại học Hồng Đức nói riêng thì hoạt động tự học của sinh viên nắm vị trí vô cùng quan trọng chỉ có tự học, tự bồi dưỡng tri thức bằng nhiều
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1, Lý do chọn đề tài
Trong thời đại mà khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng như hiện nay nhà trường dù tốt đến mấy cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu học tập của người học cũng như đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội Vì vậy ở trong các trường nói chung và trường Đại học Hồng Đức nói riêng thì hoạt động tự học của sinh viên nắm vị trí vô cùng quan trọng chỉ có tự học, tự bồi dưỡng tri thức bằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau, mỗi sinh viên mới có thể bù đắp được những khiếm khuyết về tri thức khoa học và đời sống xã hội từ đó được sự tự tin trong cuộc sống, công việc, bởi năng lực toàn diện của mình Vấn đề tự học tự đào tạo của người học đã được Đảng và Nhà nước quan tâm quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua Nghị quyết Trung ương V khóa 8 từng nêu rõ: “Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh Bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”
Thực tế việc dạy học trong các trường sư phạm nói chung đang còn nhiều điểm tồn tại, việc dạy theo hệ thống tín chỉ với một lượng kiến thức lớn đòi hỏi sinh viên phải biết tổ chức tốt quá trình học của mình Bên cạnh tiếp cận tri thức, sinh viên còn phải học được cách thức làm việc độc lập, khoa học… Chính vì vậy, với mục đích “Vì trường Hồng Đức văn minh và phát triển bền vững” em xin chọn đề tài nghiên cứu :
“ QUÁ TRÌNH TỰ HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA SƯ PHẠM TOÁN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC.”
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các biện pháp tổ chức hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Hồng Đức nói chung và khoa Khoa học tự nhiên nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên trong quá trình đào tạo
Trang 23. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
a) Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động của sinh viên Trường đại học Hồng Đức
b) Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp tổ chức hoạt động tự học, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên trường đại học Hồng Đức
4. Giả thuyết khoa học:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả dạy – học ở các trường sư phạm nói chung và khoa Khoa học tự nhiên nói riêng, một trong những nguyên nhân
đó là do hoạt động tự học của sinh viên chưa được tổ chức một cách hợp lý Nếu
có được các biện pháp tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp, kết hợp với hoạt động tự học ở nhà và hoạt động ngoại khóa cho sinh viên theo hướng tích cực hóa hoạt động người học thì sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả tự học cho sinh viên Trường đại học Hồng Đức nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề tự học và tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên Trường đại học Hồng Đức
- Xây dựng hệ thống các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên và tiến hành thực nghiệm các biện pháp
6. Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trước hết cần xác định rõ khái niệm tự học là gì? Vị trí của hoạt động tự học đối với quá trình học tập nghiên cứu của mỗi người ra sao? Nội dung phương pháp tự học bao gồm những vấn đề nào? Đây là những vấn đề mà các nhà nghiên cứu đã dày công nghiên cứu từ lâu Tuy nhiên, cần nhận thức một điều rằng: do sự chi phối của điều kiện lịch sử mà việc vận dụng những tri thức cũng như phương pháp tự học trong những giai đoạn cần có sự khác nhau Nhất
là ở xã hội hiện tại, khi mà thông tin tri thức khoa học bùng nổ tràn ngập trên các phương tiện thông tin đại chúng, người học rất khó định hướng trong việc lựa chọn tri thức thì các phương pháp tự học là vô cùng quan trọng
1) Khái niệm tự học.
a) Tự học là gì?
Trong tập bài giảng chuyên đề “Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, đại học” Giáo sư – TSKH Thái Duy Tuyên viết “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó, hay những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”
Trong bài phát biểu tại hội thảo “Nâng cao chất lượng dạy học” tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình
và rèn luyện cho mình kỹ năng thực hành những tri thức ấy”
Từ những quan niệm trên đây ta có thể thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy, để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi sinh viên phải tự
Trang 4thân, nhận tri thức từ nhiều nguồn, tự thân rèn luyện các kĩ năng, tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc
b) Vị trí vai trò của tự học:
Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học
Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại xác định rõ: càng hoc lên cao thì tự học cần được coi trọng, nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi chính
la dạy tự học phương pháp tự học là cầu nối giữa tự học và nghiên cứu khoa học Bởi vì sinh viên không phải là học sinh cấp bốn Học cần có những thói quen nghiên cứu khoa học, mà để có được thói quen ấy thì không thể không thông qua tự học Muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải có khả năng phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra
Bồi dưỡng năng lực tự học là phương pháp tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập
Một trong những phẩm chất quan trong của mỗi cá nhân là tính tự giác tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh và một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó từ người học Bởi từ đó nền giáo dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong
xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập có hứng thú người học mới có được sự tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác Nó đảm bảo cho sự định hình tính độc lập trong học tập
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời , học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế xã hội Bằng con đường tự học mỗi
cá nhân sẽ cảm thấy không lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng nhanh với những
Trang 5tình huống mới lạ, kể cả thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng học, biết vận dụng linh hoạt thì sẽ tạo cho lòng ham học, nhòe đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao
Với những lí do trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được phương pháp
tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động, sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học
2 Nội dung của quá trình tự học.
Bàn về hoạt động tự học và phương pháp tổ chức cho sinh viên tự học như thế nào để có hiệu quả thiết thực là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản Ngoài việc tìm hiểu khái niệm, những vấn đề liên quan đến động cơ, thói quen học tập của sinh viên thì cần đến quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra nội dung cơ bản, các phương cách tối ưu rèn luyện phương pháp tự học cho sinh viên
Để đáp ứng yêu cầu nêu trên cần xác định rõ những yêu cầu cơ bản của hoạt động tự học như: Nội dung của hoạt động gồm mấy vấn đề, để tiếp cận nó cần tuân thủ những quy trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả các yêu cầu
ra sao Từ đó xây dựng những biện pháp tự học tích cực tương ứng
Với tất cả các lĩnh vực khoa học, việc tự học có những điểm chung, thóng nhất về cách thức cũng như phương pháp Đó là những vấn đề được xác định như sau:
a) Xây dựng động cơ học tập
Khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó ý thức tốt về nhu cầu học tập Người
tự học xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu tiên Bởi, thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng tùy tiện thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu Nhu cầu xã hội và thị trường lao động hiện đại đã đặt ra cho mỗi người những tố chất cần thiết chứ không phải là những điểm số đẹp, những chứng chỉ như vật trang sức vào đời mà không có thực tế vì động lực vì động cơ học tập lệch lạc Có những động cơ học tập tốt khiến cho người ta luôn tụ giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận
Trang 6Trong rất nhiều động cơ học tập của sinh viên, có thể tách thành hai nhóm
cơ bản:
- Các động cơ hứng thú nhận thức
- Các động cơ trách nhiệm trong học tập
Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi mà bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ, động và chứa nhiều yếu tố nghịch lí, tò mò Động cơ này sẽ xuất hiện thường xuyên khi được tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các biện pháp kích thích tự giác tích cực từ người học
Động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với
ý thức về ý nghĩa xã hội của sự học Giống như nghĩa vụ với Tổ quốc , trách nhiệm đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè…Từ đó sinh viên mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, tôn trọng mọi chế độ của xã hội và sự điều chỉnh của dư luận
Đối với phần đông sinh viên, việc tạm gác những thú vui, những trò giải trí hấp hẫn nhất thời để toàn tâm toàn sức cho việc học là hai điều có ranh giới
vô cung mỏng manh Nó đòi hỏi sự quyết tâm cao và một ý chí mạnh mẽ cùng nghị lực đủ để chiến thắng bản thân mình Đối với người trưởng thành, khi mục đích trở thành niềm vui thì việc xác định động cơ học tập nói chung không khó khăn như thế hệ trẻ, tuy nhiên không phải là hoàn toàn không có vì suy cho cùng phải biết kết hợp biện chứng giữa nội sinh và ngoại sinh, tức là hứng thú nhận thức, hứng thú trách nhiệm được đánh thức, khơi dậy trên cơ sở những điều kiện tốt từ bên ngoài Trong đó người thầy đóng vai trò chủ đạo
b) Xây dựng ké hoạch học tập
Đối với bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng Trong đó, kế hoạch phải được XĐ với tính hướng đích cao Tức là kế hoạch ngắn hạn, dài hơi thậm chí từng môn, từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời gian địa điểm, từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình Vấn đề kế tiếp là phải chọn dúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi
Trang 7là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc một cách hợp lý, logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết theo kế hoạch Điều
đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc tự học được trôi chảy thuận lợi
c) Tự mình nắm vững nội dung tri thức.
Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất khối lượng kiến thức và các kỹ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bền vững không… tùy thuộc vào nội lực của chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này Nó bao gồm các hoạt động:
- Tiếp cận thông tin: lựa chọn và tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được XĐ như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, hội thảo, quan sát, điều tra…
Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt Xã hội hiện đại đang khiến phần lớn sinh viên rời xa sách vở và chỉ quan tâm đến các phương tiện nghe nhìn khác Đơn giản vì nó thỏa mãn trí tò mò giúp cho tai nghe mắt thấy tức thời Đó là chưa kể đến sự nhiễu loạn thông tin mà nếu không vững vàng thì giới trẻ rất dễ sa ngã vào những cạm bẫy thiếu lành mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân cách tâm hồn trong lúc từ cổ chí kim muốn làm chủ tri thức nhân loại thì con đường tốt nhất của mọi người là đọc sách Đọc sách là phương pháp tự học rẻ tiền và hiệu quả nhất Khi làm việc với sách ta phải sử dụng năng lực tổng hợp toàn diện có sự xuất hiện của hoạt động trí não, một hoạt động tối ưu trong quá trình tự học Do vậy rèn luyện thói quen dọc sách là công việc không thể tách rời trong quá trình tự học Ngoài việc tiếp nhận tri thức còn phải biết đối thoại , gợi mở thắc mắc hay đề xuất những vấn đề cần lưu ý sau khi đọc sách, hoặc chí
ít là học cách viết, lỗi diễn đạt từ những cuốn sách hay Đó là cách đọc sáng tạo Khác với giải trí đơn giản hay cảm nhận thông thường
Trang 8- Xử lí thông tin: Việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quá trình này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…
- Vận dụng tri thức, thông tin trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa học đê giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành, bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch, báo cáo khoa học tổng thuật…
Sinh viên thường gặp rất nhiều khó khăn Có lúc tìm được một khối lượng lớn tư liệu nhưng việc tập hợp phân loại nội dung để kiến giải một đề tài không thục hiện được trong trường hợp này, cần khoanh vùng vấn đề trong một giới hạn đưng quá rộng Chỉ cần tập trung đào sâu một vấn đề nào đó, nhằm phát hiện ra cái mới, có giá trị thực tiễn là đáp ứng yêu cầu Trong khâu này việc lựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm ra cách thức tối ưu nhất do đối tượng nghiên cứu cũng rất cần thiết
- Trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri thức hay điền ngôn theo yêu cầu thông qua các hình thức hội thảo, báo cáo, khoa học, thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức Hoạt động này giúp người học có thể hình thành và phát triển kỹ năng trình bày (bằng lời nói, văn bản) cho người học, giúp người học chủ động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt
d) Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Việc nhìn nhận kết quả thực hiện bằng nhiều hình thức:
Dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của giáo viên, bản thân tự so sánh, đánh giá nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu… Tấ cả đều mang một ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thường xuyên Thông qua bó người học tự đối thoại để thẩm định mình, hiểu được cái gì chưa làm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy
Trang 9Vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập có hiệu quả nhất thiết sinh viên phải chủ động tự giác học tập bất cứ lúc nào có thể bằng chính năng lực của bản thân Ngoài ra rất cần tới vai trò cảu người thầy với
tư cách là ngoại lực trong việc trang bị cho sinh viên một hẹ thống tri thức kỹ năng, thái độ cùng với phương pháp tự hcoj cụ thể, khoa học Nhờ đó hoạt động
tự học, tự đào tạo của sinh viên mới đi vào chiều sâu thực chất
3 Tóm lược.
Tự học có vai trò ý nghĩa to lớn với bản thân sinh viên để hoàn thành nhiệm vụ học tập của họ đối với chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học – đào tạo trong nhà trường Tự học là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò của chủ thể trong quá trình nhận thức cảu sinh viên Trong quá trình đó, người học hoàn toàn chủ động và độc lập, tự tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ đạo, điều khiển của giáo viên
Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của mình, sinh viên cần tự rèn luyện phương pháp tự học, đay không chỉ là một phương pháp nâng cao hiệu quả học tập mà là một mục tiêu quan trọng của học tập
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC CÔNG TÁC TỰ HỌC Ở NHÀ CỦA SINH VIÊN KHOA SƯ PHẠM TOÁN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC.
1 Vấn đề thời gian trong việc tổ chức việc tự học ở nhà:
a) Khoảng thời gian dành cho việc tự học.
Phần lớn sinh viên khoa sư phạm toán đều dành thời gian tự học vào buổi tối ( khoảng từ 20h trở đi) vì thời gian trong ngày của các bạn là đa phần phải lên lớp
b) Thời gian biểu cho việc tự học ở nhà:
- Từ hệ thống các câu hỏi
+ Thời gian Anh(chị) giành cho việc tự học ở nhà trung bình mỗi ngày là bao nhiêu giờ ? Ở khoảng thời gian nào?
+ Các môn học thương được bố trí như thế nào trong thời gian tự học?
Trang 10Từ việc thống kê các câu trả lời có thể rút ra được những kết luận sau: + Đa số mọi người đều dành thời gian tự học từ 4-8h (khoảng thời gian từ 19h-23h) trong khi đó mỗi ngày lên lớp từ 5 tiết đến 9 tiết (4h-7h)
Do đó, có thể thấy số giờ của thời gian tự học ở nhà và thời gian trên lớp gần như tương đương nhau Vậy nên quỹ thời gian tự học của sinh viên khoa là gần như phù hợp với chương trình học
Do số lượng kiến thức của các môn học không giống nhau và độ khó khác nhau nên đa phần các sinh viên đều chia khoảng thời gian tự học cho các môn học không như nhau (thường các môn chuyên nghành Toán được ưu tiên trên khoảng thời gian lớn hơn)
- Từ điều tra trên ta có thể rút ra kết luận
Sinh viên của khoa đã sử dụng thời gian tương đối hợp lý với giò học buổi tối theo quy định Tuy nhiên vẫn còn một số sinh viên dành thòi gian tự học chưa đảm bảo yêu cầu, từ đó chúng ta cần duy trì tự học thật tốt, tránh những tác động của yếu tố bên ngoài
+ Sinh viên đã lập kế hoạch cho việc tự học tương đối hợp lý
+ Việc phân bố thời gian tương đối phù hợp với yêu cầu của môn học
2 Các phương pháp tự học thường được sử dụng:
a) Sử dụng các nguồn tài liệu như:
+ Vở ghi
+ Giáo trình
+ Các tài liệu tham khảo
Với việc sử dụng nguồn tài liệu là vở ghi: Đây là hình thức tự học mà các
bạn sinh viên hay sử dụng nhất Bên cạnh tính tích cực là ngắn gọn, dễ hiểu thì vẫn còn những mặt hạn chế như:
+ Do số tiết dạy ít mà lượng kiến thức lớn nên các thầy cô không thể truyền đạt hết, cũng như không thể mở rộng được kiến thức nên vở ghi thường chỉ ghi lại ý chính, không chuyên sâu Vì thế nếu như chỉ sử dụng tài liệu là vở ghi là không đủ