luận văn về kinh kịch - nét văn hóa truyền thống của dân tộc Trung Hoa
Trang 1đại học quốc gia Hà Nội Trờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa Đông phơng học
-báo cáo khoa học
Kinh kịch - nét văn hoá truyền thống
của dân tộc trung hoa
Lời nói đầu
Trung Quốc là nớc có nền văn minh cổ xa phơng Đông Dân tộcTrung Hoa trải qua mấy nghìn năm tôi luyện và hoà hợp, kết tụ và phát triển
đã thu hút đợc muôn phơng mà lại có phong thái độc đáo, hình thành nênnền văn hoá Trung Hoa rực rỡ muôn màu, đa nguyên nhất thể, rộng lớn sâulắng mà lại mộc mạc tơi đẹp Nghiên cứu về văn hoá Trung Quốc mà không
Trang 2lật lại tìm hiểu các loại hình hí khúc, đặc biệt là Kinh kịch thì quả là một thiếusót lớn Bởi lẽ Kinh kịch là một loại hình đẹp trội, rất độc đáo của TrungHoa Tuy có lịch sử ra đời và phát triển cha dài (khoảng 200 năm) nhngKinh kịch đã đi vào đời sống tâm hồn của ngời Trung Quốc nói chung, ngờiBắc Kinh nói riêng nh một phần không thể thiếu Kinh kịch là một loại hìnhkịch chủng tiêu biểu nhất trong nghệ thuật hí khúc Trung Quốc nên thu hút
đợc rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Các học giả TrungQuốc có tiếng nghiên cứu về Kinh kịch có thể kể đến nh: Lý Hiểu, Chơng DiHoà, Hồ Hồng Khánh… ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Kinh kịchkhông nhiều Các nhà nghiên cứu Việt Nam hầu nh đặt Kinh kịch vào trong
hệ thống nghiên cứu về văn hoá Trung Hoa nên những dòng viết về Kinhkịch chỉ là những nét phác thảo lớt qua, các thông tin đợc đa ra nhỏ lẻ và bịphân tán Do vậy trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo các tài liệu, các tácphẩm điện ảnh có liên quan, tập hợp bổ sung thông tin và đi sâu nghiên cứuhơn một chút là việc làm hết sức cần thiết Trong khuôn khổ của một báocáo khoa học, bài viết sẽ cố gắng cung cấp những khái niệm cơ bản, nhữngthông tin đầy đủ, chi tiết nhất, từ đó tạo nên cái nhìn đúng đắn, toàn diện,sâu sắc hơn về nghệ thuật Kinh kịch của đất nớc có nền văn hoá - văn minhlớn bậc nhất thế giới
Chơng I Lịch sử hình thành – ra đời và phát triển của Kinh kịch
1.Kinh kịch buổi đầu trong cái nôi hí khúc.
Kinh kịch trầm mình trong hí khúc Trung Quốc một thời gian rất dài Híkhúc Trung Quốc manh nha từ rất lâu đời, vợt qua hai giai đoạn phát triểncủa lịch sử, chín muồi ở đời Tống, Kim, Nguyên và nở rộ vào thời hậu kì củachế độ phong kiến Trung Quốc
Hí khúc Trung Quốc có khởi nguồn xa xa từ ca múa cổ đại, thầy mo
có vị trí đặc biệt Đến thời kì Xuân Thu (722 – 481 trớc Công Nguyên) một
loạt nhân vật mang tên “linh u” đợc tách ra từ thầy mo, đợc phục vụ bên
Trang 3cạnh vua chúa Nghệ thuật pha trò, khôi hài thời kì này đã ảnh hởng sâu
sắc đến hí khúc về sau Đến thời Hán, “bách hí” đợc coi là hình hài ban đầu của hí khúc Trung Quốc Thời Đờng, có “hát tham quân” đợc phát triển trên cơ sở “hát u” Trong “hát tham quân” có một hình thức biểu diễn cố định: có hai vai diễn tách biệt hẳn Đây chính là cơ sở hình thành hình thức “phân vai” sau này của hí khúc Đến thời Tống thế kỉ XII, Tạp kịch Tống ra đời, hội
nhập nhiều thành phần nghệ thuật, hình thức đa dạng, linh hoạt tạo nênhình thái tơng đối hoàn chỉnh của hí khúc Những năm tháng vàng son của
hí khúc Trung Quốc bắt đầu từ đời Nguyên (1279 – 1368) Trải qua đời Minh(1368 - 1644) đến đời Thanh (1644 - 1911), hí khúc Trung Quốc ngày càngphát triển rực rỡ với sự hội tụ nhiều loại hình hí khúc đa dạng, phong phú
Hát “hoa bộ” ra đời vào lúc mà thể loại “Côn khúc” đang phát triển mạnh
mẽ Côn khúc là thể loại “nhã” nghĩa là chính thống, còn “hoa” nghĩa là tạp,
gồm các điệu thông tục, dân dã, bị coi là phong trào phản nghịch chống lại
khuynh hớng “nh hoáã ” của Côn khúc Từ đó ngời ta mong chờ một loại hình hí khúc có thể dung hoà đợc cả hai yếu tố “hoa” và “nhã” Trên cơ sở
đó, Kinh kịch đã gạn lọc, kế thừa tất cả những nét tinh hoa của các loại hình
hí khúc khác, đã hoà trộn giữa phong tục tập quán dân gian và yếu tố cung
đình để bứt phá trở thành một loại hình riêng của hí khúc Trung Quốc
2 Một loại hình hí khúc đợc mến mộ: Kinh kịch ra đời.
Từ trong cái nôi hí khúc đang nở rộ, Kinh kịch bớc ra một cách thuậnlợi nhng lại mang một dáng vẻ mới, đẹp trội hơn hẳn vì nó kế thừa một cáchtập trung truyền thống lịch sử lâu đời của hí khúc, tích luỹ đầy đặn các ngón
nghề cao siêu Kinh kịch nổi tiếng trong làng nghệ thuật thế giới là “ca kịch của Bắc Kinh” Nh vậy, có thể thấy đợc cái nôi ra đời và phát triển của Kinh kịch là thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc Kinh kịch có tên gọi cũ là Bì hoàng
hí, đầu thế kỉ XX, ngời Thợng Hải gọi là Kinh hí, ngời Bắc Kinh gọi là Bình kịch Kinh kịch đợc hình thành qua diễn biến dần dần trực tiếp trên cơ sở
“Huy ban tiến kinh” Năm Càn Long thứ 55 (1790), Huy ban - đoàn kịch An
Trang 4Huy “Tam Khánh” của Dơng Châu đợc triệu vào kinh diễn xuất mừng lễ bát
tuần đại điển của Càn Long, đã nhanh chóng độc chiếm sân khấu kinh đô
Chẳng bao lâu, ba đoàn kịch An Huy khác là “Tứ hỉ”, “Xuân đài” và “Hoà xuân” lần lợt vào kinh Đó chính là sự kiện lừng danh trong lịch sử hí khúc Trung Quốc cuối thế kỉ XVIII, gọi là “Tứ đại Huy ban tiến kinh” Sau khi vào kinh, Huy ban đã hấp thu hai làn kinh, tần, đặc biệt là điệu Tần xoang (điệu hát theo nhịp mõ) Từ đó đa đến sự ra đời của Bì hoàng hí mà sau này ngời Bắc Kinh gọi là Kinh kịch Đến năm Quang Đạo thứ tám (1828), các nghệ sĩ
nổi danh ở Hồ Bắc nh Vơng Hồng Quý, D Tam Thắng… vào kinh, mangtheo Hán điệu Hán điệu vào kinh bắt vào diễn xuất của Huy ban, đa đến sự
kết hợp của hai làn điệu Huy Hán Từ đó, Huy ban trở thành gánh hát chuyên biểu diễn kịch Bì Hoàng, cắm rễ nơi kinh đô.
Trình độ nghệ thuật kịch Bì Hoàng đợc nâng cao nhanh chóng bởi sự
thúc đẩy của các nghệ nhân giỏi, gây đợc sự thích thú trong hoàng thất triều
đình nhà Thanh Cuối thời Hàm Phong (1851 –1861) các gánh hát đợc đa
vào biểu diễn trong cung Một cơ quan có tên là “Thanh bình nha” chuyên
quản lý việc các gánh hát ra vào biểu diễn trong cung Lúc đầu mới chỉ làbiểu diễn nơi hội quán trà lầu, nay đợc vời vào cung phục vụ vua chúa vàtrăm quan trong triều, trong bối cảnh đặc thù đó, Kinh kịch đã đem cái
“chân quê” trong dân gian hoà nhập vào thú vui trong cung đình, đồng thờilàm cho cái tình phơng Nam hoà quyện với cái thần phơng Bắc Chính sựhoà nhập đó đã đa Kinh kịch phát triển lên một không gian hoàn chỉnh vàthống nhất hơn
3 Kinh kịch lên ngôi và hội tụ nhân tài.
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Trung Quốc bớc vào tiến trình hiện đạitrong bão táp và khói lửa chiến tranh Đó là thời đại biến động dữ dội, quanniệm hiện đại đã va chạm, thâm nhập vào văn hoá truyền thống, khiến Kinhkịch bắt đầu phải có sự lựa chọn mới Kinh kịch chịu ảnh hởng trực tiếp vàgián tiếp của kịch nói, điện ảnh nớc ngoài, các nghệ thuật âm nhạc, mĩthuật và vũ đạo phơng Tây khá rõ nét Cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) đãchấm dứt sự thống trị của vơng triều phong kiến tồn tại hơn 2000 năm
Trang 5Quan niệm dân chủ hiện đại làm thay đổi cái nhìn coi khinh “con hát” lâunay Chính phủ Quốc dân có những biện pháp tuyên truyền về hí khúc, từ
đó tạo đà cho nghệ thuật Kinh kịch phát triển, lan toả ra cả nớc và trở thành
“Quốc kịch” Do sự khác nhau của môi trờng văn hóa khu vực và sự biến đổi
của bối cảnh nhân văn, Kinh kịch đã hình thành hai trờng phái lớn: Kinh phái và Hải phái Kinh phái, trung tâm là Bắc Kinh, đã kính cẩn giữ vững
những chuẩm mực lịch sử của nghệ thuật Kinh kịch, nhấn mạnh kế thừa
nhiều hơn phát triển, sáng tạo cái mới Còn Kinh kịch Hải phái mà đất phát
tích là Thợng Hải thì chú trọng cách tân nghệ thuật, táo bạo hấp thu và họchỏi các hình thức biểu diễn nghệ thuật, đã dày công tìm kiếm cách phản
ánh gơng mặt thời đại và theo đuổi hiệu quả kinh tế thơng nghiệp
Thợng Hải là nơi gặp gỡ văn hoá Đông Tây sớm nhất Trung Quốc và
là một thành phố buôn bán mới nổi lên, nhân tố t bản chủ nghĩa tơng đốiphát đạt, thị dân dễ tiếp thu ảnh hởng của văn hoá phơng Tây Khán giả
không còn thoả mãn với kiểu “nghe hát” theo đúng qui củ mà mong đợc
th-ởng thức những trò rôm rả, tân kì thời thợng Để thích ứng với dòng chảy
thời đại và tâm lý dân đô thị, Kinh kịch Hải phái đã phá vỡ khuôn mẫu cũ,
mạnh dạn cách tân, thu nạp cái mới, nhấn mạnh đến sự thẩm mĩ đô thị hoá
Về đề tài, họ sáng tạo ra các vở thời trang hí (hí kịch hiện đại) phản ánhcuộc sống hiện thực trong và ngoài nớc Về hình thức thể hiện, Hải phái đãhọc tập tham khảo nhiều thủ pháp tat thực chủ nghĩa của kịch nói và điện
ảnh, làm giàu thêm lối biểu diễn sinh hoạt hoá Sự chung sống và phát triểncủa hai phái Kinh – Hải đã dẫn đến một thời kì phồn vinh của Kinh kịch
Sự phồn vinh ấy còn thể hiện tập trung ở việc xuất hiện hàng loạt cácnghệ sĩ tên tuổi Từ đầu thời kì Dân Quốc đến những năm 30, 40, trong Kinhkịch đã xuất hiện hàng loạt nhân tài Trong đó tiêu biểu là bốn diễn viênKinh kịch có bề dày kinh nghiệm, biết thể hiện phong cách trờng phái trong
nghệ thuật hát, gọi là “bốn danh kép lớn”, đó là: Mai Lan Phơng (1894
-1961), Thợng Tiểu Vân (1900 - 1976), Trình Nghiên Thu, Tuần Huệ Sinh(1900 - 1968) Mai, Thợng, Trình, Tuần, mỗi ngời hùng cứ một sân khấu,
Trang 6giọng hát đạt trình độ điêu luyện với phong cách biểu diễn độc đáo, hìnhthành các trờng phái khác nhau
Với Kinh kịch trờng phái Thợng Hải, nhân vật tiêu biểu lên sân khấu
biểu diễn hát kịch từ lúc mới bảy tuổi, với nghệ danh “thất linh đồng” nổi
tiếng khắp vùng nam bắc Trờng Giang, đó là Chu Tín Phơng (1895 - 1975)
Ông có phong cách biểu diễn nghệ thuật tự nhiên, chân thực, tuỳ hứng ứngtác Hình tợng nghệ thuật mà ông tạo dựng có xơng, có thịt khiến ngời xemkhó quên
4 Kinh kịch những thập kỉ 50, 60, 70
Bớc vào những năm 50, cùng với chế độ xã hội mới đợc xác lập toàndiện, Kinh kịch cũng nh các loại hình hí khúc khác, các đoàn biểu diễn, cácgánh hát, các nghệ nhân đợc quy tụ trong ngành quản lý văn hoá của chínhphủ Các tiết mục, vở diễn đợc chấp nhận theo sự chỉ đạo một cách có tổchức và kế hoạch Nhà nớc nêu cao phơng châm sáng tác văn nghệ là
đồng loạt thực hiện “chỉnh lý cải biên kịch truyền thống, sáng tác mới kịch lịch sử và kịch hiện đại” 1 Đứng trớc tình hình hàng ngàn, hàng vạn vở kịchtruyền thống có khả năng bị thất truyền, một số nhà soạn kịch có trình độvăn hoá cao kết hợp với nghệ nhân đã kiên trì việc khai thác và chỉnh lý đốivới một số tiết mục truyền thống và đã đa tới một kết quả to lớn, đó là sự nở
rộ của các vở Kinh kịch theo xu hớng này
Bớc vào nửa cuối thập kỉ 60 của thế kỉ XX, đất nớc Trung Quốc sụcsôi trong cuộc đại cách mạng văn hoá kéo dài mời năm (1966 - 1976) Chủ
trơng của cuộc cách mạng văn hóa này là “xoá bỏ bốn cái cũ”: t tởng cũ,
văn hoá cũ, phong tục cũ, tập quán cũ Kinh kịch cũng cùng chung số phận
với các loại hình văn hoá t tởng cũ, nằm trong chủ trơng “xoá bỏ” ấy Các
gánh hát bị giải tán, trang phục, dụng cụ đồ nghề biểu diễn bị đốt phá, diễnviên Kinh kịch, nhà soạn Kinh kịch bị phê đấu Bối cảnh đặc biệt lúc ấy đ aKinh kịch vào giấc ngủ dài suốt mời năm
5 Kinh kịch từ thập kỉ 80 đến nay.
1 Chơng Di Hoà Hí khúc Trung Quốc
Trang 7Cuộc cải cách mở cửa của Đặng Tiểu Bình đã mở ra cho Trung Quốcmột chân trời phát triển mới Kinh kịch sống trong một giai đoạn lịch sử mớicũng nhờ đó mà hồi sinh với gơng mặt và dáng vẻ mới Trên sân khấu Kinhkịch thời kì này, những vở kịch lấy đề tài lịch sử mới chiếm một tỉ lệ rất lớn.Nhng từ tôn chỉ văn học đến hình thức tả thuật đã khác xa với cách nói xacủa tiền bối Vở diễn không còn bó hẹp trong cách tờng thuật tẻ nhạt, không
nhằm mục đích thoả mãn quan điểm lịch sử đơn thuần “đi tìm dấu vết của một dân tộc, đi tìm sự hng vong của một vơng triền” 2 mà đem sự biến thiêncủa xã hội, cái bí mật của đời ngời hoà quyện cùng trời đất để rồi xem xétgiải thích cái đẹp của bản thân loài ngời bằng cái đầu triết lý và con mắt nhàthơ
Sau những năm 80, kết hợp tính triết lý trong lịch sử với sự rung độngmạnh mẽ trong chủ đề sáng tác, thuật lại sự kiện lịch sử mà mọi ng ời đềubiết, xây dựng lại những nhân vật lịch sử mà mọi ngời quen thuộc là khuynhhớng sáng tác mới của Kinh kịch thời kì này
Ngày nay, xã hội Trung Quốc đang phát triển mạnh nh vũ bão, cácphơng tiện thông tin và hình thức giải trí bùng nổ, Kinh kịch cũng nh các loạihình văn hóa truyền thống dờng nh bị lãng quên Ngời Trung Quốc, đặc biệt
là giới trẻ không còn thú vui “xem hát” nh xa Kinh kịch - một loại hình híkhúc phát triển rực rỡ, ngời sáng một thời - lùi vào hàng ngũ nghệ thuậttruyền thống cần đợc bảo tồn của văn hoá dân tộc Chính phủ Trung Quốc
có nhiều biện pháp để bảo lu loại hình nghệ thuật này, nh tổ chức các buổi
lu diễn Kinh kịch ở Trung Quốc đại lục, ở Đài Loan, ở Hồng Kông….Tuykhông thờng xuyên nhng cũng đủ để xác lập vị trí tồn tại của Kinh kịch trongxã hội hiện đại Trung Quốc và góp phần lay động tâm thức giới trẻ về nềnvăn hoá truyền thống đa dạng, đặc sắc
Chơng II Vai diễn trong Kinh kịch.
1 Phân vai trên sân khấu Kinh kịch.
2 Nguyễn Huy Quý - Nớc CHND Trung Hoa (1949-1999)
Trang 8Các nhân vật xuất hiện trên sân khấu Kinh kịch, căn cứ vào thuộc tính
tự nhiên (tuổi tác, giới tính), thuộc tính xã hội (nghề nghiệp, tính cách, khíchất), năng khiếu kỹ thuật, phong cách biểu diễn, dựa vào trang phục, hoátrang và sự biểu diễn đợc cờng điệu về nghệ thuật rồi tổng hợp phân loạichia thành các vai diễn khác nhau gọi là phân vai Kinh kịch ngay từ buổi
đầu hình thành đã đi vào cung đình, nên sự phát triển nghệ thuật khônggiống nh các hí khúc địa phơng Lĩnh vực đời sống đòi hỏi nó phải biểu hiệnrộng hơn, loại hình nhân vật xây dựng phải nhiều hơn, hoàn chỉnh và toàndiện hơn Đặc trng này cũng phản ánh trong việc phân công các nhân vậtthành những nhóm nghề diễn Chế độ nhóm nghề của Kinh kịch xa kia cóngời nói là 10 nhóm hay 7 nhóm nhng hiện nay thờng có 4 loại hình cơ bản:
Sinh, Đán, Tịnh, Sửu Mỗi loại hình này lại chia nhiều phân chi, dới phân chi
lại có các mục nhỏ, mỗi loại có nhân vật diễn và đặc sắc biểu diễn cơ bảncủa nó
1.1 Vai sinh:
Vai sinh là kép chính trong vở diễn Ngời đảm nhiện vai này là nam
giới Dựa theo tuổi tác, nhân thân của các nhân vật trong vở diễn lại chia
phân vai này theo nhiều phân chi nh: l o sinh, tiểu sinh, võ sinhã đều mang
đặc điểm riêng trong biểu diễn
L o sinhã là một chi trong vai sinh L o sinhã thờng mang râu giả nêncòn gọi là kép râu, đóng nhân vật nam giới ở tuổi trung niên hoặc tuổi già
L o sinhã thờng là nhân vật chính diện, tính cách ngay thẳng cơng nghị Vaidiễn này nặng về hát bằng giọng thật, động tác trong tạo hình thờng trangtrọng, đàng hoàng
Tiểu sinh là một chi trong vai sinh Trái với l o sinhã , tiểu sinh đóng vai nam giới trẻ, không mang râu giả Tiểu sinh hát bằng giọng giả là chính đôi
khi kết hợp giữa giọng giả và giọng thật
Võ sinh chuyên đóng vai nam giới ở tuổi thanh niên, trung niên giỏi
võ Võ sinh lại chia làm hai loại: Võ sinh tớng và võ sinh sỹ tốt Võ sinh tớng
nai nịt gọn gàng, đầu đội mũ giáp, chân đi hia đế dày, sử dụng binh khí cándài, khi biểu diễn phải thể hiện đợc cái đẹp của ngón võ, thể hiện sự trầmtĩnh, chắc chắn, phong độ của vị đại tớng và khí phách của ngời anh hùng
Trang 9Võ sinh sỹ tốt thờng sử dụng binh khí gọn nhẹ, khi biểu diễn thiên về động
tác nhào lộn nhanh nhẹn, dũng cảm
Tựu chung lại, vai sinh là kép chính đóng các vai ông cụ già, các
chàng th sinh, quan văn, quan võ, chuyên thể hiện tính cách tốt, mạnh mẽ
1.2 Vai đán
Vai đán là tên gọi chung cho các vai nữ Các diễn viên thủ vai các quý
bà đáng kính hay những tố nữ yểu điệu dễ thơng… Vai đán cũng đợc dựa
trên tuổi tác, tính cách, nhân thân của nhân vật mà chia thành các vai:
thanh y, hoa đán, l o đán, đao m đán.ã ã
Thanh y là tên gọi chung cho các vai chính trong loại hình vai đán
Th-ờng là các vai phụ nữ nhàn nhã, phụ nữ trung niên quý phái Khi biểu diễnthiên về kỹ thuật hát, thoại lời theo vần điệu Vai này khi diễn thờng khoác
áo choàng xanh nên gọi là “thanh y”.
Hoa đán là các vai nữ ở tuổi thanh niên, tính tình xởi lởi, hoạt bát hoặc
phóng đãng
L o đánã là các vai nữ ở tuổi già Khi thoại sử dụng giọng thật, khi hát
sử dụng giọng gần giống l o sinhã nhng mang sự uyển chuyển của nữ giới
Đao m đánã là một chi của vai đán, thờng đóng vai nữ giỏi võ nghệ Dựa theo nhân thân và kỹ thuật biểu diễn của nhân vật, đao m đánã cònchia làm hai loại: loại thứ nhất nai nịt gọn gàng, cỡi ngựa, sử dụng binh khícán dài, nặng về kỹ thuật thân hình, t thế; loại thứ hai mặc quần áo chẽn,nặng về biểu diễn nhào lộn, hay đóng vai quỷ thần
nham hiểm, độc ác hoặc lỗ mãng nhng thật thà Khi biểu diễn, vai tịnh phải
có tiếng hát trầm vang, động tác đàng hoàng, dứt khoát, chuyển giọng rõ
nét tạo nên tính cách độc đáo trên sân khấu Kinh kịch Vai tịnh có nhiều chi
nhỏ
Trang 10Tịnh chính là một chi trong phân vai tịnh Trong các vở diễn, đây là
nhân vật có địa vị cao sang trong xã hội, phần lớn là mệnh quan triều đình,
cử chỉ đĩnh đạc, phong thái ung dung, động tác biểu diễn mạnh mẽ, dứtkhoát
Phó tịnh là một chi trong phân vai tịnh Phó tịnh phần lớn là các vai
đóng nhân vật chính diện, dũng mãnh, hào phóng
Võ tịnh là một chi trong phân vai tịnh Đây là phân vai thiên về đánh
đấm, lấy động tác ngã, vồ, nhoài làm chính, không nặng về hát đọc
Tịnh mao cũng là một chi trong phân vai tịnh Vai tịnh mao thờng tạo
hình bằng cách độn ngực, độn mông, dáng dấp kỳ cục nặng nề, khi múathể hình thô kệch nhng hay làm dáng làm điệu
1.4 Vai sửu
Vai sửu là một trong loại hình phân vai chủ yếu trong biểu diễn Kinh kịch, đóng vai hài Trớc đây trong vai sửu, nhân vật đợc đóng khá đa dạng, nhng đến thời cận đại vai sửu thờng là những anh hề Trong biểu diễn, vai sửu không nặng về hát mà thoại là chính với lời nói rõ, thanh, lu loát Vai sửu đợc chia làm hai chi lớn: sửu văn và sửu võ.
Sửu văn là một chi của vai sửu Nhân vật đợc sắm vai rất rộng ngoại trừ vai sửu đánh võ ra, sửu văn đóng tất cả các vai hề.
Sửu võ là một chi của vai sửu Đây là các nhân vật hóm hỉnh, nhanh
nhạy, mồm mép mau mắn, lời thoại rõ chữ, giọng thanh, động tác nhanhnhạy, khoẻ mạnh, giỏi võ công
Việc phân công các nhân vật thành những nhóm nghề diễn là một nétrất đặc sắc của Kinh kịch Nhóm nghề vừa là loại hình nhân vật đợc nghệthuật hoá chuẩn mực trong biểu diễn mang sắc thái tính cách nhất định.Các nhóm nghề dẫu có một loạt chuẩn mực, song diễn viên có thể giỏi mộtnhóm, đồng thời kiêm tập các nhóm khác, có thể xuất phát từ nhân vật màphối hợp hoà quyện với các nhóm khác để biểu hiện nhân vật đợc tốt hơn,
nh kết hợp “võ tịnh” với “võ sinh” để sáng tạo “võ sinh vẽ mặt”, hoà quyện
“thanh y”, “hoa đán”, “đao m đánã ” để sáng tạo ra “hoa sam”… khiến nhân
vật xé rào từ nhóm nghề này sang nhóm nghề khác, làm giàu thêm nghệthuật nhóm nghề của Kinh kịch