1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

41 365 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 365 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Doảnh hưởng của giáo dục với hệ thống các phương pháp tích cực,dạy học có tác dụng thúcđẩy sự phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ của học sinh, đã tạo nên sự biến đổi vềchất trong h

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG

TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH DẠY HỌC

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

CHƯƠNG I:QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

1 Đặc điểm cơ bản của quá trình dạy học hiện nay ở trường trung học.

1.1 Hoạt động của học sinh được tích cực hóa trên cơ sở nội dung dạy học ngày càng hiện đại hóa

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang phát triển như vũ bão đãdẫn tới sự bùng nổ thông tin Tình hình đó đòi hỏi phải không ngừng đổi mới, hiện đạihóa nội dung dạy học để phản ánh những thành tựu hiện đại về các lĩnh vực khoa học tựnhiên, khoa học xã hội – nhân văn, nhằm cung cấp cho học sinh những khối lượng kiếnthức cập nhật để họ có thể thích nghi với cuộc sống và có cơ sở để tiếp tục học tập Vì thếquá trình dạy học ở các bậc học đang tồn tại mâu thuẫn giữa một bên là khối lượng trithức đã được đổi mới tăng lên, phức tạp hơn với một bên là thời hạn học tập không thểtăng lên được Để giải quyết mâu thuẫn đó phải đổi mới phương pháp theo hướng tíchcực hoá hoạt động nhận thức, khơi dậy và phát huy năng lực tìm tòi độc lập, sáng tạo củangười học thông qua việc tạo điều kiện cho họ phát hiện và giải quyết vấn đề Nhờ vậy

mà họ nắm vững tri thức và học được cách học.Với cách học như vậy, người giáo viên ở

trường phổ thông trung học “ …trước hết không phải là người cung cấp thông tin mà là

người hướng dẫn đắc lực cho học sinh tự mình học tập Họ nhường việc cung cấp tri thức cho sách vở, tài liệu và cuộc sống, để thay vào đó, họ phải đóng vai trò người hỗ trợ cho kinh nghiệm học tập của bản thân học sinh” ( T Makiguchi- “ Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”).

1.2 Trong quá trình dạy học hiện nay, học sinh có vốn sống và năng lực nhận thức phát triển hơn so với trẻ cùng độ tuổi ở các thế hệ trước

Trong môi trường xã hội và khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ hiệnnay, người học sinh thường xuyên tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú

từ các phương tiện truyền thông khác nhau và luôn luôn chịu tác động ảnh hưởng từnhiều phía: gia đình, nhà trường, xã hội… Trong quá trình sống và tham gia tích cực cácloại hình hoạt động, giao lưu, chính bản thân các em đã tích lũy ngày càng nhiều vốnsống và kinh nghiệm hoạt động cho bản thân So với trẻ cùng lứa tuổi ở các thế hệ trước,học sinh phổ thông hiện nay có năng lực nhận thức phát triển hơn, thông minh hơn Doảnh hưởng của giáo dục với hệ thống các phương pháp tích cực,dạy học có tác dụng thúcđẩy sự phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ của học sinh, đã tạo nên sự biến đổi vềchất trong hoạt động nhận thức của các em, giúp cho khả năng tư duy cụ thể và tư duytrừu tượng của các em đều được phát triển.Trong quá trình dạy học hiện nay, giáo viêncần quan tâm khai thác vốn sống phong phú và đa dạng của học sinh và tính đến khảnăng nhận thức của các em, không ngừng đổi mới nội dung, cải tiến phương pháp và hình

Trang 2

thức tổ chức hoạt động dạy học để có thể dạy cho các em biết phát huy tối đa tiềm năng

bộ khoa học công nghệ, sự bùng nổ thông tin được phản ánh qua sách báo và phương tiệnthông tin; ảnh hưởng của đời sống xã hội; nhu cầu hành trang để lập thân, lập nghiệptrong tương lai; những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của thế hệ trẻ

Để đáp ứng xu hướng trên, ngoài chương trình qui định theo “phần cứng”, cầnthiết kế cả các môn học theo “phần mềm”, tự chọn để có thể phát huy hết mức nhữngtiềm năng và gây hứng thú nhận thức cho học sinh Như vậy, cùng với những giờ học nộikhóa, giáo viên cần tổ chức các hình thức ngoại khóa tạo điều kiện cho học sinh kiểmnghiệm và mở mang vốn hiểu biết của mình, giúp chúng thích ứng nhanh và nhạy vớicuộc sống sau này

1.4 Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện dạy học ngày càng hiện đại.

Cùng với sự đổi mới nội dung và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tíchcực của học sinh, nhà trường ngày càng được trang bị những phương tiện dạy học, đặcbiệt là những phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại có tác dụng gây hứng thú học tập chohọc sinh, giúp họ lĩnh hội nhanh và dễ dàng hơn những tri thức và vận dụng những trithức đó vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời, phương tiện dạy học mới làm giảm cường độlao động của giáo viên về mặt truyền đạt thông tin để tập trung thời gian suy nghĩ hướngdẫn, tổ chức học sinh lĩnh hội và vận dụng tri thức, tìm tòi các biện pháp mới để dạy chocác em cách học tập có hiệu quả nhất Việc tăng cường trang bị những phương tiện dạyhọc, đặc biệt là những phương tiện kĩ thuật không có nghĩa là hạ thấp trình độ nghiệp vụcủa người giáo viên, lại càng không có nghĩa thay thế người giáo viên, trái lại càng đòihỏi trình độ nghề nghiệp của họ phải cao Thực tiễn dạy học đã khẳng định, với việc trang

bị những phương tiện dạy học hiện đại mà trình độ nghiệp vụ của giáo viên thấp hiệu quảdạy học không những không tăng mà còn giảm nghiêm trọng

2 Một số vấn đề cơ bản về lý luận dạy học

2.1 Thế nào là quá trình dạy học ?

Quá trình dạy học là một quá trình hoạt động thống nhất giữa giáo viên và họcsinh, dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích

Trang 3

cực, chủ động biết tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình,nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ dạy học.

2.2 Tính thống nhất hai mặt của quá trình dạy học

Quá trình dạy học bao gồm hai mặt, hai hoạt động thống nhất biện chứng vớinhau, đó là hoạt động dạy và hoạt động học Nếu thiếu một trong hai hoạt động thìklhông thể có quá trình dạy học Ngược lại nếu hai hoạt động này không có sự gắn bóchặt chẽ, thống nhất thì quá trình dạy học không thể phát triển được

Tính thống nhất hai mặt còn thể hiện ở sự tương tác, hợp tác hai chiều và đa chiềugiữa các chủ thể trong quá trình dạy học (GV-HS, HS-HS, GV-nhóm-HS); Tính thốngnhất còn thể hiện trong mối quan hệ giữa một số nhân tố chủ yếu của quá trình dạy họcnhư: GV – HS – Môi trường dạy học; GV – HS – Nội dung

2.3 Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn.

Các yếu tố của quá trình dạy học:

Quan niệm biện chứng nhất coi trọng vai trò của các yếu tố của quá trình dạy họctrong mối quan hệ biện chứng:

- Kiểm tra- Đánh giá (KT-ĐG)

- Điều kiện, môi trường dạy học (ĐK/MT)

+ Các thành tố cấu trúc đó tạo nên một hệ thống toàn vẹn phát triển trong một môitrường kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định Khi xem xét quá trình dạy học một cách tĩnh,nghĩa là xem xét ở một thời điểm nhất định, nó bao gồm những thành tố sau: mục đíchcủa dạy học, đó là đơn đặt hàng của xã hội đối với nhà sư phạm - mục đích này được hiệnthực hóa bằng nội dung dạy học; người thầy giáo với hoạt động dạy của mình, với những

Trang 4

phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học, tác động đến động cơ của ngườihọc để thúc đẩy người học học tập với việc sử dụng những phương pháp học tập, phươngtiện và hình thức tổ chức hoạt động học của mình Sự tác động lẫn nhau giữa hoạt độngdạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh tạo nên kết quả dạy - học, nghĩa là làmbiến đổi nhân cách của người học Hoạt động dạy của giáo viên cũng phụ thuộc vào việcdạy cái gì, nghĩa là nội dung dạy học thể hiện mục đích sư phạm của hoạt động dạy Hoạtđộng học của học sinh cũng vậy, nó bị qui định bởi động cơ, nội dung dạy học, vai tròcủa môi trường xã hội phản ánh trong đơn đặt hàng của xã hội trong hoạt động củagiáoviên.

Môi trường của quá trình dạy học bao gồm sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoahọc, công nghệ Chúng có ảnh hưởng tới những thành tố của quá trình dạy học.Trongnhững thành tố đó, giáo viên với hoạt động dạy, học sinh với hoạt động học,nội dung dạyhọc là đối tượng tác động tạo thành ba đỉnh của tam giác sư phạm

2.4 Mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học.

+ Quá trình dạy học bao gồm hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động nhận học tập của học sinh, là quá trình hoạt động chung, trong đó người giáo viên đóng vai tròngười lãnh đạo, tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức của người học và người họcđóng vai trò tích cực, tự giác, chủ động phối hợp với sự tác động của người giáo viênbằng cách tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình, nhằm đạtnhững nhiệm vụ dạy học

thức-Công tác lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên bao gồm:

- Đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức - học tập

- Vạch ra kế hoạch hoạt động của mình

- Tổ chức hoạt động dạy của mình và hoạt động học của người học

- Kích thích tính tự giác, tính tích cực và chủ động của học sinh bằng cách tạo nênnhu cầu, động cơ, khêu gợi tính tò mò, ham hiểu biết, hứng thú nhận thức của người học,làm cho họ ý thức rõ ràng nghĩa vụ và trách nhiệm đối việc học tập của mình

- Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, qua đó mà có nhữngbiện pháp điều chỉnh và sửa chữa kịp thời những thiếu sót, sai lầm của họ cũng như cảitiến công tác giảng dạy của mình

Quá trình học của người học có thể diễn ra dưới sự tác động trực tiếp của ngườigiáo viên diễn ra trong tiết học trên lớp hoặc những hình thức tổ chức dạy học khác vàdưới sự tác động gián tiếp của người giáo viên khi HS tự học ở nhà

Trong trường hợp có sự tác động trực tiếp của người dạy, hoạt động tự giác,

tích cực, chủ động nhận thức - học tập của học sinh thể hiện:

- Tiếp nhận những nhiệm vụ và kế hoạch học tập do giáo viên đề ra

- Thực hiện những hành động và những thao tác nhận thức học tập nhằm giảiquyết những nhiệm vụ đề ra

- Tự điều chỉnh hoạt động nhận thức - học tập của mình dưới tác động kiểm tracủa giáo viên và sự tự kiểm tra của mình

- Phân tích những kết quả hoạt động học tập dưới sự lãnh đạo của giáo viên

Trong quá trình hoạt động độc lập học tập thiếu sự lãnh đạo trực tiếp của giáo viên thì hoạt động của người học được thể hiện:

Trang 5

- Lập kế hoạch hoặc cụ thể hoá những nhiệm vụ hoạt động học tập của mình.

- Tự tổ chức hoạt động học tập bao gồm việc lựa chọn phương pháp, phương tiện

và những hình thức hoạt động học tập của mình

- Tự kiểm tra và tự điều chỉnh trong tiến trình hoạt động học tập của mình

- Tự phân tích những kết quả hoạt động học tập của mình

Tùy theo sự tác động lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh thông qua nội dung dạyhọc mà trong quá trình dạy học hoặc là người giáo viên làm trung tâm hoặc người họcsinh làm trung tâm Trong lý luận dạy học hiện đại quan điểm cốt lõi là lấy người học làmtrung tâm Việc chuyển biến nhận thức từ lấy người thầy giáo làm trung tâm sang lấyngười học làm trung tâm được coi như là cuộc cách mạng trong quá trình dạy học

+ Trong quá trình dạy học, quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của họcsinh liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau Các mối liên hệ xuôi, liên hệ ngược ngoài vàliên hệ ngược trong được hình thành làm cho quá trình dạy học trở thành một chu trìnhkín

Người giáo viên phải căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ dạy học để lựa chọn nộidung, phương pháp, phương tiện dạy học nhằm tác động đến học sinh, tạo nên đường liên

hệ xuôi

Sau khi tiếp nhận và xử lí thông tin, học sinh đạt được một kết quả học tập nhấtđịnh và báo cáo kết quả đó cho giáo viên thông qua việc kiểm tra, tạo nên đường liên hệngược ngoài và làm cho quá trình dạy học trở thành một chu trình kín Giáo viên dựa vàokết quả thông báo ngược đó để định ra cách tiếp tục tác động đến học sinh một cách cóhiệu quả hơn

Thông qua kiểm tra học sinh cũng tự phát hiện ra ưu điểm và thiếu sót của mình

để cải tiến cách học tập, tạo nên đường liên hệ “ngược trong” trong bản thân học sinh.Muốn cho quá trình dạy học đạt hiệu quả cao cần phải làm cho nó trở thành chu trìnhkhép kín

Mối quan hệ giữa người dạy và người học có thể diễn tả trong các sơ đồ sau đây:

Trang 6

Nội dung DH

Truyền đạt Lĩnh hội

Cộng tác Điều khiển Tự điều khiển

2.4 Chu trình dạy học ( logic vận động và các khâu của quá trình dạy học )

Theo các nhà lý luận dạy học truyền thống, quá trình nhận thức của HS trong quátrình học tập vùa có những đặc điểm chung như mọi quá trình nhận thức của các nhàkhoa học, của loài người, song nó cũng có những điểm khác biệt

Một chu trình dạy học hoàn chỉnh bao gồm các giai đoạn (các khâu) sau:

- Kích thích HS học tập Mục đích của khâu này nhằm di chuyển sự chú ý của HS

vào bài học, hình thành nhu cầu và tâm thế học tập Nói cách khác, là hình thành tínhsẵng sàng hoạt động ở HS

- Hình thành kiến thức mới ở HS, bao gồm cả kiến thức lý thuyết, kiến thức thực

hành và kiến thức về phương pháp…

- Luyện tập và củng cố những kiến thức đã được hình thành ở HS hoặc điều chỉnh

nếu có sự sai lệch Ở mức độ cao, có thể cho HS vận dụng kiến thức để giải quyết nhữngvấn đề do thực tiễn, do khoa học đặt ra

- Hệ thống hoá hoặc khái quát hoá những kiến thức đã thu lượm được.

- Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy và hoạt động học nhằm đánh giá trình

độ của dạy và học sau một chu trình dạy học; điều chỉnh hoạt động dạy và học của thầy

và trò; làm cơ sở hoạch định cho một hoạt động, một chu trình dạy học tiếp theo

Các khâu trên không nhất thiết được tiến hành một cách tuần tự, mà tuỳ theo điềukiện, tính chất, mục tiêu dạy học cụ thể, người ta có thể tiến hành theo các trật tự khácnhau

2.6 Động lực phát triển của quá trình dạy học:

Trong quá trình vận động và phát triển, dạy học phải luôn giải quyết một loạt cácmâu thuẫn trong quá trình dạy học mà mâu thuẫn cơ bản là:

Trang 7

(1) Dạy (mong muốn của người dạy) > < Học (nguyện vọng của người học)

(2) Học: Cái đã biết > < Cái chưa biết, cái phải tìm

(3) Yêu cầu đối với dạy học > < Điều kiện hiện có của dạy học

(4) Mục tiêu > < Nội dung, phương pháp, phương tiện…

(5) Hệ thống dạy học > < Yêu cầu của xã hội …

2.7 Các nhiệm vụ dạy học:

- Nhiệm vụ giúp người học lĩnh hội một hệ thống kiến thức

- Nhiệm vụ phát triển trí tuệ cho người học

- Nhiệm vụ hình thành các giá trị sống và các phẩm chất nhân cách của người học

2.8 Một số quy luật cơ bản của dạy học:

- Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học;

- Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp vàphương tiện dạy học;

- Quy luật về tính quy định của xã hội đối với dạy học;

- Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa dạy học và giáo dục nhân cách,

- Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa dạy học với phát triển trí tuệ

3 Một số quan điểm trong dạy học:

3.1 Lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học

3.1.1 Quan điểm lấy người học làm trung tâm trong quá trình dạy học

Một cách tổng quát, bản chất của quá trình dạy học với quan điểm lấy người họclàm trung tâm là lấy hoạt động của người học làm trung tâm, trong đó người học vừa làmục tiêu, vừa là động lực của quá trình dạy học Cụ thể là:

- Người học phải là chủ thể hoạt động tự giác, tích cực, chủ động để chiếm lĩnh trithức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và thái độ nhằm đáp ứng được những yêu cầu của xã hộiđược phản ánh trong mong muốn và nguyện vọng của người học Chính người học phải

là chủ thể tạo nên sản phẩm giáo dục cho chính mình Người học phải nhập cuộc vào hoạtđộng học tập của mình sau khi đã có sự cân nhắc, lựa chọn cẩn thận

- Người học nhập cuộc vào hoạt động học tập do động cơ bên trong thúc đẩy.Động cơ đó phải là điều không chỉ có ý nghĩa thật sự đối với mình mà còn có giá trị đốivới yêu cầu của nhà trường, yêu cầu của xã hội

- Trong học tập người học tự thể hiện mình và hợp tác với bạn, qua đó mà học bạn

và xã hội hóa việc học của mình

- Việc dạy học phải xuất phát từ người học: từ nhu cầu, động cơ, đặc điểm tư duy,năng lực (đặc điểm tâm lý cá nhân), điều kiện học tập… Trong quá trình dạy học lấyngười học làm trung tâm, một mặt phải chú ý nhu cầu, động cơ của tập thể và từng cánhân người học; mặt khác phải giáo dục họ nhu cầu, động cơ đúng đắn để họ dễ dàngthích ứng nhanh trước những biến đổi yêu cầu của xã hội đối với họ

- Việc học của học sinh phải được phân hoá và cá thể hóa vì mỗi người học cónhịp điệu học, hứng thú, nhu cầu, năng lực khác nhau, không có người nào học hoàn toàngiống nhau.Trong quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm phải chuyển hoá quátrình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

- Trong hệ thống dạy học lấy người học làm trung tâm, người học vừa là chủ thể,vừa là mục đích của quá trình học tập Quan điểm lấy người học làm trung tâm phải được

Trang 8

quán triệt trong việc lựa chọn và trình bày nội dung dạy học, trong việc sử dụng phươngpháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm giúp cho người học biết tư duy, biết cách họcthông minh và sáng tạo, có thái độ ham muốn học tập đúng đắn.

3.1.2 Vai trò của người giáo viên trong quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm.

Khi nói người học là trung tâm trong quá trình dạy học không có nghĩa là hạ thấp

vai trò của người dạy Trái lại, “ Giáo viên giữ vai trò quyết định trong quá trình dạy học

và đặc trưng trong việc định hướng giáo dục… Không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc trong hệ thống đó… Người giáo viên không chỉ còn là người truyền đạt, thông báo những tri thức rời rạc, mà là người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức- học tập của người học sinh, người hướng dẫn, người cố vấn, người mẫu mực của người học” Để đạt được điều đó, hoạt động của người

giáo viên đa dạng hơn, phức tạp và khó khăn hơn nhiều Nếu thiếu tình cảm nghề nghiệp,tình cảm đối với học sinh, thiếu tri thức sâu và rộng, thiếu kĩ năng sư phạm thì người giáoviên không thể hoàn thành được nhiệm vụ cao cả đó.Quan hệ tương hỗ giữa giáo viên vàhọc sinh đạt được hiệu quả tối ưu trong trường hợp có sự thống nhất biện chứng giữa hoạtđộng của giáo viên và học sinh, trong đó sự nỗ lực của giáo viên trùng với sự nỗ lực củabản thân học sinh để tạo nên sự cộng hưởng của chính quá trình dạy học đó Lấy học sinhlàm trung tâm là ưu tiên cao cho việc bồi dưỡng và phát huy tính sáng tạo của người học

3.2 Phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh trung học.

3.2.1 Tính tích cực trong hoạt động nhận thức

Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, thể hiện sự gắng sức cao vềnhiều mặt trong hoạt động của mình Tính tích cực trong hoạt động nhận thức có nhữngbiểu hiện:

- Tập trung chú ý cao

- Say sưa, hứng thú, nhiệt tình với việc học tập và nhận thức

- Định hướng được nhiệm vụ nhận thức

- Có ý chí, kiên trì khắc phục khó khăn, tích cực suy nghĩ để hoàn thành nhiệm vụ

- Có khả năng linh hoạt để đáp ứng những tính huống khác nhau trong đặt vấn đề,giải quyết vấn đề và kiểm tra kết quả giải quyết vấn đề

3.2.2 Tính độc lập trong hoạt động nhận thức.

Tính độc lập là những hoạt động có hệ thống trên lớp và ngoài lớp, để tự mình tìmtòi tri thức, nêu ra vấn đề, giải quyết vấn đề và tự kiểm tra được kết quả công việc Tínhđộc lập trong hoạt động nhận thức có những biểu hiện:

- Tự hòan thành được nhiệm vụ nhận thức

- Hoàn thành theo cách riêng của mình.Độc lập là nét đặc trưng cơ bản của tríthông minh

3.2.3 Tính sáng tạo trong hoạt động nhận thức

Tính sáng tạo là sự hiểu biết nhận thức học tập một cách tinh tế, nhạy cảm đồngthời nắm được phương pháp suy nghĩ và giải quyết vấn đề một cách khoa học để tạo ramột hoạt động hay một sản phẩm mới.Biểu hiện của tính sáng tạo trong hoạt động nhậnthức:

- Phát hiện được cấu trúc của đối tượng nghiên cứu

Trang 9

- Nhìn thấy được những vấn đề mới của đối tượng quen biết

- Biết tự lực chuyển các tri thức và kĩ năng sang một tình huống mới

Xét về mức độ thì tính độc lập rộng hơn, cao hơn tính tích cực, còn tính sáng tạo làmức độ phát triển cao nhất, là mức lí tưởng mà người giáo viên trung học mong muốn ởhọc sinh.Tính sáng tạo phải bao hàm cả tính tích cực và tính độc lập

3.2.4 Những con đường phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh trung học

- Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học

- Dạy học phân hóa

- Kết hợp giữa tập thể với cá nhân – dạy học theo nhóm

3.3 Công nghệ dạy học (CNDH)

3.3.1 Khái niệm về CNDH.

+ Vài nét sơ lược về quá trình hình thành công nghệ dạy học.

Trước đây, trong nền giáo dục cũ, việc dạy học chủ yếu dưạ vào lời nói và chữviết, đó là dạy học cổ truyền.Vào đầu những năm 40 của thế kỷ 20, người ta bắt đầu sửdụng phim ảnh Cuối những năm 40 và đầu những năm 50, ở khắp châu Âu, châu Mỹ rồichâu Mỹ Latinh, việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học, việc sử dụng dạy họcchương trình hóa và các máy dạy học được sự hưởng ứng rộng rãi của các nhà giáo vàcác nhà khoa họcgiáo dục ở Tây Âu, ở Mỹ, ở Liên Xô và một số nước khác Đến khoảngcuối những năm 60, việc ứng dụng rộng rãi các phương tiện kĩ thuật trong giáo dục đãlàm xuất hiện các thuật ngữ công nghệ giáo dục, công nghệ dạy học, công nghệ đào tạo

+ CNDH theo nghĩa hẹp.

Những định nghĩa thuộc nhóm này về cơ bản đồng nhất CNDH với việc sử dụngvào giáo dục các phát minh, các sản phẩm công nghệ hiện đại của thông tin đại chúng vàcác phương tiện kĩ thuật dạy học

- Theo Collier và nhiều cộng tác viên: “ Công nghệ dạy học có nghĩa là việc ápdụng các hệ thống kĩ thuật và các phương tiện hỗ trợ để cải tiến quá trình học tập của conngười.” ( A Wood công nghệ giáo dục – hướng tới một định nghĩa Innovation số3.1988)

- Michael Clark, giám đốc trung tâm nghe nhìn trường đại học Luân Đôn Anhcho rằng: “ Từ những năm 1950, các giáo sư bình luận về tác động ngày càng tăng củacác phương tiện công nghệ dùng vào giáo dục, hiện tượng đó được gọi là CNDH Thuậtngữ này dần dần bị hiểu theo hai hướng, một hướng tiếp tục duy trì nghĩa gốc của nó làviệc sử dụng vào giáo dục các phát minh, các sản phẩm công nghiệp và các phương phápnằm trong công nghiệp hiện đại; một hướng khác, do sự hiểu nhầm và dẫn đến ý nghĩrằng do kĩ thuật điện tử đẻ ra nhiều máy móc điện tử, nghe nhìn có thể tồn tại một CNDHnhư công nghiệp làm lạnh, công nghiệp làm giấy” Ông chỉ thừa nhận có hiện tượng côngnghệ áp dụng vào giáo dục

+ CNDH theo nghĩa rộng.

- Theo Tổ chức UNESCO (Hội thảo tại Giơnevơ từ ngày 10 đến 16 tháng

5/1970):“ Công nghệ dạy học là khoa học về giáo dục, nó xác lập các nguyên tắc hợp lý

của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình dạy học,

Trang 10

cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích dạy học đề ra, đồng thời tiết kiện được sức lực của thầy và trò”.

- David G Hawkridge, giáo sư khoa học ứng dụng và giám đốc trường đại học

mở Anh cho rằng: “… Công nghệ dạy học bao hàm một phạm vi rất rộng: nó gồm hầu

hết các phương tiện của giáo dục từ việc soạn thảo các chương trình cho đến việc học tập của học sinh, từ các bảng đen dùng ở nhà trường nông thôn đến việc thiết lập các thời khoá biểu hang ngày bằng máy tính điện tử CNDH có phạm vi nghiên cứu rất rộng, liên quan đến các mục đích, đến bản thân quá trình đào tạo, cũng như đến các phương tiện…”.Ông kết luận rằng: “ có một công nghệ dạy học theo nghĩa đầy đủ như công nghệ

làm lạnh, công nghệ làm giấy Chúng ta đang ở bình minh của một cái gì hoàn toàn mới,hấp dẫn, đe dọa

- Theo Jankieviz ( Ba Lan 1971): “ Công nghệ dạy học là hệ thống các chỉ dẫn

sử dụng các phương pháp, phương tiện hoạt động, mà kết quả là phải đào tạo được nhữngngười tốt nghiệp theo mong muốn trong thời gian ngắn nhất có thể được với sự chi phíphương tiện một cách tối ưu”

- Terami Nakano ( Nhật Bản) trong bài viết về “ Công nghệ dạy học và đào tạogiáo viên” đọc tại hội nghị Công nghệ dạy học châu A lần thứ ba tại Tôkiô đã nêu: “Công nghệ dạy học là một phương thức tư duy có tính khoa học và hệ thống đối với giáodục, chứ không chỉ đơn thuần là giới thiệu các phương tiện giảng dạy hay công nghệphần cứng”

Cho đến hiện nay, còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau cho cùng một khái niệmCNDH Tuy nhiên có thể nhận thấy những định nghĩa ra đời vào giai đoạn đầu mới xuấthiện khái niệm thì hầu như đều nói việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học vàogiáo dục là thuộc tính bản chất của khái niệm này Càng về sau, theo tiến trình của thờigian, các định nghĩa dần dần được mở rộng hơn, bao quát và sâu sắc hơn

Tuy nhiên còn một số quan điểm đối lập cần chú ý, đó là sự thừa nhận của một sốnhà giáo dục cho rằng có một công nghệ dạy học, nhưng lại có quan điểm chỉ thừa nhận

có công nghệ ứng dụng vào dạy học chứ không thể có một công nghệ dạy học được hiểuđơn thuần như khái niệm công nghệ trong sản xuất;một số nhà giáo dục cho rằng CNDH

đã phát triển tới một mức độ cao, đã trở thành một khoa học có vị trí độc lập nhưng lại có

ý kiến cho rằng giáo dục còn phải tồn tại ở thời kì tiền công nghệ cho đến khi nó có một

lý thuyết đầy đủ cơ sở khoa học

3.3.2 Bản chất và đặc điểm của CNDH.

CNDH xuất hiện do nhu cầu của thời đại.

Với cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũ bão hiện nay, nhiềulĩnh vực khoa học mới và nhiều ngành nghề mới hình thành và phát triển tri thức rấtnhanh Từ đó xuất hiện nhanh chóng nhu cầu ngày càng tăng về cán bộ khoa học kĩ thuật

cả về số lượng lẫn chất lượng Trong thực tế ở hầu hết khắp nơi trên thế giới, tồn tại mâuthuẫn khách quan một bên giữa yêu cầu trước mắt và lâu dài về cán bộ chuyên môn ngàycàng tăng và một bên là có một sự trì trệ nhất định trong giáo dục đào tạo, bởi lẽ giáo dụcthường kém linh hoạt và năng động hơn nhiều so với sự phát triển của sản xuất và khoahọc kĩ thuật Vì vậy cần phải có một sự đổi mới mạnh mẽ về mục tiêu nội dung, tổ chức

Trang 11

và hệ phương pháp dạy học.Có thể nói cơ sở kinh tế xã hội của CNDH chính là cuộc cáchmạng khoa học kĩ thuật trong thời đại ngày nay.

Bản chất của công nghệ dạy học.

+ Nói một cách ngắn gọn CNDH là sự áp dụng những thành tựu của khoa học, kĩ

thuật và công nghệ vào quá trình dạy học nhằm thực hiện mục đích giáo dục với hiệu quả kinh tế cao hoặc CNDH là sự công nghệ hóa quá trình dạy học Nói một cách đầy đủ

hơn: Công nghệ dạy học là một khoa học về giáo dục con người Dựa trên cơ sở tổng

hợp những thành tựu của nhân loại từ trước tới nay, đặc biệt những thành tựu hiện đại của các khoa học giáo dục và các khoa học liên quan như sinh học, tâm lý học, điều khiển học, lý thuyết tổ chức, lôgíc học, kinh tế học giáo dục… công nghệ dạy học tổ chức một cách khoa học quá trình đào tạo con người bằng cách xác định một cách chính xác

và sử dụng một cách tối ưu đầu ra (mục tiêu giáo dục), đầu vào (học sinh), nội dung dạy học, các điều kiện phương tiện kĩ thuật dạy học, các tiêu chuẩn đánh giá, hệ phương pháp tích cực hóa, chương trình hóa (qui trình hóa) và cá thể hóa quá trình dạy học, với

sự chi phí tối ưu, thời gian, sức lực, tiền của của giáo viên, học sinh, nhân dân và Nhà nước nhằm đạt được mục đích giáo dục và đáp ứng được kịp thời những yêu cầu của thời đại.

Ơ đây có một số điểm cần chú ý:

+ CNDH kế thừa tất cả những thành tựu, những tinh hoa của nhân loại về giáodục, chứ không phủ định sạch trơn như một số người lầm tưởng CNDH xem quá trìnhdạy học như là một quá trình công nghệ đặc biệt, nhằm sản xuất ra những sản phẩm caocấp, những con người, những cán bộ khoa học kĩ thuật Với tính chất là quá trình côngnghệ phải chú ý đầy đủ đến các yếu tố sau đây:

- Đầu ra, tức là sản phẩm cụ thể cần sản xuất, ở đây là mục tiêu giáo dục

- Đầu vào, tức nguyên vật liệu và các điều kiện, ở đây là người học sinh, nộidung dạy học, các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị và phương tiện dạy học

- Các qui trình công nghệ vi mô và vĩ mô nhằm biến đầu vào thành đầu ra

- Hiệu quả kinh tế của quá trình

+ CNDH là một quá trình công nghệ đặc biệt, vì ở đây nguyên vật liệu là học sinh,

là một chủ thể có ý thức Trong quá trình dạy học theo quan điểm CNDH, thầy giáo làngười vừa thiết kế vừa góp phần thi công, học sinh là người vừa thi công, vừa tự thiết kếquá trình học tập của mình Như vậy, đòi hỏi học sinh là trung tâm tích cực và chủ độnghọc tập.Họ không chỉ đi theo con đường thẳng, con đường bắt chước, làm theo, mà còn đitheo con đường phân nhánh, họ vừa đi theo con đường algôrit, vừa đi theo con đườngơristic Như vậy, các quan niệm quá cứng nhắc, máy móc về quá trình dạy học theo quanđiểm CNDH đều là sai lầm

Trang 12

CHƯƠNG II:

NỘI DUNG VÀ CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

1 Nội dung dạy học (NDDH)

1.1 Khái niệm NDDH

+ Nội dung dạy học là những kiến thức khoa học cơ bản về tự nhiên, xã hội, con

người và phương thức hoạt động cần thiết cho người học trong cuộc sống mà họ cần phảilĩnh hội và chuyển hoá thành giá trị nhân cách, giúp họ có thể tồn tại và phát triển trong

Trong dạy học, việc xác định nội dung phải biết, nên biết, có thể biết có thể cho

một bài học, một môn học/ học phần hay của một khoá học nó giúp cho ta xác định được

phần cứng cốt lõi hay phần mềm Phần bắt buộc ( chất liệu chủ yếu để thực hiện mục tiêu

đã đặt ra cho người học), phần tự chọn trong nội dung học tập Tuy nhiên đối với một giờdạy học, điều này giúp người dạy phân bổ hợp lý cũng như đặt đúng trọng số ưu tiên cho

kế hoạch dạy học cũng như chỉ đạo việc lựa chọn cách thức tổ chức dạy học thích hợp

Cần lưu ý:

- Nội dung dạy học không chỉ là nội dung học được trên lớp hay nội dung mà thầy

đã truyền đạt cho người học mà nó còn bao hàm cả nội dung người học được thảo luận,

tự học, tự tìm kiếm và xử lý Một hình ảnh giúp các GV liên tưởng khi tổ chức quá trìnhdạy học trên lớp là: nếu coi toàn bộ nội dung của một bài học ( hay học phần ) là một cây

cổ thụ thì phần thân, rễ, cành người GV nên tổ chức cho người học “vẽ” được ngay trênlớp; còn phần nhánh, lá thì chỉ nên cho họ tiếp tục “vẽ” và hoàn thiện “cây kiến thức” ởnhà

- Khi chiếm lĩnh nội dung học, người học chiếm lĩnh cả phương pháp nhận thức

khoa học vì vậy đừng quan niệm nội dung học chỉ là kiến thức mà còn có cả cách học,

phương pháp tư duy.

+ NDDH ở trường trung học là một bộ phận được chọn lọc trong nền văn hóa củadân tộc và của loài người (bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) mà ngừơi giáoviên cần tổ chức cho học sinh lĩnh hội để đảm bảo hình thành nhân cách theo mục tiêugiáo dục đã định NDDH trong chương trình trung học gồm 4 thành phần :

(1) Hệ thống những tri thức phổ thông cơ bản hiện đại về tự nhiên, xã hội, tư duy, kĩ thuật

và về cách thức hoạt động

(2) Hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo lao động trí óc và lao động chân tay

(3) Hệ thống những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo

Trang 13

(4) Hệ thống những chuẩn mực (tiêu chuẩn) về thái độ đối với tự nhiên, xã hội và với conngười.

1.2 Các tiêu chuẩn xây dựng và lựa chọn nội dung.

1.2.1 Dựa vào mục tiêu giáo dục của trường phổ thông ở nước ta

Đó là đào tạo thế hệ trẻ thành những công dân mới, những người lao động pháttriển toàn diện.Nội dung dạy học ở trường trung học phải chuẩn bị cho học sinh ra trường

có thể tham gia lao động sản xuất, tiếp tục học trong các trường nghề, trung học chuyênnghiệp, đại học hoặc tham gia nghĩa vụ quân sự bảo vệ đất nước và làm kinh tế…

1.2.2 Dựa vào hiện trạng và xu thế phát triển của văn hóa khoa học.

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tiến bộ hiện nay đã làm thay đổi vị trí, tínhchất, cấu trúc của nội dung các môn học trong nhà trường Vì vậy nội dung dạy học phải:

- Phản ánh được những thành tựu mới nhất của khoa học, kĩ thuật và văn hóa

- Phải đảm bảo tính hệ thống và tăng cường mối liên hệ giữa các môn học (tíchhợp môn học)

1.2.3 Dựa vào khả năng lĩnh hội của học sinh.

Học sinh có nhiều nguồn thông tin, nhiều kinh nghiệm sống, năng lực nhận thứccủa học sinh phát triển, do vậy nội dung dạy học cần phải gia công theo logic nhận thứccủa từng lứa tuổi học sinh, phù hợp với giới tính, với năng lực và nguyện vọng của họ

1.3 Xu hướng đổi mới nội dung dạy học trong nhà trường hiện đại.

1.3.1 Hiện đại hóa, quốc tế hóa nội dung dạy học.

Tư tưởng này quán triệt ở tất cả các môn học, trên cơ sở lựa chọn những kiến thức

cơ bản hiện đại, tiếp cận nhanh với thành quả mới nhất của khoa học tự nhiên, xã hội, kỹthuật, nhất là với các ngành khoa học công nghệ mũi nhọn Hiện đại hóa các phương tiện

để tiếp nhận thông tin, cách tổ chức, quản lí giáo dục cũng như cơ sở vật chất kĩ thuật đểchuyển tải tốt nội dung dạy học Sớm tạo mối liên kết, hợp tác với các nước trong khuvực và trên thế giới … để hiện đại hóa và quốc tế hóa nội dung dạy học, kể cả hình thứctrao đổi giáo viên, học sinh giữa các nước trên thế giới Do xu hướng quốc tế hóa ngàycàng nhanh nên việc học ngoại ngữ , tin học cần phải được coi trọng trong nhà trườngphổ thông

1.3.2 Đề cao tính nhân văn, tính dân tộc trong nội dung dạy học.

Cần sớm hình thành một hệ thống các giá trị: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…trên cơ sở thấm nhuần các giá trị nhân văn và giá trị truyền thống của con người để làm

cơ sở cho việc hình thành nhân cách cho học sinh trong quá trình dạy học Đây là một nộidung lớn, góp phần định hướng xã hội chủ nghĩa, định hướng cho việc phát triển xã hộitương lai và cũng là một mặt quan trọng để đảm bảo cho gia đình hạnh phúc, xã hội côngbằng, văn minh Trên cơ sở tôn trọng các giá trị chân, thiện, mĩ, giáo dục cho học sinhđạo đức, tình thương yêu, tính vị tha, sự công bằng, cái cao cả … để đào tạo lớp thanhniên có trí tuệ, có phẩm chất, giàu tính sáng tạo, nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp Dovậy việc biên soạn và dạy học tất cả các bộ môn, nhất là các bộ môn khoa học xã hội vànhân văn phải đậm đà tính dân tộc và tôn trọng các quy luật khách quan trong việc pháttriển kinh tế - xã hội

1.3.3 Tăng cường giáo dục nghệ thuật và giáo dục thể chất trong nhà trường

Trang 14

Nội dung này nhằm trau dồi thể lực và óc thẩm mĩ, đồng thời cùng với các mặtgiáo dục khác, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của văn hóa, nghệ thuật dân tộc

và của nhân loại Các mặt giáo dục này còn góp phần trau dồi tính nhân văn, tạo điềukiện để con người hưởng thụ được các giá trị tinh thần, vật chất phong phú của xã hộiloài người, cảm thụ được những cái hay, cái đẹp mà xã hội loài người đã sáng tạo qua baonhiêu thời đại Trên cơ sở đó con người mới biết sáng tạo và bảo vệ những giá trị nghệthuật

1.3.4 Tăng cường các yếu tố quản lí, kinh tế, thương mại thị trường nhằm gắn

giáo dục, khoa học – công nghệ với sản xuất, với kinh tế xã hội, góp phần chuẩn bị chohọc sinh thích ứng nhanh và có khả năng tìm kiếm việc làm trong nền kinh tế thị trường,góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2 Những văn bản chuẩn thể hiện nội dung dạy học ở trường trung học

2.1 Kế hoạch dạy học

Kế hoạch dạy học là văn kiện do nhà nước ban hành, trong đó qui định:

- Các môn học

- Thứ tự giảng dạy và học tập các môn học

- Số tiết dành cho từng môn trong mỗi tuần ở từng năm học

- Tổ chức năm học: Số tuần thực học, số tuần lao động và nghỉ, chế độ học tậphàng tuần, hàng ngày

- Qui dịnh một số hoạt động chung: Chào cờ, sinh hoạt tập thể, dạy nghề…

- Chế độ học tập của học sinh: mỗi ngày học một buổi, mỗi năm học 33 tuần, mỗituần học khoảng 30 –35 tiết

2.2 Chương trình dạy học

Chương trình dạy học cũng là văn kiện do nhà nước ban hành, trong đó qui định:

- Vị trí, mục tiêu môn học

- Nội dung môn học: gồm các phần, các chương, các bài và các mục cụ thể

- Phân phối thời gian cho các phần, các chương, các bài, ôn tập, hệ thống hóa kiếnthức, kiểm tra đánh giá

- Giải thích chương trình và hướng dẫn thực hiện chương trình

Trang 15

CHƯƠNG III:

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

1 Khái niệm phương pháp dạy học

+ Phương pháp là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhấtđịnh Phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được nhữngkết quả phù hợp với mục đích đã định

+ Trong quá trình dạy học phương pháp là yếu tố phụ thuộc nhiều nhất vào 6 yếu

tố khác của quá trình dạy học, nó chỉ rõ cách thức tổ chức dạy học và việc lựa chọn nókhông phải do GV thích mà phải phù hợp với mục tiêu, nội dung, điều kiện phương tiện

và đặc biệt là phải phù hợp với đặc điểm của người học Phương pháp dạy học là mộtkhái niệm được hiểu ở các bình diện khác nhau, không thống nhất với nhau Tuy nhiên,

dù hiểu theo quan điểm nào thì PPDH cũng đều có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:

- Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của HS nhằm đạt được mục đíchdạy học;

- Phản ánh sự vận động của nội dung và sư chiếm lĩnh nội dung dạy học;

- Phản ánh cách thức trao đổi thông tin trong quá trình dạy học;

- Phản ánh cách thức điều khiển, chỉ đạo, tổ chức hoạt động nhận thức theo mộtquy trình nhất định

Cần lưu ý:

- Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với sựtương tác lẫn nhau trong đó phương pháp dạy có vai trò chỉ đạo, còn phương pháp học cótính độc lập tương đối , chịu sự chi phối của phương pháp dạy Tuy vậy, phương pháphọc cũng có ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy

- Phương pháp dạy học là tổ hợp những biện pháp với tư cách là những thành phầncấu trúc của nó Song việc phân chia như vậy cũng chỉ có tính chất tương đối Chẳng hạngiảng giải là phương pháp dạy học trong tiết học để lĩnh hội tri thức mới, nhưng lại trởthành biện pháp của phương pháp công tác trong phòng thí nghiệm Điều đó có nghĩa làtrong những điều kiện nhất định, phương pháp dạy học có sự chuyển hoá lẫn nhau

2 Vận dụng những phương pháp dạy học cụ thể

Phương pháp dạy học có thể được phân loại theo những góc độ khác nhau Dướigóc độ xem xét hoạt động dạy học như là một dạng hoạt động lao động, phương pháp dạyhọc có thể phân ra ba nhóm sau:

(1) Phương pháp tổ chức và thực hiện hoạt động nhận thức – học tập

(2) Phương pháp kích thích và hình thành động cơ hoạt động nhận thức- học tập.(3) Phương pháp kiểm tra - đánh giá, tự kiểm tra - đánh giá hoạt động nhận thức -học tập

2.1 Nhóm phương pháp tổ chức, thực hiện hoạt động nhận thức – học tập

2.1.1 Phân nhóm các phương pháp dùng lời

a Phương pháp thuyết trình.

Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học bằng lời nói sinh động của giáoviên để trình bày tài liệu mới hoặc tổng kết những tri thức mà học sinh đã tiếp thu được

Trang 16

một cách có hệ thống Phương pháp thuyết trình thể hiện dưới hình thức giảng giải, giảngthuật và giảng diễn.

Những cần lưu ý khi sử dụng phương pháp thuyết trình:

- Trình bày chính xác các sự kiện, hiện tượng, khái niệm, định luật, vạch ra được bản chấtcủa vấn đề, ý nghiã tư tưởng, chính trị và thực tiễn của tài liệu học tập

- Trình bày đảm bảo tính tuần tự logíc rõ ràng, dễ hiểu, với lời nói rõ, gọn, sang sủa, giàuhình tượng, chuẩn xác, xúc tích

- Trình bày phải thu hút và duy trì sự chú ý, gây được hứng thú, hướng dẫn tư duy củahọc sinh thông qua giọng nói, tốc độ nói, âm lượng thay đổi thích hợp, qua các mẫuchuyện vui đúng mức, qua cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, kết hợp hài hoà lời nói

và điệu bộ, nét mặt, biết đưa lời trích dẫn vào đúng chỗ, đúng lúc

- Trình bày phải đảm bảo cho học sinnh ghi chép được những vấn đề cơ bản và qua đó

mà dạy cho họ biết cách vừa ghi vừa tập trung nghe giảng

b Phương pháp vấn đáp (đàm thoại)

+ Phân loại:

- Dựa vào mục đích dạy học:

Vấn đáp gợi mở: giáo viên đặt câu hỏi hoặc một chuỗi câu hỏi nhằm dẫn dắt học

sinh giải quyết một câu hỏi cơ bản từ đó rút ra kết luận, lĩnh hội tri thức mới

Vấn đáp củng cố: giáo viên đặt ra một câu hỏi hoặc hệ thống câu hỏi nhằm giúp

học sinh củng cố nhũng tri thức cơ bản, mở rộng, đào sâu những tri thức đã tiếp thu

Vấn đáp tổng kết: GV đặt câu hỏi giúp học sinh khái quát, hệ thống hoá những tri

thức sau khi đã học một số bài, một chương, một bộ môn nhất định

Vấn đáp kiểm tra: GV đặt câu hỏi nhằm kiểm tra những tri thức đã học, đã được

củng cố, khái quát, hệ thống hoá của HS Qua đó giáo viên có thể đánh giá và giúp HS tựkiểm tra, tự đánh giá những tri thức đã được lĩnh hội

- Dựa vào tính chất nhận thức của học sinh:

Vấn đáp giải thích – minh họa: giáo viên đặt ra những câu hỏi yêu cầu học sinh

giải thích, nêu lên dẫn chứng để minh hoạ, làm sáng tỏ cho sự giải thích của mình Trongcâu trả lời của học sinh không chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức mà phải có sự cấu trúc lại trithức để có sự suy luận cần thiết

Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt ra những câu hỏi yêu cầu học sinh phải nhớ lại tri

thức đã học và vận dụng chúng để giải quyết những nhiệm vụ học tập trong hoàn cảnh cụthể

Vấn đáp tìm tòi- phát hiện: giáo viên đặt ra những câu hỏi có tính chất vấn

đề,tạo tình huống có vấn đề để HS có nhu cầu phải lĩnh hội tri thức mới để giải quyết vấn

đề đó

+ Một số vấn đề cơ bản trong việc sử dụng phương pháp vấn đáp

Phân loại câu hỏi:

- Dựa theo nội dung, sự diễn đạt ngôn ngữ: câu hỏi đơn giản, câu hỏi phức tạp.

- Dựa theo mục đích dạy học: câu hỏi định hướng, câu hỏi gợi mở, câu hỏi nhắc nhở.

- Dựa theo chức năng: câu hỏi phân tích – tổng hợp, câu hỏi so sánh, đối chiếu, câu hỏi

hệ thống hoá tri thức, câu hỏi đòi hỏi cụ thể hoá tri thức

Trang 17

- Dựa theo mức độ tính chất hoạt động nhận thức của học sinh: câu hỏi có tính thông

tin và câu hỏi có tính vấn đề

Câu hỏi có tính thông tin là câu hỏi nhằm làm sáng tỏ mức độ lĩnh tri thức đã

thông báo, là câu hỏi mà sau câu trả lời chỉ cần nhớ lại những tri thức đã được lĩnh hộitrước đây

Câu hỏi có tính vấn đề là câu hỏi tạo cho học sinh gặp phải một tình huống có

vấn đề, gây nên trạng thái tâm lý khi gặp phải mâu thuẫn giữa điều đã biết với điều chưabiết, nhưng muốn biết Câu trả lời cho câu hỏi có tính vấn đề chưa có trong tri thức trước

đó của học sinh, mà cần phải có tri thức mới Để có tri thức đó, cần phải có hành động trítuệ nào đó, một quá trình tư duy có chủ đích nhất định.Câu hỏi có tính vấn đề trong dạyhọc nêu vấn đề thường gọi là vấn đề

Những điều kiện để câu hỏi trở thành có tính vấn đề:

(1) Câu hỏi phải có mối liên hệ logíc với những khái niệm đã lĩnh hội trước đây và nhữngtri thức phải nắm trong những tình huống nhất định

(2) Câu hỏi phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, tạo sự ngạc nhiên, điều nghịch lý khiđối chiếu điều đã biết từ trước với điều đang học và cảm thấy không thoả mãn với trithức, kỹ năng, kỷ xảo trước đây và xuất hiện nhu cầu phải lĩnh hội tri thức mới để giảiquyết câu hỏi đặt ra

Nghệ thuật đặt câu hỏi:

- Trong tình huống nhất định giáo viên phải đặt ra câu hỏi yêu cầu học sinh phảitích cực hoá tài liệu đã được lĩnh hội trước đây, câu hỏi vạch ra ý nghĩa cơ bản của trithức đã học

- Câu hỏi không đơn thuần đòi hỏi học sinh tái hiện tài liệu đã lĩnh hội mà phảivận dụng những tri thức đã nắm trước đây để giải quyết những vấn đề mới

- Câu hỏi phải hướng trí tuệ của học sinh vào mặt bản chất của những sự vật, hiệntượng phải nghiên cứu, phải hình thành tư duy biện chứng của họ

- Câu hỏi phải yêu cầu học sinh xem xét những sự kiện, hiện tượng trong mối quan

hệ với nhau, nhìn nhận hiện tượng, sự vật trong một chỉnh thể toàn vẹn

- Câu hỏi phải theo những quy tắc logíc

- Việc biểu đạt câu hỏi phải phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi, đặc điểm cá nhân,trình độ hiểu biết và kinh nghiệm của học sinh Những khái niệm trong những câu hỏikhông vượt quá khả năng tìm ra câu trả lời đúng của học sinh

- Câu hỏi phải có nội dung chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, thống nhất, không thể cóhai câu trả lời đều đúng, về hình thức phải gọn gàng, sáng sủa

+ Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp vấn đáp

- Cần phải đặt câu hỏi cho toàn bộ lớp rồi mới chỉ định cho học sinh trả lời Khimột học sinh trả lời xong, cần yêu cầu những học sinh khác nhận xét, bổ sung, sửa chữacâu trả lời nhằm thu hút sự lắng nghe câu trả lời của bạn với tinh thần phê phán Qua đó

mà kích thích hoạt động chung của cả lớp

- Khi học sinh trả lời, giáo viên cần lắng nghe Đặt thêm câu hỏi phụ, câu hỏi gợi

mở dẫn dắt học sinh đó trả lời câu hỏi chính nếu cần

- Cần có thái độ bình tĩnh khi học sinh trả lời sai hoặc thiếu chính xác, tránh thái

độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang ý của họ khi không thật cần thiết Chú ý uốn nắn, bổ

Trang 18

sung câu trả lời, giúp HS hệ thống hoá những tri thức tiếp thu được trong quá trình vấnđáp.

- Không chỉ chú ý kết quả câu trả lời mà cả cách diễn đạt câu trả lời của HS mộtcách chính xác, rõ ràng, hợp logíc

- Cần khuyến khích học sinh mạnh dạn nêu thắc mắc và khéo léo sử dụng thắcmắc đó tạo nên tình huống vấn đề, thu hút toàn lớp tham gia thảo luận, tranh luận giảiquyết vấn đề

2.1.2 Phân nhóm các phương pháp dạy học trực quan

a Phương pháp trình bày trực quan

Phương pháp trình bày trực quan thể hiện dưới hai hình thức minh hoạ và trìnhbày thí nghiệm

b Phương pháp quan sát

Phân loại:

- Căn cứ vào cách thức: quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp.

- Căn cứ vào thời gian: quan sát ngắn hạn, quan sát dài hạn

- Căn cứ vào phạm vi: quan sát khía cạnh, quan sát toàn diện

- Căn cứ vào mức độ tổ chức: quan sát tự nhiên và quan sát có bố trí sắp xếp

+ Những yêu cầu cơ bản của việc sử dụng phân nhóm phương pháp dạy học trực

- Cần tính toán hợp lý số lượng phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạyhọc phù hợp với nội dung tiết học Không tham lam trình bày nhiều phương tiện để tránhkéo dài thời gian trình bày làm ảnh hưởng đến hiệu quả tiết học

- Để học sinh tiến hành quan sát có hiệu quả cần xác định mục đích, yêu cầu,nhiệm vụ quan sát, cách ghi chép những điều quan sát được; hướng dẫn họ rút ra nhữngkết luận đúng đắn, có tính khái quát và biểu đạt những kết luận đó dưới dạng văn nóihoặc văn viết một cách rõ ràng, chính xác

- Bảo đảm cho tất cả học sinh quan sát sự vật, hiện tượng rõ ràng, đầy đủ, nếu cóthể thì phân phát các vật thật cho họ Để các đồ dùng trực quan dễ quan sát cần dùngnhững thiết bị có kích thước đủ lớn bố trí thiết bị ở nơi cao, chú ý tới ánh sáng, tới nhữngquy luật cảm giác, tri giác

- Chỉ sử dụng những phương tiện dạy học khi cần thiết Sau khi sử dụng xong nêncất ngay để tránh làm mất sự tập trung chú ý của học sinh

- Đảm bảo sự phát triển năng lực quan sát chính xác của học sinh

- Đảm bảo yêu cầu về thẩm mỹ, vệ sinh, an toàn học tập cho học sinh

2.1.3 Phân nhóm phương pháp dạy học thực hành

Trang 19

a Phương pháp luyện tập

+ Phân loại luyện tập

- Dựa trên cơ sở dạng thể hiện: luyện tập nói, luyện tập viết, luyện tập lao động

- Theo mức độ tính chất hoạt động: luyện tập có tính tái hiện, luyện tập có tínhsáng tạo

+ Những yêu cầu cơ bản vận dụng phương pháp luyện tập

- Luyện tập phải nhằm mục đích, yêu cầu nhất định

- Luyện tập phải tiến hành theo một trật tự chặt chẽ, lúc đơn giản, có làm mẫu, cóchỉ dẫn, sau tăng dần tính phức tạp của hành động và sự tự lực luyện tập

- Phải giúp HS nắm vững lý thuyết rồi mới luyện tập và qua luyện tập để hiểu sâu

- Ôn tập bứơc đầu: thường được sử dụng ngay sau khi lĩnh hội tri thức, kĩ năng,

kĩ xảo, được diễn ra thường ngày nhằm củng cố sơ bộ những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo vừalĩnh hội

- Ôn tập khái quát hóa, hệ thống hóa tri thức: thường diễn ra sau khi học xong

một chương, một số chương, một môn học nhằm khái quát hóa, hệ thống hóa, đào sâu mởrộng tri thức, hoàn thiện những kĩ năng, kĩ xảo Nó diễn ra trong quá trình lĩnh hội trithức mới, luyện tập, vận dụng những tri thức để giải những bài toán, những vấn đề thựctế

+ Những yêu cầu sử dụng phương pháp ôn tập :

- Ôn tập phải có kế hoạch, có hệ thống và kịp thời

- Ôn tập phải bằng nhiều hình thức khác nhau

- Ôn tập trước khi quên, ôn rải ra, ôn xen kẽ nhiều môn

- Ôn tập phải có tính chất tích cực: ôn tập bằng cách tái hiện lại, cấu trúc lại trithức để giải quyết vấn đề nhằm lĩnh hội tri thức mới, có khả năng vận dụng tri thức tronghoàn cảnh đã biết và hoàn cảnh mới

- Học sinh cần lập sơ đồ, bảng nhằm hệ thống hóa những khái niệm, định luật vàmối liên hệ giữa chúng, sự phát triển các khái niệm theo hệ thống những câu hỏi nhấtđịnh

c Phương pháp công tác độc lập

Phương pháp công tác độc lập là phương pháp học sinh thực hiện hoạt động họctập cuả mình dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên theo nhiệm vụ học tập do giáoviên đề ra

Công tác độc lập của học sinh được thực hiện dưới những dạng rất khác nhau.Dạng phổ biến hơn cả ở trường trung học là làm việc với sách giáo khoa, các sách báokhác và làm việc trong phòng thí nghiệm

+ Phương pháp làm việc với sách giáo khoa và các tài liệu sách báo khác

Khi sử dụng phương pháp làm việc với sách giáo khoa và các tài liệu sách báo khác cầnđảm bảo những yêu cầu:

Trang 20

- Việc sử dụng sách tại lớp: Khi chuẩn bị bài giảng giáo viên cần xác định nội

dung nào trong sách giáo khoa hoặc sách báo khác học sinh có thể tự lực nghiên cứu tạilớp

- Khi tiến hành bài học, giáo viên có trách nhiệm xem trong từng trường hợp cụ

thể phải hướng dẫn sử dụng sách giáo khoa hoặc các sách báo khác tại lớp cần theo trình

tự nào là hợp nhất để kích thích hoạt động tư duy tích cực của học sinh mà không dẫn tớighi nhớ một cách máy móc

- Trước khi tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu sách báokhác giáo viên cần tiến hành đàm thoại một cách cặn kẽ, tỉ mỉ về chủ đề học tập, nêu lênnhững vấn đề cơ bản của tài liệu phải nghiên cứu và xác định trình tự, phương phápnghiên cứu theo trình tự đó

- Sử dụng việc nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu học tập khác tại lớp dù bất kìtrường hợp nào cũng không chiếm toàn bộ tiết học, cần phải phối hợp các phương phápdạy học khác

- Sau khi tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu nội dung nào đó trong sách giáo khoahoặc trong tài liệu học tập khác cần đề ra câu hỏi và kích thích học sinh trả lời nhằm biếtnhững mức độ lĩnh hội nội dung và qua đó có biện pháp mở rộng hoặc đào sâu nhữngkiến thức hoặc sửa chữa những điều mà họ chưa hiểu đúng

- Tự học với sách giáo khoa hoặc tài liệu học tập khác tại lớp có thể sử dụng trongcác tiết học lĩnh hội kiến thức mới và cả trong tiết học củng cố kiến thức đã học

+ Việc sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác ở nhà

Việc tự nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác tại lớp là bướcchuẩn bị sơ bộ cho việc tự nghiên cứu sâu hơn những nội dung học tập ở nhà qua cácsách và tài liệu học tập đó Đối với học sinh trung học nói chung, việc sử dụng sách giáokhoa và các tài liệu học tập khác ở nhà có tầm quan trọng đặc biệt vì nó giúp cho họ bổsung, đào sâu những tri thức tiếp thu trong thời gian hạn chế tại lớp và rèn luyện kĩ năng,

kĩ xảo, thói quen sử dụng sách Để việc sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tậpkhác có kết quả cần hình thành cho học sinh một số kĩ năng, kĩ xảo sau:

- Kĩ năng, kĩ xảo đọc: đọc lướt để tìm ý chính, để biết bố cục, đọc kĩ để đi sâu,

nắm vững chủ đề, các luận điểm chính, các phương pháp nghiên cứu những sự kiện cụthể của tài liệu

- Kĩ năng, kĩ xảo lập dàn ý, xây dựng đề cương nhằm giúp học sinh phát triển

năng lực khái quát hóa, hệ thống hóa, dựa trên những điểm làm chỗ dựa để ghi nhớ khicần có thể viết tóm tắt hoặc trình bày lại Dàn ý và đề cương giống nhau ở chỗ nội dungcủa chúng được trình bày dưới dạng khái quát và theo một hệ thống nhất định, song đềcương được trình bày chi tiết hơn có kèm theo những câu, những đoạn trích dẫn

- Kĩ năng, kĩ xảo trích ghi: ghi lại những câu những đoạn văn phù hợp với yêu

cầu về nội dung hay hình thức diễn đạt để khi cần có thể sử dụng làm tăng thêm tínhthuyết phục của những luận điểm được trình bày

- Kĩ năng, kĩ xảo ghi tóm tắt: dựa trên dàn bài đã được xây dựng ghi lại những ý

cơ bản nhất, quan trọng nhất phản ánh nội dung chính yếu của tài liệu dưới dạng ngắngọn nhất

Ngày đăng: 01/06/2015, 23:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Những vấn đề cơ bản của lí luận dạy học. PGS. Ts Nguyễn Ngọc Bảo. Đại học sư phạm Hà Nội I. 2000 Khác
2. Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả. Lê Nguyên Long. NXB Giáo dục. 1998 Khác
3. Công nghệ dạy học với vấn đề tổ chức quá trình dạy học ở PTTH. PGS. Lê Khánh Bằng. Bộ giáo dục và đào tạo. 1995 Khác
4. Phát triển tính tích cực, tính tự lực củahọc sinh trong quá trình dạy học. PGS. Ts Nguyễn Ngọc Bảo. Bộ giáo dục và đào tạo. 1995 Khác
5. Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo. TSUNESABURO MAKIGUCHI. Trường đại học tổng hợp TP. Hồ Chí Minh NXB Trẻ. 1994 Khác
6. Lí luận dạy học sinh học. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành. NXB Giáo dục.1998 Khác
7. Các loại tạp chí, Thông tin về khoa học giáo dục. Từ năm 1995 đến nay Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w