TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI *************** THUYẾT TRÌNH MÔN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ch ủ đề : KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA KHU VỰC CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***************
THUYẾT TRÌNH MÔN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Ch ủ đề :
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA KHU VỰC CÓ VỐN ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM HIỆN NAY.
Nhóm thực hiện: Nhóm 5
Lớp: CN 17D
Trang 2MỤC LỤC
I Khái quát chung
II Tình hình hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam
1 Một số khái niệm đáng chú ý
2 Điểm lại hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong 20 năm qua
3 Kết quả hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong những năm gần đây (2007 – 2008)
4 Một vài ý kiến so sánh
III Tác động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế
Việt Nam hiện nay
IV.Kết luận
Trang 3I Khái quát chung:
Ngày nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 51% nguồn tài chính nước ngoài của các nước đang phát triển năm 2006 và là nguồn tài chính nước ngoài lớn nhất kể từ năm
1994 cho công cuộc phát triển của các quốc gia này Tại Việt Nam, FDI đã đóng góp rất lớn cho quá trình phát triển kinh tế: tỷ lệ vốn đầu tư hiện chiếm khoảng 20% tổng số vốn đầu tư quốc gia hàng năm, gần ¼ tổng doanh thu với mức tăng trưởng trung bình năm 30% , và 60% kim ngạch xuất khẩu
Không còn nghi ngờ gì nữa từ hai thập niên qua, những kết quả của FDI là một trong những nhân tố hàng đầu đã đưa đất nước ta thoát ra khỏi tình trạng kinh tế suy thoái – hệ quả của thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Việc xem xét thành quả thực hiện của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam cũng cần được đặt trong mối tương quan với các khu vực khác như khu vực kinh tế nhà nước khu vực kinh tế tư nhân… để biết được hiệu quả cũng như sự tác động., ảnh hưởng của khu vực kinh tế này
Trong bài báo cáo thuyết trình này, với tầm nhìn và kiến thức hạn hẹp, nhóm thực hiện không có tham vọng đánh giá tổng thể về kết quả của khu vực kinh tế đầu tư trực tiếp nước ngoài mà chỉ dừng lại ở những phác thảo ban đầu, không tránh khỏi sự hời hợt và những khiếm khuyết, rất mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý thảo luận bổ sung của các bạn
* Mục tiêu:
- Khát quát tình hình hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
- Tìm hiểu những đóng góp của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay
II Tình hình hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam.
Trang 41 Một số khái niệm cần chú ý
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được hiểu là “việc nhà đầu tư nước ngoài đưa
vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư
theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài {Luật đầu tư nước ngoài, điều 2, khoản 1}.
Do đó, khái niệm Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là khu vực
mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào VN để tiến hành các hoạt động đầu tư tại các lĩnh vực và địa bàn khác nhau
2 Điểm lại hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong 20 năm qua (1988 – 2007).
Cùng với chủ trương mở cửa nền kinh tế, thực hiện công cuộc “đổi mới” toàn diện của Đảng, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã ra đời năm 1987, tạo môi trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Với việc coi khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, sau 20 năm thu hút đầu tư (1988-2007), VN đã gặt hái được những thành công ngoài mong đợi: đóng góp nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP, tạo công ăn việc làm Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm) Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD
3 Kết quả hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong những năm gần đây (2007 – 2008).
- Năm 2007, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp tổng vốn thực hiện đạt hơn 8 tỷ USD (trong đó dầu khí đạt 2,89 tỷ USD), vượt 4 tỷ USD so với báo cáo ban đầu (4,6 tỷ USD) Trong 8 tháng đầu năm, khu vực kinh tế này đạt 22,7 tỷ USD doanh thu, nộp ngân sách trên 1 tỷ USD
Trang 5-Trong 8 tháng đầu năm 2008, ước các doanh nghiệp ĐTNN đã góp vốn đầu tư thực hiện ước đạt 8 tỷ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, bên Việt Nam chiếm từ 10-12%
- Doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 8 tháng đầu năm 2008 ước đạt 30,4 tỷ USD, tăng 33,1% so với cùng kỳ năm trước; trong
đó giá trị xuất khẩu ước đạt 15,8 tỷ USD, tăng 28,0% so với cùng kỳ; nhập khẩu ước đạt 19,2 tỷ USD, tăng 41,3% so với cùng kỳ năm trước, nộp ngân sách ước đạt 1,4 tỷ USD, tăng 33,5% so với cùng kỳ
- Trong 8 tháng đầu năm 2008, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút thêm khoảng 18.000 lao động
4 Một vài ý kiến so sánh
- Nhìn lại kết quả hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn 1991 – 2007, có thể khu vực kinh tế này góp một phần đáng kể đối với sự phát triển kinh tế đất nước:
Giai đoạn Tăng
GDP(%)
Hệ số ICOR
Tăng việc làm(%)
Tăng xuất khẩu(%)
FDI/GDP (%)
Việt Nam
1991-2007
Nguồn: Tính toán từ Cơ sở dữ liệu chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới, ngoại trừ số liệu tăng trưởng việc làm lấy từ ADB và ICOR từ Thống kế tài chính quốc tế của IMF
- Báo cáo “Khu vực Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo” của CIEM, Trung tâm Thông tin và dự báo Bộ Kế hoạch Đầu tư cùng bản tham luận “Vai trò chủ đạo của kinh
tế nhà nước” do tiến sĩ Nguyễn Quang A đọc tại Hội thảo mùa hè 2008 tại Nha Trang đưa
ra nhiều so sánh thú vị, bất ngờ về kết quả của khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân Qua đó cũng thấy được vai trò của khu vực này đối với sự phát triển của nền kinh tế
Về vốn lao động:
Theo Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia, tổng lượng vốn đầu tư toàn
xã hội năm 2007 theo giá thực tế đạt 461,9 nghìn tỉ đồng Trong đó, khu vực có vốn đầu
Trang 6tư trực tiếp nước ngoài chiếm 74,1 nghìn tỉ đồng, chiếm 16%, khu vực ngoài nhà nước là 187,8 nghìn tỉ đồng chiếm 40,7%, khu vực Nhà nước là 200 nghìn tỉ đồng, chiếm 43,3%
Số vốn huy động hàng năm chiếm tỉ trọng cao trong GDP nhưng chủ yếu trong khu vực nhà nước Tuy nhiên, tỉ lệ đóng góp vào GDP của khu vực nhà nước lại không cân xứng, chỉ chiếm 37-39%
Về vốn kinh doanh:
Theo một nghiên cứu mới đây của Viện Quản lí kinh tế Trung ương (CIEM) tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam đã tăng nhanh trong thời gian qua.Tổng số vốn năm 2006 là 3062,7 nghìn tỉ đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2000 Về thành phần kinh
tế, trong cùng thời gian số vốn của Doanh nghiệp nhà nước đã tăng 2,4 lần (từ khoảng
670 ngàn tỉ đồng lên 1601 ngàn tỉ đồng), số vốn của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên khoảng 2,6 lần, từ khoảng 229,8 lên 604,6 ngàn tỉ đồng
Về tài sản cố định
Trong thời gian 2000 -2004, giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 2,3 lần, của doanh nghiệp nhà nước tăng 3,53 lần
Bảng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp (ngàn tỉ đồng)
Gía trị tăng thêm hằng năm
(Nguồn: Báo cáo CIEM)
Về đóng góp cho GDP
Trang 7Trong thời gian từ 2000 – 2004, đóng góp GDP của khu vực FDI tăng 1,28%, khu vực nhà nước tăng 1,02%
Bảng tỉ lệ đóng góp vào GDP (%)
Khu vực kinh tê nhà nước 38,52 38,40 39,38 39,08 39,10 38,40 37,32 Khu vực kinh tế tư nhân 48,20 47,84 47,86 46,45 45,77 45,61 45,66 Khu vực kinh tế FDI 13,27 13,76 13,76 14,47 15,13 15,99 17,02 Nguồn: Báo cáo của CIEM
Về tạo công ăn việc làm:
Năm 2006, tổng số lao động việc làm tại các doanh nghiệp là 6722,2 nghìn người, tăng 3184,7 nghìn người so với năm 2000 Trong đó, doanh nghiệp FDI tăng thêm 1037,7 nghìn người, doanh nghiệp tư nhân tăng lên 2329 nghìn, doanh nghiệp nhà nước giảm 181,5 nghìn người
Bảng lao động của các doanh nghiệp:
người 3537,5 3933,3 5770,7 6237,4 6722,2
Số lao động tăng thêm
hàng năm
Nghìn người
Nguồn: Báo cáo của CIEM
Rõ ràng, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và khu vực tư nhân sử dụng ít nguồn lực, hơn và phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh chưa thật bình đẳng, bị chèn ép nhưng vẫn tạo ra kết quả và thành tích cao hơn nhiều so với khu vực kinh tế nhà nước
Trang 8III Đánh giá hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
1 Đóng góp tích cực đối với nền kinh tế
Theo nhận định chung, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp phần đáng kể vào quá trình phát triền kinh tế đất nước, ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế, có tác động trên nhiều phương diện đối với sự phát triển của nền kinh tế:
1.1 Tạo ra nguồn vốn bổ xung quan trọng vào tổng nguồn vốn đầu tư xã hội đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế.
Hiện nay, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 16% trong tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp trên 17% GDP
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước GDP tăng liên tục qua các,trong đó:
- 5 năm 2001-2005: tốc độ tăng GDP đạt 7,5%
- Năm 2006 đạt 8,17%
- Năm 2007 đạt 8,48%
1.2 Nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp:
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém màu mỡ
1.3 Đổi mới công nghệ
Trang 9Đi cùng với những dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là các công nghệ tiên tiến được chuyển giao vào Việt Nam Nhờ đó đã phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy
Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực
1.4 Đóng góp đáng kể vào ngân sách và các cân đối vĩ mô:
Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư trưc tiếp nước ngoài tại Việt Nam, mức đóng góp của khu vực kinh tế này vào ngân sách ngày càng tăng Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp ĐTNN đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm Riêng 2 năm 2006 và 2007 khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã nộp ngân sách đạt trên 3 tỷ USD, và bằng 83% thời kỳ 2001-2005 8 tháng đầu năm 2008, nộp ngân sách 1.4 tỷ USD
Bên cạnh đó, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại
tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu
1.5 Tăng kim ngạch xuất khẩu
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Năm 2000, xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt chiếm 25% kim ngạch xuất khẩu cả nước, năm 2003 chiếm 31%; tính cả dầu thô thì tỷ trọng này đạt khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55% trong các năm 2005, 2006 và 2007
1.6 Góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm và thu nhập ổn định cho một
bộ phận dân cư, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực:
Trang 10Tính riêng 8 tháng đầu năm 2008, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút thêm khoảng 18.000 lao động, đưa tổng số lao động trong khu vực kinh tế này tính đến thời điểm này là 1,2 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp khác Theo kết quả điều tra của WB cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2-3 lao động gián tiếp phục vụ trong khu vực dịch vụ và xây dựng, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, tạo thu nhập ổn định, cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư
Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam đã từng bước hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, từng bước tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiên đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lý tiên tiến
Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam cũng đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để nâng cao hơn chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp này đã dần thay thế các chuyên gia nước ngoài trong đảm nhiệm các vị trí quản lý doanh nghiệp cũng như điều khiển các quy trình công nghệ hiện đại
2 Tác động tiêu cực.
Mặc dù khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều đóng góp tích cực cho nền kinh tế hiện nay nhưng khu vực kinh tế này cũng mang lại những tác động tiêu cực:
2.1 Ô nhiễm môi trường.
Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam, không lắp đặt thiết bị xử lý nước thải đúng tiêu chuẩn, tự ý
xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đối với nguồn nước và sức khỏe của người dân ở khu vực xung quanh Sử lý vấn đề ô nhiễm và chăm sóc y tế cho người dân sống trong khu vực bị ô nhiễm tạo gánh nặng cho nền kinh
Trang 112.2 Tăng thất nghiệp ở nông thôn, người dân ồ ạt ra thành phố tìm việc.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khi lựa chọn địa điểm
để triển khai dự án đầu tư thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi, do đó các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không, các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án nhất, đất nông nghiệp bị san lấp làm khu công nghiệp Trong giai đoạn 2002 – 2007, mỗi năm vùng đồng bằng Sông Hồng mất 7.500 ha đất/ năm, đã có khoảng 2 triệu hộ gia đình bị thu hồi đất 20% lao động ở nông thôn bị thất nghiệp, họ ồ ạt ra thành phố kiếm việc làm tạo sự quá tải cho các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
Trong khi đó, các tỉnh miền núi nơi đất nông nghiệp không nhiều vẫn chưa được các nhà đầu tư quan tâm
III Kết luận.
- Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, những đóng góp của khu vực này đôi với nền kinh tế hiện nay rõ ràng là vô cùng to lớn Nó minh chứng hùng hồn cho sự hội nhập sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới Mặc dù trong quá trình thực hiện, khu vực kinh tế FDI gặp một số khó khăn và hạn chế nhất định, song về cơ bản khu vực kinh tế này đã mang lại nhiều thành công cho nền kinh tế Việt Nam, đem lại nhiều lợi nhuận, doanh thu, việc làm và các yếu tố văn hóa xã hội khác
- Kết quả của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là những tiền đề quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện dại hóa ở Việt Nam,Những thành tựu và đóng góp đạt được sẽ là động lực mạnh mẽ giúp khu vực này tiếp tục phát triển, đứng vững, vượt qua những thách thức hiện nay và phát huy vai trò to lớn hơn nữa đối với nền kinh
tế Việt Nam
- Những phân tích ở trên đã chỉ cho chúng ta thấy những đóng góp của khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam Là khu vực có tốc độ tăng trưởng năng động nhất, là một trong những nhân tố quan trọng giúp kinh tế Việt nam thoát khỏi khủng hoảng thời kỳ trước, và hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập thực sự vào