1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà

74 306 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khác với tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn là tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền, hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một năm hoặc một c

Trang 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ

DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Trước khi tìm hiểu khái niệm về tài sản ngắn hạn, ta phải hiểu thế nào là tài sản Theo chuẩn mực số 1: Chuẩn mực chung trong “Chuẩn mực Kế toán Việt Nam” được ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm

2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính đã đưa ra định nghĩa về tài sản như sau:“Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai” Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền

và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền

mà doanh nghiệp phải chi ra

Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết

bị, vật tư, hàng hoá hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp Những tài sản này được gọi là tài sản dài hạn

Khác với tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn là tiền, các khoản tương đương tiền

và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền, hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp Tài sản ngắn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có đến thời điểm báo cáo

Ngoài khái niệm trên, tài sản ngắn hạn còn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo PGS.TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp – nhà

xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho”

Trong cuốn Kế toán – Kiểm toán và Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính Hà Hội năm 2010 của GS Ngô Thế Chi, PTS Đoàn Xuân Tiến và PTS Vương Đình

Huệ đã định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn là tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền, hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác

có đến thời điểm báo cáo”

Như vậy, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những khoản mục có khả năng chuyển đổi dễ dàng và là mắt xích quan trọng trong quá trình tạo ra doanh thu Tuy là

Trang 2

yếu tố tồn tại trong ngắn hạn đúng như tên gọi nhưng nếu có phát sinh trục trặc sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của công ty

Từ những quan điểm trên về tài sản ngắn hạn, ta đưa ra được khái niệm đầy đủ

nhất về tài sản ngắn hạn như sau: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu khác.” Đây cũng là khái niệm được

sử dụng xuyên suốt trong khóa luận

1.1.2 Phân loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.1.2.1 Phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh

Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ bao gồm các khoản: Nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ và dụng cụ

Tài sản nằm trong khâu sản xuất bao gồm sản phẩm dở dang, bán thành phẩm

và các khoản chi phí chờ kết chuyển

Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông bao gồm thành phẩm, hàng hóa mua ngoài, hàng gửi bán, vốn bằng tiền và các khoản vốn dùng trong thanh toán

Hình thức phân loại này cho ta biết vai trò của các tài khoản, dựa vào đó, nhà quản lý điều chỉnh cơ cấu tài sản hợp lý và có biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

1.1.2.2 Phân loại theo hình thái biểu hiện của tài sản ngắn hạn

Tài sản bằng vật tư hàng hóa: những tài sản được biểu hiện dưới hình thái như

hàng tồn kho, nguyên vật liệu

Tài sản bằng tiền: các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, v.v

Cách phân loại này cho doanh nghiệp biết cơ cấu dự trữ của các khoản mục, khả năng thanh toán của doanh nghiệp và có giải pháp điều chỉnh hợp lý

1.1.2.3 Phân loại tài sản ngắn hạn dựa trên các khoản mục trên bảng cân đối kế toán

Căn cứ theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán, tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và chứng khoán khả thị, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác

Tiền: được biểu hiện là tiền tồn quỹ, tiền gửi trong ngân hàng, tiền đang

chuyển Tiền mặt được sử dụng để mua nguyên vật liệu, mua sắm tài sản cố định, trả lương nhân viên và chi trả các khoản khác

Trang 3

Chứng khoán khả thị: bao gồm các loại chứng khoán có khả năng sinh lời cho

doanh nghiệp và có thể chuyển đổi sang tiền mặt dễ dàng với chi phí thấp

Phải thu khách hàng: được hình thành từ việc bán chịu cho khách hàng, khoản

thu được tạo lập dựa trên cam kết giữa doanh nghiệp và người mua hàng Phổ biến nhất là hình thức tín dụng thương mại - cho các doanh nghiệp khác nợ, hình thức này thu hút được nhiều khách hàng cho doanh nghiệp nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về thanh toán

Hàng tồn kho: bao gồm nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất kinh

doanh, sản phẩm dở dang và thành phầm Với doanh nghiệp, vật liệu thô không sinh lời song là điều kiện căn bản để sản xuất hàng hóa thành phẩm nên việc dự trữ hàng tồn kho hợp lý là vấn đề với nhà quản lý để vừa đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà không làm phát sinh quá nhiều chi phí dự trữ của doanh nghiệp

Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm các khoản chi phí trả trước ngắn hạn, cầm cố,

ký quỹ, ký cược…

Phân loại tài sản ngắn hạn theo tiêu chí này giúp doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp

1.1.3 Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn luôn vận động và nằm rải rác trong các khâu thuộc quá trình sản xuất kinh doanh

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì tài sản ngắn hạn thường chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng tài sản của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể kinh doanh, sản xuất thuận lợi Doanh nghiệp cần dự trữ tài sản ngắn hạn để đáp ứng cho các chi phí phát sinh cần phải chi trả ngay Chính vì vậy mà doanh nghiệp luôn phải dự trữ một lượng tiền hoặc chứng khoán khả thị đủ để đảm bảo khả năng thanh toán, đây cũng là loại tài sản có tính thanh khoản cao, có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng với chi phí thấp đáp ứng cho các mục tiêu ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn còn hỗ trợ thanh toán cho các giao dịch có độ trễ về thời gian Điều này xuất hiện trong quá trình sản xuất, marketing và thu tiền Do các giao dịch có diễn ra không đồng thời, nhiều hoạt động tác động đến nhu cầu vốn lưu động như lưu trữ hàng tồn kho, áp dụng các chính sách hỗ trợ bán hàng, chiết khấu thanh toán để khuyến khích khách hàng thanh toán sớm, giảm thời gian chuyển tiền khi thu hồi nợ

Một vai trò nữa của tài sản ngắn hạn là trong các trường hợp cần phải chi trả các chi phí liên quan đến pháp luật, chi phí gián tiếp trong quản lý Những chi phí này rất lớn nên nhà quản lý thường xem chúng như những áp lực tài chính và có xu hướng

Trang 4

dự trữ một lượng lớn tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo khả năng thanh toán

kể cả khi việc này đem lại ít lợi nhuận hơn so với đầu tư tài sản dài hạn Chính vì vậy, chính sách quản lý tài sản đối với doanh nghiệp hết sức quan trọng

1.1.4 Nội dung quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.1.4.1 Quản lý tiền và các khoản tương đương tiền

Quản lý tiền mặt là quyết định mức tồn quỹ tiền mặt, cụ thể là đi tìm bài toán tối ưu để ra quyết định cho mức tồn quỹ tiền mặt sao cho tổng chi phí đạt tối thiểu mà vẫn đủ để duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp

Việc xác định lượng tiền mặt dự trữ chính xác giúp cho doanh nghiệp đáp ứng các nhu cầu về: Giao dịch, dự phòng, tận dụng được những cơ hội thuận lợi trong kinh doanh do chủ động trong hoạt động thanh toán chi trả Đồng thời doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp thích hợp đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận như đầu tư chứng khoán ngắn hạn Điều này đòi hỏi nhà quản lý phải có năng lực phân tích và phán đoán tình hình trên thị trường tiền tệ, thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó có sự lựa chọn để đưa các quyết định sử dụng ngân quỹ đúng đắn, làm giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái, tối ưu hoá việc đi vay ngắn hạn, tăng hiệu quả sử dụng tài sản

Quản lý tiền mặt hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng và hiệu quả sử dụng tài sản nói chung cho doanh nghiệp

Việc đầu tiên mà một doanh nghiệp cần phải thực hiện trong công tác quản lý tiền mặt đó là phải thiết lập mức tồn quỹ tiền mặt mục tiêu cho doanh nghiệp

Mức tồn quỹ tiền mặt mục tiêu là một phần chuẩn mực để làm cơ sở cho các quyết định tài chính ngắn hạn như đầu tư tiền nhàn rỗi vào các loại tích sản sinh lợi, mức đầu tư nào là hợp lý và khi nào thì bán các tích sản này để bổ sung làm cân bằng cán cân tiền mặt Do tiền mặt biến động hầu như liên tục và không thể giữ chúng ở mức vừa đúng với hạn mức chuẩn trong tất cả mọi thời điểm, do đó chúng ta phải thiết lập một mô hình để xác định mức tiền mặt mà công ty phải mua hay bán các loại chứng khoán thanh khoản cao

Người đầu tiên vận dụng mô hình Baumol vào quản trị tiền mặt là nhà khoa học người Hoa Kỳ William J.Baumol (1952) Mô hình cho rằng, mỗi doanh nghiệp đều có một dòng lưu kim thuần ổn định, là kết quả của dòng lưu kim chi phí và dòng lưu kim thu nhập trên phương diện kế hoạch Giả sử một doanh nghiệp có kỳ vọng có dòng lưu kim thu nhập đều đặn là A/kỳ và dòng lưu kim chi phí là B/kỳ Bởi vậy dòng lưu kim chi phí thuần là (B-A)/kỳ

Doanh nghiệp khởi sự các giao dịch chuyển tiền tệ ở đầu kỳ đầu tiên có cán cân tiền mặt là C (Hình 1.1) Với lượng tiền sử dụng ổn định mỗi kỳ là (B-A), số tiền này

sẽ hết sau C/(B-A) kỳ Tại thời điểm kết thúc kỳ thứ C/(B-A), cán cân tiền mặt bằng 0

Trang 5

và cần phải bán một lượng chứng khoán có giá trị C để phục hồi cán cân tiền ban đầu Như hình 01 cho thấy, cán cân tiền mặt khi bắt đầu các hoạt động là C và giảm dần đều đến hết mỗi chu kỳ C/(B-A) Bởi vậy lượng tiền mặt trung bình của doanh nghiệp

để có cán cân tiền mặt trung bình (C/2) thì cần phải bán lượng chứng khoán có giá trị

là C tại những thời điểm mà cán cân tiền mặt bằng 0 Nếu tổng như câu của dòng lưu kim thuần trong suốt năm được ký hiệu là T, thì số lần các loại chứng khoán được chuyển đổi thành tiền mặt là (T/C) Giả sử chi phí cho mỗi lần giao dịch là F thì tổng chi phí cho các gia dịch chuyển đổi các loại chứng khoán trong năm là (T/C).F

Trong đó:

C = Thị giá của các loại chứng khoán được bán ra trong mỗi lần giao dịch

F = Tổng giá trị của dòng lưu kim thuần dự định cần đến trong năm

i = Tỷ lệ sinh lời cơ hội của các công cụ được giao dịch trên thị trường tiền tệ

Sử dụng các công cụ này, chúng ta có thể thiết lập công thức tính toán hai loại chi phí thành phần như sau:

Trang 6

Hình 1.2 Mô hình Baumol

Sau khi xác định được nhu cầu dự trữ tiền mặt, bước tiếp theo doanh nghiệp cần phải quản lý hoạt động thu – chi tiền mặt trong công tác quản lý tiền và các tài sản tương đương tiền

Trong quản lý thu chi tiền mặt, một nguyên tắc tất yếu đó chính là “tăng thu – giảm chi”, tức là nhà quản lý cần tăng tốc độ thu hồi những khoản tiền nhận được và chậm chi những khoản cần phải chi trả Tăng thu là doanh nghiệp tích cực thu hồi được các khoản nợ từ khách hàng để sớm có vốn quay vòng đầu tư vào các hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo thông suốt quá trình giao dịch kinh doanh Giảm chi là tận dụng thời gian chênh lệch của các khoản thu, chi, chậm trả lương để có càng nhiều tiền nhàn rỗi để đầu tư sinh lời

Để chọn được một phương thức hiệu quả, nhà quản lý cần so sánh giữa lợi ích

và chi phí tăng thêm của các phương thức thu – chi sao cho lợi ích đem lại là lớn nhất đối với doanh nghiệp Ta có thể dựa trên cơ sở dưới đây để thực hiện so sánh, đánh giá các phương thức:

 Đối với phương thức thu tiền là số ngày được rút ngắn

 Đối với phương thức chi tiền là số ngày tăng thêm TS: Quy mô chuyển tiền

I: Lãi suất đầu tư T: Thuế suất thuế TNDN

Tổng chi phí

Chi phí cơ hội

Chi phí giao dịch

Quy mô tiền mặt C’

Chi phí giữ tiền mặt

Trang 7

C1: Chi phí của phương thức đang sử dụng

C2: Chi phí của phương thức đề xuất Dựa vào kết quả tính toán theo mô hình trên, nhà quản lý có thể đưa ra quyết định như sau:

ΔB > ΔC: Chuyển sang phương thức đề xuất vì lợi ích thu được cao hơn chi phí tăng thêm

ΔB = ΔC: Bàng quan với cả hai phương thức do áp dụng phương thức đề xuất không đem lại lợi ích tăng thêm cho doanh nghiệp

ΔB < ΔC: Giữ nguyên phương thức cũ do phương thức mới không đem lại lợi ích lớn hơn mà ngược lại, doanh nghiệp còn phải bỏ ra chi phí để bù đắp cho hình thức này

Ngoài vấn đề tăng thu, doanh nghiệp còn phải duy trì giảm chi, tức là nên trì hoãn việc thanh toán nhưng trong phạm vi thời gian cho phép) để có thể tận dụng những lợi ích có từ các khoản chậm thanh toán này Hình thức thông dụng nhất được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến rộng rãi đó chính là chậm trả lương Cụ thể hơn, doanh nghiệp sẽ thiết lập một hệ thống thời gian trả lương cho từng bộ phận nhân viên

và trả lương theo thời gian biểu đó thay vì trả lương đồng thời tất cả các nhân viên một lúc Trong khoảng thời gian chênh lệch đó, ít nhiều những khoản tiền này cũng có thể đem lại lợi nhuận

1.1.4.2 Quản lý dự trữ

Trong quá trình luân chuyển vốn ngắn hạn phục vụ cho sản xuất – kinh doanh thì hàng hóa dự trữ, tồn kho có ý nghĩa rất lớn cho hoạt động của doanh nghiệp, nó như tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp do các hoạt động này diễn ra không đồng bộ Hơn nữa, hàng hoá dự trữ, tồn kho giúp cho doanh nghiệp giảm thiệt hại trước những biến động của thị trường Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm tăng chi phí lưu kho, chi phí bảo quản

và gây ứ đọng vốn Vì vậy, căn cứ vào kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng sẵn sàng cung ứng của nhà cung cấp cùng với những dự đoán biến động của thị trường, doanh nghiệp cần xác định một mức tồn kho hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Trong hoạt động quản lý hàng tồn kho, doanh nghiệp cần tập trung xác định mức dự trữ tối ưu thông qua 2 mô hình quản lý hàng tồn kho Đó là mô hình đặt hàng hiệu quả nhất – EOQ và mô hình ABC

Mô hình được giựa trên giả định là những lần cung cấp hàng hoá là bằng nhau Khi doanh nghiệp tiến hành dự trữ hàng dự trữ hàng hoá sẽ kéo theo hàng loạt các chi

Trang 8

phí như chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo quản, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm…nhưng chung quy lại có hai loại chi phí chính:

Chi phí lưu kho (Chi phí tồn dự trữ): Đây là chi phí liên quan đến việc tồn trữ hàng hoá ,loại này bao gồm:

 Chi phí hoạt động như chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo hiểm hàng hoá, chi phí do giảm giá trị hàng hoá, chi phí hao hụt mất mát, chi phí bảo quản…

 Chi phí tài chính bao gồm chi phí sử dụng vốn như trả lãi tiền vay, chi phí về thuế, khấu hao…

Nếu gọi mỗi lần cung ứng hàng hoá là Q thì dự trữ cung ứng trung bình sẽ là Q/2

Gọi C1 là chi phí lưu kho đơn vị hàng hoá thì tổng chi phí lưu kho của doanh nghiệp sẽ là:

C1*Q/2

Tổng chi phí lưu kho sẽ tăng nếu số lượng hàng hoá mỗi lần cung ứng tăng

Chi phí đặt hàng (Chi phí hợp đồng): Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản

lý giao dịch và vận chuyển hàng hoá, chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường ổn

định không phụ thuộc vào số lượng hàng hoá được mua

Nếu gọi D là toàn bộ số lượng hàng hoá cần sử dụng trong một đơn vị thời gian (năm, quý, tháng) thì số lượng lần cung ứng hàng hoá sẽ là D/Q Gọi C2 là chi phí mỗi lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng sẽ là:

C2*D/Q Tổng chi phí đặt hàng tăng nếu số lượng mỗi lần cung ứng giảm

Gọi TC là tổng chi phí tồn trữ hàng hoá, ta có công thức:

TC = C1 * (Q/2) + C2 * (D/Q)

Ta có thể tìm Q* bằng cách lấy vi phân TC theo Q ta có:

√ Công thức trên được biểu hiện trên hình sau:

Trang 9

Hình 1.3 Mô hình EOQ

Qua hình trên ta thấy khối lượng hàng hoá cung ứng mỗi lần là Q* thì tổng chi phí dự trữ là thấp nhất

1.1.4.3 Quản lý các khoản phải thu

Các khoản phải thu của doanh nghiệp bao gồm phải thu khách hàng, phải thu của người bán về việc ứng tiền trước, phải thu của cán bộ công nhân viên, phải thu của các đối tượng khác,…

Trong kinh doanh, một doanh nghiệp phải bán chịu (hay còn gọi là tín dụng thương mại) là một công việc thường ngày và hóa đơn cũ được thanh toán thì hóa đơn mới cũng được tạo ra

Tín dụng thương mại giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, thu hút khách hàng, tăng doanh thu bán hàng, giảm chi phí tồn kho của hàng hóa, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản cố định và hạn chế hao mòn vô hình

Tuy nhiên, tín dụng thương mại cũng có thể đem đến những rủi ro cho doanh nghiệp như làm tăng chi phí quản lý, chi phí đòi nợ, chi phí bù đắp cho vốn thiếu hụt, làm tăng chi phí nếu khách hàng không trả được nợ

Độ lớn của các khoản phải thu của một doanh nghiệp thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào tốc độ thu hồi nợ cũ và tạo ra nợ mới, cũng như sự tác động của những điều kiện kinh tế chung nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp Nhưng cũng có một số biến cố có thể kiểm soát được có thể tác động đến độ lớn cũng như chất lượng của các khoản phải thu một cách mạnh mẽ Chính sách của doanh nghiệp liên quan

đến những biến cố có thể kiểm soát được này được gọi là chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng là một yếu tố quyết định quan trọng liên quan đến mức độ, chất lượng và rủi ro của doanh thu bán hàng Chính sách tín dụng của doanh nghiệp được thực hiện thông qua việc kiểm soát 4 biến số sau đây:

Tổng chi phí

Chi phí dự trữ

Chi phí đặt hàng

Số lượng đặt hang/lần Q*

Chi phí

Trang 10

Tiêu chuẩn tín dụng: Là nguyên tắc chỉ đạo rõ sức mạnh tài chính tối thiểu và

có thể chấp nhận được của những khách hàng mua chịu Theo nguyên tác này những khách hàng nào có sức mạnh tài chính hay vị thế tín dụng thấp hơn những tiêu chuẩn

có thể chấp nhận được thì sẽ bị từ chối cấp tín dụng theo thể thức tín dụng thương mại

Chiết khấu tiền mặt: Là phần chiết khấu đối với những giao dịch mua hàng

bằng tiền Chiết khấu tạo ra những khuyến khích thanh toán sớm các hóa đơn mua hàng

Thời hạn bán chịu: Là độ dài thời gian mà các khoản tín dụng được phép kéo

Việc phân biệt đối xử với các khách hàng là điều cấm ở nhiều quốc gia Tuy nhiên với các loại khách hàng có độ tin cậy tín dụng khác nhau thì doanh nghiệp có thể

áp dụng những phương thức bán hàng khác nhau Doanh nghiệp có thể áp dụng mức chiết khấu theo khối lượng, hoặc chiến lược cho khách hàng nào chấp nhận các hợp đồng mua hàng dài hạn Với một khách hàng thiếu tin cậy, cần lưu ý tự vệ bằng cách hạn chế số hàng hóa mà họ có thể mua chịu

Có nhiều cách khác nhau để thu thập thông tin và đánh giá độ tin cậy của khách hàng Chẳng hạn, có thể liệt kê một vài điểm sau:

 Đánh giá qua việc thanh toán trong quá khứ mà khách hàng đó đã thực hiện

 Tham khảo các thông tin đánh giá về công ty đó

 Đánh giá qua thông tin trên thị trường chứng khoán (đối với công ty cổ phần) Việc thiết lập các tiêu chuẩn tín dụng của các nhà quản trị tài chính phải đạt tới

sự cân bằng thích hợp Nếu tiêu chuẩn tín dụng đặt quá cao sẽ loại bỏ nhiều khách hàng tiềm năng và sẽ giảm lợi nhuận, còn nếu tiêu chuẩn được đặt ra quá thấp có thể làm tăng doanh thu, nhưng sẽ có nhiều khoản tín dụng có rủi ro cao và chi phí thu tiền cũng cao

Khi phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, ta thường dùng các tiêu chuẩn sau để phán đoán:

 Phẩm chất, tư cách tín dụng: Tiêu chuẩn này nói lên tinh thần trách nhiêm của khách hàng trong việc trả nợ Điều này được phán đoán trên cơ sở việc thanh toán các khoản nợ trước đây đối với doanh nghiệp hoặc đối với các doanh nghiệp khác

Trang 11

 Năng lực trả nợ: Dựa vào các chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh, dự trữ ngân quỹ của doanh nghiệp…

 Vốn của khách hàng: Đánh giá sức mạnh tài chính dài hạn của khách hàng

 Thế chấp: Xem xét khả năng tín dụng của khách hàng trên cơ sở các tài sản riêng mà họ sử dụng để đảm bảo các khoản nợ

 Điều kiện kinh tế: Tiêu chuẩn này đánh giá đến khả năng phát triển của khách hàng trong hiện tại và tương lại

Các tài liệu được sử dụng để phân tích khách hàng có thể là kiểm tra bảng cân đối tài sản, bảng kế hoạch ngân quỹ, phỏng vấn trực tiếp, xuống tận nơi để kiểm tra hay tìm hiểu qua các khách hàng khác

Sau khi đã thực hiện thu thập thông tin tín dụng, doanh nghiệp sẽ cân nhắc việc cung cấp tín dụng thông qua chỉ tiêu NPV thông qua ba mô hình dưới đây:

- Quyết định tín dụng khi xem xét một phương án: Mô hình này so sánh giá trị hiện tại của lợi ích (giá trị dòng tiền vào hay dòng tiền sau thuế của các năm) và chi phí của việc cấp tín dụng với một mức rủi ro cho trước

CF 0 = VC * S * (ACP/360)

= [S *(1 – VC) – S * BD – CD]* (1 – T)

Trong đó:

CFt: Dòng tiền thu được sau thuế trong mỗi thời kỳ

CF0: Dòng tiền đầu tư vào khoản phải thu khách hàng k: Tỷ lệ thu nhập theo yêu cầu

VC: Luồng tiền ra biến đổi, được tính theo tỷ lệ % dòng tiền vào

S: Doanh thu dự kiến trong từng thời kỳ

ACP: Thời gian thu tiền trung bình (ngày)

BD: Tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu

CD: Luồng tiền gia tăng của bộ phận tín dụng

T: Thuế suất thuế TNDN

Từ kết quả thu được, nhà quản lý đưa ra quyết định dựa trên nguyên tắc giá trị hiện tại ròng:

+ NPV > 0: cấp tín dụng

+ NPV = 0: bàng quan

+ NPV < 0: không cấp tín dụng

Trang 12

- Quyết định cấp tín dụng giữa phương án trả tiền ngay và bán trả chậm: Trước tiên ta xem xét một số điểm khác nhau giữa việc cấp tín dụng và không cấp tín dụng

+ Số lượng sản phẩm bán (Q): Nếu coi số lượng sản phẩm bán trước khi cung cấp tín dụng là Q0 và số lượng sản phẩm khi cho khách hàng nợ là Q1 thì Q1 > Q0 do việc cung cấp tín dụng sẽ tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiêu thụ và làm tăng doanh số bán

+ Giá bán trên một sản phẩm (P): Giá bán sau khi cung cấp tín dụng thường cao hơn giá bán trước khi cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp sẽ đánh đổi rủi ro thất thoát vốn khi cho khách hàng nợ với lợi nhuận kiếm được từ hoạt động bán hàng

+ Chi phí bình quân (AC): Chi phí của doanh nghiệp sẽ đội lên (AC1 > AC0) khi doanh nghiệp quyết định cấp tín dụng do có nhiều khả năng sẽ gặp phải những khoản nợ xấu và phải xóa nợ hay nới lỏng chính sách tín dụng, khoản này được coi là chi phí nợ xấu và làm tăng chí phí hợp lý của doanh nghiệp

+ Xác suất thanh toán: khi doanh nghiệp không cung cấp tín dụng mà thu tiền ngay thì xác suất thanh toán lúc này là 100%, do tất cả các lần bán của doanh nghiệp đều thu ngay bằng tiền Nếu gọi h1 là xác suất thanh toán của doanh nghiệp cấp tín dụng cho khách hàng thì xác suất này sẽ nhỏ hơn 100% do khả năng xảy ra việc khách hàng không thanh toán là rất cao

+ Thời gian nợ: Khi doanh nghiệp không cấp tín dụng mà thu tiền ngay thì thời gian cho khách hàng nợ là bằng 0 Ngược lại, khi doanh nghiệp cấp tín dụng thì sẽ có một khoảng thời gian t kể từ khi khách hàng xác nhận nợ cho đến khi khách hàng thanh toán khoản nợ đó

+ Tỷ lệ chiết khấu: Đại diện cho chi phí cơ hội của việc đầu tư vào tài khoản phải thu khách hàng, là lãi suất được hưởng khi đầu tư vào tài sản sinh lời khác thay vì

bị ứ đọng vốn trong khoản phải thu khách hàng Để đưa ra quyết định có nên cấp tín dụng hay không, nhà quản lý tài chính phải so sánh giá trị hiện tại ròng của từng phương án:

NPV 0 =P 0 Q 0 – AC 0 Q 0

Trong đó:

NPV0 = Giá trị hiện tại ròng khi chưa cấp tín dụng

NPV1 = Giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng

P0, Q0, AC0: Giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi không cấp tín dụng

Trang 13

P1, Q1, AC1: giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi cấp tín dụng

h: xác suất thanh toán

Rt: tỷ suất chiết khấu thanh toán

Trong đó:

NPV2: giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng và có sử dụng đến thông tin rủi ro C: chi phí sử dụng thông tin rủi ro tín dụng

Cơ sở để ra quyết định:

 NPV2 > NPV1 : cấp tín dụng

 NPV2 = NPV1 : bàng quan

 NPV2 < NPV1 : không cấp tín dụng

1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả Chỉ khi hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra, làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy

mô hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các yếu tố bộ phận Trong đó, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó các doanh nghiệp phải luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Theo nghĩa chung nhất: “Hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra kết quả đầu ra tốt nhất với mục đích xác định” Như vậy,

có thể hiểu hiệu quả sử dụng là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng các

Trang 14

nguồn lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh, tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu với tổng chi phí thấp nhất

Do đó, “Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là phạm trù kinh tế đánh giá trình

độ sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu cao nhất với mức tài sản ngắn hạn hợp lý (tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí)”

Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là yêu cầu tất yếu khách quan của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ đơn thuần do quản trị tài sản ngắn hạn tồi Nhưng cũng cần thấy rằng sự bất lực của một số doanh nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài sản ngắn hạn hầu như là

một nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ [2, tr.199-216]

1.2.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp

Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Sử dụng tài sản ngắn hạn là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tính hiệu quả của việc sử dụng tài sản ngắn hạn nói chung là tạo ra nhiều sản phẩm tăng thêm lợi nhuận nhưng không tăng vốn, hoặc đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh thu nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng tài sản ngắn hạn

Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có tác dụng đánh giá chất lượng công tác quản lý tài sản ngắn hạn và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, trên

cơ sở đó đề ra những biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Vì vậy, công tác phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có ý nghĩa rất quan trọng

Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cần phải nghiên cứu một cách toàn diện cả về thời gian, không gian, môi trường kinh doanh và đồng thời đặt nó trong mối quan hệ với sự biến động của các yếu tố sản xuất

Do vậy, khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trước hết phải xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết phù hợp với đặc điểm của từng nhóm tài sản ngắn hạn sử dụng trong doanh nghiệp, sau đó phải biết tận dụng phương pháp phân tích thích hợp Việc phân tích phải được tiến hành trên từng chỉ tiêu sau đó tổng hợp lại, từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, nhằm khai thác hết công suất của tài sản ngắn hạn đã đầu tư

1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.2.3.1 Các chỉ tiêu tổng hợp

Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, cần nghiên cứu một cách toàn diện về cả thời gian, không gian, môi trường kinh doanh đồng thời đặt nó trong mối quan hệ với sự biến động của giá cả của các yếu tố sản xuất

Trang 15

Do vậy, khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trước hết phải xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết về tài sản chung trong doanh nghiệp, sau đó vận dụng các phương pháp phân tích thích hợp phân tích hiệu quả sử dụng tài tản ngắn hạn thông qua các chỉ tiêu chung về tài sản ngắn hạn và chỉ tiêu bộ phận cấu thành tài sản ngắn hạn Việc phân tích phải được tiến hành trên cơ sở phân tích từng chỉ tiêu sau đó tổng hợp lại, từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, nhằm khai thác hết công suất các tài sản ngắn hạn đã đầu tư

Dưới đây là các chỉ tiêu tổng hợp được sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn:

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (số vòng quay tổng tài sản)

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mong muốn tài sản vận động không ngừng để đẩy mạnh tăng doanh thu, từ đó là nhân tố góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Hiệu suất sử dụng tổng tài sản có thể xác định bằng công thức như sau:

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Tổng doanh thu thuần

Giá trị tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêu vòng hay 1 đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện để nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ các tài sản vận động chậm, có thể hàng tồn kho, dở dang nhiều, có thể tài sản cố định chưa hoạt động hết công suất làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khi phân tích chỉ tiêu này cần xem xét đặc điểm ngành nghề kinh doanh và đặc điểm tài sản mà doanh nghiệp hoạt động, để có kết luận chính xác và đưa ra biện pháp hợp lý

để tăng tốc độ quay vòng của tài sản

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

Phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh của công ty

và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo công ty

ROA Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản

Hệ số này có ý nghĩa là với 100 đồng tài sản của công ty thì sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Một công ty đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuận cao sẽ là tốt hơn so với công ty đầu tư nhiều vào tài sản mà lợi nhuận thu được lại thấp Hệ số ROA thường có sự chênh lệch giữa các ngành Những ngành đòi hỏi phải có đầu tư tài sản lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ như các ngành vận tải,

Trang 16

xây dựng, sản xuất kim loại…, thường có ROA nhỏ hơn so với các ngành không cần phải đầu tư nhiều vào tài sản như ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm…

Một trong những khía cạnh được quan tâm nhất của thu nhập trên tổng tài sản

là khả năng phối hợp của các chỉ số tài chính để tính toán ROA Một ứng dụng thường được nhắc tới nhiều nhất là mô hình phân tích Dupont dưới đây

ROA Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần

Doanh thu thuần Tổng tài sản ROA Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Từ mô hình chi tiết ở trên có thể thấy được các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của tài sản đó là hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ suất sinh lời trên doanh thu Bên phải triển khai hiệu suất sử dụng tổng tài sản hay nói cách khác chính là số vòng quay của toàn bộ tài sản: phần này trình bày tài sản ngắn hạn cộng với tài sản dài hạn bàng tổng số tài sản doanh nghiệp sử dụng Doanh thu thuần tiêu thụ chia cho toàn

bộ tài sản cho biết hiệu suất sử dụng tài sản trong một kỳ phân tích

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản càng cao chứng tỏ sức sản xuất của tài sản càng nhanh, đó là nhân tố để tăng sức sinh lời cho tài sản

Nhìn vào bên phải ta thấy hiệu suất sử dụng tổng tài sản bị ảnh hưởng bởi những nhân tố:

- Tổng doanh thu thuần càng lớn, số vòng quay càng nhiều

- Tổng tài sản càng nhỏ, hiệu suất sử dụng càng lớn

Song tổng doanh thu thuần và tổng tài sản có quan hệ mật thiết với nhau, trong thực tế 2 chỉ tiêu này thường quan hệ cùng chiều, khi tổng tài sản tăng thì tổng doanh thu thuần cũng tăng

Trên cơ sở đó, nếu doanh nghiệp muốn tăng hiệu suất sử dụng tài sản thì cần phải phân tích các nhân tố liên quan, phát hiện các mặt tích cực, tiêu cực của từng nhân tố để có biện pháp nâng cao số vòng quay của tài sản, góp phân nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung

Vế bên trái triển khai tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần: Phần này trình bày tổng chi phí bao gồm chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất Doanh thu thuần trừ

đi tổng chi phí bằng lời nhuận thuần, lợi nhuận thuần chia cho doanh thu thuần bằng tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần Điều này cho biết những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần Trên cơ sở đó, doanh nghiệp muốn tăng sức sinh lời của doanh thu thuần cần có các biện pháp giảm chỉ phí bằng cách phân tích những nhân tố cấu thành đến tổng chi phí để có biện pháp phù hợp Đồng thời tìm mọi biện pháp để nâng cao doanh thu, giảm các khoản giảm trừ

Khi nghiên cứu khả năng sinh lời của tài sản cũng cần phải quan tâm đến mức tăng của vốn chủ sở hữu bởi hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ suất sinh lời trên doanh thu

Trang 17

thuần là 2 nhân tố không phải lúc nào cũng tăng ổn định Mặt khác, để tăng lời nhuận trong tương lai cũng cần phải đầu tư thêm Việc tăng vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào lợi nhuận sau thuế và chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp Do vậy, cần phải kết hợp tăng vốn chủ sở hữu và tăng những nguồn tài trợ từ bên ngoài

Tóm lại, phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp dựa vào mô hình tài chính Dupont đã đánh giá đầy đủ hiệu quả trên mọi phương diện Đồng thời phát hiện ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản để từ đó có các biện pháp nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp [2, tr.207-219]

1.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế, phản ánh tình hình

sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất

Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, trong khoảng thời gian 12 tháng hoặc trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và một số tài sản ngắn hạn khác Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được sử dụng cho các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông Quá trình vận động của tài sản ngắn hạn bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm Mỗi lần vận động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn Doanh nghiệp sử dụng vốn đó càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu Vì lợi ích kinh doanh đ òi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng tài sản ngắn hạn, làm cho mỗi đồng tài sản ngắn hạn hàng năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm và tiêu thụ được nhiều hơn Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp nâng cao tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn (số vòng quay tài sản ngắn hạn trong một năm)

Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp các hệ thống chỉ tiêu tài chính được đưa ra để đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp trong một niên độ kế toán là không thể thiếu Qua quá trình phân tích hệ thống chỉ tiêu này thì doanh nghiệp có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của mình và đưa ra các giải pháp cần thiết để khắc phục khó khăn trong niên độ tiếp theo Để đánh giá khách quan hiệu quả sử dụng TSNH chúng ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau như sau:

(1) Phân tích khả năng thanh toán

Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong việc đảm bảo thanh toán các khoản nợ khi nó đến hạn Khả năng thanh toán của

Trang 18

doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính các khoản có khả năng thanh toán trong

kỳ với khoản phải thanh toán trong kỳ Sự thiếu hụt về khả năng thanh khoản có thể đưa doanh nghiệp tới tình trạng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp đúng hạn và có thể phải ngừng hoạt động Do đó cần chú ý đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp

+ Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn Tổng tài sản ngắn hạn

Tổng nợ ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhượng, các khoản phải thu và hàng tồn kho Nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả khác Cả tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định - tới một năm Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản ngắn hạn, hay nói cách khác là 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn

Hệ số này có giá trị càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại Nếu khả năng thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Tuy nhiên, nếu con số này quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động so với nhu cầu Thông thường thì phần vượt trội đó sẽ không sinh thêm lợi nhuận Vì thế mà việc đầu

tư đó sẽ kém hiệu quả Vấn đề này đòi hỏi nhà doanh nghiệp phải phân bổ vốn như thế nào cho hợp lý

+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số khả năng thanh toán nhanh Tổng tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho

Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng thanh toán tức thời (thanh toán ngay) các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) và các khoản tương đương tiền

Hệ số này nói lên việc công ty có khả năng đáp ứng việc thanh toán nợ ngắn hạn vì công ty không gặp khó khăn nào trong việc chuyển từ tài sản lưu động khác về tiền mặt Hệ số này > 2 (có nghĩa là hiệu suất giữa tài sản ngắn hạn và hàng tồn khó gấp 2 lần tổng nợ ngắn hạn) thì được đánh giá là an toàn vì công ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán toàn bộ tài sản ngắn hạn Đây là hệ số phản ánh sự chắc chắn nhất khả năng của công ty đáp ứng nghĩa vụ nợ hiện thời Hệ số này càng cao thì càng được đánh giá tốt

Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền

Trang 19

Hệ số khả năng thanh toán ằng tiền Tiền và các khoản tương đương tiền

Tổng nợ ngắn hạn

Tiền và các khoản tương đương tiền là các tài sản mang tính thanh khoản cao nhất của doanh nghiệp Hệ số thanh toán bằng tiền thể hiện mối quan hệ tiền (tiền mặt

và các khoản tương đương tiền như chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển đổi ) và khoản

nợ đến hạn phải trả Hệ số thanh toán bằng tiền quá cao tức doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt thì doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội sinh lời Các chủ nợ đánh giá mức trung bình hợp lý cho tỷ lệ này là 0,5 Khi hệ số này lớn hơn 0,5 thì khả năng thanh toán bằng tiền của doanh nghiệp là khả quan và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ [2, tr.115- 130]

(2) Các chỉ tiêu đánh giá chung về TSNH

+ Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế

Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng TSNH, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao Chỉ tiêu này

là căn cứ để các doanh nghiệp dự toán nhu cầu về tài sản ngắn hạn khi muốn có mức

độ lợi nhuận mong muốn

Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản ngắn hạn

Lợi nhuận sau thuế

+ Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn (ROCA – Return on Current Assets)

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng TSNH tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp

Tỷ suất sinh lời của TSNH Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản ngắn hạn

+ Hiệu suất sử dụng TSNH (Số vòng quay của TSNH)

Hiệu suất sử dụng TSNH Tổng doanh thu thuần

Tổng tài sản ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các tài sản ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt Hoặc cho biết một đồng vốn bỏ ra đầu tư cho tài sản ngắn hạn trong một kỳ thì đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của TSNH trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ TSNH vận động càng nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cao, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

+ Suất hao phí của TSNH so với doanh thu

Suất hao phí của TSNH so với doanh thu Tổng tài sản ngắn hạn

Tổng doanh thu thuần

Trang 20

Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thì doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng TSNH, đó chính là căn cứ để để đầu tư TSNH cho thích hợp Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao

+ Thời gian một vòng quay của TSNH

Thời gian 1 vòng quay TSNH 360

Hiệu suất sử dụng TSNH

Chỉ tiêu này cho biết mỗi vòng quay của TSNH bình quân mất bao nhiêu ngày Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ TSNH vận động nhanh, góp phần nâng cao doanh thu

và lợi nhuận cho doanh nghiệp

Từ đây có thể xác định được số tiền tiết kiệm hay lãng phí do số vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn nhanh hay chậm Nếu quy mô kinh doanh không thay đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng tài sản có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác Công thức xác định số tiền tiết kiệm, lãng phí tuyệt đối do tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn thay đổi:

+ Mức tiết kiệm TSNH tuyệt đối: Nếu quy mô kinh doanh không thay đổi, việc tăng hiệu suất sử dụng TSNH đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng TSNH có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác Công thức xác định số TSNH tiết kiệm tuyệt đối:

Vtktđ1: TSNH tiết kiệm tuyệt đối

Vtktđ2: TSNH tiết kiệm tuyệt đối

M0 ,M1: Doanh thu thuần kỳ trước, kỳ này

V0 ,V1: Hiệu suất sử dụng TSNH kỳ trước và kỳ này

(3) Ph n tích hiệu quả sử dụng TSNH thông qua mô h nh Dupont

Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở

Mỹ Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn

Mô hinh Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Dupont

Trang 21

tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định

Để phân tích tỷ suất sinh lời của TSNH (ROCA) có thể xác định thông qua mô hình sau

ROCA Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Hiệu suất sử dụng TSNH

Qua công thức trên có thể thấy 2 nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên TSNH là tỷ suất sinh lời trên doanh thu và hiệu suất sử dung TSNH, như vậy muốn nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH nâng cao hai tỷ số trên Về việc nâng cao tỷ suất sinh lời trên doanh thu đã đề cập ở phần trên, trong phần này chỉ đề cập đến nhân tố tốc độ luân chuyển TSNH

(4) Ph n tích các chỉ tiêu đánh giá các thành phần của TSNH

(4.1) Các chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho

Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng càng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không

đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng

+ Thời gian quay vòng hàng tồn kho

Trang 22

Chỉ tiêu này cho ta biết số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được một vòng Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho và số ngày chu chuyển tồn kho có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau Vòng quay tăng thì ngày chu chuyển giảm và ngược lại

Thời gian quay vòng hàng tồn kho 360

Số vòng quay hàng tồn kho

(4.2) Các chỉ tiêu đánh giá về tình hình các khoản phải thu

+ Số vòng quay các khoản phải thu

Số vòng quay các

khoản phải thu =

Doanh thu thuần Khoản phải thu khách hàng

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của doanh nghiệp trong kỳ phân tích doanh nghiệp đă thu được bao nhiêu nợ và số nợ còn tồn đọng chưa thu được là bao nhiêu Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao Quan sát

số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiêp

+ Kỳ thu tiền bình quân

Kỳ thu tiền bình quân =

360

Số vòng quay các khoản phải thu

Chỉ tiêu này được đánh giá khả năng thu hồi vốn trong các doanh nghiệp, trên cơ

sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày Nó phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì

kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp Mặt khác khi chỉ tiêu này được đánh giá là khả quan, thì doanh nghiệp cũng cần phải phân tích kỹ hơn vì tầm quan trọng của nó và kỹ thuật tính toán che dấu đi các khuyết tật trong việc quản lý các khoản phải thu

+ Thời gian trả nợ trung bình

Thời gian trả nợ

trung bình =

360

Hệ số trả nợ

Hệ số trả nợ = Giá vốn hàng bán + Chi phí chung bán hàng, quản lý

Phải trả người án + Lương, thưởng, thuế phải trả

Hệ số trả nợ (hay chính là vòng quay trả nợ) và thời gian trả nợ trung bình là chỉ tiêu vừa phản ánh uy tín của doanh nghiệp đối với bạn hàng vừa phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp Đối lập với vòng quay khoản phải thu và hàng tồn kho

có xu hướng ngày càng tăng càng tốt thì đối với doanh nghiệp càng chậm trả nợ thì càng tốt, vậy nên họ rất muốn kéo dài thời gian hoàn trả nợ dẫn đến vòng quay phải trả

Trang 23

thấp Vòng quay phải trả thấp, số ngày trả nợ kéo dài có thể là dấu hiệu cho thấy công

ty rất có uy tín và là khách hàng tốt nhất của nhà cung cấp nên được cho trả chậm, nhưng cũng là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc trả các khoản nợ đến hạn

+ Thời gian quay vòng tiền trung bình

Thời gian quay vòng tiền

trung bình =

Kỳ thu tiền nh quân

+

Thời gian quay vòng hàng tồn kho

-

Thời gian trả nợ trung bình

Chỉ tiêu thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả Chỉ số này cho biết sau bao nhiêu ngày thì số vốn của doanh nghiệp được quay vòng để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi doanh nghiệp bỏ vốn ra Thời gian quay vòng tiền ngắn, chứng tỏ doanh nghiệp sớm thu hồi được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý hiệu quả khi giữ được thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ Tuy nhiên, cũng tùy vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động, đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ thì thời gian quay vòng tiền sẽ ngắn hơn nhiều so với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất

1.3 Các nhân tố ảnh hướng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, ngoài việc tính toán và phân tích các chỉ tiêu trên, doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ các nhân tố tác động tới hiệu quả

sử dụng tài sản ngắn hạn Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược và kế hoạch phù hợp với từng giai đoạn để có thể phát huy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn một cách tối đa giúp cho doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã đề ra

1.3.1 Các nhân tố khách quan

1.3.1.1 Chính sách kinh tế của Nhà nước

Vai trò chủ đạo của nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện thông qua việc điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế Thông qua luật pháp và các chính sách kinh tế…, Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý cho các DN phát triển SXKD và hướng các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp đi theo quỹ đạo của kế hoạch kinh tế vĩ mô Một chính sách kinh tế của nhà nước có thể tạo ra tác động nhiều chiều đối với những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh khác nhau và tác động tới hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả sử dụng tài sản nói chung của doanh nghiệp

Trang 24

1.3.1.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm

Kinh tế thị trường là một sự phát triển chung của xã hội nhưng trong nó vẫn có những mặt trái tồn tại và khi cơ chế thị trường mới được một sự linh hoạt, nhạy bén bao nhiêu thì mặt trái của nó lại là những thay đổi liên tục đến chóng mặt giá cả của các loại đồng tiền vì thế mà đồng tiền mất giá nghiêm trọng, lạm phát lại vẫn thường xuyên xảy ra Điều đó gây ra tình trạng với một lượng tiền như cũ thì không thể tái tạo lại (hay mua sắm lại) tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp với quy mô như ban đầu

1.3.1.3 Tiến bộ khoa học công nghệ

Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ sẽ là yếu tố giúp doanh nghiệp cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản nếu doanh nghiệp biết quan tâm, chú trọng tới việc áp dụng chúng vào SXKD Hiện đại hóa trang thiết bị, nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm là những vấn đề mà một doanh nghiệp cần chú trọng nếu muốn tạo dựng một vị thế ổn định trên thị trường Ngược lại, nếu DN không tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ để đổi mới trong thiết bị, sản phẩm thì có thể dẫn tới nguy cơ

DN làm ăn thua lỗ do sản phẩm làm ra không còn thích ứng, phù hợp với nhu cầu thị trường

1.3.1.4 Rủi ro trong kinh doanh

Rủi ro kinh doanh là tính khả biến hay tính không chắc chắn trong EBIT của một doanh nghiệp Rủi ro kinh doanh do nhiều yếu tố hây ra, bao gồm cả tính khả biến của doanh thu và việc sử dụng đòn bẩy kinh doanh [4, tr.123]

Do những rủi ro trong kinh doanh mà doanh nghiệp thường gặp phải như: thị trường không ổn định, sức mua của thị trường có hạn và một số rủi ro tự nhiên khác như: thiên tai bão lụt hoả hoạn, làm hư hỏng vật tư, mất mát tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

1.3.1.5 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tuỳ theo ngành nghề kinh doanh (có ngành nghề thì sử dụng nhiều tài sản ngắn hạn hơn trong cơ cấu tài sản, nhưng có ngành nghề thì lại sử dụng ít tài sản ngắn hạn Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn vì tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn thường thay đổi khi lượng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp thay đổi

1.3.2 Các nhân tố chủ quan

1.3.2.1 Trình độ quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn

Hiện nay nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đầy đủ dúng mức đến việc khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn có hiệu quả, hoặc có quan tâm nhưng không có đủ năng lực để quản lý, dẫn đến sử dụng tài sản không đúng mục đích, không đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp

Trang 25

1.3.2.2 Xác định cơ cấu tài sản ngắn hạn

Tuỳ vào từng doanh nghiệp với những đặc điểm riêng của lĩnh vực kinh doanh

mà phải có một cơ cấu tài sản ngắn hạn hợp lý bởi nế không với một cơ cấu tài sản ngắn hạn không phù hợp thì không thể nào mà quản lý tài sản ngắn hạn hiệu quả được

1.3.2.3 Công tác lựa chọn dự án đầu tư

Nếu doanh nghiệp lựa chọn phương án đầu tư khả thi thì doanh nghiệp sẽ không chỉ thu hồi được vốn mà còn có lãi, và sử dụng hiệu quả các tài sản ngắn hạn của mình, nếu không lựa chọn đúng sẽ có kết quả ngược lại

1.3.2.4 Nhân tố con người

Trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp, con người đóng vai trò trung tâm và thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào nhân tố con người Đặc biệt trong giai đoạn kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, vai trò của nhân tố con người càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cũng chịu ảnh hưởng lớn từ nhân tố này Sự phối kết hợp giữa các thành viên, tinh thần làm việc, ý thức trách nhiệm, khả năng chuyên môn là những yếu tố thuộc về con người quyết định sự thành bại của DN Có thể nói, con người là nhân tố quan trọng trong bất cứ hoạt động nào Trong hoạt động sản xuất – kinh doanh cũng vậy, con người đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng, đặc biệt là trình độ cán bộ quản lý và tay nghề người công nhân

1.3.2.5 Nhân tố cơ sở vật chất

Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh thì năng suất lao động sẽ tăng dần đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cũng tăng theo, và ngược lại

Thông tin đến nhà quản lý bị bóp méo , sai lệch cũng làm cho nhà quản lý ra các quyết định sai lầm, đặc biệt là công tác tổ chức kế toán cung cấp thông tin cho nhà quản lý

Trang 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN DƯỢC PHẨM NGÂN HÀ

2.1 Tổng quan về Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Ngân Hà

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Ngân Hà

Tên doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Ngân Hà

Tên thường gọi: Dược phẩm Ngân Hà

Tên giao dịch: Galaxy Pharmaceutical Limited Company

Tên viết tắt: Galaxy Pharma Co.,Ltd

Mã số thuế: 0101468066

Vốn điều lệ: 8.000.000.000đ (tám tỷ đồng)

Người đại diện pháp lý: Nguyễn Hữu Thiện

Trụ sở chính: Nhà N1 – 2, số 89, phố Nguyễn Văn Trỗi, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội, Việt Nam

Số điện thoại: 043.6649526

Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Ngân Hà được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0102011593 ngày 12 tháng 03 năm 2004 tại Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp; thay đổi lần 6 ngày 19 tháng 04 năm 2011

Những năm đầu thành lập, công ty chủ yếu kinh doanh thiết bị, vật tư, dụng cụ

y tế Đến năm 2007, công ty bổ sung thêm lĩnh vực kinh doanh mới là kinh doanh xuất nhập khẩu hóa chất xét nghiệm, hoát chất diệt côn trùng, diệt khuẩn (trừ hóa chất Nhà nước cấm), vaccin, sinh phẩm, thuốc chữa bệnh và các sản phẩm phục vụ chăm sóc sức khỏe, dân số kế hoạch hóa gia đình

Năm 2010, nhờ tận dụng uy tín cũng như kinh nghiệm kinh doanh các sản phẩm thuộc lĩnh vực y tế, vật tư y tế nên Công ty TNHH Dược phẩm Ngân Hà đã cung cấp thêm dịch vụ nhận xuất nhập khẩu ủy thác, dịch vụ tiếp nhận, vận chuyển, bảo quản hóa chất (trừ hóa chất Nhà nước cấm), vaccin, sinh phẩm, thuốc chữa bệnh, thiết

bị vật tư y tế, dịch vụ lắp đặt sửa chữa, bảo trì thiết bị y tế

Trong quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành, Công ty TNHH Dược phẩm Ngân Hà đã ngày càng khẳng định được là một trong những doanh nghiệp hàng đầu về lĩnh vật tư y tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội, cũng như các thị trường lân cận Trong giai đoạn khó khăn nhất do ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế năm 2011 –

2012, Công ty TNHH Dược phẩm Ngân Hà đã tìm ra được con đường riêng cho mình

để không những giảm thiểu khỏi bị sụt giảm về quy mô phát triển mà còn vượt qua được khó khăn Với thế mạnh và ngành nghề chính là kinh doanh nhập khẩu các loại

Trang 27

thiết bị y tế với nhiều loại sản phẩm khác nhau, kinh doanh dược phẩm, hóa chất và vật tư y tế, công ty vẫn duy trì và tiếp tục cung cấp các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt, để đạt được mục tiêu mà công ty luôn đề cao đó là tạo ra một thương hiệu

uy tín trong thị trường kinh doanh vật tư y tế Bên cạnh đó, việc duy trì và ngày càng phát triển hơn nữa hoạt động của công ty đã giải quyết được công ăn việc làm cho một

số lượng lao động tại địa bàn Hà Nội

2.1.2 Bộ máy quản lý của Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Ngân Hà

Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Ngân Hà là một đơn vị hạch toán độc lập có tài khoản riêng và có tư cách pháp nhân Bộ máy quản lý của Công ty tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng nghĩa là Ban Giám đốc trực tiếp chỉ đạo các bộ phận phòng ban chức năng, các xưởng sản xuất trực thuộc hoạt động kinh doanh, thực hiện các quyết định của Hội đồng thanh viên

Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức của Công ty TNHH Dƣợc phẩm Ngân Hà

(Nguồn: Phòng hành chính – kế toán) Hội đồng thành viên bao gồm các thành viên trong Công ty, các thành viên có

quyền biểu quyết, là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong Công ty, có quyền quyết định mọi vấn đề thuộc về hoạt động SXKD của Công ty Hội đồng thành viên hoạt động theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước Chủ tịch Hội đồng thành viên là Ông Nguyễn Hữu Thiện – cấp bậc Dược sĩ Đại học

Ban Giám đốc đại diện mọi quyền lợi, nghĩa vụ của Công ty trước pháp luật và

trước cơ quan quản lý Nhà nước Quản lý và lãnh đạo toàn bộ hoạt động SXKD của Công ty, báo cáo Hội đồng thành viên về các hoạt động của Công ty Ban Tổng Giám đốc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty

và pháp luật của Nhà nước Ban Giám đốc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Ngân Hà bao gồm 01 Giám đốc kiêm phụ trách chuyên môn là Ông Nguyễn

Hội đồng thành viên

Phòng kho vận

Ban Giám đốc

Phòng kiểm tra, kiểm soát chất lượng

Phòng kinh doanh Phòng hành chính

– kế toán

Trang 28

Hữu Thiện và 01 Phó Giám đốc phụ trách kinh doanh là Bà Lê Thị Phượng – cấp bậc Dược sĩ Đại học

Các phòng ban có nhiệm vụ thực hiện các công việc do Ban Giám đốc giao,

hoàn thành các công việc được giao theo đặc điểm riêng của từng phòng Bao gồm các phòng kinh doanh, phòng hành chính – kế toán, phòng kho vận và phòng kiểm tra, kiểm soát chất lượng

Phòng hành chính – kế toán chia làm hai bộ phận là bộ phận hành chính và bộ phận kế toán Bộ phận hành chính có nhiệm vụ quản lý và tổ chức nhân sự trong công

ty, thực hiện các công tác lao động tiền lương, BHXH, BHYT; hỗ trợ các phòng ban khác soạn thảo văn bản, công văn và hồ sơ dự thầu Bộ phận kế toán thực hiện kế hoạch tổ chức công tác tài chính - kế toán trong công ty; tập hợp và huy động các nguồn tài chính, quản lý quỹ, thanh toán vật tư và tập hợp các chi phí Phòng kinh doanh phụ trách công tác bán hàng, tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường bán hàng, chịu trách nhiệm về doanh thu bán hàng Phòng kho vận phụ trách việc kiểm kê, nhập – xuất hàng hóa, có trách nhiệm quản lý lượng hàng phân bổ tới các địa lý và đi tỉnh Phòng kiểm tra, kiểm soát chất lượng có nhiệm vụ phối hợp với phòng kinh doanh và phòng kho vận trong việc kiểm tra chất lượng hàng hóa, chịu trách nhiệm trước công ty và pháp luật trong trường hợp hàng hóa hỏng hóc, ảnh hướng đến sức khỏe con người

2.1.3 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Ngân Hà

Dược phẩm Ngân Hà là công ty chuyên kinh doanh nhập khẩu các loại thiết bị

y tế với nhiều loại sản phẩm khác nhau, kinh doanh dược phẩm, hóa chất và vật tư y

tế Có thể chia các sản phẩm đó thành ba nhóm sản phẩm chủ yếu của Công ty như

Dược phẩm, mỹ phẩm, nguyên phụ liệu: Các loại thuốc chữa bệnh nội địa và

thuốc nhập khẩu, thực phẩm chức năng,, mỹ phẩm, xà phòng, chất tẩy rửa, làm bong

và chế phẩm vệ sinh (trừ mỹ phẩm có hại cho sức khỏe con người)

Các loại dược phẩm mà Công ty cung cấp chủ yếu là các sản phẩm thuốc có xuất

xứ nước ngoài, được nhập khẩu về Việt Nam Các loại thuốc này sau khi được nhập khẩu về sẽ được Công ty phân phối cho các bệnh viện, các công ty dược và các nhà thuốc trên toàn quốc Chính vì vaayh, hoạt động kinh doanh dược phẩm, mỹ phẩm,

Trang 29

nguyên phụ liệu là hoạt động mang lại doanh thu một cách thường xuyên nhất tại doanh nghiệp

2.1.4 Kết quả doanh thu – lợi nhuận của Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Ngân Hà giai đoạn 2011 – 2013

Biểu đồ 2.1 Tăng trường doanh thu và lợi nhuận

Đơn vị tính: Triệu đồng

(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty)

Nhận xét:

Tình hình doanh thu: Trong năm 2012, Doanh thu thuần về bán hàng của

Công ty giảm từ 22.450 triệu đồng xuống còn 22.196 triệu đồng, giảm 1,13% so với năm 2011, tương đương với mức giảm 254 triệu đồng Sang năm 2013, doanh thu thuần tại Công ty giảm nhanh khi giảm thêm 3.974 triệu đồng, tương ứng giảm 17,90% so với năm 2012 Doanh thu thuần tại Công ty giảm do công tác bán hàng tại Công ty không tốt, các đơn hàng cung cấp thuốc và vật tư ý tế giảm, đặc biệt là các đơn hàng cung cấp cho các bệnh viện lớn như Bệnh viện E, Bệnh viện Bạch Mai,…

Doanh thu từ hoạt động tài chính của năm 2012 giảm 3 triệu đồng, tương ứng giảm 21,43% so với năm 2011, năm 2013 giảm 4 triệu đồng, tương ứng giảm 36,36%

so với năm 2012 Doanh thu từ hoạt động tài chính của Công ty đến từ khoản lợi nhuận tiền gửi ngân hàng Từ năm 2011 đến năm 2013, lượng tiền gửi tại ngân hàng giảm khiến cho doanh thu từ hoạt động tài chính giảm

Trang 30

Bảng 2.1 Chỉ tiêu kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Dƣợc phẩm Ng n Hà

Trang 31

Tình hình chi phí: Các đơn hàng giảm khiến cho giá vốn hàng bán của năm

2012 cũng giảm 1.242 triệu đồng, tương ứng 6,12% so với năm 2011 Với tốc độ giảm như vậy, có thể thấy tốc độ giảm của giá vốn hàng bán nhanh hơn so với tốc độ giảm doanh thu thuần Điều này dẫn đến lợi nhuận gộp tăng 46% so với năm 2011 Điều này cho thấy Công ty đang quản lý các khoản chi phí giá vốn tốt, nguyên nhân là do Công

ty tích cực khai thác các, tìm kiếm các nhà cung cấp có giá bán thấp hơn, đồng thời tiết kiệm tối đa các khoản chi phí tính vào giá vốn như chi phí vận chuyển, nhờ vào điều này mà Công ty luôn tiết kiệm được một khoản chí, đồng thời dễ dàng kiểm soát giá cả hàng hóa nhập Năm 2013, giá vốn hàng bán tiếp tục giảm thêm 4.147 triệu đồng, tương ứng giảm 21,76% so với năm 2012, giá vốn hàng bán năm này tiếp tục giảm nhanh hơn so với doanh thu thuần Nguyên nhân không phải do giá thuốc nhập giảm, thậm chí giá thuốc hàng năm Công ty nhập về hàng năm luôn tăng, sự suy giảm của giá vốn hàng bán đến từ giá nhập các vật tư y tế giảm Trên thị trường nội địa, ngày càng có nhiều doanh nghiệp trong nước có đủ khả năng sản xuất các thiết bị, vật tư y tế đảm bảo chất lượng quốc tế, vì vậy thay vì nhập khẩu từ nước ngoài, Công ty TNHH Dược phẩm Ngân Hà đã tìm đến các công ty sản xuất thiết bị vật tư y tế trong nước tiến hành kí hợp đồng đại diện cung cấp các sản phẩm thiết bị vật tư y tế với chi phí mua ưu đãi Điều này sẽ giúp Công ty giảm được đáng kể các khoản chi phí giá vốn, giúp Công ty tăng lợi nhuận gộp hàng năm Cụ thể, tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần từ năm 2011 đến năm 2013 đã giảm khá nhanh Năm 2011, tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần là 90,43%, nhưng sang năm 2012 đã giảm xuống còn 85,87% Năm 2013 là năm có tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần nhỏ nhất trong ba năm phân tích, với tỷ lệ là 81,84%

Chỉ tiêu chi phí quản lý kinh doanh trong 3 năm phân tích liên tục tăng trong khi đó quy mô Công ty đang có xu hướng giảm dần Năm 2012, mặc dù doanh thu giảm nhưng chi phí quản lý kinh doanh năm 2012 vẫn tăng thêm 47,38%, tương ứng tăng 985 triệu đồng so với năm 2011 Năm 2013, chi phí này tiếp tục tăng thêm 221 triệu đồng, tăng 7,21% so với năm 2012 Nguyên nhân đến từ việc phải chi trả lương cho nhân viên, các chi phí bán hàng do Công thúc đẩy hoạt động giới thiệu sản phẩm, nhằm đẩy mạnh doanh thu Tuy nhiên, hiệu quả từ hoạt động bán hàng không hiệu quả dẫn đến doanh thu vẫn tiếp tục giảm, trong khi Công ty vẫn phải thực hiện hoạt động chi trả các chi phí đã bỏ ra cho hoạt động bán hàng

Công ty không có hoạt động đi vay ngắn hạn hay dài hạn tại Ngân hàng mà chủ yếu là đi vay các nhà cung cấp dược phẩm, thiết bị y tế cho Công ty Công ty đã tận dụng mối quan hệ đối tác cũng như mối quan hệ là nhà cung cấp cho các sản phẩm của các nhà cung cấp để tiến hành vay vốn bổ sung vốn kinh doanh với chi phí trả lãi thấp hoặc không lãi suất Công ty TNHH Dược phẩm Ngân Hà là một doanh nghiệp dược

Trang 32

phẩm có quy mô khá nhỏ, do đó, việc tận dụng mọi cơ hội để có thể tiết kiệm được chi phí là một hành động khôn ngoan, giúp Công ty gia tăng được lợi nhuận cho doanh nghiệp Thông qua bảng 2.1, ta thấy duy chỉ có năm 2011 là Công ty phát sinh chi phí tài chính là 35 triệu đồng Càng về những năm sau, Công ty không phát sinh chi phí tài chính

Tình hình lơi nhuận: Lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất hiệu quả

kinh doanh của doanh nghiệp Mặc dù lợi nhuận gộp có xu hướng tăng lên do Công ty quản lý chi phí giá vốn tốt nhưng do chi phí quản lý kinh doanh tăng nhanh khiến cho lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh giảm và thấp Sau khi đã trừ đi chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp ta được khoản lợi nhuận sau thuế thấp và có xu hướng giảm nhanh Chênh lệch giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu lớn Năm 2011, trong khi doanh thu thuần thu được 22.450 triệu đồng nhưng lợi nhuận sau thuế đạt được trong năm chỉ là 40 triệu đồng Năm 2012, lợi nhuận sau thuế có tăng lên 68 triệu đồng nhưng đến năm 2013 đã giảm xuống còn 23 triệu đồng Điều đó cho thấy, hoạt động kinh doanh tại Công ty khá bấp bênh, Công ty không duy trì được lượng doanh thu và lợi nhuận ổn định Lợi nhuận sau thuế tại Công ty giảm và nhỏ, nguyên nhân đến từ các khoản chi phí hoạt động của Công ty quá lớn, sau khi trừ hết các khoản chi phí, lợi nhuận sau thuế còn lại rất thấp

2.1.5 Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Ngân Hà

Kết hợp với so sánh các số liệu trong bảng cân đối kế toán qua ba năm 2011,

2012 và 2013, ta có thể thấy được một số nét nổi bật trong hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Dược phẩm Ngân Hà Công ty có quy mô tổng tài sản giảm Điều này được thể hiện rõ qua sự biến động của quy mô tổng tài sản và cơ cấu tổng tài sản như sau:

Quy mô tổng tài sản: Qua bảng 2.2 ta thấy quy mô tổng tài sản của công ty

qua 3 năm phân tích giảm liên tục, năm sau giảm nhanh hơn năm trước

Giai đoạn năm 2011 – 2012: Chỉ sau một năm tổng tài sản giảm 17,04% Sự sụt giảm của tổng tài sản xuất phát từ nguyên nhân đó là trong giai đoạn này cả tài sản ngắn han và tài sản dài hạn tại Công ty đều giảm Năm 2011, tài sản ngắn hạn giảm từ 12.118 triệu đồng xuống còn 9.924 triệu đồng, tương ứng giảm 18,11% Tài sản dài hạn trong năm 2012 cũng giảm, tuy nhiên tốc độ giảm chậm hơn khi giảm thêm 4,62% Tài sản dài hạn giảm do hao mòn tài sản cố định, hoạt động đầu tư mua sắm không được chú trọng

Trang 33

Bảng 2.2 Quy mô và cơ cấu tài sản tại Công ty trách nhiệm hữu hạn

Tăng so với năm

2012

Giá trị

Tỷ trọng (%)

Tăng so với năm

2011

Giá trị

Tỷ trọng (%)

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)

Giai đoạn năm 2012 – 2013: Đây là giai đoạn tổng tài sản giảm nhanh khi năm

2013, tổng tài sản giảm 2.452 triệu đòng, tương ứng giảm 22,47% so với năm 2012 Mức độ hao mòn tài sản cố định tăng cao khiến cho tài sản dài hạn trong năm 2013 đã giảm tới 22,32% so với năm 2012 Năm 2013 cũng là năm tài sản ngắn hạn giảm nhanh nhất trong ba năm phân tích, khi giảm từ 9.924 triệu đồng xuống còn 7.693 triệu đồng, giảm 2.2.31 triệu đồng, tương ứng giảm 22,48% Tác động tổng hợp của việc giảm nhanh tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn trong năm 2013 đã khiến cho tổng tài sản giảm 22,47% Nhận thấy quy mô tổng tài sản liên tục giảm, mục đích chính của hành động này là giảm lượng đầu tư trên mỗi đồng doanh thu thu được hàng năm, nhằm giúp Công ty nâng cao được hiệu quả sử dụng tài sản

Cơ cấu tổng tài sản: Việc xem xét kỹ lưỡng về tình hình tài sản tại một thời

điểm cho phép ta đánh giá được quy mô kinh doanh của Công ty Từ đó có thế thấy được tình hình tài chính cũng như năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Qua bảng cân đối kế toán của cả ba năm kết hợp với bảng 2.2, nhìn chung Công

ty TNHH Dược phẩm Ngân Hà có cơ cấu tài sản ngắn hạn lớn hơn so với tài sản dài hạn Về quy mô tổng tài sản tại ba năm có sự thay đổi theo chiều hướng giảm Sự suy giảm về quy mô tổng tài sản của Công ty chứng tỏ quy mô kinh doanh của Công ty đang bị thu hẹp Không những quy mô tài sản đang có sự thay đôi mà tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn trong tổng tài sản cũng đang có sự biến đổi theo chiều hướng giảm cả tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, tuy nhiên sự suy giảm của hai loại tài sản này lại có sự khác nhau dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu tổng tài sản Cụ thể năm 2011, tỷ trọng tài sản ngắn hạn là 92,11%, tài sản dài hạn là 7,89% trong tổng tài sản Tuy nhiên sang năm 2012 và năm 2013, tỷ trọng tài sản ngắn hạn ngày càng giảm xuống do quy mô hàng năm giảm nhanh Cụ thể năm 2012 và năm 2013, tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản lần lượt là 90,93% và 90,91%, tương ứng là tỷ trọng tài

Trang 34

sản dài hạn lần lượt là 9,07% và 9,09% Nguyên nhân tại sao khiến cho quy mô tài sản ngắn hạn giảm nhanh làm cho tỷ trọng tài sản giảm sẽ được khóa luận trình bày ở những mục sau

Bảng 2.3 Quy mô và cơ cấu nguồn vốn tại Công ty trách nhiệm hữu hạn

Tăng so với năm

2012

Giá trị

Tỷ trọng (%)

Tăng so với năm

2011

Giá trị

Tỷ trọng (%)

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)

Quy mô tổng nguồn vốn: Qua bảng 2.3, ta thấy quy mô tổng nguồn vốn của

Công ty qua ba năm phân tích giảm liên tục, năm sau giảm nhanh hơn năm trước

Giai đoạn năm 2011 – 2012: Chỉ sau một năm tổng nguồn vốn giảm 17,04%

Sự sụt giảm của tổng nguồn vốn xuất phát từ nguyên nhân đó là trong giai đoạn này cả

nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu tại Công ty đều giảm Năm 2011, nợ phải trả giảm từ 4.749 triệu đồng xuống còn 2.600 triệu đồng, tương ứng giảm 45,25% Công

ty không có nợ dài hạn do đó nợ phải trả bằng nợ ngắn hạn tại doanh nghiệp Trong khi nợ phải trả giảm nhanh thì vốn chủ sở hữu tại công ty giảm chậm hơn với mức giảm là 1,11% so với năm 2011

Giai đoạn 2012 – 2013: Đây là giai đoạn tổng nguồn vốn giảm nhanh Vay ngắn hạn tại Công ty giảm 100% khiến cho nợ phải trả trong năm 2013 đã giảm tới 95,27%

so với năm 2012 Lúc này, nợ phải trả năm 2013 chỉ còn 123 triệu đồng, trong khi năm

2012 giá trị của nợ phải trả lên tới 2.600 triệu đồng Trái ngược với xu hướng của nợ phải trả, năm 2013, nguồn vốn chủ sở hữu tại Công ty tăng nhẹ lên mức 8.339 triệu đồng, tăng 25 triệu đồng, tương ứng tăng 0,30% so với năm 2012 Tác động giảm nhanh của nợ phải trả khiến cho tổng nguồn vốn giảm 22,47% Nhận thấy quy mô tổng nguồn vốn liên tục giảm, trong đó nợ phải trả giảm mạnh trong khi nguồn vốn chủ sở hữu biến động không lớn cho thấy công ty đang có xu hướng phụ thuộc vào nguồn vốn

Trang 35

tự có của doanh nghiệp hơn là nguồn vốn vay Hạn chế sử dụng nguồn vốn nợ giúp Công ty giảm thiểu được rủi ro tài chính trong hoạt động thanh toán Nguồn vốn chủ

sở hữu là nguồn vốn có chi phí huy động lớn hơn và khiến Công ty không phát huy được hiệu quả từ đòn bẩy tài chính giúp thúc đầy hoạt động sản xuất kinh doanh

Cơ cấu tổng nguồn vốn: Việc xem xét kỹ lưỡng về tình hình nguồn vốn tại

một thời điểm cho phép ta đánh giá được quy mô kinh doanh của Công ty Từ đó có thế thấy được tình hình tài chính cũng như năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Qua bảng cân đối kế toán của cả ba năm kết hợp với bảng 2.3, nhìn chung Công

ty TNHH Dược phẩm Ngân Hà có cơ cấu vốn chủ sở hữu lớn hơn so với nợ phải trả

Tỷ trọng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn cũng đang có sự biến đổi theo chiều hướng giảm nhanh nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu giảm nhưng giảm không đều, điều này dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu tổng nguồn vốn Cụ thể năm

2011, tỷ trọng nợ phải trả là 36,10%, nguồn vốn chủ sở hữu là 63,90% trong tổng nguồn vốn Tuy nhiên sang năm 2012 và năm 2013, tỷ trọng nợ phải trả ngày càng giảm xuống do quy mô hàng năm giảm nhanh Cụ thể năm 2012 và năm 2013, tỷ trọng

nợ phải trả trong tổng nguồn vốn lần lượt là 23,82% và 1,45%, tương ứng là tỷ trọng vốn chủ sở hữu lần lượt là 76,18% và 98,55% Qua phân tích cơ cấu tổng nguồn vốn ta thấy nguồn vốn chủ sở hữu ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng nguồn vốn, năm 2013, tỷ trọng của nguồn vốn này đã gần chiếm trọn tổng nguồn vốn Điều đó cho thấy sự thay đổi trong công tác sử dụng nguồn vốn cho hoạt động đầu tư vào tài sản ngắn hạn khi dùng phần lớn nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản

2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tổng tài sản tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Dƣợc phẩm Ngân Hà

2.2.1 Quy mô cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Ngân Hà

Trang 36

Bảng 2.4 Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty trách nhiệm hữu hạn

Tăng so với năm

2012

Giá trị

Tỷ trọng (%)

Tăng so với năm

2011

Giá trị

Tỷ trọng (%)

(Nguồn: Số liệu được tính từ Báo cáo tài chính Công ty)

Dựa vào bảng 2.4, ta có thể thấy quy mô tài sản ngắn hạn của Công ty qua 3 năm phân tích đang có xu hướng liên tục, năm sau giảm nhanh hơn năm trước Năm

2012, tài sản ngắn hạn giảm từ 12.118 triệu đồng xuống còn 9.924 triệu đồng (giảm 2.194 triệu đồng, tương ứng vơi tốc độ giảm 18,11%) so với năm 2011 Sang đến năm

2013, quy mô tài sản ngắn hạn tiếp tục giảm xuống, tuy nhiên mức độ giảm lại nhanh

Trang 37

hơn so với mức độ giảm của năm 2012 khi giảm thêm 22,48% Nguyên nhân của sự thay đổi này vừa do sự điều chỉnh của Công ty nhằm mục đích đem lại doanh thu và lợi nhuận cao hơn với chi phí sử dụng tài sản ngắn hạn thấp, làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, sử dụng hết năng lực của tài sản Ngoài sự thay đổi do xuất phát

từ chiến lược kinh doanh còn do sự thay đổi trong việc kiểm soát các chi phí quản lý, đáp ứng nhu cầy thanh toán, thu - chi nên Công ty đã có sự điều chỉnh các khoản mục trong tài sản ngắn hạn sao cho phù hợp với hoạt động kinh doanh Trong đó khoản phải thu luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tài sản ngắn hạn, kế đến là hàng tồn kho, tiền và các khoản tương đương tiền và cuối cùng là tài sản ngắn hạn khác

Tiền và các khoản tương đương tiền: năm 2011, khoản mục này chiếm tỷ trọng

3,51% trong tổng tài sản ngắn hạn và có xu hướng tăng nhưng tăng không đều về những năm tiếp theo Năm 2012, tiền và các khoản tương đương tiền giảm từ 424 triệu đồng xuống còn 110 triệu đồng vào năm 2011, lúc này tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền tại Công ty chỉ còn 1,11% Tuy nhiên, sang năm 2013, lượng tiền tại Công ty đã tăng lên mức 689 triệu đồng, tăng 526,36%, tức là tăng 6,26 lần so với năm

2012 Lúc này, tỷ trọng tiền đã tăng lên mức 8,96% trong tổng tài sản ngắn hạn Ta có thể thấy trong 3 năm năm phân tích, dự trữ tiền mặt tăng trong khi dự trữ tài sản ngắn hạn của Công ty lại có xu hướng giảm, do đó sự suy giảm của tài sản ngắn hạn không phải đến từ lượng tiền tại công ty giảm mà có thể do các chỉ tiêu thành phần khác giảm mạnh Lượng dự trữ tiền tăng cho thấy càng ngày Công ty càng có nhu cầu sử dụng tiền mặt nhiều hơn trong hoạt động thu – chi hàng ngày Tuy nhiên, việc Công ty điều chỉnh tăng lượng dự trữ tiền mặt trong ngắn hạn có thể giúp doanh nghiệp thuận tiện trong việc thanh toán các chi phí thường xuyên, nhưng trong dài hạn có thể khiến cho doanh nghiệp mất đi các chi phí cơ hội dùng tiền để đầu tư vào các hoạt động sinh lời khác

Các khoản phải thu: Các khoản phải thu luôn là khoản mục chiếm tỷ trọng cao

nhất trong tổng tài sản ngắn hạn, năm 2011 là 40,78%, năm 2012 là 36,22% và năm

2013 là 50,59% Như vậy có nghĩa là một tỷ lệ rất lớn tài sản ngắn hạn của Công ty đang tồn đọng dưới dạng các khoản phải thu, bị khách hàng chiếm dụng Và mặc dù nhìn vào con số cụ thể, nhìn chung ta thấy trong ba năm phân tích, mặc dù tỷ trọng các khoản phải thu ngắn hạn có xu hướng chung là tăng nhưng đi vào sâu hơn ta thấy, năm

2013 quy mô các khoản phải thu năm 2013 đã giảm đi so với năm 2011 Điều này cho thấy Công ty đang có những biện pháp tích cực trong việc thu hồi công nợ Khoản phải thu năm 2011 đạt giá trị 4.942 triệu đồng, nhưng sang năm 2012 đã giảm xuống còn 3.594 triệu đồng, tương ứng giảm 27,28%; tuy nhiên, năm 2013, các khoản phải thu tại Công ty đã tăng nhẹ lên mức 3.892 triệu đồng, tương ứng tăng 8,29% Sự thay đổi theo

Ngày đăng: 01/06/2015, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính – PSG.TS. Nguyễn Năng Phúc – Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân – năm 2011 Khác
3. Tài sản thực và tài sản tài chính – Báo đầu tư chứng khoán – Bộ Kế hoạch và Đầu tư Khác
4. Tài chính doanh nghiệp hiện đại – PGS.TS. Trần Ngọc Thơ – Nhà xuất bản Thống Kê – năm 2003 Khác
5. Giáo trình Kế toán tài chính – GS.TS Ngô Thế Chi, TS. Trương Thị Thủy – Nhà xuất bản Tài chính Khác
6. Tài chính doanh nghiệp căn bản – PGS.TS. Nguyễn Minh Kiểu – Nhà xuất bản lao động xã hội năm 2013 Khác
7. Giáo trình Quản trị TCDN – NXB Kinh Tế Quốc Dân 8. Hồ sơ năng lực Công ty TNHH Dược phẩm Ngân Hà Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Mô hình Baumol - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Hình 1.2. Mô hình Baumol (Trang 6)
Hình 1.3. Mô hình EOQ - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Hình 1.3. Mô hình EOQ (Trang 9)
Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức của Công ty TNHH Dƣợc phẩm Ngân Hà - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức của Công ty TNHH Dƣợc phẩm Ngân Hà (Trang 27)
Bảng 2.1. Chỉ tiêu kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Dƣợc phẩm Ng n Hà - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 2.1. Chỉ tiêu kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Dƣợc phẩm Ng n Hà (Trang 30)
Bảng 2.2. Quy mô và cơ cấu tài sản tại Công ty trách nhiệm hữu hạn - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 2.2. Quy mô và cơ cấu tài sản tại Công ty trách nhiệm hữu hạn (Trang 33)
Bảng 2.3. Quy mô và cơ cấu nguồn vốn tại Công ty trách nhiệm hữu hạn - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 2.3. Quy mô và cơ cấu nguồn vốn tại Công ty trách nhiệm hữu hạn (Trang 34)
Bảng 2.7. Ph n tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 2.7. Ph n tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn (Trang 43)
Bảng 2.12. Hệ số thanh toán  ằng tiền - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 2.12. Hệ số thanh toán ằng tiền (Trang 50)
Bảng 3.1. Tiêu thức Character - Đặc điểm (C 1 ) - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 3.1. Tiêu thức Character - Đặc điểm (C 1 ) (Trang 63)
Bảng 3.2. Tiêu thức Capital - Vốn (C 2 ) - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 3.2. Tiêu thức Capital - Vốn (C 2 ) (Trang 64)
Bảng 3.3. So sánh với giá trị khả năng thanh toán của ngành - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 3.3. So sánh với giá trị khả năng thanh toán của ngành (Trang 64)
Bảng 3.4. Tiêu thức Capacity - Năng lực (C 3 ) - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 3.4. Tiêu thức Capacity - Năng lực (C 3 ) (Trang 65)
Bảng 3.6. Thủ tục thu nợ  Thời gian - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 3.6. Thủ tục thu nợ Thời gian (Trang 69)
Bảng 3.7. Bảng ph n loại tồn kho trong công ty  Loại hàng hóa  % số lƣợng  % giá trị  Loại - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 3.7. Bảng ph n loại tồn kho trong công ty Loại hàng hóa % số lƣợng % giá trị Loại (Trang 70)
Bảng 3.8. Kế hoạch quản lý hàng tồn kho - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH dược phẩm Ngân Hà
Bảng 3.8. Kế hoạch quản lý hàng tồn kho (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w