Tuy nhiên, trong tình hình xuất khẩu cà phê Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu bão hòa tại các thị trường này do sự cạnh tranh gay gắt với các thương hiệu cà phê lớn trên thế giới và các quy đ
Trang 1CƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-*** -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế
XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG ANH
Họ và tên sinh viên: Triệu Lệ Quân
Mã sinh viên: 0852015220 Lớp: Anh 5
Khóa: 47 Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS Nguyễn Xuân Minh
TP HCM, tháng 4 năm 2012
MỤC LỤC
Ý KIẾN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦY MẠNH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ANH 4
1.1 Giới thiệu về thị trường cà phê tại Anh 4
1.1.1 Thị trường cà phê tại Anh 4
1.1.2 Một số quy định về nhập khẩu cà phê vào thị trường Anh 9
1.2 Sự cần thiết phải đầy mạnh xuất khẩu mặt hàng cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh 13
1.2.1 Lợi thế từ hoạt động sản xuất và xuất khẩu cà phê của Việt Nam 13
1.2.2 Tiềm năng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh 14
1.2.3 Quan hệ thương mại Việt Nam – Anh 14
1.3 Kinh nghiệm của Colombia về xuất khẩu cà phê sang thị trường Anh và bài học cho Việt Nam 16
1.3.1 Lý do chọn Colombia 16
1.3.2 Kinh nghiệm rút ra 16
1.3.3 Bài học cho Việt Nam 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ANH GIAI ĐOẠN 2006 – 2011 21
2.1 Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh giai đoạn 2006 – 2011 21
2.1.1 Khối lượng xuất khẩu 21
2.1.2 Kim ngạch xuất khẩu 23
2.1.3 Cơ cấu mặt hàng cà phê xuất khẩu 25
2.1.4 Chất lượng cà phê xuất khẩu 26
2.1.5 Giá cả xuất khẩu 28
2.1.6 Kênh phân phối xuất khẩu 30
2.1.7 Phương thức vận tải 31
2.1.8 Hoạt động quảng bá và xúc tiến xuất khẩu 31
2.1.9 Nguồn cung cà phê xuất khẩu tại Việt Nam 33
2.2 Đánh giá về thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh giai đoạn 2006 – 2011 38
2.2.1 Những thuận lợi và thành tựu đạt được 38
2.2.2 Hạn chế và thách thức 40
Trang 3THỊ TRƯỜNG ANH GIAI ĐOẠN 2012 – 2016 45
3.1 Cơ sở, quan điểm và mục tiêu đề xuất giải pháp 45
3.1.1 Cơ sở của việc đề xuất giải pháp 45
3.1.2 Quan điểm khi đề xuất giải pháp 50
3.1.3 Mục tiêu của giải pháp 52
3.2 Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Anh giai đoạn 2012 – 2016 52
3.2.1 Tăng cường liên kết bốn nhà 52
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam 55
3.2.3 Nhóm giải pháp ổn định nguồn cung hàng xuất khẩu 63
3.2.4 Nhóm giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại 65
3.2.5 Nhóm giải pháp tăng cường sự quản lý và điều phối của Nhà nước và Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam đối với hoạt động sản xuất và xuất khẩu cà phê 68
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 4
Trang 5
STT Từ viết tắt Nội dung
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT (Tiếng Anh)
1 CIF Cost, Insurance, and
Freight
Giá thành, bảo hiểm, và Cước phí
Organization
Tổ chức Lương Nông Liên hiệp quốc
Growers’ Federation (La Federación Nacional de Cafeteros de Colombia)
Liên đoàn Nông dân trồng
cà phê quốc gia Colombia
6 GSP The Generalized System of
Preferences
Hệ thống Ưu đãi Thuế suất phổ cập
7 HACCP Hazard Analysis and
Critical Ccontrol Points
Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn
11 ISO International Organization
for Standardization
Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hoá
Trang 6quốc tế
13 LIFFE London International
Financial Futures and Options Exchange
Thị trường kỳ hạn quốc tế Luân Đôn
phê
Advantage
Lợi thế so sánh biểu hiện
16 SPS Sanitary and Phytosanitary
measures
Quy định về Biện pháp kiểm dịch động thực vật
17 UKTI UK Trade & Investment Cơ quan thương mại và đầu
tư Anh
18 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế
giới
Trang 7STT Tên bảng biểu Trang Bảng 1.1. Cơ cấu mặt hàng cà phê nhập khẩu của Anh giai đoạn
2006 – 2011
7
Bảng 1.2. Biểu thuế nhập khẩu cà phê của vương quốc Anh 10
Bảng 1.3. Chỉ số RCA của cà phê Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011 13
Bảng 1.4. Số liệu thương mại giữa Việt Nam – Anh trong giai đoạn
Bảng 2.4. Tiêu chuẩn phân loại cà phê nhân theo TCVN 4193:2005 27
Bảng 2.5. Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam trong giai đoạn
2006 – 2011
34
Bảng 3.1 Dự báo sản lượng cà phê của một số nước xuất khẩu
chính trên thế giới niên vụ 2011/2012
45
Biểu đồ 1.1. Khối lượng nhập khẩu mặt hàng cà phê của vương quốc
Anh giai đoạn 2006 – 2011
5
Biểu đồ 1.2. Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng cà phê của vương quốc
Anh giai đoạn 2006 – 2011
6
Biểu đồ 1.3. Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng cà phê vào Anh
giai đoạn 2006 – 2011
9
Biểu đồ 2.1. Biến động giá cả cà phê thế giới giai đoạn 2006 – 2010 28
Biểu đồ 2.2. Giá xuất khẩu trung bình của Cà phê thô Việt Nam, niên
vụ 1990/1991 – 2010/2011
29
Biểu đồ 3.1 Lượng tiêu thụ cà phê tại Anh giai đoạn 2006 – 2010 49
Sơ đồ 2.1 Kênh phân phối cà phê tại thị trường Anh 30
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007, tình hình thương mại của Việt Nam đã có nhiều thuận lợi và bước tiến rõ rệt Đặc biệt, năm 2011 chứng kiến sự hồi phục của nền kinh tế thế giới nói chung, cũng như nền kinh tế Việt Nam nói riêng Trong năm này, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 96,91 tỷ USD, tăng 34,2% so với năm 2010 và vượt 22% so với kế hoạch đặt ra của năm 2011; trong đó, xuất khẩu cà phê Việt Nam đóng góp 2,75 tỷ USD, tăng 48,7% so với năm 2010 Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan Việt Nam, cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ đạo, chiếm 20% trong tổng giá trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam, đứng vị trí thứ ba sau mặt hàng gạo
và cao su (Thống kê hải quan, 2012) Các thị trường xuất khẩu truyền thống của cà phê Việt nam như Hoa Kỳ, Đức, Bỉ và Italia đạt giá trị cao và có mức tăng trưởng khá ổn định qua các năm Tuy nhiên, trong tình hình xuất khẩu cà phê Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu bão hòa tại các thị trường này do sự cạnh tranh gay gắt với các thương hiệu cà phê lớn trên thế giới và các quy định khắt khe về hàng nhập khẩu cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm tại các quốc gia này, điều cần thiết cho các nhà xuất khẩu Việt Nam hiện nay là định hướng xuất khẩu đến các thị trường mới hơn,
có tiềm năng phát triển trong thời gian tới
Thị trường Anh là thị trường phát triển và là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam tại Liên minh châu Âu Trong những năm qua, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Anh có xu hướng không ngừng gia tăng; trong
đó, cà phê là một trong những mặt hàng có tiềm năng lớn khi xuất khẩu sang thị trường này Theo số liệu thu thập từ Tổ chức Cà phê thế giới, bình quân đầu người tại anh tiêu thụ khoảng 3 kg cà phê trong năm 2010 Hơn nữa, nhu cầu nhập khẩu cà phê của Anh là rất lớn do điều kiện tự nhiên tại quốc gia này không đáp ứng tốt cho việc canh tác cà phê Hiện Anh đang nhập khẩu ròng về cà phê từ các quốc gia như Đức, Colombia, Brazil, Netherlands, và Việt Nam Nhìn chung, thị trường Anh không tồn tại nhiều rào cản thương mại, ngoại trừ các luật lệ và quy định áp dụng chung cho các thành viên thuộc khối Liên minh châu Âu Tuy nhiên, Anh đặc biệt chú trọng đến vấn đề chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, và bao gói, nhãn mác
Trang 9cho hàng hóa nhập khẩu Điều đáng mừng là Việt Nam cho đến nay chưa gặp phải nhiều vướng mắc từ những quy định nêu trên Từ những đặc điểm nêu trên, thị trường Anh sẽ là một trong những thị trường mục tiêu đầy tiềm năng cho cà phê Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh giai đoạn 2006 – 2011, từ đó đề ra giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường này giai đoạn 2012 – 2016
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động xuất khẩu cà phê củaViệt Nam sang thị trường Anh
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: xuất khẩu cà phê từ Việt Nam sang Anh
- Thời gian: thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh trong giai đoạn 2006 – 2011 và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam sang Anh trong giai đoạn 2012 – 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, diễn giải, thống
kê, so sánh và đánh giá số liệu thứ cấp từ các sách báo, tạp chí, và Internet
5 Kết cấu khóa luận
Để đạt được mục đích nghiên cứu, ngoài mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được thực hiện bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh
và sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh
- Chương 2: Thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Anh giai đoạn 2006 – 2011
- Chương 3: Đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Anh giai đoạn 2012 – 2016
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS., TS Nguyễn Xuân Minh đã
Trang 10tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện khóa luận Đồng thời, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy giáo, cô giáo trường Đại học Ngoại thương đã tận tình giảng dạy trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Ý thức được tầm quan trọng của việc thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tác giả
đã chú ý đầu tư nghiêm túc để nghiên cứu và tìm hiểu Tuy nhiên, do sự hạn chế về thời gian chuẩn bị, nguồn tài liệu tham khảo, năng lực chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên khóa luận không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến của quý thầy cô giáo và người đọc để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Sinh viên thực hiện
Triệu Lệ Quân
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦY MẠNH MẶT HÀNG CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ANH
1.1 Giới thiệu về thị trường cà phê tại Anh
1.1.1 Thị trường cà phê tại Anh
1.1.1.1 Tập quán và thị hiếu tiêu dùng
Mặc dù cà phê xuất hiện tại Anh từ thế kỷ 16, nhưng người Anh chỉ chính thức biết đến loại thức uống này từ thập kỷ 50 Tuy nhiên, loại cà phê được bày bán trên thị trường bấy giờ hầu hết có chất lượng từ kém đến trung bình Lý do chính cho việc thiếu thốn nguồn hàng cà phê chất lượng cao là do Anh vẫn còn một số hạn chế
về thương mại bằng đồng đô la Mỹ; vì vậy, nguồn cà phê chủ yếu của Anh được nhập từ Brazil bằng phương thức hàng đổi hàng (Richard Clark, 1994, tr.1, 2)
Văn hóa cà phê chính thức tồn tại ở Anh từ những năm cuối thập niên 80 Vào lúc này, người tiêu dùng Anh bắt đầu mua và thưởng thức những loại cà phê chất lượng cao, các loại cà phê hòa tan, và cà phê trở thành thức uống phổ biến khi họ gặp gỡ bạn bè sau giờ làm và những khi rảnh rỗi Trong giai đoạn này, người dân Anh tiêu thụ cà phê rang là chính (Richard Clark, 1994, tr.4)
Trong những thập kỉ vừa qua, mặc dù trà vẫn là thức uống chính của người dân nước Anh, nhưng sự thay đổi của thời đại đã khiến cà phê ngày càng được ưa chuộng và đã trở thành thức uống không thể thiếu tại các hộ gia đình, văn phòng làm việc ở Anh Quốc Theo ước tính, người dân Anh Quốc tiêu thụ 70 triệu ly cà phê mỗi ngày Theo báo cáo của Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO), tính theo bình quân đầu người năm 2010, mỗi người dân nước Anh tiêu thụ đến 3kg cà phê, chủ yếu là cà phê hòa tan Cà phê hiện nay vẫn đóng vai trò là loại thức uống công nghiệp Đối với người Anh, họ chủ yếu vẫn giữ thói quen pha thức uống tại nhà Tuy nhiên, sự ra đời của các máy pha cà phê thế hệ mới đã góp phần làm cho việc pha cà phê tại nhà trở nên dễ dàng hơn, và vì vậy, lượng tiêu dùng cà phê rang xay cũng có xu hướng tăng trong những năm qua (International Coffee Council, 2011, tr.11, 12)
Nằm trong khu vực các nước có nền kinh tế phát triển, người tiêu dùng Anh thuộc nhóm những người tiêu dùng khó tính Họ có yêu cầu cao về chất lượng cà
Trang 12phê, và quan tâm đặc biệt đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như các vấn
đề về nhãn mác sản phẩm hay bảo vệ môi trường; hơn nữa, để thay đổi thói quen và
tư duy tiêu dùng của họ là một việc hết sức khó khăn (The Guardian News, 2011)
1.1.1.2 Khối lượng nhập khẩu
Biểu đồ 1.1 Khối lượng nhập khẩu mặt hàng cà phê của vương quốc Anh giai
đoạn 2006 – 2011
(Đơn vị tính: tấn)
(Nguồn:Tác giả tổng hợp từ số liệu thương mại giữa các nước của Tổng cục Thống
kê Liên hiệp quốc)
Anh là một trong những nước tiêu thụ và nhập khẩu cà phê khối lượng lớn trên thế giới Mặc dù khối lượng nhập khẩu có nhiều biến động nhưng nhìn chung có xu hướng tăng trưởng qua các năm Năm 2007, khối lượng cà phê nhập khẩu của Anh giảm 6,23% so với năm 2006 do giá cà phê thế giới tăng lên đáng kể Tuy nhiên, thị trường cà phê nhanh chóng hồi phục trong giai đoạn 2007 – 2010 Theo đó, khối lượng cà phê các loại nhập khẩu tại Anh tăng từ 2,93% đến 12,35% Trong đó, năm
2008 và năm 2009 lần lượt có tỷ lệ tăng ở mức tương đối cao nhất và thấp nhất so với năm trước tính cho cả giai đoạn Năm 2011, lượng nhập khẩu cà phê tại Anh có
xu hướng giảm nhẹ so với năm trước; trên thực tế, con số này dừng lại ở mức 2,71%
1.1.1.3 Kim ngạch nhập khẩu
Biểu đồ 1.2 Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng cà phê của vương quốc Anh giai
đoạn 2006 – 2011
(Đơn vị tính: 1000 USD)
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu thương mại giữa các nước của Tổng cục
Thống kê Liên hiệp quốc giai đoạn 2006 – 2011)
Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng cà phê các loại tại Anh có xu hướng tăng giảm không ổn định trong giai đoạn 2006 – 2011, chủ yếu do ảnh hưởng bởi giá cà phê trên thế giới Trong giai đoạn 2006 – 2007, tuy khối lượng nhập khẩu tại Anh có xu hướng giảm, nhưng giá cà phê trên thế giới tăng đáng kể khiến cho kim ngạch nhập
Trang 13khẩu mặt hàng này tăng tương ứng 15,16%, và kim ngạch nhập khẩu cà phê vào Anh tiếp tục tăng 30,18% trong giai đoạn 2007 – 2008 Tuy nhiên, một lần nữa, giá
cà phê trên thế giới đã tác động đến kim ngạch nhập khẩu cà phê tại quốc gia này, khiến kim ngạch nhập khẩu giảm 5,52% trong giai đoạn 2008 – 2009 tương ứng với sự sụt giảm về giá, mặc dù khối lượng nhập khẩu vẫn trên đà tăng trưởng Trong giai đoạn 2009 – 2010, kim ngạch nhập khẩu tăng 14,88% là kết quả của việc tăng lên đồng thời của khối lượng nhập khẩu và giá cà phê trên thế giới Năm 2011 là năm bội thu của ngành cà phê thế giới do sản lượng và giá cả tăng cao Mặc dù lượng cà phê nhập khẩu vào Anh trong năm này có dấu hiệu giảm sút, nhưng kim ngạch nhập khẩu tăng lên mạnh mẽ, vượt 39,31% so với năm trước
1.1.1.4 Cơ cấu mặt hàng cà phê nhập khẩu
Mặt hàng cà phê nhập khẩu tại Anh bao gồm 5 loại, được phân chia theo Hệ thống mã HS năm 2007, trong đó quy định:
090111: Cà phê chưa rang, chưa khử chất cafein
090112: Cà phê chưa rang, đã khử chất cafein
090121: Cà phê rang, chưa khử chất cafein
090122: Cà phê rang, đã khử chất cafein
Trang 14Tổng
cộng
Khối lượng 157.309 147.507 165.732 170.588 178.523 173.681
(Nguồn:Tác giả tổng hợp từ số liệu thương mại giữa các nước của Tổng cục Thống
kê Liên hiệp quốc giai đoạn 2006 – 2011)
Nhìn chung, cơ cấu mặt hàng cà phê nhập khẩu tại Anh giai đoạn 2006 – 2011 thay đổi không đáng kể, chủ yếu là nhập cà phê dưới dạng thô, chưa qua chế biến hoặc chỉ qua chế biến đơn giản Sản phẩm đầu ra đến với người tiêu dùng thường thông qua các nhà máy rang xay, các cửa hàng bán lẻ, hoặc các siêu thị Các loại cà phê chưa khử chất cafein chiếm hơn 95% tỷ trọng nhập khẩu của Anh trong giai đoạn này; cụ thể, loại cà phê chưa rang, chưa khử chất cafein chiếm hơn 70% và loại cà phê rang, chưa khử chất cafein chiếm từ 14,66% đến 23,35% trong tỷ trọng nhập khẩu cà phê của Anh trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2011 Trong khi đó, loại cà phê chưa rang, đã khử chất cafein chỉ chiếm trung bình 2% tỷ trọng nhập khẩu của Anh Mặt khác, loại cà phê rang, đã khử chất cafein và các dạng khác của
cà phê cũng chỉ đóng góp dưới 1,5% tỷ trọng nhập khẩu đối với từng loại mặt hàng trong giai đoạn 2006 – 2011
Ngoại trừ khối lượng nhập khẩu loại cà phê chưa rang, đã khử chất cafein có
xu hướng tăng dần qua các năm, các loại cà phê còn loại có xu hướng tăng giảm không ổn định; tuy nhiên, không làm thay đổi cơ cấu chung trong giai đoạn 2006 –
2011 Ngoài ra, Việt nam cũng có xuất khẩu mặt hàng cà phê hòa tan sang thị trường Anh; tuy nhiên, lượng xuất khẩu này chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng khối lượng cà phê xuất khẩu từ Việt Nam sang Anh
1.1.1.5 Nguồn cung cà phê trên thị trường Anh
Do điều kiện tự nhiên không phù hợp với việc trồng trọt, mặt hàng cà phê phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và cả cho mục đích tái xuất khẩu ở Anh chủ yếu vẫn
là nhập khẩu từ các nước sản xuất và xuất khẩu như Colombia, Brazil, Việt Nam, Indonesia… và các nước nhập khẩu để tái xuất như Đức, Netherlands, Italia… Trong đó, Đức đứng đầu trong danh sách các nhà xuất khẩu cà phê sang Anh, chiếm 13,3%, do vị trí địa lý thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa Hơn nữa, Liên minh châu
Âu có chính sách giảm rào cản, và thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các nước thành viên để tăng sức cạnh tranh chung của toàn khối Ba nhà xuất khẩu cà
Trang 15phê hàng đầu thế giới cũng có mặt trong danh sách 5 đối tác xuất khẩu cà phê lớn nhất của Anh, theo đó, kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam chiếm 8,61% tỷ trọng Nếu theo đuổi chính sách đầu tư và phát triển ngành cà phê hợp lý, Việt nam hoàn toàn có khả năng thăng hạng trong thời gian tới
Biểu đồ 1.3 Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng cà phê vào Anh giai đoạn
2006 – 2011
(Nguồn:Tác giả tổng hợp từ số liệu thương mại giữa các nước của Tổng cục Thống
kê Liên hiệp quốc giai đoạn 2006 – 2011)
1.1.2 Một số quy định về nhập khẩu cà phê vào thị trường Anh
1.1.2.1 Hàng rào thuế quan
Ngoài biểu thuế áp dụng chung cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước không phải là thành viên Liên minh châu Âu (EU), hiện nay, Anh cũng áp dụng Hệ thống
Ưu đãi Thuế suất phổ cập (GSP) cho một số mặt hàng có xuất xứ từ các nước đang
và kém phát triển Theo đó, mặt hàng cà phê xuất khẩu của Việt Nam được hưởng
ưu đãi theo mức GSP tiêu chuẩn, có hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2013 Do
đó, thuế suất áp dụng cho cà phê nhập khẩu từ Việt Nam sẽ thấp hơn so với mức thuế thông thường áp dụng cho mặt hàng này Hơn nữa, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu cà phê thô sang Anh – mặt hàng mà hầu như không chịu sự tác động của thuế nhập khẩu Chính điều này đã giúp gia tăng năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam
Bảng 1.2 Biểu thuế nhập khẩu cà phê của vương quốc Anh
(Đơn vị tính: %)
thông thường
Thuế ưu đãi GSP
090111 Cà phê chưa rang, chưa khử chất cafein 0 0
090112 Cà phê chưa rang, đã khử chất cafein 8.3 4.8
Trang 1609019090 Các chất thay thế có chứa cà phê 11.5 8
(Nguồn:European Commission Taxation and Customs Union, TARIC measure
information, 2011)
1.1.2.2 Hàng rào phi thuế quan
Quy định về tiêu chuẩn chất lượng
Cũng như các nhà nhập khẩu khác trong khối EU, vương quốc Anh áp dụng hệ thống quản lý ISO cho hầu hết các mặt hàng nhập khẩu Hệ thống quản lý chất lượng này được Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) xây dựng nhằm giúp cho các quốc gia nâng cao việc quản lý chất lượng sản phẩm vả đảm bảo duy trì sự đồng nhất về chất lượng sản phẩm cung cấp cho người tiêu dùng trên thế giới Hiện nay, hàng hóa nhập khẩu vào Anh cần đáp ứng được các yêu cầu theo tiêu chuẩn ISO 9000:2005 hiện hành
Ngoài ra, Anh hiện nay cũng áp dụng tiêu chuẩn ISO 10470:2004 cho mặt hàng cà phê chưa rang Theo ISO 10470:2004, chất lượng cà phê được quyết định dựa trên khối lượng hạt lỗi có trong cà phê gồm hạt đen, hạt nâu và hạt vỡ Theo đó, quy chuẩn TCVN 4193: 2005 của Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với các hệ thống tiêu chuẩn đã nêu Hơn nữa, vấn đề môi trường cũng là một trong những tiêu chuẩn đặt ra cho các nhà xuất khẩu cà phê vào thị trường Anh khi yêu cầu về cà phê
có Chứng nhận ngày càng trở nên phổ biến như: Organic (Chứng nhận cà phê được trồng hữu cơ, thân thiện với môi trường), 4C hay UTZ Certified (Bộ nguyên tắc sản xuất và chế biến cà phê theo phương pháp bền vững) Các tiêu chuẩn này tuy không bắt buộc nhưng sẽ trở thành ưu thế của các nhà xuất khẩu cà phê trên thế giới (International Trade Centre, 2010)
Quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
Là một thị trường tương đối khó tính trong nhóm thị trường EU, vương quốc Anh đặc biệt chú trọng đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe
và lợi ích cho người tiêu dùng của quốc gia này Theo đó, các nhà nhập khẩu Anh quy định chặt chẽ về việc nhập khẩu hàng hóa tuân thủ nghiêm ngặt quy định SPS
về Biện pháp kiểm dịch động thực vật của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) áp dụng cho các quốc gia thành viên Hàng hóa nhập khẩu vào Anh phải được chứng nhận đáp ứng tiêu chuẩn HACCP – hệ thống quản lý vấn đề an toàn thực phẩm
Trang 17thông qua hệ thống phân tích, xác định và tổ chức kiểm soát các mối nguy trọng yếu trong quá trình sản xuất và chế biến thực phẩm – để đảm bảo chất lượng sản phẩm được quản lý chặt chẽ trong quá trình sản xuất theo quy định EC 852/2004 Ngoài
ra, các loại mặt hàng trên thị trường Anh còn chịu sự ràng buộc của các nguyên tắc chung và yêu cầu của luật thực phẩm theo quy định EC 178/2002 và các văn bản khác quy định mức dư lượng hóa chất tối đa cho phép trong thực phẩm (Digby Gascoine, Lê Thanh Hòa và Nguyễn Tử Cương, 2009, tr.7)
Năm 2005, Ủy ban châu Âu đã ban hành văn bản EC No.123/2005, thay thế cho văn bản EC No.466/2001 trước đây quy định về ngưỡng Ochratoxyn A (OTA) tối đa trong cà phê, áp dụng cho các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu, trong đó có Anh kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2005 Hiện nay, Ochratoxyn A (OTA) được biết như một loại nấm mốc có khả năng gây ung thư cho con người; theo đó, hàm lượng Ochratoxyn tối đa được phép có trong cà phê nhân rang là 5 phần tỷ, và trong cà phê hòa tan là 10 phần tỷ (International Coffee Organization, 2005)
Quy định về bao gói và nhãn mác
Vương quốc Anh cũng là một trong những quốc gia có quy định khắt khe về vấn đề bao gói và nhãn mác của hàng hóa nhập khẩu Theo đó, tất cả hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt đối với những hàng hóa không có xuất xứ từ châu Âu, phải có nhãn mác gắn với mặt hàng tương ứng và phải ghi rõ nguồn gốc, cân nặng, kích thước và thành phần cấu tạo của sản phẩm nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Trong trường hợp nhãn mác không thể gắn hoặc đóng dấu trực tiếp trên sản phẩm thì thông tin hàng hóa phải được thể hiện rõ trên phiếu đóng gói đi kèm hoặc ghi trên tờ giấy riêng để giải thích thông tin về hàng hóa Riêng đối với mặt hàng cà phê đã qua chế biến như cà phê rang xay, cà phê hòa tan, hay cà phê đóng lon, nhãn mác gắn với hàng hóa phải thể hiện đầy đủ tên sản phẩm, nhãn mác, danh mục thành phẩm, thành phần, trọng lượng tịnh, thời gian và cách sử dụng, địa chỉ của nước sản xuất hoặc nơi sản xuất, cùng với các điều kiện bảo quản sản phẩm, mã số
và mã vạch để nhận dạng lô hàng Các quy định về bao gói và nhãn mác chủ yếu được quy định trong các văn bản sau: Directives 2000/13/EEC on the Labeling, Presentation and Advertising of Foodstuffs, 90/496/EEC Directive on Nutrition Labeling of Foodstuffs (Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Bắc Giang,
Trang 182011)
Quy định về chứng từ nhập khẩu
Thủ tục và hồ sơ nhập khẩu cà phê vào thị trường Anh nhìn chung vẫn tuân theo các quy định của Liên minh châu Âu (EU) về nhập khẩu hàng hóa Bộ hồ sơ xuất trình khi nhập khẩu bao gồm chứng từ hàng hóa và chứng từ thương mại, chi tiết như sau:
+ Hoá đơn thương mại;
+ Vận đơn đường biển hoặc đường hàng không;
1.2 Sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh
1.2.1 Lợi thế từ hoạt động sản xuất và xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Theo lý thuyết về “Lợi thế so sánh“ của Ricardo, quốc gia có lợi thế so sánh, tức là sản xuất ra hàng hóa với chi phí thấp hơn so với các nước khác, về mặt hàng nào thì nên chuyên môn hóa để sản xuất và xuất khẩu mặt hàng đó Lợi thế so sánh này được thể hiện qua chỉ số lợi thế so sánh biểu hiện (Revealed Comparative Advantage – RCA) Hiện nay, cà phê được xem là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và có chỉ số RCA khá cao Do đó, Việt Nam cần tập trung sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này
Trang 19Bảng 1.3 Chỉ số RCA của cà phê Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011
(Nguồn: Trade Competitive Map – International Trade Centre, 2012)
Hơn nữa, Việt Nam có lợi thế về điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp để trồng nhiều loại nông sản, trong đó có cà phê Một mặt, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm ở miền Nam và khu vực Tây Nguyên phù hợp với việc canh tác cà phê vối (Robusta); mặt khác, khí hậu lạnh và khô hanh vào mùa đông ở các tỉnh miền Bắc lại thích hợp cho việc trồng cà phê chè (Arabica) Ngoài điều kiện về khí hậu, đất đỏ Bazan ở vùng Tây Nguyên cũng tạo điều kiện phát triển tốt cho cây trồng
Nguồn nhân lực dồi dào cũng được xem là một trong những lợi thế của Việt Nam từ trước đến nay Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2011, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của Việt Nam khoảng 51,39 triệu người, chiếm 58,5% trong tổng số 87,84 triệu dân Trong đó, 46,48 triệu người trong độ tuổi lao động và cơ cấu lao động trong khu vực nông, lâm thủy sản, chiếm 48 % Chính nguồn lao động dồi dào và giá rẻ này đã tăng sức cạnh tranh cho ngành cà phê Việt Nam (Tổng cục thống kê, 2012)
Từ những lợi thế đã phân tích, tiềm năng cho cà phê Việt Nam là rất lớn để tiến đến chiếm lĩnh thị trường quốc tế, và đóng góp tích cực cho quá trình hội nhập của Việt nam với thế giới
1.2.2 Tiềm năng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh
Như đã đề cập ở trên, cà phê là ngành hàng có lợi thế xuất khẩu của Việt Nam, đứng thứ 2 thế giới về sản lượng cà phê, sau Brazil, và đứng đầu thế giới về mặt hàng cà phê Robusta Năm 2011, xuất khẩu cà phê đóng góp 2,75 tỷ USD vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Hơn nữa, ngành cà phê còn đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam khi giải quyết vấn đề việc làm và tận dụng nguồn lao động dồi dào trong nước Hiện nay, cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đứng thứ 2 sau gạo trong nhóm nông sản
Thị trường Anh được đánh giá là thị trường tiềm năng cho thương mại Việt Nam nói chung, và cho xuất khẩu cà phê nói riêng Dù chè vẫn là thức uống chính thống của quốc gia này, nhưng xu hướng tiêu dùng cà phê ngày càng tăng lên theo
Trang 20sự tiến bộ và phát triển của xã hội đã mở ra cánh cửa mới cho các nhà xuất khẩu cà phê Trong tình hình các thị trường xuất khẩu cà phê truyền thống của Việt Nam bắt đầu có dầu hiệu bão hòa thì việc khai thác các thị trường mới nổi như Anh nhiều khả năng mang lại dấu hiệu khởi sắc cho xuất khẩu của cà phê Việt Nam Như số liệu thể hiện ở Biểu đồ 1.3, trong giai đoạn 2006 – 2011, Việt Nam xếp thứ 5 trong top 10 đối tác nhập khẩu cà phê vào thị trường Anh, và vẫn còn tiềm năng phát triển trong thời gian tới.
1.2.3 Quan hệ thương mại Việt Nam – Anh
Bảng 1.4 Số liệu thương mại giữa Việt Nam – Anh trong giai đoạn 2006 –
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan và Tổng cục thống kê
Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011)
Quan hệ thương mại Việt nam – Anh đang phát triển theo đà tích cực trong thời gian qua Kim ngạch thương mại giữa hai nước tăng trưởng không ngừng, và Anh được xem là một trong những đối tác lớn và quan trọng nhất của Việt Nam trong EU
Tuy nhiên, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Anh luôn ở trạng thái lạc quan và sẵn sàng hợp tác Trong những năm này, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Anh có xu hướng tăng trưởng và duy trì tình trạng xuất siêu từ Việt Nam sang Anh Năm 2007, bức tranh thương mại của Việt Nam và Anh khá nhộn nhịp khi kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Anh tăng nhanh, vượt 21,33% so với năm 2006 Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động lên một trong những trung tâm tài chính hàng đầu thế giới này cũng như ảnh hưởng không ít đến các nước đang phát triển như Việt Nam, khiến mức tăng trưởng xuất khẩu từ Việt
Trang 21Nam sang Anh trong năm 2008 đi chậm lại, chỉ vượt 9,49% so với năm trước Dư
âm của cuộc khủng hoảng này tiếp tục kéo dài đến năm 2009 và ảnh hưởng mạnh
mẽ đến kinh tế toàn cầu, khiến kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Anh giảm duy nhất trong năm này khi xem xét cả giai đoạn 2006 – 2011 Nhờ kế hoạch giải quyết khủng hoảng tối ưu, Anh đã vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính một cách nhanh chóng, và sự hồi phục của kinh tế toàn cầu đã khiến kim ngạch xuất khẩu tăng vọt 26,53% trong năm 2010 và 42,59% trong năm 2011, so với cùng kỳ năm trước Trong khi đó, cùng với những thay đổi của nền kinh tế thế giới, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ Anh vào Việt Nam vẫn duy trì xu hướng tăng trưởng dù không đều đặn qua các năm, từ 2,38% đến 63%
Ngoài ra, Chính phủ Anh cũng tích cực hỗ trợ và tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước hợp tác thương mại và đầu tư với các nền kinh tế mới nổi, trong
đó có Việt Nam Một khảo sát được thực hiện bởi Cơ quan thương mại và đầu tư Anh (UK Trade & Investment – UKTI) cho thấy Việt nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn đứng thứ 2 sau Trung Quốc trong số các nền kinh tế mới nổi trên thế giới Trong chuyến viếng thăm Việt Nam của mình, Thứ trưởng Bộ ngoại giao Anh cũng bày tỏ rằng Việt Nam có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và được kỳ vọng đạt mức tăng trưởng 7% trước năm 2015 (Foreign & Common wealth Office, 2011)
Ngày 26 tháng 1 năm 2011, đại diện Chính phủ Anh và Việt Nam đã ký kế hoạch hành động Việt Nam – Anh nhằm thực thi Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam – Anh được ký vào tháng 9 năm 2010 và đưa
ra sáng kiến hợp tác trên bảy lĩnh vực trong năm 2011 Theo đó, Chính phủ hai nước sẽ tiếp tục hợp tác trong các lĩnh vực truyền thống như giáo dục, thương mại
và đầu tư, và mở rộng hợp tác về các vấn đề liên quan đến khu vực và toàn cầu như
tự do thương mại, phát triển quốc tế và hạn chế việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt Kế hoạch hành động này đã mở đường cho việc thực thi cam kết giữa hai nước
về cải thiện môi trường kinh doanh, đồng thời mở rộng sự hiện diện trong lĩnh vực đầu tư và thương mại của Anh tại Việt Nam (Thu Nguyệt, 2011)
1.3 Kinh nghiệm của Colombia về xuất khẩu cà phê sang thị trường Anh
và bài học cho Việt Nam
1.3.1 Lý do chọn Colombia
Trang 22Colombia có lịch sử trồng cà phê lâu đời từ năm 1787 và bắt đầu xuất khẩu cà phê từ năm 1835 Hiện nay, Colombia là quốc gia đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu
cà phê, sau Brazil và Việt Nam Tuy sản lượng cà phê do quốc gia này sản xuất hằng năm không quá lớn, nhưng lại đứng đầu về chất lượng cà phê và giá xuất khẩu mặt hàng này luôn ở mức cao, vượt hơn nhiều quốc gia sản xuất cà phê khác có sản lượng cao hơn
Tuy xếp hạng sản lượng cà phê xuất khẩu của Colombia thấp hơn so với Việt Nam, nhưng Colombia lại có lợi thế rất lớn về mặt hàng cà phê Arabica, trong khi sản lượng loại cà phê xuất khẩu này của Việt Nam hầu như luôn ở mức thấp trong những năm vừa qua Chính sản lượng cà phê Arabia dồi dào đã mang lại cho Colombia nguồn thu xuất khẩu khổng lồ
Trong giai đoạn 2006 – 2011, Colombia có kim ngạch xuất khẩu cà phê đứng thứ hai vào thị trường Anh, sau Đức, và là quốc gia có kim ngạch xuất khẩu vào Anh cao nhất trong nhóm các quốc gia sản xuất và xuất khẩu trực tiếp
1.3.2 Kinh nghiệm rút ra
Thứ nhất, Liên đoàn Nông dân trồng cà phê quốc gia Colombia - The
Colombian Coffee Growers’ Federation (La Federación Nacional de Cafeteros de
Colombia) – FNC đã đóng góp to lớn cho thành công của việc sản xuất và xuất
khẩu cà phê của quốc gia này Được thành lập từ năm 1927 bởi chính những người trồng cà phê, FNC đã kết nạp hơn 500.000 thành viên, và xây dựng nhiều học viện nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng cà phê kể từ Trung tâm nghiên cứu cà phê quốc gia thành lập năm 1938 Ngoài ra, FNC còn có hơn 800 chuyên gia cố vấn nông nghiệp, hơn 100 nhà khoa học và hóa học sẵn sàng đóng góp vào việc nghiên cứu và phát triển cà phê của quốc gia, và hiện đất nước này cũng sở hữu một trong những trung tâm nghiên cứu và phát triển cà phê hàng đầu thế giới Nhờ vậy, chất lượng cà phê Colombia luôn được đánh giá cao, ổn định, và là thương hiệu được chứng nhận trên toàn thế giới Đại diện cho các thành viên của Liên đoàn, FNC đã giúp cho cà phê Colombia bán trên thị trường với giá tương đối cao Hơn nữa, FNC còn thực hiện chính sách bảo đảm giá như một bước đệm giúp nông dân chống lại những bất thường và khó lường của thị trường cà phê quốc tế; nhờ đó, thu nhập của người nông dân được bảo đảm đầy đủ và ổn định
Trang 23Dù thế, FNC không được xem là một tổ chức từ thiện, mà là một doanh nghiệp thương mại có trách nhiệm với xã hội và cộng đồng Sự thành công của FNC có nhìn chung do các yếu tố sau:
+ Đội ngũ lãnh đạo có tầm nhìn và khả năng tổ chức; ngoài ra, họ còn có kinh nghiệm và năng lực phù hợp bởi họ xuất thân từ những nông dân trồng cà phê; và vì thế, họ có thể vận dụng chuyên môn của mình trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng đáp ứng cho ngành
+ Cơ chế quản lý ổn định là một yếu tố quan trọng cho sự thành công của Liên đoàn Mức lương cạnh tranh và môi trường làm việc tốt là yếu tố để giữ chân các nhân viên, các cố vấn và nhà khoa học đóng góp cho ngành
+ Khả năng tài chính là lợi thế của Liên đoàn Mức thu nhập ổn định từ cà phê
đủ để đáp ứng các yêu cầu về đầu tư mạng lưới kho hàng và vận chuyển; thậm chí
là hỗ trợ nông dân khi giá cả xuống dốc nhanh chóng
+ Hơn nữa, FNC là một tổ chức phi chính trị, không chịu sự quản lý của Chính phủ hay bất cứ một Tổ chức quốc tế nào, và hoàn toàn dân chủ Vì thế, hoạt động của Liên đoàn không bị ảnh hưởng nếu những vấn đề chính trị phát sinh trong nước.Những điểm mạnh của FNC được tóm gọn trong 3 vấn đề sau:
+ Sản xuất với khối lượng lớn mang lại lợi thế về quy mô cho nền kinh tế , đồng thời ảnh hưởng đến giá Khi giá cà phê thế giới giảm đến mức quá thấp, Liên đoàn sẽ lựa chọn lưu giữ hàng trong mạng lưới kho hàng, và bán ra khi giá cả bắt đầu hồi phục
+ Colombia đã xây dựng mạng lưới thị trường dựa trên chất lượng cà phê tốt – với hơn 20% cà phê thượng hạng Tên thương mại Juan Valdez đã đã xây dựng nên thương hiệu cho cà phê Colombia
+ Liên đoàn đại diện cho nông dân trồng cà phê ký kết những hợp đồng lớn với các nhà máy chế biến, điều mà những cơ sở kinh doanh nhỏ khó mà thực hiện được
Thứ hai, phương pháp xây dựng và quảng bá thương hiệu cũng là một yếu tố
quan trọng cho thành công của cà phê Colombia Đặc biệt, chiến dịch quảng bá sản phẩm qua hình ảnh Juan Valdez giúp cho người tiêu dùng dễ dàng nhận diện thương hiệu Colombia với chất lượng và hương vị tuyệt vời Thông qua các kênh thông tin
Trang 24đại chúng, hình ảnh người nông dân cẩn thận hái nhặt từng hạt cà phê chín trên các cánh đồng cà phê với người dẫn chương trình Juan Valdez mang lại cho khách hàng
ấn tượng sâu đậm về việc cà phê Colombia được trồng và hái bởi những người hết sức chuyên nghiệp, với rất ít sự trợ giúp từ máy móc Chính vì vậy, người tiêu dùng
am hiểu hơn về cà phê Colombia và tạo cơ hội thâm nhập thị trường tuyệt vời cho sản phẩm của quốc gia này Chiến lược này vẫn còn được Colombia duy trì sử dụng đến hiện nay và tác động mạnh mẽ vào tiềm thức của khách hàng về một thương hiệu uy tín, với chất lượng hảo hạng, đảm bảo, và từ đó, mang lại cho Colombia vị thế như hiện nay trên thị trường cà phê thế giới nói chung, và thị trường Anh nói riêng (Jeffery W Bentley và Peter S Baker, 2000, tr.4,5)
Thứ ba, Colombia đứng đầu thế giới về sản xuất cà phê Arabica Ngoài điều
kiện tự nhiên thuận lợi, chính kỹ thuật canh tác và phương pháp chế biến tiên tiến
đã giúp Colombia thành công trong việc sản xuất loại cà phê có chất lượng cao và hương vị đặc trưng Tuy thời gian qua, Colombia vẫn gây ấn tượng với người tiêu dùng trên thế giới về loại cà phê thượng hạng được sản xuất bởi những người chuyên nghiệp, với sự trợ giúp rất ít từ máy móc, nhưng trên thực tế, cùng với sự phát triển của xã hội, việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ đã giúp Colombia có nhiều bước tiến trong sản xuất cà phê Hiện nay, Colombia hầu như chỉ sản xuất cà phê Arabica, và mang về cho quốc gia kim ngạch xuất khẩu dồi dào mặc dù sản lượng cà phê thực tế trong những năm gần đây có xu hướng giảm
1.3.3 Bài học cho Việt Nam
1.3.3.1 Tăng cường mối liên kết giữa nông dân trồng cà phê và vai trò của Hiệp hội ngành hàng
Các hộ dân trồng cà phê ở Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn hoạt động theo quy
mô nhỏ lẻ, và rất cần có sự liên kết, hợp tác với nhau dưới mô hình hợp tác xã, và chuyên môn hóa việc quản lý từ sản xuất, chế biến đến xuất khẩu nhằm tạo điều kiện tốt cho họ áp dụng những cải tiến mới về mặt khoa học kỹ thuật giúp tăng năng suất, phòng ngừa sâu bệnh, nâng cao chất lượng cây trồng Hơn nữa, việc liên kết này mở ra cơ hội sản xuất với quy mô lớn, hỗ trợ tốt cho hoạt động thu mua của các doanh nghiệp; nhờ đó, đảm bảo nguồn cung và giúp ngành cà phê nước ta chủ động
về giá xuất khẩu trên thế giới
Trang 25Có thể dễ dàng nhận thấy rằng những đóng góp của FNC từ khía cạnh chuyên môn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng và đẩy mạnh xuất khẩu
cà phê của Colombia ra thế giới Từ ví dụ trên, Hiệp hội Cà phê – Ca cao việt Nam (VICOFA) cần xây dựng đội ngũ cố vấn và chuyên gia để nghiên cứu và phát triển giống cây trồng, đồng thời đầu tư vào cơ sở hạ tầng và tăng cường các hoạt động hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu của nông dân Ngoài ra, Hiệp hội cũng cần thường xuyên
dự báo và cung cấp kịp thời thông tin về tình hình nguồn cung và biến động giá cà phê trên thế giới để doanh nghiệp nắm bắt và chủ động trong kinh doanh
1.3.3.2 Chú trọng đến nâng cao chất lượng cà phê và xây dựng thương hiệu
Hiện nay, mặc dù nổi danh về xuất khẩu cà phê với khối lượng lớn, Việt Nam vẫn chưa được thế giới chứng nhận về chất lượng tuyệt hảo như thành công mà Colombia đã gặt hái Vì vậy, hướng đi sắp tới của ngành không nên chỉ chú trọng vào việc mở rộng diện tích trồng, mà cần phải tập trung phát triển theo chiều sâu, nghĩa là đầu tư vào công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng của sản phẩm từ khâu thu hoạch cho đến chế biến
Hơn nữa, khi thế giới ngày càng đánh giá cao về vai trò của thương hiệu, năng lực cạnh tranh của cà phê Việt sẽ giảm sút đáng kể vì chưa chú trọng đúng mức vào việc xây dựng và quảng báo thương hiệu trên thị trường quốc tế Colombia là một ví
dụ điển hình cho việc xây dựng thương hiệu thành công, với chiến lược quảng bá bền vững; nhờ đó, họ gặt hái được nhiều thành công khi xuất khẩu ra thị trường thế giới Việc tạo dựng và đầu tư đúng mức vào quảng bá thương hiệu sẽ là bước ngoặt quan trọng để cà phê Việt Nam bước ra thế giới và phát huy hết tiềm năng của mình
1.3.3.3 Chuyển dịch cơ cấu mặt hàng cà phê xuất khẩu
Tuy Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về khối lượng các phê xuất khẩu, nhưng phần lớn chỉ tập trung vào mặt hàng cà phê Robusta, đồng thời giá trị cà phê xuất khẩu cũng không cao Trong khí đó, mặt hàng cà phê Arabica có giá trị xuất khẩu cao và được nhiều quốc gia ưa chuộng bởi hương vị thơm ngon, kể cả thị trường Anh hay châu Âu nói chung Như phân tích ở trên, Colombia đạt được nhiều thành công nhờ xuất khẩu mặt hàng cà phê Arabica và thu về kim ngạch xuất khẩu cao
Trang 26Với điều kiện tự nhiên tương tự ở các tỉnh miền Bắc thích hợp với việc canh tác, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng sang loại cà phê Arabica là hoàn toàn khả thi và mong đợi sẽ mang về giá trị xuất khẩu đáng kể cho việt Nam trong những năm tới Vấn đề trước mắt là Việt Nam phải cải tiến kỹ thuật và phương pháp canh tác, đồng thời quy hoạch hợp lý để phát triển loại cây trồng này.
Tóm lại chương 1, tác giả đã nghiên cứu về thị trường nhập khẩu cà phê của Anh, từ tập quán tiêu dùng đến các quy định về nhập khẩu, đồng thời tìm hiểu về lợi thế xuất khẩu của cà phê Việt Nam và xu thế phát triển của mối quan hệ Việt Nam – Anh, từ đó xác định việc đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam sang Anh
là hết sức cần thiết Hơn nữa, thực tế cho thấy cà phê Việt Nam đang chiếm vị trí rất
có lợi tại thị trường Anh khi luôn nằm trong top những quốc gia xuất khẩu cà phê nhiều nhất sang thị trường này Ngoài ra, chương 1 cũng phân tích kinh nghiệm xuất khẩu cà phê của Colombia, từ đó rút ra những kinh nghiệm về sản xuất và xuất khẩu, làm cơ sở để hình thành bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Anh
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ANH GIAI ĐOẠN 2006 – 2011
2.1 Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh giai đoạn 2006 – 2011
2.1.1 Khối lượng xuất khẩu
Trong giai đoạn 2006 – 2011, khối lượng cà phê xuất khẩu từ Việt Nam vào thị trường Anh tăng giảm không đồng đều; tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường Anh trong khối lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam có xu hướng giảm từ năm 2006 đến năm 2010 và có dấu hiệu lạc quan trở lại vào năm 2011 Sự tăng giảm không đồng đều của khối lượng và tỷ trọng xuất khẩu cà phê sang Anh chủ yếu là do sự biến động của nền kinh tế toàn cầu, sản lượng và giá cả xuất khẩu của
cà phê trên thế giới
Bảng 2.1 Khối lượng cà phê xuất khẩu vào thị trường Anh giai đoạn 2006 – 2011
Trang 28khá tốt giữa các doanh nghiệp nội địa, không xảy ra tình trạng giao hàng ồ ạt gây ảnh hưởng xấu đến thị trường, đồng thời thể hiện tiềm năng của cà phê Việt Nam trên thị trường Anh Tuy nhiên, tỷ trọng cà phê xuất khẩu sang thị trường này trong tổng khối lượng cà phê xuất khẩu giảm đáng kể đến 0,52%, chủ yếu là do bối cảnh Việt Nam gia nhập vào WTO đã mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu sang các quốc gia trên thế giới.
Năm 2008, sản lượng cà phê Việt Nam giảm cùng với khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động lên khối lượng xuất khẩu của một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Trong năm này, khối lượng xuất khẩu ra thế giới giảm 13,89% , riêng đối với thị trường Anh, khối lượng xuất khẩu mặt hàng cà phê giảm 21,1% so với năm 2007 Theo đó, tỷ trọng cà phê xuất khẩu sang Anh tiếp tục giảm xuống 0,24% so với năm trước
Tuy nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng dần hồi phục trong năm 2009, nhưng dư âm của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu vẫn
có ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động thương mại của thế giới Mức độ tăng trưởng của khối lượng xuất khẩu mặt hàng cà phê sang Anh so với năm 2008 chỉ đạt 4,77% Nguyên nhân cho sự tăng trưởng đến từ sản lượng cà phê trong nước tăng lên đáng kể so với năm trước Trong khi đó, tỷ trọng cà phê xuất khẩu sang Anh giảm 0,15%
Thị trường cà phê ảm đạm đầu năm 2010 chủ yếu xuất phát từ sản lượng cà phê thu hoạch trong nước sụt giảm do điều kiện thời tiết không thuận lợi Thêm vào
đó, sự thao túng của các nhà đầu cơ quốc tế trên sàn giao dịch LIFFE từ năm 2009 cũng gây nhiều ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê trên thế giới Thực tế, xuất khẩu mặt hàng cà phê của Việt Nam sang thị trường Anh đối mặt với sự suy giảm về khối lượng là 3,37% so với năm 2009 Cuối năm 2010, thị trường cà phê bất ngờ nhộn nhịp bởi Quyết định của Chính phủ trước đó về việc dự trữ cà phê và
hỗ trợ nông dân bán tháo hàng vào cuối niên vụ (VOVnews - Radio the Voice of Vietnam, 2011) Mặc dù những hỗ trợ này mang lại dấu hiệu khởi sắc cho cà phê Việt Nam nói chung, nhưng vẫn chưa giúp khối lượng xuất khẩu sang Anh phục hồi
sự tăng trưởng Trong năm này, tỷ trọng khối lượng xuất khẩu cà phê sang Anh tiếp tục sụt giảm chỉ còn 2,32%
Năm 2011, mặc dù khối lượng nhập khẩu cà phê của Anh giảm như đã phân tích ở chương 1, nhưng khối lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường
Trang 29này đã tăng 17,32% so với năm 2010, đồng thời đạt giá trị cao nhất trong giai đoạn
2006 – 2011 Cũng trong năm này, tỷ trọng xuất khẩu cà phê sang Anh trong tổng khối lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam có chuyển biến tốt đẹp khi tăng trưởng 0,32% so với năm trước Đây là thời gian duy nhất mà tỷ trọng xuất khẩu sang Anh
có dấu hiệu tăng trưởng Nguyên nhân là nền kinh tế Việt Nam đã hồi phục tương đối từ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trước đó, cộng với sản lượng cà phê thu hoạch trong nước ổn định Hơn nữa, những kết quả đạt được như trên chứng tỏ các nhà xuất khẩu Việt Nam đã bắt đầu quan tâm và đầu tư đúng mức cho thị trường tiềm năng này
2.1 2 Kim ngạch xuất khẩu
Bảng 2.2 Kim ngạch cà phê xuất khẩu vào thị trường Anh giai đoạn 2006 – 2011
Năm 2007, khối lượng xuất khẩu sang thị trường Anh và giá cà phê có xu
Trang 30hướng tăng nhẹ là nguyên nhân cho sự tăng trưởng của kim ngạch nhập khẩu sang Anh vượt 28,55% so với năm trước Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, việc gia nhập WTO mở ra cho Việt Nam cơ hội xuất khẩu ra nhiều nước khác trên thế giới,
và mức độ tập trung cho thị trường Anh vào thời điểm này vẫn chưa cao; do đó, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Anh giảm đến 0,59% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê so với năm 2006
Tuy khối lượng xuất khẩu cà phê sang Anh giảm nhanh trong giai đoạn 2007 –
2008, nhưng giá cả cà phê tiếp tục tăng cao trên thế giới đã đẩy giá trị xuất khẩu cà phê sang Anh nói riêng, và giá trị xuất khẩu cà phê của Việt nam nói chung tăng lên Trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cà phê sang Anh tăng 8,4% Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam cũng tăng 10,28% so với năm trước Do đó, tỷ trọng đóng góp của kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Anh trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt nam tiếp tục giảm nhẹ, cụ thể là 0,04%.Biến động mạnh mẽ của giá cà phê trong năm 2009, và khối lượng xuất khẩu giảm trong năm 2010 là hai nguyên nhân khiến cho kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Anh giảm liên tục trong giai đoạn 2008 – 2010 Mặc dù khối lượng cà phê xuất khẩu có tăng nhẹ cùng với sự hồi phục dần của nền kinh tế nhưng giá cà phê trên thế giới giảm sâu trong năm 2009 khiến kim ngạch xuất khẩu cà phê ra thế giới giảm 18,13% so với năm trước Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu cà phê sang thị trường Anh vẫn khá ổn định so với sự biến động trên thế giới Chính vì thế, tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường này đã tăng vọt lên 0,37% so với tình hình xuất khẩu chung Trong năm 2010, dấu hiệu sụt giảm trong khối lượng xuất khẩu sang thị trường Anh đã kéo theo sự sụt giảm về kim ngạch đến 8,89% và tỷ lệ đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu cà phê nói chung cũng giảm tương ứng 0,44%
Sự gia tăng mạnh mẽ trong giá trị xuất khẩu năm 2011 chủ yếu là do giá xuất khẩu bình quân của mặt hàng cà phê tăng lên đột biến Một nguyên nhân nữa cho sự gia tăng này là sản lượng cà phê thu hoạch nội địa cũng như sản lượng xuất khẩu sang thị trường Anh tăng đáng kể Kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Anh năm 2011 tăng trưởng 75,49% so với năm trước kéo theo sự gia tăng về tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cà phê sang thị trường Anh trong tổng kim ngạch nhập khẩu cà phê của Việt Nam lên 0,45% so với năm 2010
2.1.3 Cơ cấu mặt hàng cà phê xuất khẩu
Bảng 2.3 Cơ cấu mặt hàng cà phê xuất khẩu sang Anh giai đoạn 2006 – 2011
Trang 31(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu thương mại giữa các nước của Tổng cục
Thống kê Liên hiệp quốc giai đoạn 2006 – 2011)
Từ năm 2006 đến năm 2011, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu mặt hàng cà phê thô sang Anh Quốc; trong đó, tỷ trọng cà phê chưa rang, chưa khử chất cafein mặc dù
có những biến động nhỏ nhưng chiếm hầu hết trong cơ cấu cà phê xuất khẩu Ngoài
ra, mặt hàng cà phê rang, chưa khử chất cafein tuy chiếm tỷ trọng không cao nhưng vẫn được xuất khẩu đều đặn sang thị trường Anh qua các năm; và tỷ lệ này có xu hướng tăng trưởng trong giai đoạn 2006 – 2011 Đối với các mặt hàng cà phê đã khử chất cafein, rang hoặc chưa rang, và các dạng khác của cà phê chiếm tỷ trọng không đáng kể trong cơ cấu xuất khẩu cà phê của Việt nam sang Anh
Như vậy, mặc dù cơ cấu mặt hàng cà phê xuất khẩu từ Việt Nam sang Anh không đồng đều trong giai đoạn 2006 – 2011, và chủ yếu tập trung vào các sản phẩm thô, nhưng nhìn chung phù hợp với nhu cầu nhập khẩu cà phê của thị trường này như phân tích ở chương 1
2.1.4 Chất lượng cà phê xuất khẩu
Thị trường Anh thực sự là một thách thức đối với các nhà xuất khẩu trên thế
Trang 32giới , đặc biệt đối với mặt hàng nông sản do những quy định khắt khe về chất lượng hàng hóa và an toàn thực phẩm Tuy nhiên, việc xuất khẩu cà phê – một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam – đã không gặp phải những khó khăn lớn do quy định SPS khi xuất khẩu vào thị trường này (Digby Gascoine, Lê Thanh Hòa và Nguyễn Tử Cương, 2009, tr.4).
Trong giai đoạn 2006 – 2007, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều áp dụng tiêu chí phân loại TCVN 4193:1993 cho xuất khẩu Tiêu chuẩn này khá lạc hậu so với các tiêu chuẩn phân loại cà phê được áp dụng trên thế giới; và do đó, mang lại nhiều bất lợi cho xuất khẩu cà phê của Việt Nam Theo đó, tiêu chuẩn phổ biến mà doanh nghiệp áp dụng để xuất khẩu cà phê Robusta là R2, có độ ẩm 13%, tạp chất 1%, hạt đen vỡ 5% và hạt trên sàn 13 đạt 90%, Những con số vừa nêu được đánh giá là thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn của thế giới cho mặt hàng xuất khẩu này (Báo điện tử – Thời báo Kinh tế Việt Nam, 2007)
Từ tháng 10 năm 2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành TCVN 4193 : 2005 Số: 86/2007/QĐ-BNN nhằm thúc đẩy cải thiện chất lượng cà phê xuất khẩu Bộ quy chuẩn này tương đối phù hợp với chỉ tiêu chất lượng của sàn giao dịch LIFFE quy định và tiêu chuẩn quốc tế ISO 10470:2004, cũng như quy định về chất lượng cà phê nhập khẩu tại Anh Theo TCVN 4193:2005, cà phê nhân xuất khẩu phải có màu và mùi đặc trưng của từng loại cà phê nhân, không có mùi
lạ, và có độ ẩm nhỏ hơn hoặc bằng 12,5 %, đồng thời bộ quy chuẩn này cũng đưa ra quy định cụ thể về tỷ lệ trộn lẫn cà phê khác loại như phân tích tại bảng 2.4 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2007)
Tuy nhiên, do các tiêu chuẩn trên được áp dụng trên nguyên tắc tự nguyện, và hiện vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật hoặc quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng TCVN 4193:2005 đối với cà phê nhân nên trên thực tế, tiêu chuẩn này vẫn chưa đi vào thực tiễn Hiện nay, một bộ phận doanh nghiệp vẫn thỏa thuận áp dụng TCVN 4193:1993 theo thói quen cũ (Trần Lê, 2008)
Bảng 2.4 Tiêu chuẩn phân loại cà phê nhân theo TCVN 4193:2005 Loại cà phê Hạng đặc biệt
và hạng 1
Trang 33Cà phê chè Không được
lẫn R và C
Được lẫn R ≤ 1% và C ≤ 0,5%
Được lẫn R ≤ 5% và C ≤ 1%
Được lẫn R ≤ 5% và C ≤ 1%
Cà phê vối Được lẫn C ≤
0,5% và A ≤ 3%
Được lẫn C ≤ 1% và A ≤ 5%
Được lẫn C ≤ 5% và A ≤ 5%
Chú thích: - A: Cà phê chè (Arabica), R: Cà phê vối (Robusta), C: Cà phê mít Chari)
- % tính theo phần trăm khối lượng
(Nguồn: Quyết định về việc tạm thời sử dụng tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4193 :
2005 trong kiểm tra chất lượng cà phê nhân nhập khẩu của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn năm 2007)
Dù Việt Nam xuất khẩu khối lượng lớn cà phê sang Anh và thế giới, nhưng thực tế cho thấy chất lượng cà phê xuất khẩu vẫn chưa đồng đều Số lượng cà phê xuất khẩu bị thải loại còn chiếm hơn 80% trong tổng số cà phê xuất khẩu bị thải loại của thế giới (Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, 2007) Theo Tập đoàn Nestlé UK, các chỉ tiêu về độ ẩm, tỷ lệ vỡ, tạp chất và sàng hạt của Việt Nam thường thấp hơn tiêu chuẩn của sàn giao dịch LIFFE Vì vậy, khi bán trực tiếp trên sàn giao dịch thì giá cà phê sẽ bị giảm xuống Ngoài ra, chính sự thay đổi của thời tiết có thể làm tăng độ ẩm của sản phẩm Do đó, Việt Nam nên áp dụng kỹ thuật công nghệ nhằm giảm chỉ số độ ẩm của cà phê so với hiện nay
2.1.5 Giá cả xuất khẩu
Giai đoạn 2006 – 2011 chứng kiến khá nhiều biến động của giá cả cà phê thế giới cũng như giá cà phê Việt Nam Nhìn chung, giá cà phê có xu hướng tăng qua các năm Trong đó, giá cà phê Arabica có xu hướng cao hơn so với cà Robusta và mức độ tăng trưởng đồng thời cũng nhanh hơn
Biểu đồ 2.1 Biến động giá cả cà phê thế giới giai đoạn 2006 – 2010
Đơn vị: US cent/lb (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu thống kê về giá cà phê theo chỉ số giá ICO
và các thị trường giao dịch tương lai của Tổ chức Cà phê Thế giới)
Với cơ cấu xuất khẩu chủ yếu là cà phê Robusta, xuất khẩu cà phê Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của biến động giá mặt hàng này trong giai đoạn 2006 – 2011
Từ năm 2006 đến năm 2008, giá cà phê Robusta trên thế giới tăng khá liên tục và
Trang 34khá đồng đều so với năm trước; cụ thể, năm 2007, giá cà phê tăng 28,2% và tiếp tục tăng 21,5% vào năm 2008 Năm 2009 là năm biến động mạnh của giá cà phê thế giới khi giá Robusta giảm mạnh đến 29,14 % so với năm trước Nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm này là sự can thiệp của các nhà đầu cơ quốc tế vào thị trường cà phê, đặc biệt là trên sàn giao dịch London (LIFFE) Thị trường cà phê ảm đạm kéo dài đến đầu năm 2010; tuy nhiên, vào nửa cuối năm này, thị trường có dấu hiệu phục hồi và giá cà phê được nâng lên 5,61% so với 2009 Năm 2011 mang đến tin vui cho các nhà xuất khẩu cà phê khi giá tăng vọt lên 38,7%, và mang theo sự tăng trưởng ngoạn mục của kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này.
Biểu đồ 2.2 Giá xuất khẩu trung bình của Cà phê thô Việt Nam, niên vụ
1990/1991 – 2010/2011
(đơn vị: USD/tấn)
(Nguồn: Báo cáo về Xuất nhập khẩu cà phê Việt Nam nửa đầu niên vụ 2010/11
của Cục xúc tiến thương mại)
Trên cơ sở biến động của giá cà phê thế giới như phân tích ở trên, giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam cũng có xu hướng biến động tương tự Theo đó, giá cà phê tăng liên tục từ niên vụ 2005/2006 đến niên vụ 2007/2008, và đột ngột giảm mạnh trong niên vụ 2009/2010 Tuy nhiên, sản lượng cà phê thu hoạch dồi dào của niên
Trang 35vụ 2010/2011 đã đẩy giá cà phê lên cao trở lại, đồng thời đạt giá trị cao nhất so với
cả giai đoạn 2006 – 2011
2.1.6 Kênh phân phối xuất khẩu
Các doanh nghiệp Việt nam chủ yếu xuất khẩu qua hai hình thức: xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp Riêng đối với thị trường Anh, xuất khẩu qua trung gian là hình thức xuất khẩu phổ biến nhất của các doanh nghiệp Theo đó, các nhà xuất khẩu sẽ bán cà phê cho các đại lý tại Anh trước khi hàng hóa được chuyển đến cho các công ty rang xay cà phê tại quốc gia này Kênh phân phối này có ưu điểm là đơn giản, đồng thời giúp các nhà xuất khẩu Việt Nam tiết kiệm chi phí và tránh rủi
ro xuất khẩu khi các doanh nghiệp chưa thực sự am hiểu thị trường mục tiêu và chưa đủ tiềm lực để xây dựng một mạng lưới tiêu thụ trực tiếp tại thị trường này
Sơ đồ 2.1 Kênh phân phối cà phê tại thị trường Anh
Trung gian / đại diệnCác đơn vịCác Hiệp hội trồng cà phê/ hợp tác xã/ người thu mua
Các vườn trồng cà phêCác công ty rangNhà nhập khẩuCác công ty rang cà phê (trong nước) hoặc thuộc sở hữu nước ngoài
(Nước ngoài)Nhà xuất khẩuKênh bán lẻ (các siêu thị, các cửa hàng cà phê, các cửa hàng, thực phẩm hữu cơ)
Kênh cung cấp thực phẩm (các cơ quan, nhà hàng, máy bán lẻ)
Biên giới EU
(Nguồn: Báo cáo về cơ cấu kinh doanh ngành hàng chè và cà phê EU của Cục xúc
tiến thương mại, 2009)
Tuy nhiên, hình thức này cũng mang lại một số bất lợi cho các nhà xuất khẩu
cà phê của Việt Nam như: các nhà xuất khẩu phải chia sẻ lợi nhuận cho bên trung gian, không chủ động được thị trường xuất khẩu; hơn nữa, các doanh nghiệp sẽ khó phản ứng linh hoạt trước sự biến động của thị trường Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không thể xây dựng thương hiệu cho sản phẩm cà phê của mình khi quá phụ thuộc vào các trung gian kinh doanh này; do đó, giảm lợi thế cạnh tranh của mặt hàng
2.1.7 Phương thức vận tải
Hiện nay, thương mại giữa Anh Quốc và Việt Nam chủ yếu chiếu theo các điều khoản quy định trong Incoterms 2000 về vận tải Trong đó, điều khoản FOB
Trang 36(Free On Board) – nhà xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng tại lan can tàu đồng thời chuyển giao nghĩa vụ về hàng hóa – và CIF (Cost, Insurance and Freight) – nhà xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng tại cảng đến và chịu mọi chi phí về vận tải và bảo hiểm loại A – là hai điều khoản phổ biến nhất Các nhà nhập khẩu Anh Quốc thường
ưa chuộng phương thức giao hàng CIF; trong khi đó, các nhà xuất khẩu Việt Nam vẫn sử dụng phương thức giao hàng FOB theo tập quán kinh doanh cũ Hơn nữa, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn thiếu thông tin và liên kết với các hãng tàu nên việc thuê tàu chở hàng hay container là khá khó khăn Theo đó, các nhà xuất khẩu Việt Nam trong trường hợp sử dụng FOB khi giao dịch với các doanh nghiệp Anh Quốc thường mua thêm bảo hiểm hàng hóa như một giải pháp hài hòa cho hai bên (International Distribution & Transport Ltd, 2009)
2.1.8 Hoạt động quảng bá và xúc tiến xuất khẩu
2.1.8.1 Tham gia hội chợ, triển lãm
Những năm trở lại đây, Nhà nước và doanh nghiệp đã bắt đầu có chú ý và quan tâm đến các hoạt động quảng bá và xúc tiến xuất khẩu nhằm gia tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm cà phê Việt Nam Việc tham gia hội chợ, triển lãm trong nước và tại chính thị trường Anh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia giới thiệu sản phẩm của mình kết hợp với quảng cáo và xúc tiến bán hàng Hơn nữa, hội chợ, triển lãm thường tập trung rất nhiều doanh nghiệp cùng lĩnh vực trong và ngoài nước, mang lại cho doanh nghiệp cơ hội nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác và mở rộng cơ hội giao dịch thương mại quốc tế
Tại Việt Nam trong những năm vừa qua đã diễn ra Lễ hội Buôn Ma Thuột vào các năm 2005, 2008 và 2011, Tuần lễ văn hóa cà phê tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007, đã mở ra một kênh xúc tiến thương mại mới cho các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, tần suất diễn ra các hoạt động hội chợ, triển lãm này vẫn chưa cao Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam cũng trực tiếp tham gia hội chợ, triển lãm chuyên ngành tại Anh và xem đây là kênh quan trọng để đẩy mạnh xuất khẩu cà phê sang thị trường này Tuy nhiên, việc tham gia các hội chợ triển lãm này vẫn còn hạn chế do doanh nghiệp việt Nam thường thiếu thông tin về hoạt động của thị trường và các hội chợ, triển lãm ngoài nước Hơn nữa, các doanh nghiệp chưa liên kết chặt chẽ và chủ động trao đổi thông tin trong ngành cũng như thiếu sự quản lý và hỗ trợ pháp lý để tham gia hội chợ, phần lớn các doanh nghiệp
Trang 37tham gia riêng lẻ và độc lập Điều này phần nào đã hạn chế việc tiếp cận các cơ hội kinh doanh, tìm hiểu thị hiếu tiêu dùng và phương thức kinh doanh của thị trường, do đó việc thâm nhập thị trường của mặt hàng cà phê Việt Nam vào thị trường tiềm năng này gặp khó khăn và giá trị xuất khẩu bị ảnh hưởng Một vấn
đề nữa là các doanh nghiệp thiếu sự chuẩn bị và không tận dụng được lợi ích của hội chợ triển lãm trong quá trình tham gia và rất ít doanh nghiệp thành công trong việc giữ mối liên hệ với đối tác, khách hàng khi hội chợ triển lãm kết thúc Vì vậy, việc tham gia hội chợ triển lãm thường không đạt hiệu quả như mong muốn (Cục xúc tiến thương mại, 2009 A)
2.1.8.2 Xây dựng thương hiệu
Việc xây dựng và phát triển thương hiệu là một trong những yếu tố quan trọng quyết định thành công của cà phê Việt Nam trên thị trường Anh với những yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm và uy tín của thương hiệu Mặc dù doanh nghiệp Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu
cà phê trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Anh nhưng vẫn chưa có sự quan tâm và đầu tư đúng mức cho hoạt động này Vì vậy, dù cà phê của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Anh trong thời gian qua đạt giá trị khá cao nhưng vẫn chưa chiếm lĩnh được thị trường và chưa tương xứng với tiềm năng của sản phẩm này
Trong hội thảo Coffee OutLook được tổ chức năm 2011, các chuyên gia cho rằng việc xây dựng thương hiệu cà phê tại nước ngoài là rất khó khăn,do chi phí cho việc phát triển thương hiệu là khá cao trong khi doanh nghiệp Việt Nam đa phần gặp hạn chế về nguồn vốn Một vấn đề mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải trong quá trình xây dựng thương hiệu nữa là thiếu đội ngũ marketing chuyên nghiệp, thông thạo ngoại ngữ và sự thiếu am hiểu thị hiếu tiêu dùng của người nước ngoài (Phương Linh, 2011) Hơn nữa, hầu hết xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Anh dưới dạng cà phê thô và xuất khẩu gián tiếp; vì vậy, rất khó để người tiêu dùng nơi đây nhận biết được thương hiệu cà phê Việt Nam mà đa phần họ chỉ nhớ đến tên tuổi của nhà sản xuất và cung cấp sản phẩm cuối cùng
2.1.9 Nguồn cung cà phê xuất khẩu tại Việt Nam
2.1.9.1 Năng lực sản xuất
Trong giai đoạn 2006 – 2011, diện tích gieo trồng cà phê của Việt Nam không
Trang 38ngừng gia tăng, từ 1,8 đến 4,83% mỗi năm, đáp ứng được nhu cầu cà phê thế giới
và thị trường tiêu thụ tại Anh Tính đến năm 2011, diện tích trồng cà phê của Việt Nam đã tăng 14,1% so với năm 2006 Nằm trong khu vực nhiệt đới Bắc bán cầu, Việt Nam có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp với việc gieo trồng và canh tác cà phê Ngoài ra, điều kiện tự nhiên của từng vùng mang lại cho cà phê Việt Nam hương vị đặc trưng riêng biệt Theo đó, khu vực Tây Nguyên và miền Nam nóng, ẩm và đất bazan màu mỡ phù hợp với việc canh tác cà phê vối (Robusta), trong khi khí hậu lạnh và khô hanh vào mùa đông ở các tỉnh miền Bắc lại thích hợp cho việc trồng cà phê chè (Arabica) Cà phê Arabica tuy có hương vị tinh khiết hơn
và có giá cao hơn cà phê Robusta, nhưng cà phê Arabica Việt Nam lại chưa thể tạo dựng thương hiệu trên thị trường cà phê thế giới do khó canh tác và dễ bị sâu bệnh,
vì vậy vẫn được trồng khá hạn chế tại Việt Nam Trong khi đó, cà phê Robusta với đặc tính dễ trồng, có sức đề kháng sâu bệnh cao và hương vị đặc trưng vốn là thế mạnh của Việt Nam trong nhiều năm Hiện nay, gần 90% diện tích cà phê ở Việt Nam được dùng để trồng cà phê vối, 10% trồng cà phê chè, và chỉ khoảng 1% còn lại trồng cà phê mít (Excelsa) (Tổng công ty Cà phê Việt Nam, 2011)
Tương tự, sản lượng cà phê Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2011 cũng có xu hướng tăng trưởng, ngoại trừ năm 2007 do ảnh hưởng của thời tiết, và sự sụt giảm này cũng là tình trạng chung của sản lượng cà phê thế giới trong năm 2007 Từ năm
2008, sản lượng cà phê của Việt Nam đã vượt 1 triệu tấn, với tỷ lệ gia tăng sản lượng hàng năm thấp nhấp là 0,16% và cao nhất đến 15,29% Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về sản lượng cà phê nói chung, và đứng đầu thế giới về sản lượng cà phê Robusta nói riêng
Bảng 2.5 Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2011
Trang 39(Nguồn: tác giả tổng hợp từ số liệu về diện tích gieo trồng và sản lượng của một số
cây trồng lâu năm của Tổng cục thống kê giai đoạn 2006 – 2011 )
Mặc dù diện tích và sản lượng cà phê của Việt Nam trong giai đoạn 2006 –
2011 thể hiện một bức tranh lạc quan của ngành cà phê, nhưng quy mô sản xuất quá nhỏ lẻ, với trên 85% số hộ trồng cà phê có diện tích dưới 2 ha, làm hạn chế khả năng mở rộng sản xuất, giảm hiệu quả đầu tư và áp dụng khoa học công nghệ đồng
bộ, dẫn đến chất lượng cà phê Việt Nam không đồng đều Ngoài ra, phát triển cà phê chưa theo quy hoạch, thiếu khả năng tiếp cận kiến thức kỹ thuật và thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn là nguyên nhân dẫn đến chất lượng cà phê và khả năng cạnh tranh của ngành bị hạn chế (Phương Linh, 2011)
Thứ nhất, việc sản xuất cà phê đều mang tính tự phát, nhỏ lẻ, phân tán và thiếu
sự liên kết giữa bốn nhà Thực tế, dưới 20% diện tích trồng cà phê của Việt Nam hiện nay do các công ty, nông trường hoặc các chủ trang trại lớn quản lý, có đầu tư quy trình kỹ thuật tiên tiến, trong khi trên 80% diện tích còn lại là do người dân quản lý với quy mô nhỏ lẻ, phân tán và mang tính độc lập, với diện tích canh tác trung bình của mỗi hộ dân chỉ từ 0,5 đến 1 hécta Điều này dẫn đến chi phí đầu tư tăng cao, chất lượng sản phẩm không đồng đều và kém ổn định Hơn nữa, các hộ nông dân rất khó tiếp cận với những tiến bộ khoa học, thị trường tiêu thụ và thiếu cả
sự hỗ trợ của từ Nhà nước và Hiệp hội Kết quả là có nhiều trường hợp nông dân bị
ép giá, và cạnh tranh trên thị trường cà phê tăng cao theo hướng không lành mạnh (Diễn đàn của người nông dân trồng cà phê, 2009)
Thứ hai, diện tích cà phê già cỗi và được trồng không đúng quy cách, cộng
thêm việc chăm sóc cây trồng không đúng kỹ thuật cũng gây ra không ít khó khăn cho việc sản xuất cà phê Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam thì Việt Nam có khoảng 54,8% diện tích cà phê độ tuổi từ 10 – 15 năm, trong khi diện tích cà phê được phát triển gần đây chỉ đạt năng suất cao trong độ tuổi khoảng 18 năm trở lại Hơn nữa, phần lớn diện tích cà phê trồng không đúng quy cách, do nông dân khai thác một cách tự phát ở những vùng đất có hiệu quả kinh tế không cao, năng suất thấp, chi phí sản xuất cao và cây cà phê không có tuổi thọ Ngoài ra, do thiếu sự tư vấn về khoa học kỹ thuật, nông dân thường sử dụng các loại phân bón không phù hợp, gây ô nhiễm và gây hại cho đất trồng, cộng với việc
Trang 40đốn bỏ nhiều loại cây che bóng mát trong vườn cà phê nhằm khai thác hết năng suất thực chất đã làm giảm năng suất cây trồng (Diễn đàn của người nông dân trồng cà phê, 2009)
Thứ ba, thiếu hụt nguồn nhân lực có chuyên môn và kinh nghiệm Mặc dù lực
lượng lao động trong ngành nông nghiệp nói chung và cà phê nói riêng là rất dồi dào, giá rẻ; tuy nhiên, đa phần họ chưa được đào tạo chuyên môn Hiện nay, việc trồng và thu hoạch cà phê chủ yếu vẫn được thực hiện bằng cách thủ công, chưa có điều kiện trang bị các thiết bị hiện đại và thiếu nhân lực để vận hành
2.1.9.2 Hoạt động thu mua
Hoạt động thu mua là cầu nối trung gian nhằm đem hạt cà phê từ các vườn trồng sau thu hoạch đến với các doanh nghiệp chế biến, sản xuất và xuất khẩu, vì vậy, có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung cà phê, giá cả, và hoạt động xuất khẩu của Việt Nam nói chung Hiện nay, các kênh thu mua cà phê khá đa dạng, bao gồm cả các doanh nghiệp nội địa và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Nhìn chung, có 2 hình thức triển khai thu mua chính: các doanh nghiệp lớn thường sẽ tự tổ chức mạng lưới đại lý thu mua, trong khi các doanh nghiệp nhỏ nhận hàng từ người thu mua hoặc đại lý thu mua lẻ
Trên thực tế, việc thu mua cà phê của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân là quá nhiều doanh nghiệp tiến hành thu mua tạm trữ, trong đó có nhiều doanh nghiệp nước ngoài, dẫn đến cạnh tranh về giá và gây sự bất ổn cho thị trường cà phê Việt Nam Năm 2011, tại các tỉnh trồng
cà phê, doanh nghiệp nước ngoài chiếm 50% hệ thống đại lý thu mua, tăng đến 35% so với những năm trước, và vẫn đang tiếp tục mở rộng mạng lưới thu mua của mình Trong khi các doanh nghiệp nước ngoài có lợi thế nguồn vốn dồi dào và dễ dàng mua tận nơi, trực tiếp từ người trồng thì doanh nghiệp Việt Nam do hạn chế
về vốn, lãi suất ngân hàng lại khá cao nên các doanh nghiệp khó xoay sở về vấn đề tài chính và sự chủ động trong tiếp cận nguồn hàng và tiến hành thu mua bị hạn chế Điều này gây ảnh hưởng không ít đến xuất khẩu cà phê Việt Nam trong lâu dài (Kiện Bình, 2011)
2.1.8.3 Kỹ thuật chế biến
Sau khi thu hoạch, cà phê thường được chế biến ngay để đảm bảo chất lượng