luận văn về tranh luận học thuật 20 năm cuối thế kỷ XX ở Trung Quốc về phương diện tôn giáo của Nho giáo
Trang 1đại học quốc gia Hà Nội
Trờng Đại học Khoa học X hội và Nhân văn ã hội và Nhân văn
-o0o -Tranh luận học thuật 20 năm cuối thế kỷ XX
ở Trung Quốc về phơng diện tôn giáo của
nho giáo : Đánh giá và bình thuật
Luận văn thạc sĩ Châu á học
Chuyên Ngành: Châu á học
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài.
Nho giỏo (Nho gia, Nho học) là những khỏi niệm rất quen thuộc đốivới chỳng ta Núi đến Nho giỏo, người ta thường nghĩ ngay đến vai trũ làchủ thể của văn hoỏ truyền thống Trung Quốc Ngược lại, khi nghiờn cứuTrung Quốc, người ta khụng thể bỏ qua yếu tố Nho giỏo Là một học thuyết
do Khổng Tử đặt nền múng từ thời Xuõn Thu - Chiến quốc, Nho giỏo đótồn tại và được cỏc triều đại phong kiến Trung Quốc kế tiếp nhau coi là cơ
sở của đạo trị nước, chiếm vị trớ học thuyết độc tụn trong suốt hơn 2000năm phỏt triển của lịch sử Trung Quốc Với địa vị là tư tưởng chủ đạotrong cả chiều dài lịch sử như vậy, Nho giỏo đó đúng vai trũ quan trọngtrong việc định hỡnh văn hoỏ Trung Quốc Đú là điều khụng ai cú thể bỏc
Trang 3bỏ Vấn đề còn tranh luận ở đây là, Nho giáo góp phần định hình nền vănhoá Trung Quốc đó với tư cách là một học thuyết triết học, chính trị, đạođức hay là một tôn giáo? Nói một cách chặt chẽ hơn, Nho giáo có phải làtôn giáo hay không? Đây là vấn đề rất quan trọng và không hề đơn giản.Bởi vì nó không chỉ là vấn đề bản chất, cốt lõi của riêng Nho giáo; mà nócòn liên quan đến bản chất của văn hoá Trung Quốc; là một vấn đề lớntrong việc nhận thức đúng đắn văn hoá truyền thống Trung Quốc; cũng làmột vấn đề quan trọng trong việc nhận thức quy luật phát triển lịch sử nhânloại Thực tế cũng đã chứng minh tầm quan trọng và phức tạp của vấn đềkhi mà nó đã được đặt ra từ lâu mà vẫn chưa đến hồi kết thúc Chính khôngkhí sôi nổi của cuộc tranh luận về vấn đề tôn giáo của Nho giáo cùng với
“cơn sốt nghiên cứu Nho giáo” đang diễn ra trong và ngoài Trung Quốc là
một lí do để người viết quyết định chọn nghiên cứu Nho giáo cho luận văncủa mình, cụ thể là nghiên cứu tình hình tranh luận về phương diện tôngiáo của Nho giáo 20 năm cuối thế kỷ XX
Một lí do nữa cũng xuất phát từ tình hình nghiên cứu Nho giáo, đó lànghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam ta Ở Việt Nam, Nho giáo (Nho học) từlâu đã là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Việc nghiên cứuNho giáo trong những năm gần đây đang có chiều hướng mở rộng, sốlượng các học giả cũng như các công trình nghiên cứu Nho giáo ngày càngnhiều Tuy nhiên, dường như về phương diện tôn giáo của Nho giáo thì gầnnhư chưa được quan tâm và nó vẫn còn là một mảnh đất chưa được khaithác nhiều Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn vấn đề này sẽ mở ramột cách tiếp cận mới trong nghiên cứu Nho giáo; mặt khác có thể bổ sungthêm tư liệu nghiên cứu về phương diện tôn giáo của Nho giáo nói riêng vànghiên cứu Nho giáo nói chung ở Việt Nam
Một lí do nữa và cũng là cơ sở đáp ứng các lí do trên chính là khôngkhí tranh luận vấn đề đặc biệt sôi nổi ở Trung Quốc 20 năm cuối thể kỷ XX
Trang 4đã để lại nguồn tư liệu tham khảo dẫn chứng rất phong phú giúp người viết
tự tin thực hiện đề tài
Lí do quan trọng cuối cùng xuất phát từ chủ quan của người viết thựchiện đề tài này vừa là để hoàn thành quá trình quá trình nghiên cứu thạc sĩChâu Á học, vừa là cơ hội để người viết vận dụng và nâng cao vốn kiếnthức cũng như kỹ năng nghiên cứu khoa học đã được trang bị từng bướcqua các chuyên đề khoa học Hơn nữa, những thông tin, kiến thức thu thậpnghiên cứu từ để tài sẽ làm phong phú hơn nữa hiểu biết của người viết vềNho giáo nói riêng và về văn hoá Trung Quốc nói chung
Hy vọng rằng những nghiên cứu của luận văn sẽ đem lại nhữngthông tin hữu ích cho những người quan tâm đến Nho giáo và góp mộtphần nhỏ vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học về Nho giáo ở Việt Nam
Trang 5II Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tớnh đến hết thế kỷ XX, về cơ bản, lịch sử tranh luận vấn đề tụn giỏo
của Nho giỏo ở Trung Quốc cú thể chia làm 3 giai đoạn: Lần tranh luận
thứ nhất (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX) Lần tranh luận thứ hai (từ cuối
thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX) Lần tranh luận thứ ba vào nửa cuối
thế kỷ XX, đặc biệt là 20 năm cuối thế kỷ XX, từ khi học giả Nhiệm Kế Dũ
cụng khai nờu ra quan điểm “Nho giỏo là tụn giỏo” trong Đại hội thành lập
Học hội vụ thần luận Trung Quốc tổ chức vào cuối năm 1978 Sang thế kỷ
XXI, tranh luận về vần đề vẫn tiếp tục đuợc triển khai sõu rộng
Mỗi lần tranh luận đều cú sự tăng thờm về số lượng cũng như chấtlượng Tuy nhiờn, sự tham gia của cỏc học giả thường là trực tiếp bày tỏquan điểm của mỡnh về vấn đề tranh luận, cũn cỏc bài viết hoặc cụng trỡnhnghiờn cứu chung về tỡnh hỡnh tranh luận lại rất ớt, đặc biệt là cỏc cụng trỡnhnghiờn cứu lớn Cho đến nay, số lượng cỏc bài viết dạng tổng hợp tỡnh hỡnhtranh luận về phương diện tụn giỏo của Nho giỏo vẫn cũn dừng ở con số rấtkhiờm tốn, như qua trang web: www.confucius2000.com ta thấy một số
bài “Nho giỏo tranh luận đớch lịch sử tớnh dữ thế giới tớnh”, “Nho giỏo vấn
đề nghiờn cứu đớch phỏt triển hoà thõm nhập”, “Quan vu Nho giỏo vấn đề đớch tối tõn thảo luận” của Hàn Tinh, hay “Nho giỏo chi tranh khảo” của
Thẩm Vĩ Hoa (xem www.rxyj.org), “Nho giỏo cập Nho học chi tụn giỏo
tớnh vấn đề” của Quỏch Tề Dũng (xem www.yuandao.com) và một số bài
viết khỏc Đỏng chỳ ý nhất là cuốn “Nho giỏo vấn đề tranh luận tập” của
tỏc giả Nhiệm Kế Dũ, xuất bản lần đầu tiờn vào năm 2000 Đõy là mộtcuốn sỏch chuyờn tập hợp cỏc bài viết tiờu biểu của cỏc học giả tranh luận
về phương diện tụn giỏo của Nho giỏo diễn ra vào khoảng 20 năm cuối thế
kỷ XX Sau Nhiệm Kế Dũ, năm 2004, Hàn Tinh cho xuất bản cuốn “Nho
giỏo vấn đề tranh minh dữ phản tư” Cuốn sỏch này ngoài giới thiệu khỏi
Trang 6quát tình hình tranh luận vấn đề Nho giáo ở Trung Quốc hơn 20 năm cuốithế kỷ XX, còn giới thiệu cả tranh luận vấn đề trên mạng Khổng Tử 2000
đầu thế kỷ XXI Có thể nói, “Nho giáo vấn đề tranh luận tập” và “Nho
giáo vấn đề tranh minh dữ phản tư” là hai công trình điển hình có sự tập
hợp, liệt kê hoặc khái quát về các bài viết tham gia tranh luận vấn đề Nhogiáo Tuy nhiên, kể cả các bài viết hay hai cuốn sách trên đều chỉ dừng lại
ở việc tập hợp các tác phẩm, các bài viết mang tính chất liệt kê, gần nhưchưa có phần đánh giá chung về tổng quan tình hình tranh luận
Đó là ở Trung Quốc, còn ở Việt Nam chúng ta, người viết có thểkhẳng định là chưa có công trình nghiên cứu nào về tình hình tranh luậnphương diện tôn giáo của Nho giáo Có thể nói, đề tài này là công trình đầutiên ở Việt Nam nghiên cứu về vấn đề trên
III §èi tîng nghiªn cøu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các ý kiến tranh luận về vấn đề
Nho giáo có phải là tôn giáo hay không cùng phạm vi là “ở Trung Quốc 20 năm cuối thế kỷ XX” Qua đó phân loại, khái quát thành các khuynh hướng
chủ đạo tạo ra bức tranh về tình hình tranh luận về phương diện tôn giáo
của Nho giáo 20 năm cuối thế kỷ XX ở Trung Quốc Thực ra, vấn đề “Nho
giáo có phải là tôn giáo hay không” không chỉ giới hạn ở sự tranh luận của
các học giả Trung Quốc, mà từ lâu nó đã trở thành một vấn đề học thuậtmang tính quốc tế Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian không thể sưu tầmhết cả các tranh luận trong và ngoài Trung Quốc, nên người viết dừng lại ởTrung Quốc, muốn xuất phát từ chính nơi được coi là trung tâm của tranhluận để nghiên cứu sâu hơn về vấn đề Sở dĩ luận văn tập trung nghiên cứuvấn đề vào 20 năm cuối thế kỷ XX là xuất phát trực tiếp từ bản thân giaiđoạn này, đó được coi là giai đoạn vấn đề tranh luận thực sự được “bùngnổ”; và vì lần tranh luận diễn ra gần đây hơn nên còn để lại nhiều dư âm,
Trang 7dễ đối chứng tài liệu, phạm vi tranh luận rộng hơn, không khí tranh luận sôinổi hơn, trình độ tranh luận học thuật cũng cao hơn hai lần tranh luậntrước.
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các ý kiến tranh luận vềvấn đề Nho giáo có phải là tôn giáo hay không ở Trung Quốc 20 năm cuối
thế kỷ XX Tuy nhiên, do có cả phần đánh giá và mở rộng tình hình tranh
luận nên người viết mở rộng ra nghiên cứu cả tình hình tranh luận trước vàsau lần tranh luận 20 năm cuối thế kỷ XX này Mặt khác, do sự tranh luận
có liên quan đến các vấn đề được coi là cốt lõi của Nho giáo, nên ngườiviết cũng nghiên cứu thêm về nội dung các vấn đề cốt lõi của Nho giáo để
có sự đối chứng và lựa chọn dẫn chứng chính xác hơn, tiêu biểu hơn, đưa
ra những nhận xét xác đác hơn
IV Ph¬ng ph¸p nghiªn cøu vµ nguån t liÖu.
1 Phương pháp nghiên cứu
Người viết xác định công việc tổng quan của mình gồm hai công
đoạn: tổng thuật và đánh giá Trước hết là tổng thuật, nghĩa là thuật lại,
trình bày lại một cách khái quát có hệ thống toàn cảnh tranh luận về vấn đề
“Nho giáo có phải là tôn giáo hay không” ở Trung Quốc 20 năm cuối thế
kỷ XX Thái độ xuyên suốt quá trình tổng thuật là nhìn nhận đánh giá vấn
đề một cách khách quan bao quát Trong phần này, nhiệm vụ của người
viết đúng như câu nói của Khổng Tử là “thuật nhi bất tác”, cố gắng đứng ở
một vị trí khách quan nhất để sắp đặt, thâu tóm các ý kiến; từ đó nhằm phácthảo lại tình hình tranh luận liên quan Cụ thể hơn là liệt kê một cách khoahọc các ý kiến thể hiện thái độ đối với vấn đề tôn giáo của Nho giáo theonhững khuynh hướng cơ bản Tiếp sau phần tổng thuật là phần đánh giá.Đây là phần được coi là khá quan trọng, bởi vì người viết xác định rằng giátrị của luận văn không chỉ dừng lại đơn thuần ở việc tổng thuật, mà cao hơn
Trang 8là những điều đúc rút qua sự tổng thuật Trên cơ sở phần tổng thuật, ngườiviết sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp lịch sử để đưa ranhững đặc điểm về bản thân lần tranh luận này Cố gắng bám sát thực tếtranh luận một cách khách quan, chính xác đưa ra những đặc điểm được coi
là nổi bật của lần tranh luận chính là tiêu chí của người viết
2 Nguồn tư liệu.
Luận văn mang tính chất tổng thuật nghiên cứu và phân tích đánh giánên thao tác sưu tập tài liệu rất quan trọng, nó đòi hỏi một nguồn tư liệuphong phú mà chính xác, tiêu biểu, việc lựa chọn tài liệu dẫn chứng phảikhách quan, chân thực Với yêu cầu như vậy, người viết đã rất thận trọngtrong việc lựa chọn tài liệu, những trích dẫn về tình hình tranh luận phươngdiện tôn giáo của Nho giáo ở Trung Quốc 20 năm cuối thế kỷ XX ở đâybao gồm những ý kiến phát biểu, các bài viết trên tạp chí và một số côngtrình nghiên cứu học thuật hữu quan (đều được ghi chú ở phần tài liệu thamkhảo) Tất cả đều là tài liệu tiếng Trung, người viết đã cố gắng đọc dịch vàchọn lọc những ý kiến tiêu biểu cho từng khuynh hướng tư tưởng, từng nộidung, cố gắng đem lại nhiều ý kiến đa dạng để mọi người thực sự hìnhdung được toàn cảnh của cuộc tranh luận
V Ý nghĩa, mục đích và đóng góp.
Trong bề dày và bề rộng của nghiên cứu về Nho giáo nói chung vàKhổng Tử nói riêng ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về nội dunghọc thuyết Nho gia cũng như tác dụng của nó đến các lĩnh vực của đờisống, vai trò và tác động của Nho giáo, quá trình của Nho giáo có thể nói
là không kể xiết Người quan tâm có thể dễ dàng tìm đọc và nghiên cứu.Tuy nhiên, nghiên cứu về Nho giáo không chỉ dừng lại ở đó, nó còn nhiềukhía cạnh rất hấp dẫn đã và đang đuợc khai thác; vấn đề phương diện tôngiáo của Nho giáo là một trong số đó Mong muốn đem lại một chút gì mới
mẻ cho nghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam, người viết đã nỗ lực vừa nghiên
Trang 9cứu vừa học hỏi để hoàn thành luận văn “Tranh luận học thuật 20 năm
cuối thế kỷ XX ở Trung Quốc về phương diện tôn giáo của Nho giáo_ đánh giá và bình thuật” Luận văn với việc sưu tập đuợc rất nhiều những ý
kiến, quan điểm của các học giả có thể đem đến cho người đọc sự hiểu biết
cụ thể nhất về việc tranh luận vấn đề tôn giáo của Nho giáo Thêm mộtbước nữa, trên cơ sở những ý kiến; quan điểm của từng bài viết, bài phátbiểu riêng rẽ; người viết tổng hợp và nhóm thành những khuynh hướng cơbản, sắp xếp một cách hệ thống giúp những ai quan tâm có thể hình dungkhái quát, dễ dàng nắm bắt được động thái của vấn đề mà không mất nhiềuthời gian tìm tòi, sắp xếp rất nhiều tài liệu liên quan Phần nhận xét đánhgiá của luận văn cũng có thể trở thành những gợi ý nhỏ để mọi nguờinghiên cứu sâu rộng hơn Nói chung, về cơ bản, người viết hy vọng luậnvăn này sẽ là một tài liệu hữu ích trong nghiên cứu Nho giáo
VI KÕt cÊu cña luËn v¨n.
Về bố cục chi tiết của luận văn, ngoài phần “Lời mở đầu” và “Kếtluận”, phần “Nội dung” cũng là phần chính của luận văn, được chia ra làm
ba chương như sau:
Chương I: Trình bày khái quát các quan điểm khẳng định “Nho giáo là tôn giáo”, được chia làm hai mục lớn:
I Quan điểm khẳng định “Nho giáo là tôn giáo” của Nhiệm Kế
Dũ
II Các quan điểm khẳng định “Nho giáo là tôn giáo” khác.
Chương II: Trình bày khái quát các quan điểm phủ nhận “Nho giáo
là tôn giáo” và các quan điểm khác, cũng được chia làm hai mục lớn:
I Các quan điểm phủ nhận “Nho giáo là tôn giáo”.
II Các quan điểm khác về vấn đề tôn giáo của Nho giáo
Trang 10Chương III: “Đánh giá và bình thuật”, đưa ra những đặc điểm nổi
bật cùng những nhận xét về lần tranh luận vừa tổng thuật ở hai chương I vàII
Đề tài nghiên cứu này là luận văn tốt nghiệp của bản thân, songngười viết cũng mong muốn qua đó có thể đóng góp nho nhỏ cho nghiêncứu Nho giáo đang phát triển ở Việt Nam, đặc biệt là về phương diện tôngiáo của Nho giáo Nỗ lực dành nhiều thời gian, công sức và tinh lực choviệc tìm đọc tài liệu tham khảo, dịch thuật và trình bày vấn đề một cáchchân thực, người viết hy vọng rằng đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cóích cho những ai muốn nghiên cứu về phương diện tôn giáo của Nho giáonói riêng và Nho giáo nói chung Tuy nhiên, do thời gian thực hiện hạn chế
mà vấn đề lại phức tạp, nguồn tài liệu phong phú nhưng hầu như không cótài liệu tham khảo bằng tiếng Việt, không phải là tài liệu cập nhật, rất khósưu tập; về phần mình, trình độ tiếng và năng lực đọc dịch tiếng Trungcũng như kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu khoa học của người viếtcòn hạn chế; vì vậy, trong quá trình dịch thuật, diễn giải và trình bày chắc
sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót, bất cập nhất định Người viết rất mongnhận được ý kiến đóng góp của mọi người
Trang 11Nội dung
CHƯƠNG I: Các quan điểm khẳng định “Nho giáo là
tôn giáo”
Theo lịch sử vấn đề tranh luận, chỳng ta thấy, trong suốt quỏ
trỡnh tranh luận từ trước những năm 80 thế kỷ 20, quan điểm cho rằng Nho
giỏo khụng phải là tụn giỏo luụn chiếm ưu thế Đặc biệt, từ khi cỏc bậc tiền
bối như Lương Khải Siờu, Sỏi Nguyờn Bồi, Cụ Trần Độc Tỳ đưa ra quanđiểm phủ nhận Nho giỏo là tụn giỏo; trong khoảng gần một trăm năm, gầnnhư giới học thuật đều cụng nhận Trung Quốc cổ đại là nước phi tụn giỏo,Nho giỏo khụng phải là tụn giỏo Chỉ đến khi học giả Nhiệm Kế Dũ cụng
khai đưa ra quan điểm “Nho giỏo là tụn giỏo” vào năm 1978, khuynh
hướng khẳng định này mới dần dần phỏt triển
I Quan điểm khẳng định “Nho giỏo là tụn giỏo” của Nhiệm Kế
Dũ:
Nhiệm Kế Dũ là nhõn vật tiờu biểu cho quan điểm “Nho giỏo là tụn
giỏo” Cuối năm 1978, trong đại hội thành lập Học hội vụ thần luận tổ chức
tại Nam Kinh, Nhiệm Kế Dũ đó tham gia diễn giảng lần đầu tiờn quan điểm
“Nho giỏo là tụn giỏo” Năm 1979, trong hội nghị thảo luận học thuật
mang tớnh toàn quốc của hội triết học sử Trung Quốc tổ chức tại Thỏi
Nguyờn, Nhiệm Kế Dũ lại đưa ra vấn đề “Nho giỏo là tụn giỏo” Cũng năm
đú, ụng thăm Nhật và cú bỏo cỏo học thuật “Nho gia và Nho giỏo” Năm
1980 bỏo cỏo này được bổ sung lấy tờn là “Bàn về sự hỡnh thành của Nho
giỏo” (nguyờn văn “Luận Nho giỏo đớch hỡnh thành”), đăng trờn tạp chớ
“Khoa học xó hội Trung Quốc”, kỳ 1 Cũng trong năm 1980, tạp chớ “Triết
học Trung Quốc” kỳ 3 đó đăng bài “Nho học và Nho giỏo”.Ở đõy, người
viết lấy bài “Luận Nho giỏo đớch hỡnh thành” để khỏi quỏt nội dung cơ bản trong quan điểm của Nhiệm Kế Dũ coi “Nho giỏo là tụn giỏo”
Trang 12Nhiệm Kế Dũ đã tiếp thu quan điểm cơ bản trong nghiên cứu lịch sửTrung Quốc của một số học giả theo chủ nghĩa Mác- Lênin, đó là luậnđiểm chia sự phát triển xã hội thành 5 giai đoạn, trên cơ sở đó coi Nho giáo
là trung tâm của hình thái ý thức xã hội phong kiến để tiến hành nghiên
cứu Ông cho rằng “Hình thái ý thức này thích ứng với sự thống nhất chính
quyền giữa chế độ tông pháp phong kiến và chế độ quân chủ, có tác dụng lớn trong việc mê hoặc dân chúng, do đó nó duy trì hữu hiệu trật tự xã hội phong kiến” Với nhận định Nho giáo là hình thái ý thức phong kiến; hình
thái ý thức phong kiến là để bảo vệ sự thống trị phong kiến, là sự mê hoặclừa gạt dân chúng lao động; Nhiệm Kế Dũ đã triển khai luận điểm củamình trong bài viết, thể hiện ở 4 điểm sau:
Một là, học thuyết Nho gia do Khổng Tử sáng lập thời Xuân Thu
vốn là sự kế thừa và phát triển tư tưởng tôn giáo thờ cúng tổ tiên và thầnhọc thiên mệnh từ thời Thương Chu Hạt nhân của học thuyết này là sựnhấn mạnh tôn tôn, thân thân, duy trì địa vị thống trị tuyệt đối của quân,phụ (vua và cha), củng cố chế độ đẳng cấp tông pháp chuyên chế Vì vậy,
theo Nhiệm Kế Dũ, học thuyết này “chỉnh sửa thêm ít nữa thì có thể thích
ứng với nhu cầu của kẻ thống trị phong kiến, bản thân có khả năng phát triển thành tôn giáo”.
Hai là, Nhiệm Kế Dũ cho rằng học thuyết Nho gia thời tiên Tần vẫn
chưa phải là Nho giáo, mà là học thuyết chính trị luân lí, đua tiếng với báchgia chư tử Sự phát triển từ Nho học thành Nho giáo là quá trình lịch sử hơnmột ngàn năm, nó diễn ra dần dần cùng với sự hình thành và củng cố của
đế quốc phong kiến thống nhất Nói một cách cụ thể, “trong lịch sử phát
triển, học thuyết Nho gia đã trải qua hai lần biến đổi lớn Lần thứ nhất vào thời Hán, và lần thứ hai vào thời Tống, qua đó học thuyết Nho gia bị biến thành Nho giáo”.
Trang 13Theo Nhiệm Kế Dũ, sự biến đổi từ Nho gia thành Nho giáo tuy nói
là hoàn thành vào thời Tống, song có thể tính từ đời Đường Ví dụ như Hàn
Dũ coi trọng “Đại học”, dùng đạo thống của Nho giáo chống lại pháp thống của Phật giáo; Lí Cao dùng “Trung Dung” để chống lại chủ nghĩa thần bí tôn giáo của Phật giáo Đến Chu Hy đời Tống lại coi “Luận ngữ”, “Mạnh
Tử”, “Đại học”, “Trung dung” là Tứ thư, dồn hết tinh lực để chú giải nó.
“Tứ thư tập chú” của Chu Hy được kẻ thống trị phong kiến các triều đại sau coi là sách giáo khoa dùng thích hợp trong toàn quốc “Tứ thư” trở nên
nổi bật trong Thập tam kinh, được coi trọng đặc biệt
Ba là, về đặc trưng tôn giáo của Nho giáo Nhiệm Kế Dũ chỉ ra rằng:
từ khi Hán Vũ Đế độc tôn Nho thuật, Nho gia tuy đã có mầm mống Nhogiáo; song, những đặc trưng tôn giáo của nó vẫn cần hoàn thiện Qua sựgiao lưu trao đổi không ngừng, ảnh hưởng lẫn nhau với Phật giáo và Đạogiáo vào thời Đường; cộng thêm sự thúc đẩy có mục đích của đế vươngphong kiến, điều kiện Tam giáo hợp nhất đã chín muồi; sự ra đời của Líhọc Tống- Minh lấy lí luận phong kiến Nho giáo làm hạt nhân, hấp thu một
số phương pháp tu hành tôn giáo của Phật giáo, Đạo giáo, đã đánh dấu sựhoàn thành của Nho giáo Trung Quốc
Tiếp ngay đó, Nhiệm Kế Dũ còn trình bày sự tín thờ của Nho giáo là
“thiên,địa, quân, thân, sư”, nó kết hợp một cách hữu cơ chế độ tông phápphong kiến với thế giới quan tôn giáo thần bí Trong đó, quân thân là hạtnhân của chế độ tông pháp phong kiến Trung Quốc “Thiên” là căn cứ thầnhọc của quân quyền thần thụ, “địa” là cái nền của thiên, “sư” là người phụtrách, thay thiên địa quân thân giảng đạo, có quyền giảng giải cao nhất,giống như Phật giáo tôn Phật, Pháp, Tăng làm Tam bảo, tách khỏi tăng,phật và pháp thì không thể truyền bá Thời kỳ hưng khởi của Lí học đờiTống cũng đúng vào thời kỳ Thích, Đạo suy vi Phật giáo vốn thịnh hành
cả nước, truyền sang cả các nước khác, về hình thức tuy đã suy vi, nhưng
Trang 14trên thực tế vẫn chưa bị tiêu vong, bởi vì Nho giáo đã hấp thu Phật giáothành công Có thể thấy, Trung Quốc không có tôn giáo chiếm quyền uytuyệt đối như ở châu Âu trung đại, song, lực lượng chi phối độc tôn ởTrung Quốc trung đại là Nho giáo tuy không mang danh tôn giáo nhưngthực là tôn giáo
Qua so sánh với các tôn giáo khác như Kitô giáo, Ixlam giáo, Phậtgiáo…, Nhiệm Kế Dũ đã chỉ ra 4 đặc trưng tôn giáo cụ thể của Nho giáo,gồm:
- Về vị thần tối cao: phàm là tôn giáo đều phải xây dựng một vị thần
tối cao cho riêng mình Nho giáo cũng tuyên truyền kính trời, sợ trời, gọivua là con của trời Quân quyền và thần quyền kết hợp chặt chẽ với nhau,vua được giao cho thần tính Nho giáo còn có nghi lễ tế thiên, thờ KhổngTử
- Về sự theo đuổi thành thánh thành hiền: Nho giáo quy tất cả học
vấn là cái học tu dưỡng tôn giáo Nho giáo không cải tạo thế giới kháchquan, mà là làm trong sạch nội tâm; không hướng ra ngoài, mà tự kiểmđiểm; không nhận thức quy luật thế giới, mà chính tâm thành ý làm thánhhiền Quy cách của thánh hiền chính là sự thần hóa con người theo quycách của Nho giáo, tức con người theo chủ nghĩa tăng lữ điển hình
- Về sự theo đuổi thế giới tinh thần: mọi tôn giáo đều chủ trương có
một thế giới tinh thần, thế giới bên kia, hay còn gọi là thiên đường, cõi cựclạc Theo Nhiệm Kế Dũ, Nho giáo tuy không nói đến xuất thế; không chủtrương có một thiên đường ở kiếp sau, nhưng lại coi trạng thái tinh thầnchủ quan của thánh nhân là cõi lí tưởng để theo đuổi, thì cũng chính là đưathiên đường vào đời sống hiện thực của thế giới hiện tại, chứ không phảibên ngoài đời sống hiện thực của thế giới bên kia
- Về giáo chủ, giáo lí, kinh điển, đạo chính thống: các tôn giáo đều
có giáo chủ, giáo lí, giáo quy, kinh điển, giáo phái Nhiệm Kế Dũ cho rằng:
Trang 15giáo chủ của Nho giáo là Khổng Tử; giáo lí và đối tượng tín thờ của nó là
“thiên, địa, quân, thân, sư”; kinh điển của nó là Lục kinh của Nho gia; giáophái và hệ thống truyền pháp chính là đạo thống luận của Nho gia; có cái
gọi là 16 chữ chân truyền “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh
duy nhất, doãn chấp quyết trung.” (“nhân tâm rất nguy, đạo tâm thì mong
manh, phải chuyên tâm nhất chí, phải hành động theo đạo trung”) (Thượng
thư, Ngu thư) Nhiệm Kế Dũ còn so sánh Nho giáo với thần học trung đại
phương Tây, chỉ ra rằng: “chủ nghĩa tăng lữ, chủ nghĩa cấm dục, quan
niệm “nguyên tội”, chủ nghĩa mông muội, tôn tượng sùng bái, phương pháp tu dưỡng tôn giáo chú trọng phản tỉnh nội tâm, trái ngược với khoa học, coi thường sản xuất, những nội dung tôn giáo lạc hậu này của triết học kinh viện thời trung đại Nho giáo có cả.”.
Như vậy, từ góc độ lịch sử, bài viết “Bàn về sự hình thành của Nho
giáo” (“Luận Nho giáo đích hình thành”) của Nhiệm Kế Dũ đã đi sâu phân
tích quá trình Nho gia từng bước trở thành Nho giáo, đồng thời cũng chỉ rõ
những đặc điểm tôn giáo của Nho giáo Ông khẳng định: Nho giáo tuy
thiếu đặc trưng bên ngoài của tôn giáo nói chung, nhưng lại có tất cả những thuộc tính bản chất của tôn giáo Do đó, Trung Quốc cổ đại không
phải là không có sự thống trị của tôn giáo thần quyền, bởi vì bản thân Nhogiáo chính là tôn giáo Từ góc độ rộng hơn, bài viết này còn chỉ ra rằng, từtrước khi chủ nghĩa tư bản hình thành, mọi người không thể hoàn toànthoát khỏi sự thống trị của tôn giáo Trung Quốc cổ đại cũng không ngoại
lệ
Năm 1980, tạp chí “Triết học Trung Quốc” kỳ 3 đăng bài “Nho gia
và Nho giáo”của Nhiệm Kế Dũ, bài viết này tiến thêm một bước chỉ ra rằng
“sự thiết lập Lí học Tống-Minh đã đánh dấu sự hoàn thành của Nho giáo
Trung Quốc” Tổ chức tôn giáo của Nho giáo chính là quốc học ở trung
ương và châu học, phủ học, huyện học ở địa phương Học làm quan chính
Trang 16là chức vụ chuyên trách của Nho giáo Nho giáo đã xã hội hóa tôn giáo,khiến cho sinh hoạt tôn giáo thâm nhập vào từng gia đình.
Sau hai bài viết trên, năm 1982, Nhiệm Kế Dũ còn liên tục đăng hai
bài viết “Đánh giá lại Nho giáo” (“Nho giáo đích tái bình giá”) và “Chu
Hy và tôn giáo” (“Chu Hy dữ tôn giáo”) trên tạp chí “Khoa học xã hội
Trung Quốc” kỳ 2 và kỳ 5 Ở bài “Đánh giá lại Nho giáo”, Nhiệm Kế Dũ
đã phân tích luận điểm “Nho giáo là tôn giáo” một cách sâu sắc và rõ ràng
hơn Từ cái nhìn bao quát lịch sử thế giới, lấy lịch sử phát triển tôn giáolàm xuất phát điểm; Nhiệm Kế Dũ cho rằng, tôn giáo Trung Quốc cũng đãtrải qua quá trình từ tôn giáo nguyên thủy phát triển hoàn thiện thành tôngiáo hiện có, nhấn mạnh sự hưng thịnh của tôn giáo thời trung đại khôngphải là hiện tượng ngẫu nhiên, xã hội phong kiến Trung Quốc tương ứng
với thời kỳ trung đại, “Nho giáo là một tôn giáo hình thành trong xã hội
phong kiến Trung Quốc, nó vừa có tính chung của mọi tôn giáo thế giới thời trung đại, vừa có đặc tính độc đáo riêng” Sự thống nhất giữa tính
chung và tính riêng đó đã phản ánh rõ nét điều kiện lịch sử xã hội phongkiến Trung Quốc Xã hội phong kiến Trung Quốc mang đặc điểm nổi bật làchế độ tông pháp phong kiến phát triển khá hoàn thiện Chính chế độ tông
pháp đó đã tạo ra tư tưởng tông pháp lấy tam cương ngũ thường làm nội
dung cơ bản của Nho gia Tất nhiên, theo Nhiệm Kế Dũ, bản thân tư tưởngtông pháp không phải là tôn giáo Ví như tư tưởng tông pháp của Khổng
Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử thời tiên Tần chỉ là tư tưởng luân lí chính trị xãhội, không mang tính chất tôn giáo; sau khi bị tôn giáo hóa, trở thành giáođiều thần thánh, mọi người cũng không thắc mắc, càng không phản đối
Nhiệm Kế Dũ phân tích tiếp chỉ ra rằng, Nho giáo lấy tam cương
ngũ thường thay cho việc theo đuổi thế giới bên kia Phàm là tôn giáo đều
có sự theo đuổi thế giới bên kia, như thiên đường, Tây phương cực lạc, thếgiới thần tiên, thậm chí phải xuất gia, toàn tâm toàn ý vì lí tưởng theo đuổi
Trang 17Nhưng, Nhiệm Kế Dũ nói: Nho giáo không chủ trương xuất gia, mà chú
trọng những luân lí hiện thực, mang đạm tính thế tục Nho giáo khác với những tôn giáo khác, nó không hư cấu ra một thế giới bên kia, rồi sau đó dần dần đưa vào thế giới hiện thực, mà là đem “tam cương ngũ thường” trong thế giới hiện thực “gia công” tôn giáo, làm cho nó trở thành một thế giới bên kia Ông lấy Nho giáo Tống - Minh làm ví dụ Nho giáo Tống-
Minh nhiều lần thảo luận cái gọi là “hạ học thượng đạt”, “cái cao siêu nhất
là đạo trung dung”, giống như Thiền tông thể nghiệm cái đạo tuyệt diệu từ
“vác nước bổ củi”(“vận thủy ban sài”), đây là chủ trương đạt được thiên lí
từ hạ học nhân sự, theo đuổi cái gọi là cảnh giới tinh thần cao siêu từ luân líthường ngày Cảnh giới tinh thần đó thực chất chính là một thế giới bênkia
Trong bài, Nhiệm Kế Dũ cũng đã phân tích sự khác biệt giữa thầnhọc của Đổng Trọng Thư với Lí học Tống- Minh Cho rằng, thần học củaĐổng Trọng Thư và Lí học Tống- Minh đều phát triển theo hướng tôn giáohóa Nho học, nhưng với mức độ khác nhau Ở thần học của Đổng TrọngThư, những đặc trưng tôn giáo vẫn chưa hoàn thiện, vì trong hệ thống thànhọc đó, tư tưởng “thế giới bên kia” vẫn chưa đầy đủ Còn Nho giáo Tống-Minh đã hấp thu tư tưởng Phật giáo, điều chỉnh theo nhu cầu bảo vệ chế độtông pháp, đưa thiên lí thành mục tiêu theo đuổi suốt đời của mọi người, làlối thoát tinh thần duy nhất, đồng thời đã đưa ra một loạt phương pháp tu
dưỡng hoàn chỉnh như chủ kính, tĩnh tọa, “tồn thiên lí diệt nhân dục”, đến
đây hệ thống tôn giáo của Nho giáo cũng đã phát triển hoàn thiện
Kết thúc bài viết, Nhiệm Kế Dũ một lần nữa khẳng định: Nho giáoTống- Minh khác với Nho gia tiên Tần, và thực chất nó là một tôn giáo,mang đặc trưng thần học kinh viện trung đại
Từ cuối những năm 80 đến những năm 90, Nhiệm Kế Dũ còn lần
lượt có các bài như: “Bàn về ‘Tứ thư tập chú’ của Chu Hy lần biến đổi
Trang 18lớn của kinh học Nho gia” (“Luận Chu Hy đích ‘Tứ thư tập chú’ Nho gia
kinh học đích nhất đại biến cách”) [2], “Nho giáo tôn giáo mang hình
thức dân tộc Trung Quốc” (“Cụ hữu Trung Quốc dân tộc hình thức đích tôn
giáo Nho giáo”) [3], “Bàn về quy định học đường của thư viện Động
Bạch Lộc” (“Luận Bạch Lộc Động thư viện học quy”) [4], “Xem xét Nho giáo từ việc thầy trò họ Trình học dưới tuyết” (“Tùng Trình môn lập tuyết
khán Nho giáo” [5; 1], , “Tình cảm tôn giáo của Chu Hy” “Chu Hy đích tôn giáo cảm tình”) [5; 2], “Từ Phật giáo đến Nho giáo sự biến đổi trào lưu
tư tưởng Đường Tống” (“Tùng Phật giáo đáo Nho giáo Đường Tống tư
trào đích biến thiên”) [6] …
Trong “Bàn về ‘Tứ thư tập chú’ của Chu Hy lần biến đổi lớn của
kinh học Nho gia” , Nhiệm Kế Dũ nghiêng về thảo luận ý nghĩa quan trọng
của “Tứ thư tập chú” trong lịch sử kinh học Nho gia Nhưng, là người nghiên cứu Nho giáo, ông coi “Tứ thư tập chú” là sự biến đổi mới của
“kinh học thần học” thời Hán trong thời Tống, và gọi nó là “kinh học Nho
giáo”, tương ứng với quan niệm thời Hán là giai đoạn hình thành Nho giáo,
thời Tống là giai đoạn hoàn thành của Nho giáo Theo ông, khi người Hán
giải thích kinh sách đã chịu ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng “thiên nhân
cảm ứng”, lấy đạo trời áp đặt trong việc của con người, là vì “kinh học thần học” Nó là công cụ đắc lực giúp triều Hán củng cố thống nhất chính
quyền Kinh học thần học là hệ thống thần học còn khá đơn giản, nhưng nó
đã thể hiện trào lưu tư tưởng thời đại, đã bao hàm rất nhiều nội dung khoahọc đương thời (như triết học, thần học, sử học…), dùng kinh học làm tưtưởng chỉ đạo cao nhất, hỗ trợ cho việc thực hiện các biện pháp trị quốc anbang, như dẫn theo kinh thư để quyết định án, thi hành các biện pháp chính
trị… Sự ra đời của “Tứ thư”đã đánh dấu sự hình thành của “Tân kinh học”, đây là “kinh học Nho giáo” hình thành sau khi “Ngũ kinh chính nghĩa” đã
hấp thu một số nội dung tôn giáo của Phật giáo và Đạo giáo Chu Hy thời
Trang 19Nam Tống đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lệch sử đổi mới kinh học Nhogiáo này.
Theo ông, đặc điểm của kinh học Nho giáo đời Tống là ở chỗ dùng
thuyết tâm tính để giải thích kinh điển Nho gia, đặc biệt là “Tứ thư tập
chú”, nó nhấn mạnh đạo lí đối nhân xử thế chủ yếu là dạy người tu thân
dưỡng tính, hàm dưỡng tính cách, chính tâm thành ý như thế nào Lấythuyết tâm tính để giải thích kinh điển là một biến đổi lớn chưa từng diễn ratrong lịch sử kinh học Trung Quốc
Năm 1988 Nhiệm Kế Dũ có bài , “Nho giáo tôn giáo mang hình
thức dân tộc Trung Quốc” Đây là luận chứng mới của ông về tính chính
trị, tính dân tộc, tính hiện thực của Nho giáo Ông cho rằng xã hội TrungQuốc tồn tại mâu thuẫn giữa sự thống nhất của chính trị tập quyền trungương với sự phân tán của nền kinh tế tự nhiên, điều hòa như thế nào mâuthuẫn này? Phải dựa vào Nho giáo Ở đây, Nho giáo có tác dụng quantrọng Nhưng tác dụng quan trọng thế nào thì Nhiệm Kế Dũ không đề cậpđến Ông quay sang bàn về sự xuất hiện của tôn giáo Đó là ba tôn giáo lớntrên thế giới đều phát triển ở xã hội phong kiến, đó không phải là hiệntượng ngẫu nhiên Xã hội phong kiến cần tôn giáo Nếu chỉ là nhu cầu cánhân, nó mang nhân tố chủ quan và tính ngẫu nhiên, có thể không cần chútrọng, nó xuất phát từ nhu cầu xã hội, nhu cầu quốc gia thì không thể coi làchủ quan, ngẫu nhiên; mà nó mang tính xã hội, tính quần chúng, tính kháchquan Sự nảy sinh và truyền bá của tôn giáo bắt nguồn từ nhu cầu khách
quan của xã hội Nho giáo cũng vậy “Nho giáo chính là tôn giáo đặc thù
nảy sinh trên mảnh đất Trung Quốc cổ đại, là tôn giáo chỉ có ở Trung Quốc” Cuối bài, Nhiệm Kế Dũ còn nhấn mạnh ảnh hưởng tiêu cực kéo dài
của Nho giáo, cho rằng âm hồn của Nho giáo vẫn du đãng và đã gây raphong trào bịa đặt thần thánh trong 10 năm đại cách mạng hỗn loạn, làmcho tâm thái của hàng ngàn hàng vạn quần chúng như say như điên
Trang 20Trong “Bàn về quy định học đường của thư viện Động Bạch Lộc” ,
Nhiệm Kế Dũ đã thông qua việc giải thích quy định học đường của thưviện Động Bạch Lộc cho rằng quy định học đường của thư viện Động BạchLộc đáng được coi là cương lĩnh thế giới quan triết học của Chu Hy Vớiquy định đó, mục đích của giáo dục không phải là truyền bá tri thức, vì vănchương, vì danh vọng hay thu lợi lộc; mà là ở chỗ giảng rõ cho người họchiểu đạo nghĩa từ mình suy ra người; cuối cùng là đạt tới thánh hiền Tuynhiên, theo Nhiệm Kế Dũ, nó còn có hàm nghĩa xã hội sâu sắc hơn, đáng
được sự chú ý của mọi người Đó là: Quy định học đường này không chỉ là
phương châm dạy học của Chu Hy, mà nói đúng hơn là phương châm trị nước của ông; không chỉ là tư tưởng triết học của Chu Hy, mà đúng hơn là
tư tưởng tôn giáo của ông; không chỉ là đại cương chính trị học của Chu
Hy, mà đúng hơn là sự thể hiện hợp nhất giữa chính trị và tôn giáo của ông
Phân tích tiếp, Nhiệm Kế Dũ chỉ ra rằng, hệ thống hợp nhất chính trị
và tôn giáo của Chu Hy không thể coi chỉ là của cá nhân Chu Hy, nó đạidiện cho thể chế chính trị kéo dài đến tám trăm năm của các triều đại Tống,Nguyên, Minh, Thanh Hệ thống hợp nhất chính trị và tôn giáo không phải
để bồi dưỡng nhà triết học, nhà khoa học, mà là đào tạo những nhân tàithích hợp hơn cho việc củng cố trật tự phong kiến có lợi cho vương triềuphong kiến đại thống nhất
Nhiệm Kế Dũ kết thúc bài viết: “Nho giáo có hệ thống và kết cấu
độc đáo của nó, giữa thần quyền và vương quyền không có mâu thuẫn sâu sắc, không có đấu tranh sinh tử, nó lợi dụng đòn bảy chính quyền, luôn điều tiết quan hệ giữa hai bên, khiến cho nó phát triển ôn hòa, do đó không xảy ra chiến tranh kéo dài giữa giáo quyền và vương quyền như ở châu Âu trung đại Nho giáo là quốc giáo, kinh điển Nho gia mang tính thần thánh không thể coi thường, người lãnh đạo của Nho giáo đủ để làm thầy đế
Trang 21vương, nhưng không thể làm đế vương Vương quyền có thực quyền quản lí cuối cùng, song phải tôn nhà Nho làm thầy”.
Đến “Xem xét Nho giáo từ việc thầy trò họ Trình học dưới tuyết”,
Nhiệm Kế Dũ đã mượn câu chuyện “Trình môn lập tuyết” (thầy trò họTrình đứng dưới tuyết)(1) để phân tích, cho rằng câu chuyện đó một mặt nói
rõ tinh thần tôn sư trọng đạo của Nho gia, mặt khác cũng tỏ rõ Nho giađương thời thực sự chịu ảnh hưởngcủa Phật giáo và Đạo giáo, đưa phươngpháp tu dưỡng của hai đạo đó vào Nho giáo
Nhiệm Kế Dũ lại đưa ra vấn đề Nho giáo có phải là tôn giáo haykhông và phân tích: về hình thức, Nho giáo tuy khác với ba tôn giáo lớnđang lưu hành trên thế giới song nếu xét về bản chất, nó mang bản chất tôngiáo Hình thức tôn giáo là tổ chức giáo đoàn, giáo lí tôn giáo, đối tượngsùng bái, kinh điển, tín đồ cố định, Nho giáo đều có Bản chất tôn giáo làtính siêu việt của nó trước thế giới hiện thực Tin tưởng có Tây phương cựclạc, sau khi chết được lên thiên đàng là tính siêu việt của tôn giáo, đây làtính siêu việt bên ngoài Còn có tính siêu việt khác, không phải tìm kiếmtính siêu việt từ thế giới bên ngoài, mà chỉ cần thay đổi một chút thế giớiquan trong cuộc sống hiện thực thì có thể nhập thánh Thiền Tông chính là
giáo phái đã phát huy hết mức tính siêu phàm này Thiền Tông nói: “vác
nước bổ củi, không gì không phải là diệu đạo” (“vận thủy ban sài, vô phi
diệu đạo”), thành Phật không phải đi Tây phương, có thể lập tức thànhPhật Nho giáo có đầy đủ quan điểm siêu việt nội tại như Thiền Tông Nhogiáo nói, “vác nước bổ củi” đều là diệu đạo, có thể kiến tính thành Phật, thìthờ cha, thờ vua, sống cuộc sống xã hội bình thường tại sao không thể trởthành thánh thành hiền?
(1) Theo ghi chép, anh em họ Trình ở Hà Nam (anh là Trình Hạo, em là Trình Di) cùng dậy học, truyền thụ cho cùng một nhóm học trò Phương pháp dậy học của họ về cơ bản là giống nhau, trong đó, có những buổi học thầy giáo ngồi nhắm mắt, không giảng gì, các học trò thì đứng nghiêm trang bên thầy đến 2, 3 tiếng đồng hồ, kể cả những hôm mưa tuyết dầy một thước, họ vẫn đứng nghiêm trang như vậy.
Trang 22Cuối cùng, Nhiệm Kế Dũ khẳng định: kể từ đời Tống về sau, Nhogiáo được thành lập chính là tôn giáo mang đạc sắc Trung Quốc, nhấnmạnh tu dưỡng tinh thần, siêu việt nội tại của mọi người Tác dụng củaNho giáo đối với xã hội Trung Quốc là ổn định trật tự phong kiến, trì hoãn
sự giải thể của chế độ phong kiến Tôn giáo thông qua thể chế hoàn bị hợpnhất chính trị tôn giáo cũng tăng cường truyền bá và phổ biến văn hóatruyền thống Trung Hoa, có tác dụng tích cực trong gắn kết dân tộc Đếnthời cận đại, Nho giáo cũng gây tác dụng tieu cực cản trở hiện đại hóa
Năm 1993, Nhiệm Kế Dũ có bài “Tình cảm tôn giáo Chu Hy ” Bài
viết phân tích tỉ mỉ ý thức tôn giáo của Chu Hy, cho rằng Chu Hy đã đưa
‘Tứ thư” thành “thánh kinh” của Nho giáo Chu Hy đã dồn hết tinh lực cho việc chú giải “Tứ thư” và đã có được quyền giải thích kinh điển Nho gia,
dựa vào lực lượng chính phủ để mở rộng, lập làm tài liệu giảng dạy cảnước, tài liệu phải học của phần tử tri thức cả nước
Chu Hy tôn Khổng Tử làm giáo chủ, coi Khổng Tử là thần Đức tinvào Khổng Tử của Chu Hy xuất phát từ tấm lòng chân thành, ông tinKhổng Tử trên trời rất linh thiêng; luôn giám sát, lắng nghe lời nói và hànhđộng của Nho sinh hậu thế Theo Nhiệm Kế Dũ, Chu Hy trung thành vớiKhổng Tử không chi là sự tín thờ về mặt học thuật thông thường, mà là sựcung kính của giáo đò tôn giáo đối với giáo chủ Trong văn tập của Chu
Hy, Khổng Tử được tôn làm thần, chuyện lớn chuyện nhỏ đều phải có “văncáo tiên thánh”, rồi văn tế ở các đền thờ tiên thánh ở các địa phương, văn tếthần đất và thần lúa, văn cầu mưa, tạ mưa, ngừng mưa…
Phương thức tiếp cận Chu Hy này của Nhiệm Kế Dũ đã cung cấp
mẫu cho Lí Thân soạn cuốn “Trung Quốc Nho giáo sử” dài 1,5 triệu từ,
phát triển quan điểm Nho giáo là tôn giáo
Trong “Từ Phật giáo đến Nho giáo sự biến đổi trào lưu tư tưởng
Đường- Tống” Nhiệm Kế Dũ cho rằng ba tôn giáo lớn đời Đường là Phật,
Trang 23Đạo, Nho đều có trong Đạo giáo, so với sự phát triển thịnh vượng của Phậtgiáo, thế lực Nho giáo không tránh khỏi sự thua kém Nho giáo trực tiếpphục vụ cho chính quyền, tạo được tác dụng thực tế mà nó cần có, liênquan đến trình độ tư duy trừu tượng cao độ, quyền phát ngôn của Nho giáokhông nhiều, thể hiện rõ sự yếu kém.
Sau này, Phật giáo chịu sự công kích lớn, các tông phái suy yếu; chỉ
có Thiền tông Phật giáo của văn hóa Trung Quốc vẫn thịnh hành ThờiBắc Tống, Nho giáo đã tiếp tục đường lối nhấn mạnh sự thống nhất tậptrung của Hàn Dũ, Lí Cao, đồng thời đã tiếp thu Phật giáo, đặc biệt làthuyết tâm tính của Thiền tông, điều chỉnh tu dưỡng tâm tính của Phật giáo,minh tâm kiến tính của Thiền tông thành chủ kính, hàm dưỡng, thủ nhất,kết hợp với mục tiêu chính trị trị quốc bình thiên hạ Và theo Nhiệm Kế Dũ
“từ Thiền đến Nho chỉ cách nhau một bước nhỏ, Tống Nho chính là
phương thức tư duy dựa theo Thiền tông, phương thức tu dưỡng tôn giáo còn phát triển hơn, kết hợp tu dưỡng tôn giáo với sinh hoạt xã hội làm một,
‘cực cao minh nhi đạo trung dung’”.
Tam giáo từ đời Tống về sau, bề ngoài duy trì môn phái của mình(Phật, Đạo, Nho), đều cố gắng tăng cuờng mình bằng cách hấp thu hai giáocòn lại Thế lực tam giáo từ đời Tống cũng không ngang bằng, không giốngvới tam giáo đời Đường, Nho giáo đã trở thành chủ lưu, Phật và Đạo ở vào
vị trí phụ thuộc, có tác dụng phối hợp với Nho giáo
Nhiệm Kế Dũ nhận xét về sự liên hệ giữa Nho giáo và Phật giáo
rằng: “Từ Phật giáo đến Nho giáo, xem ra không giống như sự thay đổi
giáo lí, trên thực tế, hai nhà này là sự nối tiếp, vấn đề thảo luận là sự hàm tiếp, độ sâu của sự phát triển tư tưởng từng bước được nâng cao Về hình thức, về văn tự có sự công kích, nhưng bản chất thì nhất quán Bởi vì, Nho giáo và Phật giáo đều là triết học Trung Quốc, có quan hệ kế thừa, có sự liên hệ nội tại.”
Trang 24Qua lược thuật trên, bước đầu có thể thấy, Nhiệm Kế Dũ không chỉ
đơn thuần đưa ra quan niệm “Nho giáo là tôn giáo” mà ông còn triển khai
phân tích một cách hệ thống và sâu sắc luận điểm của mình Sự phân tíchcủa ông rất đa dạng như về sự hình thành tôn giáo của Nho giáo, về đặcđiểm tôn giáo của Nho giáo Quan điểm cũng như các bài viết của ông đãthu hút sự quan tâm của đông đảo giới học thuật, cũng có thể nói, ông làngười khởi đầu của lần tranh luận sôi nổi 20 năm cuối thế kỷ XX này
II Các quan điểm khẳng định “Nho giáo là tôn giáo” khác.
Những năm 80, sau khi Nhiệm Kế Dũ đưa ra và phân tích sâu sắcquan điểm Nho giáo là tôn giáo, đã có một số học giả ủng hộ ông hoặc cónhững quan điểm tương tự Đặc biệt là Lí Thân- học trò do ông đào tạo-ngày càng trở thành tín đồ kiên định và người phát huy của quan điểm
“Nho giáo là tôn giáo” Các bài viết của ông chủ yếu gồm: “Mấy vấn đề về
Nho giáo” (nguyên văn “Quan vu Nho giáo đích kỉ cá vấn đề”) [7; 1], “Nho giáo là tôn giáo” (“Nho giáo thị tôn giáo”) [8; 1], “Nho giáo, Nho học và nhà Nho” (Nho giáo, Nho học hoà Nho giả) [9], “Cương lĩnh Nho giáo mới của Chu Hy” (“Chu Hy đích Nho giáo tân cương lĩnh”) [10] , “Giáo trong giáo hóa chính là giáo trong tôn giáo” (“Giáo hóa chi giáo tựu thị
tôn giáo chi giáo”) [11; 1], “Bổ sung tài liệu lịch sử nghiên cứu Nho giáo” (“Nho giáo nghiên cứu sử liệu bô”) [12; 1], “Nghiên cứu Nho giáo 20 năm
trở lại đây” (“Nhị thập niên lai đích Nho giáo nghiên cứu”) [13]… Tinh
thần chung của các bài thể hiện sự ủng hộ quan điểm của Nhiệm Kế Dũ Ởđây chúng người viết đưa ra một số bài điển hình như:
Với bài “Mấy vấn đề về Nho giáo”, Lí Thân đã đưa ra sự hồi đáp trước sự phản đối của giới học thuật về quan niệm “Nho giáo là tôn giáo”.
Bài viết đã quy các ý kiến phản đối quan điểm Nho giáo là tôn giáo củagiới học thuật làm một, đó là Nho giáo không mang đặc trưng tôn giáo nói
Trang 25chung Ví dụ như: Nhà Nho nói chung không tin quỷ thần, Nho giáo không
có tổ chức tôn giáo và nghi lễ tôn giáo, Nho giáo không có thế giới bênkia…Cũng chính từ các nội dung vừa nêu, Lí Thân đưa ra nhận thức củamình về vấn đề liên quan đến Nho giáo, gồm:
Một là, vấn đề Khổng Tử và quỷ thần Qua khảo sát thái độ của ngũ
kinh và lục kinh đối với quỷ thần, Lí Thân cho rằng Khổng Tử không phảikhông tin quỷ thần, mà là tin tưởng một cách thành kính thiên mệnh quỷthần; hơn nữa còn ra sức bảo vệ chế độ lễ nghi tôn giáo truyền thống
Hai là, vấn đề Thượng đế và thần linh của Nho giáo Lí Thân đã
phân tích vấn đề này theo cách đưa ra nhận xét rồi trích dẫn chứng từ kinhđiển Nho gia Còn chúng người viết chỉ khái quát nhận định của Lí Thân,
đó là : Từ sau khi Hán Vũ Đế áp dụng đối sách của Đổng Trọng Thư, quyếtđịch độc tôn Nho thuật, coi Thái Nhất là vị thần cao nhất, Ngũ đế bị hạ thấplàm phụ tá cho Thái Nhất Từ đó về sau, tên và ý nghĩa của Thượng đếhoàn toàn do nhà Nho quy định và giải thích dựa vào kinh điẻn của Nhogia Sau này, các nhà Nho còn tiếp thu rộng rãi quan niệm thần và ngườikhác nhau về hình thể Thời Bắc Tống các nhà Nho còn đưa ra “lí” từ trong
“khí” Lí chi phối khí, Thượng đế mà nhà Lí học nói ở đây chính là lí trongnguyên khí to lớn Nói một cách thông tục, nguyên khí to lớn chính là hìnhthể của Thượng đế, lí trong khí là linh hồn của Thượng đế hay bản thânThượng đế Như vậy, Thượng đế khác con người về hình thể, song lạigiống về tính Thượng đế có nhân cách, có thể thưởng thiện phạt ác, có thểcảm ứng với con người Từ đời Tống về sau, nhà Nho dùng nguyên tắc
“chủ kính” để điều chỉnh mình, không chỉ là tâm thái đạo đức, mà trước hết
là tâm thái tôn giáo Kính chính là tôn kính và sợ hãi Thượng đế Như vậy,bắt đầu từ Khổng Tử, với tư cách là một nhà Nho, có nhà Nho nào khôngtin Thượng đế, phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế? Lí Thân trả lời: Có thểnói là không một ai Không chỉ minh chứng rằng các nhà Nho thừa nhận sự
Trang 26tồn tại của Thượng đế, Lí Thân còn phân tích kỹ cả những giải thích củanhà Nho về tác dụng của Thượng đế.
Ba là, về thế giới bên kia của Nho giáo Theo Lí Thân, thế giới của
Thượng đế và các thần linh chính là thế giới bên kia của Nho giáo Dườngnhư khác với các tôn giáo khác, Nho giáo không chủ trương mọi người saukhi chết sẽ buớc vào một thế giới khác, do đó cũng không chủ trương lúccòn sống tách khỏi đời sống thế tục, mà chủ trương làm tốt những côngviệc hiện thực Nói một cách đơn giản, Nho giáo là nhập thế chứ khôngphải xuất thế
Dựa vào kinh điển Nho gia, nhiệm vụ của Thượng đế là dạy choquân (vua), sư (thầy), chứ không phải là để dẫn mọi người vào thế giới củaThượng đế, mà là muốn họ “khắc tương Thượng đế, sủng tuy tứ phương”,tức là trợ giúp Thượng đế, quản lí tốt thiên hạ Nho giáo mong chờ một vịthánh đế minh vương thực hiện mục tiêu “trị quốc, bình thiên hạ”, cũnggiống như sự theo đuổi của tôn giáo, bởi vì điều đó được thực hiện dướidanh nghĩa của trời hoặc Thượng đế, là đang thực hiện ý chỉ của Thượngđế
Bốn là, về tổ chức và nghi lễ thờ cúng Ngoài tổ chức chính quyền
ra, Nho giáo không thành lập tổ chức của riêng mình, tổ chức chính phủđồng thời cũng là tổ chức tôn giáo của Nho giáo Quan chức nhận chứctrong tổ chức này đồng thời cũng là một giáo chức, thực hiện chức năngcủa tôn giáo Đứng ở vị trí cao nhất trong tổ chức chính quyền là vua Vuakhông chỉ là quân chủ quốc gia, mà đồng thời còn là giáo chức cao nhất.Ông ta là thiên tử, là “thánh thượng”, đảm nhiệm vai trò chủ tế trong nhữngbuổi tế thiên long trọng Dưới hoàng đế có các chức quan, làm nhiệm vụ tế
lễ khác nhau tùy vào cấp bậc khác nhau Quan viên giữ chức trong triềuđình còn thường làm sứ giả của nhà vua, ra vùng ngoại thành làm nhiệm vụ
tế lễ Các quan ở các cấp địa phương thay cho các chư hầu trước đây tế lẽ ở
Trang 27những nơi núi cao sông rộng nổi tiếng trong nước Quan sử đảm nhận chức
vụ nhà nước đồng thời cũng có chức năng tôn giáo, đây là đặc điểm củaNho giáo
Phần cuối Lí Thân dẫn trích đoạn phân tích của hai học giả ủng hộ
quan điểm “Nho giáo là tôn giáo”, đó là Hà Quang Hộ và Lại Vĩnh Hải.
Ông lập luận rằng sở dĩ ông trích ý kiến của hai vị đó là vì họ đều là nhữnghọc giả chuyên nghiên cứu tôn giáo học, và đều có những thành công nổi
bật Do đó “trong việc nhận định vấn đề Nho giáo có phải là tôn giáo hay
không, cần phải lắng nghe ý kiến của họ” Lí Thân kết luận: “Đúng như Lại Vĩnh Hải nói, phủ nhận Nho giáo là tôn giáo là đã “chặt” đi một nửa học thuyết Nho gia, như vậy, chúng ta không thể nhận thức toàn diện văn hóa Nho gia, không thể nhận thức toàn diện, chính xác cả nền văn hóa Trung Quốc cổ đại.”
Ngày 18-9 năm 1996, Lí Thân có bài “Nho giáo là tôn giáo” đăng trên “Văn hội báo” Bài viết này nhằm đáp lại bài “Nho giáo có phải là tôn
giáo hay không”(1) của Quách Dự Thích Lí Thân cho rằng, tín ngưỡngthiên mệnh quỷ thần trong kinh sách Nho gia là xuất phát điểm tư tưởngcủa Khổng Tử, cũng là điểm xuất phát tư tưởng của tất cả các nhà Nho Và
từ thời Hán, Khổng Tử đã được nhà nước xếp vào hàng điển lễ, ngang hàngvới Thần Đất và Thần Lúa Bài viết còn nhấn mạnh rằng, chỉ rõ sự tồn tạicủa Nho giáo là phải xác nhận sự thực khách quan đã tồn tại, và chỉ có làm
rõ bộ mặt vốn có của lịch sử thì mới có thể sử dụng đúng đắn tài nguyênvăn hóa truyền thống
Một năm sau, năm 1997, Lí Thân lại có bài “Nho giáo, Nho học và
Nhà Nho” đăng trên “Tạp chí Viện nghiên cứu sinh Viện khoa học xã hội
(1) 12-6-1996, “Văn hội báo” đăng bài “Nho giáo có phải là tôn giáo không?” của Quách Dự Thích Bài viét này cho rằng trong “Từ điển tôn giáo” có điều mục “Nho giáo”, “khẳng định Nho giáo Trung Quốc tồn tại với tư cách là tôn giáo”, đồng thời đưa ra ý kiến rằng Khổng Tử không tin thần, các nhà Nho cũng chưa coi Khổng Tử là thần, do đó Nho giáo không phải là tôn giáo.
Trang 28Trung Quốc” Bài viết được chia ra làm ba phần Phần một, Lí Thân giới
thiệu hệ thống thần linh và kết cấu tổ chức của Nho giáo, cho rằng, Nhogiáo không chỉ tồn tại mà còn có cơ cấu tương ứng Đây là một số côngtrình tôn giáo trong thành Bắc Kinh được xây dựng từ thờI Minh- Thanh
mà đến nay vẫn được bảo tồn hoàn chỉnh như: đàn tế thiên, đàn tế trời, tếmặt trăng, đàn tế Thần Đất Thần Nước…
Tổ chức nhà nước đồng thời chính là tổ chức tôn giáo, tôn giáo coi tổchức nhà nước là vật dẫn vật chất của mình Cao nhất trong hệ thống tổchức này là hoàng đế Hoàng đế của Trung Quốc không chỉ là nguyên thủquốc gia, mà còn là người tổ chức tế lễ cao nhất, là thánh nhân, là ngườiphát ngôn của Thượng đế Lời của hoàng đế chính là thánh chỉ, chỉ có thểtuân theo mà không được phản đối
Phần hai, Lí Thân cho rằng Nho học là linh hồn của Nho giáo Nho giáo chính là sản phẩm của sự kết hợp giữa Nho học và tín ngưỡng tôn giáo truyền thống Nói cách khác, tín ngưỡng tôn giáo truyền thống coi
Nho học là nền tảng tư tưởng của mình Giống như Nhiệm Kế Dũ, Lí Thâncũng cho rằng: Hán Vũ Đế độc tôn Nho thuật đã đánh dấu sự ra đời củaNho giáo
Theo Lí Thân, cái gọi là Nho học chính là cái học giải thích kinh,
không phải là chú thích trực tiếp, mà là phát huy gián tiếp Và dù là chú thích trực tiếp hay là phát huy gián tiếp thì hạt nhân của nó cũng đều là kinh điển của Nho.
Phần ba, Lí Thân nói về Nho giáo và nhà Nho Theo ông, một nhà
Nho, khi sống phải lấy việc tuân theo ý chí Thượng đế, thực hiện việcchính trị và tôn giáo làm mục đích; sau khi chết thì coi việc được vào miếuKhổng cùng được thờ cúng cùng Khổng Tử làm điều vinh dự nhất NhàNho khi sống phải biết tôn kính và sợ hãi Thượng đế; sau khi chết, nhân vật
Trang 29tiêu biểu được coi là thần linh để thờ cúng Với tình hình như vậy, mọingười cần đánh giá chính xác tính chất của văn hóa Nho gia.
Bài viết này khi đăng trên “Tân Hoa văn trích” đã gây ảnh hưởng xã
hội nhất định
Tháng 8 năm 1997, trong “Hội nghị thảo luận quan hệ Tam giáo
Nho Thích Đạo ở Trung -Nhật -Hàn” được tổ chức tại thành phố Hàm
Dương, vấn đề Nho giáo có phải là tôn giáo không đã thu hút sự quan tâm
rất lớn Ngày 13 tháng 8, bản tổng kết của “Trung Quốc văn hóa báo” về
hội nghị này đã xếp vấn đề đầu tiên là tranh luận về vấn đề Nho giáo
Trong hội nghị, Lí Thân có bài viết “Cương lĩnh Nho giáo mới của Chu
Hy” (“Chu Hy đích Nho giáo tân cương lĩnh”) Bài viết cho rằng “Thiên nhân tam sách” mà Đổng Trọng Thư trả lời Hán Vũ Đế là cương lĩnh đầu
tiên của Nho giáo, còn lời tựa của “Đại học chương cú” tập sách đầu tiên của “Tứ Thư tập chú” do Chu Hy soạn là cương lĩnh mới của Nho giáo
đời Tống
Lời tựa viết rằng: trời đã sinh ra dân chúng ở hạ giới, đồng thời cho
họ bản tính nhân nghĩa Nhưng do khí chất bẩm sinh khác nhau, dân chúng không thể ai cũng biết được nội dung bản tính của mình để mà bảo toàn Khi có người trí tuệ thông minh, xuất sắc hơn người thì trời nhất định sẽ giáo cho người đó làm vua hoặc làm thầy để quản lí và giáo hóa dân chúng Phục Hy, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn là những người như vậy; Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công, Khổng Tử cũng là những người như vậy Nói cách khác, họ đều là những ông vua hoặc bậc thầy nhận sứ mệnh của trời để quản lí và giáo hóa dân chúng Mà mục đích của giáo hóa chính là khiến cho dân chúng khôi phục lại bản tính lương thiện trời phú Điều đó cũng có nghĩa là Nho học nghiên cứu việc trị nước, giáo hóa đều là đang thực hiện sứ mệnh Thượng đế giao cho Chính từ ý nghĩa này, chúng người viết nói Nho giáo là tôn giáo.
Trang 30Đến năm 1999, Lí Thân công bố bài viết “Bổ sung tài liệu lịch sử
nghiên cứu Nho giáo” (“Nho giáo nghiên cứu sử liệu bổ”) nhằm đáp lại bài
viết “Nho học: tranh luận tôn giáo và phi tôn giáo một nghiên cứu lịch
sử học thuật” (“Nho học: tôn giáo dữ phi tôn giáo chi tranh nhất cá
học thuật sử đích kiểm thảo”) của Miêu Nhuận Điền, Trần Yến Ông cho
rằng, ý kiến “ người đầu tiên đưa ra quan điểm về thuyết tôn giáo trong
Nho học là Cụ Khang Hữu Vi” của Miêu Nhuận Điền dường như không
thỏa đáng Theo Lí Thân, từ “Nho giáo” xuất hiện đầu tiên trong “Sử ký”:
“Lỗ nhân giai dĩ Nho giáo” (Du hiệp liệt truyện) Đồng thời còn cho rằng, trước Cụ Khang Hữu Vi hơn mười năm, Trương Chi Động trong “Khuyến
học thiên, Nội thiên, Đồng tâm” đã đưa ra từ “bảo thánh giáo” chính là bảo
vệ Nho giáo: “Từ thánh giáo mà Trương Chi Động nói tới cũng chính là
Nho giáo Thánh giáo này, theo Trương Chi Động, nó giống với Hồi giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo và tôn giáo Hy Lạp cổ đại, Cảnh giáo ở Ba Tư,
Về một số nhân vật chủ trương Nho giáo không phải là tôn giáo nhưLương Khải Siêu, Sái Nguyên Bồi…, Lí Thân cho rằng, bài viết của MiêuNhuận Điền chưa đề cập đến khía cạnh rằng họ vốn cũng là người chủtrương Nho giáo là tôn giáo
Cũng trong bài viết này, Lí Thân đã đặc biệt nhấn mạnh quan điểmcủa mình trước luận điểm Nho giáo là tôn giáo của người thầy Nhiệm Kế
Trang 31Dũ: “Ở Trung Quốc Đại lục, cuối những năm 70, tiên sinh Nhiệm Kế Dũ
đã đưa ra quan điểm Nho giáo là tôn giáo Xét từ góc độ toàn bộ lịch sử Trung Quốc, quan điểm Nho giáo là tôn giáo chỉ là khôi phục lại quan điểm cũ không có người phủ nhận trong hơn hai ngàn năm qua, do đó không phải là một quan điểm mới Nhưng xét từ góc độ lịch sử học thuật thế kỷ XX của Trung Quốc, quan điểm Nho giáo là tôn giáo là quan điểm mới nhận thức lại một cách căn bản về diện mạo văn hóa truyền thống Trung Quốc”.
Đặc biệt, đến năm 1999, cuốn “Trung Quốc Nho giáo sử” của Lí
Thân đã được Nhà xuất bản Nhân dân Thượng Hải xuất bản Đây là một
chuyên luận trình bày một cách hệ thống về cái gọi là “Nho giáo” đứng trên
lập trường Nho giáo là tôn giáo, đối lập gay gắt với quan điểm Nho giáokhông phải là tôn giáo Tác phẩm được chia làm hai tập, tổng cộng 13chương:
Chương 1: Tiền sử của Nho giáo, gồm 4 phần: Một là tự thuật về tôn
giáo truyền thống Trung Quốc từ cổ đại đến trước thời Xuân Thu; hai làtình hình tôn giáo từ Xuân Thu đến giữa Tần Hán; ba là giai đoạn mới củaquan hệ thiên nhân và học thuyết của các Chư tử; bốn là Khổng Tử và Nhogia Cho rằng những hiện tượng tôn giáo này là tiền sử của Nho giáo
Chương 2: Nho giáo Tây Hán với sự hưng khởi đầu tiên, gồm 7
phần: Một là sự ra đời của Nho giáo; hai là tư tưởng Nho giáo của ĐổngTrọng Thư; ba là Hán Vũ Đế với việc thờ cúng thần linh; bốn là kinh họcTây Hán; năm là sự điều chỉnh của nhà Nho Tây Hán đối với thờ cúng thầnlinh; sáu là tranh luận Nho giáo; bảy là học thuật và nghệ thuật của Nhogiáo
Chương 3: Nho giáo Đông Hán, gồm 6 phần: Một là Sấm vĩ thịnh
suy; hai là Kinh học Đông Hán; ba là sự thống nhất về giáo lí của “Bạch
Hổ thông nghĩa” ; bốn là chế độ thờ cúng của Nho giáo Tây Hán; năm là
Trang 32thực hiện thiên nhân tương dữ; sáu là trào lưu tư tưởng cực đoan của Nhogiáo Đông Hán.
Chương 4: Nho giáo Ngụy Tấn Nam Bắc triều, gồm 5 phần: Một là
thiên mệnh và thờ cúng; hai là Nho học thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc triều;
ba là huyền học sự sâu sắc và nhiễm tạp của Nho học; bốn là ảnh hưởngrộng rãi của thiên đạo tự nhiên; năm là Nho với Phật và Đạo giáo
Chương 5: Nho giáo Tùy Đường, gồm 5 phần: Một là quan hệ thiên
nhân thời Tùy Đường; hai là thần linh và thờ cúng của Nho giáo TùyĐường; ba là Nho học Tùy Đường; bốn là Nho giáo trong các lĩnh vực vănhóa; năm là tam giáo Nho, Phật, Đạo thời Tùy Đường
Chương 6: Sự dẫn đầu của Nho giáo thời Tống, gồm ba phần: Một là
tiếng hô phục hưng Nho giáo; hai là tranh luận về quan hệ thiên nhân; ba là
sự nổi lên của thuyết tâm tính trong Nho giáo
Chương 7: Nho giáo Bắc Tống, gồm 6 phần: Một là tiếp tục phong
trào phục hưng Nho giáo; hai là hệ thống thần linh và chế độ thờ cúng củaNho giáo Bắc Tống; ba là Nho học Bắc Tống với Vương An Thạch làm đạidiện; bốn là thuyết mô thức thế giới; năm là tân Nho học của Trương Tải,Nhị Trình; sáu là khái quát Phật giáo và Đạo giáo thời Bắc Tống
Chương 8: Nho giáo Nam Tống, gồm 8 phần: Một là sự thay đổi
trong nghi lễ thờ cúng thời Nam Tống; hai là sự thay đổi của Nho học NamTống; ba là Vương học và Nho học của kẻ chống hủ nho; bốn là Trình họcnhững năm đầu Nam Tống; năm là tư tưởng Lí học của Chu Hy; sáu làngười cùng lí tưởng và chung quan điểm với Chu Hy; bảy là người khác lítưởng và đối lập quan điểm với Chu Hy; tám là người kế tiếp của Chu Hy
Chương 9: Nho giáo thời Liêu, Kim và Nguyên, gồm 7 phần: Một là
Nho giáo thời Liêu; hai là khái quát Nho giáo thời Kim; ba là lí luận củanhà Nho thời Kim; bốn là khái quát Nho giáo thời Nguyên; năm là tìm hiểu
lí luận của nhà Nho thời Nguyên; sáu là Phật giáo và Đạo giáo thời Nam
Trang 33Tống, Liêu, Kim và Nguyên; bảy là khoa học tự nhiên thời đại Tống, Liêu,Kim, Nguyên.
Chương 10: Nho giáo thời Minh, gồm 9 phần: Một là sự thiết lập
Nho giáo những năm đầu thời Minh; hai là sự phát triển tư tưởng Nho giáogiai đoạn đầu thời Minh; ba là sự nổi lên của học phái Vương Thủ Nhângiữa thời Minh; bốn là cải cách lễ chế thời Gia Tĩnh; năm là các trào lưuNho học khác giữa thời Minh; sáu là bước phát triển của Nho giáo thế tụchóa; bảy là Nho giáo trong khủng hoảng cuối thời Minh; tám là Nho giáothời Minh và các tôn giáo khác; chín là Nho giáo và khoa học tự nhiên thờiMinh
Chương 11: Nho giáo đầu đời Thanh, gồm 8 phần: Một là về với Lục
kinh; hai là Nho học của các cựu thần triều Minh; ba là Nho học của quýtộc mới triều Thanh; bốn là thần linh và thờ cúng ở triều Thanh; năm làNho giáo và các tôn giáo khác ở đầu thời Thanh; sáu là quay về Kinh họcCàn Long- Gia Khánh của Lục kinh; bảy là Nho giáo và khoa học tự nhiênvào đầu thời Thanh; tám là nỗi lo của nhà Nho trước trận cuồng phong
Chương 12: Nho giáo trong sự bất ổn cuối thời Thanh, gồm 6 phần:
Một là Nho giáo và tự cường; hai là Thượng đế giáo sản phẩm của sự kếthợp giữa Nho giáo và Kitô giáo; ba là hồi quang của Nho giáo; bốn là sựdung nạp của Nho giáo đối với Tây học; năm là biến pháp Mậu Tuất và cảicách Nho giáo; sáu là sự diệt vong của Nho giáo và sự giãy giụa trước cáichết
Chương 13: dư âm của Nho giáo và sự thắng lợi của khoa học, gồm
hai phần: một là dư âm của Nho giáo; hai là sự thắng lợi của khoa học
Sau khi cuốn sách xuất bản đã gây rất nhiều tranh luận, thậm chí đãdẫn đến cuộc luận chiến học thuật kéo dài gần một năm (10-2001 đến 8-
2002) về vấn đề “Nho học và tôn giáo” trên mạng Khổng Tử 2000
Trang 34Ngoài hai thầy trò Nhiệm Kế Dũ và Lí Thân ra, người đầu tiên ủng
hộ quan điểm “Nho giáo là tôn giáo” chính là Hà Quang Hộ Năm 1988,
Hà Quang Hộ có bài “Bàn về sự hợp nhất giữa chính trị và tôn giáo trong
lịch sử Trung Quốc” (“Luận Trung Quốc lịch sử thượng đích chính giáo
hợp nhất”)[14], phân tích rõ ràng Nho giáo là tôn giáo Sau đó, trong luậnvăn tiến sĩ, ông còn kiên quyết tán thành quan niệm Nho giáo là tôn giáo
Ông lần lượt có các bài như “Bản chất của khái niệm tôn giáo và quan
niệm về Thượng đế” (“Tôn giáo quan niệm đích bản chất dữ Thượng đế
quan”) [15], “Rễ và hoa của văn hóa Trung Quốc bàn về ‘phản bản’ và
‘khai tân’ của Nho học” (“Trung Quốc văn hóa đích căn dữ hoa đàm Nho
học đích ‘phản bản’ dữ ‘khai tân’”) [16]…
Trong bài “Bàn về sự hợp nhất giữa chính trị và tôn giáo trong lịch
sử Trung Quốc”, Hà Quang Hộ đã đưa ra ba loại hình kết hợp giữa chính trị
và tôn giáo, đó là: “chính trị thần quyền”, “quốc giáo thống trị” và “chínhgiáo hợp nhất” (ôn hòa), đồng thời cho rằng lịch sử Trung Quốc đã tồn tại
cả 3 loại hình trên “Chính trị thần quyền” tồn tại ở thời thượng cổ, đó làhình thức chính trị từ thời Hạ, Thương đến thời Tây Chu Về “quốc giáo
thống trị”, ông nói: “Nước ta từ xưa đến nay quả thực đã tồn tại quốc giáo
về bản chất, nói cách khác, một số tôn giáo cổ đại nước ta đã từng có đặc trưng và chức năng của quốc giáo” Từ thời Hán, Nho giáo đã được xác lập
địa vị quốc giáo, thống trị tư tưởng Trung Quốc gần hai ngàn năm HàQuang Hộ đã đưa ra những biểu hiện để khẳng định Nho giáo là quốc giáo
là: Thứ nhất, thi hành các biện pháp chính trị thường lấy “kinh nghĩa quyết
định sự việc”, thậm chí công việc tư pháp cũng có hiện tượng “dẫn kinh
định tội” Thứ hai, tuyển quan cũng lấy kinh sách Nho làm tiêu chuẩn Thứ
ba, thiên tử với việc chế định giáo lí Từ đó, kinh điển Nho giáo luôn là
giáo điều cao nhất của giai cấp thống trị Từ kinh học và sấm vĩ thời LưỡngHán đến huyền học lấy Lão Trang giải thích kinh Nho thời Ngụy Tấn; từ
Trang 35thuyết “đạo thống” bài Phật thời Đường, đến Lí học và tâm học dung hợp
cả Phật, Đạo thời Tống Minh, trong mỗi một giai đoạn, đặc trưng tôn giáocủa Nho học đều có sự phát triển, lí luận của nó cũng ngày càng hệ thống
và hoàn chỉnh, Khổng Tử càng được tôn làm thánh nhân và giáo chủ
Về loại hình “chính giáo hợp nhất”, Hà Quang Hộ khẳng định nó
cũng tồn tại ở Trung Quốc Ông viết: “Sau khi hình thức chính trị thần
quyền của ba thời Hạ, Thương, Chu bị sụp đổ, chế độ chính giáo hợp nhất tương đối ôn hòa chưa từng bước ra khỏi vũ đài lịch sử Trung Quốc, mà
đã kéo dài hai ngàn năm với hình thức đặc thù mới Đây là sự kết hợp giữa Nho giáo đặc thù với chính trị chuyên chế đặc thù Trung Quốc”.
Cuối cùng, từ khảo sát 5 phương diện: tư tưởng chỉ đạo chính trị, sựcấu thành tập đoàn thống trị, chế độ giáo dục, chế độ pháp luật, thống trị cơ
sở; Hà Quang Hộ đưa ra kết luận cuối cùng: trong lịch sử Trung Quốc,
thực sự đã tồn tại chính giáo hợp nhất; trong phần lớn thời gian xã hội phong kiến Trung Quốc, loại hình chính giáo hợp nhất này chính là sự kết hợp giữa Nho giáo và chính trị chuyên chế phong kiến.
Năm 1991, cuốn “Đa nguyên hóa đích Thượng đế quan” (Quan niệm
Thượng đế đa nguyên), vốn là luận văn tiến sĩ được chỉnh sửa và xuất bản
Phần lời dẫn cuốn sách ghi rằng: hệ thống tôn giáo của Trung Quốc cổ đại
lấy Thượng đế làm vị thần tối cao, đó chính là Nho giáo “Thiên” trong
“thiên, địa, quân, than, sư” mà Nho giáo tôn thờ không phải là thiên của
tự nhiên, mà chính là thiên trong ‘thiên hựu hạ dân, tác chi quân, tác chi sư”, “thiên thảo hữu tội”, “thiên mệnh hữu đức”…, là chúa tể của vạn vật,
là vị thần có nhân cách, có ý chí Bên cạnh đó, lời tựa còn phê bình sự hạn
hẹp của giới học thuật trong việc lí giải về thần nhân cách
Năm 1995, trong “Rễ và hoa của văn hóa Trung Quốc”, Hà Quang
Hộ đã đưa ra khái niệm Nho giáo là: “Tôn giáo nguyên thủy Trung Quốc
kéo dài ba ngàn năm từ Ân Chu đến nay chính là hệ thống tôn giáo lấy tín
Trang 36ngưỡng thiên đế làm hạt nhân, bao gồm cả khái niệm ‘Thượng đế’, sự thể nghiệm ‘thiên mệnh’, hoạt động thờ cúng và chế độ tương ứng, lấy Nho sinh làm trung kiên xã hội, lấy nội dung tương quan trong Nho học làm biểu hiện lí luận” Theo khái niệm này, Hà Quang Hộ ví ‘cái gốc của cây văn hóa Trung Quốc’ là ‘Nho giáo’, ‘bông hoa trên cây văn hóa Trung Quốc’ là ‘Nho học’, cho rằng: “Nho giáo là nguồn, Nho học là dòng; Nho giáo là gốc, Nho học là hoa; lí luận của Nho giáo là Nho học, tinh thần của Nho học là Nho giáo; Nho giáo ở trong ý thức của nhân dân, Nho học
ở trong ý thức của học giả; Nho giáo trong sinh hoạt của dân chúng, Nho học trong trước tác của văn nhân”, có sự phân biệt giữa Nho giáo và Nho
học Như vậy, trên thực tế, Hà Quang Hộ đã gọi tôn giáo nguyên sinh tồntại trong xã hội cổ đại Trung Quốc là “Nho giáo”, có sự khác biệt so vớiquan niệm của Nhiệm kế Dũ cho rằng Nho giáo là Nho học phát triểnthành
Cũng phân biệt Nho giáo và Nho gia, Tạ Khiêm trong “Nho giáo:
tôn giáo nhà nước của các vương triều phong kiến Trung Quốc” (“Nho
giáo: Trung Quốc lịch đại vương triều đích quốc gia tôn giáo”) đăng trên
tạp chí “Văn hóa truyền thống và hiện đại hoá”, kỳ 5 năm 1996, cho rằng
Nho gia và Nho giáo có thể phân loại giống như đạo gia và đạo giáo Ông
viết: “Nho gia là một học phái do Khổng Tử sang lập, Nho giáo lại là tôn
giáo truyền thống của dân tộc Hoa Hạ, tức tôn giáo nhà nước của các vương triều”, “Nho giáo là một khái niệm lớn, Nho gia là một khái niệm nhỏ, Nho giáo có thể bao hàm cả Nho gia, còn Nho gia chỉ là một bộ phận của Nho giáo”.
Không chỉ phân biệt hai khái niệm, trong bài viết, Tạ Khiêm cònphân tích khái niệm Nho giáo, cho rằng: Nho giáo mà cổ nhân nói chính là
“lễ giáo, lấy lễ để giáo dục” Lễ giáo cổ đại chính là “giáo hoá hay giáohuấn của tiên Vương”, vốn là giáo trong tôn giáo, giáo hóa đạo đức của nó
Trang 37bao hàm cả giáo trong tôn giáo Đó chính là Nho giáo, chính là “sở bản”của Nho gia hậu thế Trong Nho gia thánh hiền đó, lễ giáo là giáo trong đạođức; nhưng trong nhân gian, lễ giáo là giáo trong tôn giáo Nho giáo sở dĩ
có thể thay đổi hành vi thiên hạ, đi sâu vào lòng người là ở chỗ giáo trongđạo đức của nó lấy giáo trong tôn giáo làm cơ sở
Bài viết trên của Tạ Khiêm là chuyện luận đầu tiên trong lĩnh vực
văn hóa truyền thống ủng hộ quan điểm “Nho giáo là tôn giáo”.
Năm 1996, Phòng Nghiên cứu Nho giáo thuộc Viện nghiên cứu Tôn
giáo thế giới tổ chức “Hội nghị thảo luận vấn đề Nho giáo” Trong buổi thảo luận, những người thể hiện rõ quan điểm ủng hộ quan điểm “Nho giáo
là tôn giáo” gồm các học giả trọng yếu của Viện Nghiên cứu Tôn giáo thế
giới như Trác Tân Bình, Lí Hưng Hoa, Nhiệm Diên Lê, Kim Chính
Dược… Không chỉ dừng lại ở những học giả trên, quan điểm “Nho giáo là
tôn giáo” ngày càng được nhiều học giả ủng hộ
Năm 1998, tạp chí “Văn sử triết” kỳ 3 mở chuyên mục thảo luận vấn
đề Nho giáo Người tham gia có lớp học giả cao niên như Trương ĐạiNiên, Quý Tiện Lâm, Sái Thượng Tư, Quách Tề Dũng, Trương Lập Văn,
Lí Thân…Đáng chú ý là Trương Đại Niên là nhân vật bậc thầy trongnghiên cứu lịch sử triết học Trung Quốc, đã từng kiên quyết phản đối quan
điểm “Nho giáo là tôn giáo” Nhưng trong lần bút đàm này lại nói: “Những
năm gần đây, người viết lại suy nghĩ về vấn đề này, cho rằng nếu lí giải tôn giáo theo nghĩa rộng, tuy không tin quỷ thần, không nói đến kiếp sau, nhưng có lí giải nhất định về nhân sinh, có niềm tin nhất định về nhân sinh,
có thể gây tác dụng chỉ đạo cuộc sống, thì cũng có thể gọi là tôn giáo Như vậy, Nho giáo là tôn giáo cũng là điều có thể.”[11; 1]
Trước đó, trong lời tựa viết cho cuốn “Khổng học luận tập” của
Thang Ân Giai- Viện trưởng Học viện Khổng giáo Hồng Kông, Trương
Đại Niên cũng khẳng định: “Khổng Tử không nói quái lực loạn thần, nói
Trang 38sống không nói chết, với ý nghĩa này, học thuyết của Khổng Tử không giống với tôn giáo khác Nhưng Khổng Tử đã đưa ra đạo làm người buộc mọi người phải tuân theo, khiến cho người dân có đức tin vào cuộc sống Với ý nghĩa này, học thuyết Khổng Tử lại có tác dụng tôn giáo Có thể nói, Khổng học là một tôn giáo lấy đạo làm người là nội dung chính, lấy con người là điều quan tâm cuối cùng”.
Khác với Trương Đại Niên, Quý Tiện Lâm cho rằng, học thuyết của
Khổng Tử không phải là tôn giáo Sau này, khi khắp nơi “xây Miếu Khổng
Tử, tổ chức thờ cúng, thì Nho gia đã hoàn toàn trở thành một tôn giáo”.
Quý Tiện Lâm còn nói: từ “Nho học” đến “Nho giáo” là một quá trình
diễn biến lịch sử, giống như sự phát triển từ Phật học đến Phật giáo.[11; 1]
Cũng ở lần bút đàm này, trong “Suy nghĩ về Nho học là “học” hay là
“giáo” (“Quan vu Nho học thị “học” hoàn thị “giáo” đích tư khảo”),
Trương Lập Văn đã nói về nguyên nhân ông tán đồng quan điểm Nho giáo
là tôn giáo, rằng: một lần ra nước ngoài, có học giả kể cho ông nghe vấn đề
Hoa kiều gặp phải trong tín ngưỡng tôn giáo là: theo qui định của chínhphủ bản địa, trẻ sơ sinh đăng kí hộ khẩu phải điền vào mục tín ngưỡng tôngiáo, nếu không thì không vào được hộ khẩu Do phần lớn Hoa Kiều đềutin vào Nho giáo, nên điền Nho giáo; nhưng chính phủ bản địa lại khôngthừa nhận Nho giáo là tôn giáo Do đó, người Hoa Kiều đó băn khoăn “Nhogiáo rút cuộc có phải là tôn giáo hay không?” và muốn Trương Lập Văn trả
lời Câu trả lời của Trương Lập Văn là: Tôn giáo về cơ bản có thể chia làm
hai hình thái: Một là tôn giáo được thể chế hóa, hai là tôn giáo tinh thần hóa Tôn giáo được thể chế hóa là chỉ tôn giáo mà trong quá trình phát triển đã hình thành nên giáo lí, giáo quy, nghi thức, giáo đoàn…, như Kitô giáo, Ixlam giáo, Phật giáo, đạo giáo, Ấn Độ giáo…Tôn giáo tinh thần hóa
là hệ thống văn hóa tín ngưỡng tôn giáo có điều quan tâm cuối cùng và chức năng cứu tế linh hồn, bao gồm lí luận tôn giáo, lễ nghi, chế độ, hình
Trang 39luật, văn hóa…Nếu bỏ qua tiêu chuẩn của tôn giáo thể chế hóa để xét tôn giáo tinh thần hóa, nói cách khác là bỏ qua mô thức của Kitô giáo với tư cách là tiêu chuẩn so sánh tất cả các tôn giáo, thì Nho giáo là tôn giáo Nho giáo vừa có cơ sở tôn giáo là quan điểm thiên mệnh rất sâu sắc, vừa
có phẩm chất và chức năng siêu việt nội tại ở điểm quan tâm cuối cùng và cứu tế linh hồn, bản thân Nho học đã có tính chất của tôn giáo tinh thần hóa Chỉ cần tôn kính và sùng bái cực độ Nho học hoặc Nho giáo, thì Nho giáo với tư cách là tôn giáo tinh thần hóa chính là tôn giáo Trương Lập
Văn còn phân tích 4 nhân tố ảnh hưởng đến việc mọi người không thừa
nhận quan điểm “Nho giáo là tôn giáo”, cho rằng chủ yếu là do lấy tôn giáo
phương Tây làm tiêu chuẩn để đánh giá Trung Quốc, cũng là do thiếu kếtquả nghiên cứu về vấn đề Nho giáo [11; 1]
Trong lần bút đàm này, Lí Thân cũng có bài “Giáo trong giáo hóa
chính là giáo trong tôn giáo” (“Giáo hóa chi giáo tựu thị tôn giáo chi
giáo”) Bài viết dựa vào tài liệu lịch sử phê phán quan điểm “Nho giáo là
giáo trong giáo hóa, không phải là giáo trong tôn giáo” của Cụ Trần Độc
Tú vốn lưu hành lâu nay trong giới học thuật Trung Quốc Từ đó chỉ rarằng, từ “giáo hóa” do Đổng Trọng Thư đưa ra đầu tiên, hàm nghĩa cơ bảncủa nó chính là chỉ sự giáo dục của tôn giáo Các nhà Nho sau này như ChuHy…không những không thay đổi tính chất giáo dục của Nho giáo mà cònphát triển them nguyên tắc của Đổng Trọng Thư Và Lí Thân kết luận:
“Nho giáo là giáo trong giáo hóa, giáo trong giáo hóa này chính là giáo
trong tôn giáo.”
Tập bài viết trên của tạp chí “Văn sử triết” đã được giới học thuật đánh giá cao Cũng năm đó, “Tân Hoa văn trích” đã chuyển đăng lại 6 bài viết trong lần bút đàm này (ngoài 4 bài giới thiệu trên còn hai bài “Nho
giáo không phải là tôn giáo nhưng đã có tác dụng tôn giáo” (“Nho giáo phi
tôn giáo nhi khởi liễu tôn giáo đích tác dụng”) của Sái Thượng Tư và
Trang 40“Nho học: hình thái tinh thần nhân văn nhập thế vừa mang phẩm chất tính
tôn giáo” (“Nho học: nhập thế đích nhân văn đích hựu cụ hữu tôn giáo tính
phẩm cách đích tinh thần hình thái”) của Quách Tề Dũng) Ngoài ra,
“Quang Minh nhật báo” cũng đã có một bài thông tin khá dài Tập bài viết này của tạp chí “Văn sử triết” cũng cho thấy giới học thuật Trung Quốc đã
tiếp thu khá nhiều quan điểm Nho giáo là tôn giáo
Từ trình bày trên, có thể thấy, cơ sở chung để các học giả khẳng định
“Nho giáo là tôn giáo” là các tiêu chí về tôn giáo nói chung như xuất thế;
nhập thế; thế giới bên này và thế giới bên kia; tổ chức tôn giáo, niềm tin
Từ cái chung đó, mỗi học giả có lập luận và phân tích riêng, có điểm nhấnmạnh riêng về vấn đề; tránh được sự lặp lại đơn điệu, nhàm chán; tạo ra sựnghiên cứu đa dạng về phương diện tôn giáo của Nho giáo Một điều đáng
chú ý nữa là số lượng học giả theo khuynh hướng khẳng định “Nho giáo là
tôn giáo” đã tăng lên đáng kể cùng với các bài viết, tranh luận của họ Hơn
nữa, họ còn triển khai vấn đề trên một bình diện rộng hơn, ở độ sâu hơn
Rõ ràng, khuynh hướng khẳng định này đang ngày càng phát triển mạnhmẽ