Là một ngườitrực tiếp làm công tác quản lý sinh viên, với mong muốn ứng dụng nhữngkiến thức đã học cao học cũng như với kinh nghiệm của bản thân, góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo và h
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, giáo dục và đào tạocủa mỗi quốc gia đóng vai trò then chốt, trọng yếu trong việc đào tạo nguồnnhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Trải qua gần 30 nămđổi mới, Đảng sớm thấy được vai trò to lớn của nguồn nhân lực đối với pháttriển kinh tế - xã hội và việc phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục vàđào tạo Đảng ta giáo dục và đào tạo coi cùng với khoa học và công nghệ là
quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của CNH, HĐH Cương lĩnh chính trị xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 2011 (tại
Đại hội XI) xác định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược” Đặc biệt, tháng
11 năm 2013, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” Trong đó, “phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt
Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”
Giáo dục Đại học có một sứ mệnh rất to lớn là đào tạo nguồn nhân lực
để phát triển đất nước theo yêu cầu của Đảng Giáo dục Đại học không chỉnghiêng về đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp mà phải hết sức chú ý đếngiáo dục đạo đức, lý tưởng làm người Muốn vậy Nhà trường Đại học phảicoi trọng quản lý công tác sinh viên, đây là một nhiệm vụ quan trọng, phứctạp, nặng nề có tác dụng mạnh mẽ đối với chất lượng đào tạo của các Trường đạihọc
Trường Đại học Hàng hải được thành lập theo Quyết định số
2624/QĐ-TC ngày 7 tháng 7 năm 1976 của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải Ngày 03tháng 7 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1056/QĐ-TTg vềviệc đổi tên Trường Đại học Hàng hải thành Trường Đại học Hàng hải ViệtNam Là một Trường công lập, tọa lạc tại Thành phố Hải Phòng, một thànhphố đang ra sức hội nhập, phát triển, một thành phố năng động nhưng cũng bịtác động thường xuyên của mặt trái cơ chế thị Trường Một Nhà trường cótính chất quản lý theo phương thức bán quân sự, có 2 khu KTX để sinh viên
Trang 2ở nội trú, gần 20% SV của Nhà trường ở trong KTX, do vậy, TrườngĐHHHVN luôn coi CTSV là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Nhàtrường chăm lo, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho SV trong học tập, nghiên cứu
và sinh hoạt, nhằm thực hiện mục tiêu là đào tạo con người phát triển toàndiện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và ý thức nghề nghiệp cao, trung thànhvới lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, sớm có khả năng đáp ứng thích nghivới yêu cầu và thực tiễn của ngành Hàng hải Quản lý CTSV được xây dựngtrên cở sở cụ thể hóa Thông tư, Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và
bổ sung thêm một số điều khoản để phù hợp với những đặc điểm của Nhàtrường bán quân sự
Từ năm 2010, Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) triển khai kiểm tra việcthực hiện các công ước quốc tế quy định về vấn đề đào tạo thuyền viên, việccấp các chứng chỉ có liên quan cho thuyền viên tại các cơ sở đào tạo có đápứng các yêu cầu đề ra trong công ước quốc tế không? Như vậy, việc rènluyện SV có tác phong quân sự của Trường ĐHHHVN ngày càng trở nên cấpthiết nhằm đáp ứng nhu cầu công việc trên các tàu trong khu vực và trên thế giới
Đã có các công trình nghiên cứu về việc nâng cao công tác QLSVnhằm theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của SV, tuy nhiên việcphân tích, đánh giá hiện trạng và đề ra giải pháp nhằm QLSV nội trú tạiTrường ĐHHHVN thì chưa có công trình nào được công bố Là một ngườitrực tiếp làm công tác quản lý sinh viên, với mong muốn ứng dụng nhữngkiến thức đã học cao học cũng như với kinh nghiệm của bản thân, góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả quản lý của Nhà trường, vì vậy, tôi
chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và kết quả khảo sát, đánh giá thực trạngquản lý CTSV ở Trường ĐHHHVN, nghiên cứu đề xuất các biện pháp QLSVnội trú tại Trường ĐH nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác QLSV, góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo của Trường
Trang 33 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận về QLSV nội trú tại các Trường ĐH.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác QLSV nội trú ở Trường
ĐHHHVN
- Đề xuất các biện pháp QLSV nội trú tại Trường ĐHHHVN
- Thăm dò tính khả thi của biện pháp QLSV nội trú.
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: CTSV ở Trường ĐH.
- Đối tượng nghiên cứu: QLSV nội trú tại Trường ĐHHHVN.
5 Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau:
- QLSV gồm những nội dung nào? Nói cách khác đề tài phải làm rõ cácnội dung trong QLSV nội trú
- Để đảm bảo hiệu quả trong quản lý CTSV nội trú có cần thiết phải cócác biện pháp quản lý phù hợp hay không và biện pháp như thế nào thì hợp lý
và có tính khoa học?
6 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, nếu có các biện pháp quản lý CTSV nội trú phù hợp với quyluật khách quan, xây dựng và triển khai đồng bộ thì sẽ góp phần nâng caohiệu quả quản lý CTSV nội trú ở Trường ĐHHHVN
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài giới hạn ở phạm vi học tập và rèn luyện tại KTX của SV nội trú
- Khảo sát và sử dụng số liệu từ năm 2009 trở lại đây
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Hệ thống hóa các lý luận QLSV nội trú, chỉ ra những
bài học thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để có đề xuất cácbiện pháp QLSV
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các
Trường ĐH khác đang quản lý sinh viên Luận văn là tài liệu tham khảo có giátrị cho các nhà quản lý giáo dục
Trang 49 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích tổ hợp các công
trình khoa học về QLSV và biện pháp quản lý CTSV; các văn kiện của Đảng,chính sách, pháp luật của nhà nước, Quy chế, Quy định của Bộ Giáo dục vàĐào tạo, Bộ Giao thông vận tải
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra bằng
phiếu hỏi; quan sát, khảo sát thực tế; phương pháp tham vấn chuyên gia;
phương pháp phỏng vấn, trao đổi giữa cán bộ quản lý và SV.
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin nghiên cứu: Phương pháp sử dụng
các ứng dụng tin học, toán thống kê; phương pháp phân tích, so sánh, tổnghợp
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụlục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sinh viên ở các Trường Đại học Chương 2: Thực trạng công tác quản lý sinh viên nội trú tại Trường
Đại học Hàng hải Việt Nam
Chương 3: Các biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học
Hàng hải Việt Nam
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người, được thực hiện mộtcách tự giác, vượt qua ngưỡng “tập tính” của các giống loài động vật bậcthấp khác Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đờicủa hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáodục và từ đó cũng xuất hiện khoa học về QLGD Người học vừa là đốitượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo Để nâng cao chất lượng đào tạongoài việc xem xét các yếu tố người dạy, nội dung, chương trình, cơ sở vậtchất thì không thể không nghiên cứu trực tiếp là đối tượng người học.Xung quanh vấn đề người học có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu trong đó
có vấn đề người học trong quá trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục ở trongKNT
Năm 1997, Bộ GD&ĐT ban hành “Quy chế học sinh, SV nội trú trongcác Trường ĐH, cao đẳng, TCCN” nhằm quy định rõ trách nhiệm và quyềnhạn của các Trường trong việc tổ chức quản lý KNT, quyền và nghĩa vụcủa học sinh, SV trong các khâu liên quan đến việc ăn, ở, học tập, sinhhoạt trong khuôn viên nội trú của các trường đào tạo
Để phù hợp với mục tiêu đào tạo trong tình hình mới, ngày 18 tháng
10 năm 2002, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ký Quyết định số BGD&ĐT về việc sửa đổi bổ xung công tác HSSV nội trú
41/2002/QĐ-Trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước, quy chế về công tácHSSV của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đàotạo, các quy chế về QLSV nội trú, ngoại trú; Quy chế đánh giá kết quả rènluyện của SV, các văn bản về việc thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục đốivới SV diện đối tượng chính sách, chế độ miễn giảm học phí
Ngày 26/7/2011 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Thông tư số27/2011/TT-BGD&ĐT về việc Ban hành Quy chế công tác HSSV nội trú
Trang 6tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Thông tư này cóhiệu lực thi hành ngày 10 tháng 8 năm 2011 và thay thế Quyết định số2137/GD-ĐT ngày 29/6/1997 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo vềviệc ban hành Quy chế công tác HSSV nội trú trong các Trường ĐH, Caođẳng, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; Quyết định số 41/2002/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 10 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đàotạo.
Trước đây, phần lớn SV đến học tại các Trường ĐH, Cao đẳng hầu hếtđều được ở trong KTX nhưng hiện nay nhu cầu ở KTX của SV tại các cơ sởGDĐH không đáp ứng được vì quy mô đào tạo của các Trường ĐH, Cao đẳngtrong những năm gần đây phát triển không ngừng Vấn đề nghiên cứu về quản
lý SV nội trú ít được đề cập; có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu liên quanđến việc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các bậc học khác nhau như:Nguyễn Hữu Hợp (chủ biên), Nguyễn Dục Quang - “Công tác giáo dục ngoàigiờ lên lớp ở Trường tiểu học” (Giáo trình dành cho hệ tại chức đào tạo giáoviên tiểu học) - Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, Hà Nội, 1995
Quản lý SV nội trú là vấn đề mới chưa được nghiên cứu nhiều tuy nhiên
có một số tác giả nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau về quản
lý người học Có thể kể đến các công trình sau: Đề tài luận văn thạc sỹ
QLGD: “Biện pháp quản lý học sinh nội trú ở Trường trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ Hải Phòng” của Nguyễn Thị Xuân năm 2011 đã đánh giá thực
trạng công tác quản lý học sinh nội trú tại Trường Trung cấp kỹ thuật nghiệp
vụ Hải Phòng và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao công tác quản
lý đối với SV nội trú; Đối với đề tài nghiên cứu việc QLSV nội trú vùng miền
núi phía bắc có công trình nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình: “Biện pháp QLSV nội trú ở Trường CĐSP Yên Bái” năm 2012 đã đánh giá thực trạng
công tác quản lý SV nội trú của Trường CĐSP Hòa Bình và đề xuất một sốgiải pháp thích hợp nâng cao biện pháp quản lý SV nội trú; luận văn thạc sĩ
QLGD: “Biện pháp quản lý CTSV tại Trường Cao đẳng du lịch Hà Nội” của
tác giả Nguyễn Huyền Trang năm 2012 đề cập đến một số biện pháp hoànthiện công tác QLSV tại Trường Cao đẳng du lịch Hà Nội Một số nghiên cứutrên đã tìm hiểu thực trạng công tác QLSV trên nhiều lĩnh vực của các Nhà
Trang 7trường và đề xuất các biện pháp quản lý, góp phần vận dụng những hiểu biết
về quản lý, quản lý giáo dục vào công tác QLSV trong các Trường ĐH, caođẳng để từng bước nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo theo yêu cầuphát triển và hội nhập của đất nước
Công tác học sinh, SV là một trong những nội dung quan trọng trongviệc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Nhà trường Muốn phát triểnkinh tế - xã hội thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược pháttriển toàn diện con người Ở Việt Nam hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tếthị trường, đời sống vật chất của dân ta được cải thiện và ngày càng đượcnâng cao, nhân cách của con người đã có những biến đổi, bên cạnh mặt tíchcực cũng có những mặt tiêu cực, có ảnh hưởng đến công tác giáo dục trongNhà trường Tình trạng suy thoái về lối sống, đạo đức của một bộ phận SV,ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chán học, hay bỏ học, động cơ học tậpchưa rõ ràng, các tệ nạn xã hội len lỏi vào Nhà trường, đây cũng là một trongnhững vấn đề xã hội trong thời gian gần đây
Những nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác QLSV trong
đó có QLSV nội trú và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý Tuy nhiênnhững nghiên cứu cụ thể áp dụng trong những môi trường cụ thể, của từngTrường trong khi đó công tác quản lý SV nội trú lại phụ thuộc vào đặc thùcủa từng Nhà trường
Trường ĐHHHVN cũng gặp phải vấn đề trong công tác quản lý SVnhư các Trường khác nói chung nhưng xuất phát từ đặc điểm riêng củaTrường nên không thể áp dụng biện pháp quản lý của một Trường khác Do
vậy, vấn đề “Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam” là vấn đề cần được nghiên cứu.
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người và hoạtđộng ngày càng phát triển trong xã hội Trong quá trình lãnh đạo, đấu tranhvới thiên nhiên để sinh tồn và phát triển, con người cần phải hợp sức nhau lại
để tự bảo vệ và kiếm kế sinh sống Những hoạt động tổ chức, chỉ đạo, điềukhiển các hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu chung là
Trang 8những dấu hiệu đầu tiên của quản lý.
Như vậy, hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm và trải qua tiến trìnhphát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, thì hoạt động quản lý cũngngày càng phát triển, hoàn thiện và trở thành một hoạt động phổ biến
F.W Taylor và Henri Fayol thường được xem là cha đẻ của thuyết quản
lý khoa học Các ông đã khẳng định hoạt động quản lý ở bất kỳ tổ chức nàocũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổchức, chỉ đọa và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin Khoa họcquản lý phát triển khá mạnh trong giai đoạn cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI
và nhiều quan điểm mới đã xuất hiện
Còn nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung,thuật ngữ “quản lý”, có thể nêu một số định nghĩa như sau:
- Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về quản lý: Quản lý xã hội mộtcách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộhay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức vàvận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảocho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra
- Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái
đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất (William - Tay Lor)
- Chủ tịch Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm riêng nào về quản lý,
nhưng bằng những lời dạy của Người, đặc biệt qua tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, viết tại chiến khu Việt Bắc năm 1947, “Ngục trung nhật ký” viết năm
1942 - 1943, và một số bài nói; Đặc biệt là tấm gương đạo đức ứng xửu củaNgười trong suốt cuộc đời, Người đã tạo nên một tập “Đại thành” về quản lý.Với Hồ Chí Minh: Quản lý là sự đi thức tỉnh tâm hồn con người (mỗi conngười đều có cái thiện, cái ác trong người, ta phải làm thế nào cho phần thiệntốt tươi như hoa mùa xuân và phần xấu mát dần đi); Quản lý phải đúng vàkhéo; Quản lý phải cần song phải cẩn (Cần là siêng năng, cẩn là cẩn thận)
- Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả NguyễnQuốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đếnmục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạchhóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [3, tr 1]
Trang 9- Tác giả Đặng Xuân Hải - Nguyễn Sỹ Thư: Quản lý là một hoạt độngthiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạtđược mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành mộtmôi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhómvới thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
- Quản lý là dạng dao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổnghợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất,điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng đểtạohiệu quả quản lý (Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính quốc gia)
- Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tácđộng vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mụctiêu đã đề ra (Nguyễn Văn Lê - ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
- Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là sự tácđộng có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đếnkhách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chứcvận hành và đạt được mục đích của tổ chức” Cũng theo đó các tác giả cònphân định rõ hơn về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổchức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức,chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [10, tr 1]
- Trong cuốn: “Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng
Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí, cho rằng: “Hoạt động quản
lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra tính đến trạng thái cóchất lượng mới” [3, tr 176]
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về quản
lý, song một cách tổng quát nhất có thể khái quát: Quản lý là cách thức tácđộng (sự tác động có tổ chức, có mục đích ) của chủ thể quản lý lên chủ thể
bị quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức nguồn nhân lực, tài lực vàvật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hoặc người quản lý nhằm sửdụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mụcđích trong điều kiện môi trường luôn biến động
* Chức năng quản lý:
- Lập kế hoạch (thiết kế mục tiêu, chương trình hành động)
Trang 10- Tổ chức thực hiện (phân công công việc, sắp xếp con người).
Có bốn chức năng cơ bản của quản lý liên quan mật thiết với nhau, đólà: lập kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo thực hiện; kiểm tra đánh giá, trong đó thôngtin là trung tâm của quản lý
Bốn chức năng trên quan hệ với nhau tạo thành một chu trình quản lý,được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý
- Lập kế hoạch: Bao gồm việc xác định sứ mệnh, nhiệm vụ, dự báo xu
hướng trong tương lai của tổ chức trên cơ sở thu thập và phân tích các thôngtin và điều kiện thực tế của tổ chức Từ đó, xác định các mục tiêu, các kếhoạch mang tính chiến lược, chiến thuật dựa trên việc tính toán về điềukiện thực tế các nguồn lực của tổ chức và xây dựng các giải pháp thựchiện Thực chất của việc lập kế hoạch là xác định mục tiêu của tổ chức vàcách thức hoạt động, thực hiện của tổ chức để đặt được mục tiêu đó trongđiều kiện nhất định
- Tổ chức: Chức năng này được xem như là công cụ của quản lý và có ý
Kế hoạch
Thông tin quản lý
Chỉ đạo
Trang 11nghĩa quan trọng nhất trong hoạt động quản lý Hoạt động quản lý có đạtđược mục tiêu hay không, có thực hiện được kế hoạch hoặc không thì côngtác tổ chức giữ vai trò quyết định, đó chính là việc sắp xếp, lựa chọn cácnguồn lực và xây dựng một cơ cấu hợp lý dựa trên việc phân tích các nhiệm
vụ nhằm thực hiện được kế hoạch mục tiêu đã đề ra
- Lãnh đạo: Việc thống nhất một đường lối hành động mà mọi bộ phận
của tổ chức phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu cần thiết Tuynhiên, để thực hiện được mục tiêu này thì chức năng lãnh đạo của nhà quản lýphải được thực hiện một cách có hiệu quả Đó là quá trình điều hành, điềukhiển người bị lãnh đạo hoạt động theo sự lãnh đạo thống nhất thông qua việchướng dẫn, động viên giúp cho họ nhiệt tình, hăng say và có ý thức tự giácsáng tạo, hoàn thành các công việc được giao
- Kiểm tra: Đối với hoạt động quản lý thì kiểm tra, đánh giá là khâu
quan trọng, then chốt giúp nhà quản lý đánh giá được kết quả thực hiện mụctiêu kế hoạch trên cơ sở so sánh với các tiêu chuẩn theo quy định Mặt khác,kiểm tra đánh giá cũng giúp cho các nhà quản lý phát hiện được những hạnchế của hệ thống để kịp thời điều chỉnh hoạt động và trong những Trường hợpcần thiết có thể phải điều chỉnh cả mục tiêu để thông qua việc điều chỉnh kếhoạch, tổ chức, lãnh đạo để hoạt động quản lý đạt được mục tiêu quản lý
Bên cạnh 4 chức năng cơ bản của quản lý, còn rất nhiều vấn đề liênquan khác như: Dự đoán; động viên; điều chỉnh, đánh giá, thông tin phản hồi,
ra quyết định Các chức năng cơ bản của quản lý tạo thành một hệ thốngthống nhất, không được coi nhẹ một chức năng nào Để các chức năng củaquản lý vận hành có hiệu quả, vấn đề thông tin đóng vai trò là trung tâm; tất
cả các chức năng của quản lý thực hiện được đều phải đảm bảo sự thu thậpthông tin; phân tích thông tin và ra quyết định quản lý cho đúng đắn Vì thôngtin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đềcủa một quá trình quản lý tiếp theo
Công tác kiểm tra có 3 yếu tố cơ bản:
+ Xây dựng chuẩn kiểm tra
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn kiểm tra
+ Điều chỉnh hoạt động hoặc điều chỉnh mục tiêu (trong Trường hợp
Trang 12cần thiết).
- Ngoài 4 chức năng quản lý cơ bản trên, trong thực hiện quá trình quản
lý không thể không đề cập đến thông tin quản lý và quyết định quản lý
+ Thông tin quản lý là những dữ liệu về tình hình thực hiện cácnhiệm vụ đã được xử lý giúp người quản lý hiểu đúng về đối tượng quản
lý mà họ đang quan tâm để phục vụ cho việc đưa ra các quyết định quản
* Phương pháp quản lý: Phương pháp quản lý là cách thức tác động của
chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đặt ra Trongquản lý hiện đại, phương pháp quản lý được đúc kết từ nhiều lĩnh vực khácnhau của khoa học xã hội và khoa học hành vi Phương pháp quản lý rấtphong phú, đa dạng và tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng cácphương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau
- Phương pháp thuyết phục: là phương pháp dùng lý lẽ để tác động đếnnhận thức của con người
- Phương pháp kinh tế: là sự tác động của chủ thể đến đối tượng thôngqua các lợi ích kinh tế
- Phương pháp hành chính tổ chức: là cách thức tác động của chủ thể tớiđối tượng trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính
- Phương pháp tâm lý, giáo dục: đây là cách thức tác động đến đối tượngthông qua tâm lý, tình cảm, tư tưởng
1.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền
đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ cógiáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc vànhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người khôngngừng tiến lên 41, tr 9
Trang 13Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý xã hội, tức là quản lý mọi hoạtđộng giáo dục trong xã hội.
Có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về quản lý giáo dục theo cách tiếp cậnkhác nhau:
Theo tác giả Khuđôminski: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống,
có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khácnhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dụccộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòacủa họ Trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có củaCNXH cũng như những quy luật khách quan của quá trình dạy học - giáo dục,của sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên cũng như thanhniên” [22, tr 10]
Có tác giả nói: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điềuhành, phối hợp các lực lượng trong xã hội nhằm thúc đẩy mảng công tác đàotạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Bên cạnh đó có tác giả cho quản
lý giáo dục là quản lý Trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảngtrong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa Nhà trường vận hành theonguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối vớingành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh Từ các quan điểm trên cóthể khái quát rằng: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sựđiều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiệnmục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Quản lý giáodục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnhcông tác giáo dục và đào tạo thể hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời luôn coi trọng giáo dục, Người đã dàycông chỉ đạo và xây dựng nền giáo dục Việt Nam phát triển trong sự gắn bóvới quá trình bảo vệ đất nước, xây dựng nền văn hóa mới, nền kinh tế mới.Với sự chỉ đạo của Người, Việt Nam đã xây dựng nhanh được nền giáo dụctoàn dân, quán triệt tính dân tộc, tính đại chúng, tính nhân văn, tính khoa họcvới mục tiêu cao cả là phát triển giáo dục vì lợi ích của đất nước, lợi ích củangười học Tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành cơ sở lý
Trang 14luận cho đường lối chính sách giáo dục, cho sự phát triển khoa học giáo dụcViệt Nam, cho việc phát triển Nhà trường Tư tưởng của Người là kim chỉ namcho quan điểm hành động của mỗi cán bộ giáo dục từ người điều hành vĩ mô,người làm chính sách giáo dục, người quản lý Nhà trường đến mỗi thầy côgiáo trên bục giảng Do đó công tác quản lý giáo dục càng cần được coi trọng.Nói một cách khái quát: Quản lý giáo dục là một hiện tượng xã hội, đồngthời là một dạng lao động đặc biệt, mà những nét đặc trưng của nó là tính tíchcực sáng tạo, năng lực vận dụng những tri thức đã có để đạt mục đích đặt ra
có kết quả là sự cải biến hiện thực Do đó chủ thể quản lý phải biết sử dụngkhông chỉ những chuẩn mực pháp quyền, mà còn sử dụng cả những chuẩnmực đạo đức, xã hội, tâm lý nhằm đảm bảo sự thống nhất và những mối
quan hệ trong quá trình quản lý [23, tr 18].
Chính sách quản lý nhà nước về giáo dục được quy định tại Điều 14 củaluật giáo dục năm 2005 là: Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dụcquốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩnnhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chấtlượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp QLGD, tăng cường quyền tựchủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục
Quản lý giáo dục có những đặc trưng sau đây:
- Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên quản
lý giáo dục không phải dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm, cũngnhư không được phép tạo ra phế phẩm
- Quản lý giáo dục chú ý đến sự khác biệt giữa đặc điểm sư phạm so vớilao động xã hội nói chung
- Quản lý giáo dục đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tínhthống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính phát triển
- Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, quản lý giáo dục phải quán triệtquan điểm vì quần chúng [32, tr 7]
Tuỳ theo việc xác định đối tượng quản lý mà quản lý giáo dục có nhiềucấp độ khác nhau cả về tầm vĩ mô và tầm vi mô Ở tầm vĩ mô, người tathường nói đến quản lý hệ thống giáo dục quốc dân ở tầm quốc gia, trongphạm vi một cơ sở giáo dục, người ta thường nói đến quản lý Nhà trường hay
Trang 15còn gọi là quản lý Trường học.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thànhlập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáodục Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệthống giáo dục quốc dân
Nhà trường là thiết chế xã hội, là một tổ chức chuyên biệt trong xã hộithực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và pháttriển của xã hội bằng các con đường giáo dục cơ bản
Quản lý Nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt liênquan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi Nhà trường Đó là một hệ thốngnhững hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lýgiáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra trong từng giai đoạn phát triển củađất nước
Quản lý Nhà trường là một khoa học được thực hiện trên những quy luậtchung của khoa học quản lý, đồng thời có nét đặc thù riêng Đó cũng là nhữngnét quy định của bản chất của sự lao động
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý Nhà trường ở Việt Nam làthực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm củamình, tức là đưa Nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tớimục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ
và từng học sinh” [17, tr 34]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý Nhà trường là quản lý
Trang 16quá trình dạy và quá trình học, tức là đưa hoạt động đó từ trạng thái này sangtrạng thái khác để dần dần tiến tới mục đích giáo dục” [26, tr 34]
Lao động ở môi trường giáo dục là lao động sư phạm của người giáoviên mà đối tượng tác động chính là học sinh Học sinh vừa là chủ thể, kháchthể của hoạt động dạy và hoạt động Sản phẩm đào tạo của Nhà trườngchính là nhân cách, phẩm chất Nói cách khác quản lý Nhà trường chính làquá trình tổ chức giáo dục và đào tạo nhằm hoàn thiện và phát triển nhâncách của học sinh một cách khoa học, có hiệu quả, đạt chuẩn để đáp ứngnhu cầu ngày càng cao của xã hội Vậy bản chất của quản lý Nhà trường làquản lý hoạt động dạy và hoạt động học, tức là tác động làm sao đưa hoạtđộng đó từ trạng thái này tới trạng thái khác để dần tiến tới hoàn thành mụctiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo trên phạm vi của một Trường
1.2.4 Sinh viên và sinh viên nội trú
Sinh viên
Điều 83 Luật giáo dục năm 2005 quy định: Người học là người đang họctập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân Người học bao gồm:a) Trẻ em của cơ sở giáo dục mầm non;
b) Học sinh của cơ sở giáo dục phổ thông, lớp dạy nghề, trung tâm dạynghề, Trường trung cấp, Trường dự bị ĐH;
c) SV của Trường Cao đẳng, Trường ĐH;
d) Học viên của cơ sở đào tạo thạc sỹ;
đ) Nghiên cứu sinh của cơ sở đào tạo tiến sỹ;
e) Học viên theo học chương trình giáo dục thường xuyên
Như vậy, SV là người đang học tại các Trường ĐH và cao đẳng [38, tr.116] SV là một trong các thành tố quan trọng, là yếu tố trung tâm của quátrình giáo dục [38, tr 19]
Như vậy, tất cả những người học ở bậc Cao đẳng và ĐH đều được gọi
là SV
Ngày nay, “Học, học nữa, học mãi” (V.I.Lênin) là khẩu hiệu của toàn xãhội và học tập là công việc suốt đời Các Trường Cao và ĐH mở rộng cửa chotất cả những ai có nguyện vọng và điều kiện không phân biệt lứa tuổi, giớitính, giàu nghèo đều có thể học bằng nhiều con đường, hình thức khác
Trang 17nhau: chuyên tu, tại chức, văn bằng 2 Do đó, với khái niệm SV như trên thìngoại diên của nó rất rộng.
Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu với đối tượng là
SV hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này như sau:
- Đó là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông
- Người đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh vào Trường ĐH và đỗ vào Trường
- Người thuộc nhóm thanh niên, nam nữ từ 18 đến 25 tuổi
- Người chưa có nghề nghiệp, việc làm xác định do đó còn lệ thuộc giađình về kinh tế
- Người là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ cáctầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệpchuyên môn để bước vào một nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ
Sinh viên nội trú
SV nội trú là những SV ĐH hệ chính quy đang học tập tại Trường, hiệnđang ở trong KNT của Trường SV đăng ký ở nội trú nếu số người có nguyệnvọng vào ở nội trú lớn hơn khả năng tiếp nhận của KNT thì thứ tự ưu tiêntheo đối tượng HSSV như sau:
1 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh hùng lao động, thươngbinh bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, SV khuyết tật
2 Con liệt sỹ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởngchính sách thương binh, con của người có công
3 SV có hộ khẩu thường trú tại vùng cao, vùng có điều kiện kinh tế xãhội đặc biệt khó khăn
4 Người cha hoặc người mẹ là dân tộc thiểu số
5 Con mồ côi cả cha lẫn mẹ
6 SV là con hộ nghèo, cận nghèo theo quy định hiện hành của nhà nước
Trang 181.2.5 Biện pháp quản lý sinh viên nội trú
Biện pháp quản lý SV nội trú là nội dung, cách thức giải quyết vấn đề
SV nội trú của Nhà trường cùng những lực lượng ngoài Nhà trường có liênquan đến SV nội trú nhằm hình thành nhân cách của SV theo yêu cầu, mụctiêu đào tạo
Chủ thể chính thực hiện biện pháp quản lý SV nội trú là phòng CTSV,BQL KNT, chịu trách nhiệm phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong Nhàtrường, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội SV, các khoa, bộ môn chuyên môn,chính quyền địa phương nhằm thực hiện các biện pháp quản lý do mìnhhoạch định đối với đối tượng chịu quản lý là SV nội trú theo yêu cầu của côngtác này
Để đạt các mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý phải tổ chức, phối hợp,khích lệ động viên, dẫn dắt, định hướng hoạt động của đối tượng quản lý vàomục tiêu đã được xác định trước thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụquản lý
Như vậy, xét cho cùng thì biện pháp quản lý SV nội trú chính là một loạicông cụ quản lý, nhằm từng bước đưa SV nội trú đi đến mục tiêu của công tác
SV nội trú Bởi công cụ quản lý là những phương tiện, những giải pháp củachủ thể quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hòa, phối hợp hoạtđộng của con người và cộng đồng trong việc đạt được mục tiêu đề ra
1.3 Công tác quản lý sinh viên ở các trường Đại học
1.3.1 Vị trí, vai trò của công tác quản lý sinh viên trong các trường Đại học
CTSV là một trong những công tác trọng tâm của Nhà trường Trườngchăm lo, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho SV trong học tập, nghiên cứu và sinhhoạt, nhằm thực hiện mục tiêu là đào tạo con người phát triển toàn diện, cóđạo đức, tri thức, sức khỏe và ý thức nghề nghiệp cao, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và CNXH, sớm có khả năng đáp ứng, thích nghi vớiyêu cầu và thực tiễn lao động sản xuất
CTSV phải thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước, các quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo và các quy định kháccủa Trường
Trang 19CTSV phải đảm bảo khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, dânchủ trong các khâu có liên quan đến SV.
Trong số những người được giáo dục - đào tạo để có thể đủ sức làm chủnền khoa học, cộng nghệ hiện đại của đất nước sau này thì SV là người tiêubiểu, là những người đang được đầu tư, đang được đào tạo trong Nhà trườngmột cách có hệ thống Đó là nguồn lực con người lao động có chất lượng vàtrình độ cao, có chuyên môn sâu, là lực lượng ưu tú về học vấn trong thanhniên, được Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, gia đình và toàn thể xã hộiquan tâm chăm sóc và đặt nhiều tin tưởng, hy vọng
Trong lĩnh vực diáo dục và đào tạo nói chung và trong các Trường ĐH,Cao đẳng nói riêng thì công tác quản lý SV góp phần hỗ trợ tích cực chogiảng dạy (thầy) và học tập (trò), cũng như đảm nhận mọi mặt của công tácquản lý Quản lý SV từ các khâu hành chính, giáo vụ, đến giáo dục ngoài giờlên lớp giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức và tổ chức phong trào SV (kếthợp với Đoàn Thanh niên, Hội SV ) sẽ hỗ trợ và tạo điều kiện về vật chất vàtinh thần học tập để SV rèn luyện trở thành nguồn nhân lực có chất lượng vàtrình độ cao Công tác quản lý SV có ý nghĩa quyết định trong việc đổi mới vàphát triển bền vững yếu tố con người về chất lượng nhận thức, tri thức vàhành động Quản lý SV là mảng công tác trọng tâm thiết yếu của nền giáo dục
ĐH trong việc đảm bảo kỷ cương pháp luật Nhà trường và rèn luyện SV.Công tác này do Phòng (Ban) chính trị và công tác SV (hoặc Phòng Quản lýSV), Phòng (Ban) đào tạo phụ trách (đơn vị tham mưu cho Ban Giám hiệutrong công tác SV)
1.3.2 Nội dung của quản lý sinh viên trong các trường Đại học
SV là nhân vật trung tâm trong Nhà trường Vì vậy, cần phải quản lýđược đối tượng này theo mục đích quản lý để hướng SV vào mục tiêu đào tạocủa Nhà trường Chính vì vậy, bên cạnh công tác đào tạo thì công tác quản lý
SV là một hoạt động lớn của Nhà trường
Nội dung CTSV được tập trung vào các nội dung chính như sau:
* Công tác tổ chức hành chính
1 Tổ chức tiếp nhận thí sinh trúng tuyển vào học theo quy định của BộGiáo dục và Đào tạo và Nhà trường, sắp xếp bố trí vào các lớp khóa học; chỉ
Trang 20định Ban cán sự lớp lâm thời (lớp trưởng, lớp phó) trong thời gian đầu khoáhọc; làm thẻ cho SV
2 Tổ chức tiếp nhận SV vào ở tại KNT theo quy định
3 Thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý hồ sơ của SV
4 Tổ chức phát bằng tốt nghiệp cho SV
5 Giải quyết các công việc hành chính có liên quan cho SV
* Công tác tổ chức, quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của sinh viên
1 Theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của SV; phân loại, xếploại SV cuối mỗi học kỳ và cuối mỗi năm học, khoá học; tổ chức thi đua,khen thưởng cho tập thể và cá nhân SV đạt thành tích cao trong học tập và rènluyện; xử lý kỷ luật đối với SV vi phạm quy chế, nội quy
2 Tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân SV” vào đầu khoá học, định kỳhàng năm theo kế hoạch và cuối khóa học Tổ chức đối thoại định kỳ giữaHiệu trưởng Nhà trường, Trưởng các khoa chuyên môn trực tiếp QLSV
3 Tổ chức cho SV tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, thiOlympic các môn học, tham gia các câu lạc bộ học thuật và các hoạt độngkhuyến khích học tập khác
4 Tổ chức triển khai công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống cho SV; tổ chức cho SV tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ,TDTT và các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác
5 Theo dõi công tác phát triển Đảng trong SV; tạo điều kiện thuận lợicho SV tham gia tổ chức Đảng, các đoàn thể trong Trường ; phối hợp vớiĐoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội SV và các tổ chức chính trị - xã hội khác cóliên quan trong các hoạt động phong trào của SV, tạo điều kiện cho SV cómôi trường rèn luyện, phấn đấu
6 Tổ chức tư vấn về học tập, nghề nghiệp và việc làm cho SV Tổ chứcgặp mặt giữa các nhà tuyển dụng lao động với SV
* Công tác y tế, thể thao
1 Tổ chức thực hiện công tác y tế Trường học; tổ chức khám sức khoẻcho SV khi vào nhập học; chăm sóc, phòng chống dịch, bệnh và khám sứckhoẻ định kỳ cho SV trong thời gian học tập theo quy định; xử lý nhữngTrường hợp không đủ tiêu chuẩn sức khoẻ để học tập Đối với SV ngành đi
Trang 21biển, khi nhập học nếu không đủ tiêu chuẩn sức khoẻ theo yêu cầu thì Nhàtrường sẽ bố trí chuyển sang ngành học khác cùng nhóm ngành tuyển sinh.
2 Tạo điều kiện cơ sở vật chất cho SV luyện tập thể dục, thể thao; tổchức cho SV tham gia các hoạt động thể dục, thể thao
3 Tổ chức nhà ăn tập thể cho SV bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
* Thực hiện các chế độ, chính sách đối với sinh viên
1 Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đốivới SV về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, bảo hiểm y tế, tín dụng đào tạo
và các chế độ khác có liên quan đến SV
2 Tạo điều kiện giúp đỡ SV tàn tật, khuyết tật, SV diện chính sách, SV
có hoàn cảnh khó khăn theo quy định của Nhà nước
* Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự, an toàn, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội
1 Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương trên địa bànThành phố Hải Phòng, các quận, huyện, các phường lân cận Trường có SVnội trú xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn choSV; giải quyết kịp thời các vụ việc liên quan đến SV
2 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông,phòng chống tội phạm, ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS và các hoạt động khác
có liên quan đến SV; hướng dẫn SV chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế
3 Tư vấn pháp lý, tâm lý, xã hội cho SV
* Thực hiện công tác quán lý sinh viên nội trú, ngoại trú
1 SV sống tại KNT thực hiện theo quy chế QLSV nội trú của Nhàtrường BQL KNT cùng với các đơn vị chức năng của Nhà trường có tráchnhiệm kiểm tra, đôn đốc để đảm bảo an ninh, trật tự nội vụ, vệ sinh tại KNT
2 CTSV nội trú thực hiện theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục vàĐào tạo và các quy định phân cấp hiện hành của Nhà trường Trưởng phòngCTSV, Trưởng BQL KNT chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về việc tổchức quản lý, theo dõi và kiểm tra việc học tập, ăn, ở của SV nội trú; phối hợpvới các đơn vị chức năng của Nhà trường, với chính quyền và công an địaphương giải quyết các vụ việc có liên quan đến SV nội trú
1.4 Công tác quản lý sinh viên nội trú trong các trường Đại học
Trang 221.4.1 Mục đích của công tác quản lý sinh viên nội trú trong các trường Đại học
Theo Quy chế công tác HSSV nội trú tại các cơ sở giáo dục thuộc hệthống giáo dục quốc dân do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theoThông tư số 27/2011/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 6 năm 2011 thì công tác SVnội trú trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nhằm cácmục tiêu sau:
- Góp phần rèn luyện SV nội trú thực hiện nhiệm vụ của người học theoquy định của Luật giáo dục, điều lệ Nhà trường và quy chế cụ thể của từngTrường
Mục tiêu cuối cùng của công tác quản lý SV nói chung và công tác quản
lý SV nội trú nói riêng là hướng SV vào hoạt động học tập và rèn luyện đểthực hiện mục tiêu đào tạo của Nhà trường
- Xây dựng nề nếp kỷ cương trong việc quản lý SV nội trú: bảo đảm nắmbắt kịp thời thực trạng SV nội trú
Thực trạng SV nội trú tương đối phức tạp: Các hoạt động của SV ra sao,diễn biến tư tưởng như thế nào, đời sống ăn ở có những khó khăn, thuận lợigì Công tác quản lý SV nội trú đòi hỏi phải nắm bắt được thực trạng này để
có những biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm hướng các em vào việc thựchiện tốt nhiệm vụ của người học
- Ngăn chặn, đẩy lùi, xóa bỏ cơ bản những biểu hiện tiêu cực, khônglành mạnh trong SV nội trú, đặc biệt là các tệ nạn xã hội
Với môi trường sống đông đúc, với những suy nghĩ giản đơn của tuốitrẻ, thường xuyên chịu ảnh hưởng của những mặt trái của nền kinh tế thịtrường, do vậy nguy cơ bị nhiễm các tệ nạn xã hội và có những biểu hiện tiêucực, không lành mạnh trong SV nội trú là không thể tránh khỏi Vì vậy côngtác quản lý SV nội trú phải nhằm mục đích là ngăn chặn, đẩy lùi, xóa bỏ cơbản những biểu hiện tiêu cực không lành mạnh trong SV nội trú, đặc biệt làcác tệ nạn xã hội
1.4.2 Nội dung quản lý sinh viên nội trú
Điều 8 Tiếp nhận sinh viên vào ở nội trú
Trang 23Căn cứ đơn xin ở nội trú của SV viết theo mẫu của Nhà trường : đốitượng ưu tiên theo quy định tại Điều 4 có xác nhận hợp lệ kèm theo và điềukiện của KNT, Nhà trường xem xét, ký hợp đồng xắp xếp chỗ ở nội trú vớiSV.
Điều 9 Công tác quản lý sinh viên nội trú
1 Phổ biến các quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo và nội quy của Nhàtrường về công tác SV nội trú
2 Làm thủ tục đăng ký tạm trú cho SV ở nội trú với công an xã (phường,thị trấn) hoặc hướng dẫn SV làm thủ tục đăng ký tạm trú theo quy định hiệnhành của pháp luật
3 Lập sơ đồ các phòng ở và lập sổ theo dõi SV nội trú theo mẫu quyĐịnh (tại Phụ lục số II của Quy chế này), cập nhật đầy đủ, kịp thời việc thayđổi chỗ ở của SV nội trú
4 Phân công cán bộ trực trong KNT 24/24 giờ trong ngày để giải quyếtkịp thời các vụ việc xảy ra Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nôi quy của
7 Xây dựng tiêu chí thi đua giữa các nhà, các phòng trong KNT về bảođảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường, mỹ quan trong phòng ở
Điều 10 Công tác bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn, phòng chống dịch bệnh và các tệ nạn xã hội trong khu nội trú
Có kế hoạch định kỳ kiểm tra, kịp thời nâng cấp, sửa chữa, tu bổ cáccông trình hạ tầng cơ sở, công trình phục vụ sinh hoạt của SV và các thiết bịkhác trong KNT
Phân công nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ quản lý và đội tự quản trong côngtác an ninh, trật tự, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội trong khu vực nộitrú
Trang 24Phát huy hiệu quả vai trò của các tổ chức đoàn thể trong Nhà trường, cáchoạt động tự quản của SV trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự trong KNT.
Tổ chức tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn SV bảo đảm an ninh, trật tự,phòng chống ma tuý, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội khác
Định kỳ phun thuốc về phòng dịch bệnh trong KNT Khi phát hiện dấuhiệu dịch bệnh phải báo ngay cho cơ quan y tế địa phương áp dụng các biệnpháp sử lý kịp thời
Có cán bộ y tế thường trực để thực hiện sơ cấp cứu ban đầu kịp thời cho
SV nội trú
Điều 11 Các hoạt động hỗ trợ cho sinh viên nội trú
1 Tổ chức các dịch vụ trông giữ xe, điện thoại công cộng, internet, khuvui chơi, giải trí, thể thao trong KNT phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất,nhu cầu chính đáng của SV để tạo sân chơi lành mạnh, góp phần giáo dụctoàn diện cho SV nội trú
2 Tổ chức các phòng học tự học, đọc báo, xem tivi, sinh hoạt văn hoá,văn nghệ phục vụ SV nội trú
3 Tổ chức nhà ăn, trung tâm dịch vụ, căng tin phục vụ cho SV nội trúthuận tiện, phù hợp với điều kiện kinh tế của SV, bảo đảm vệ sinh an toànthực phẩm
4 Tổ chức các hoạt động tư vấn về tâm lý, sức khoẻ, kỹ năng sống, họctập, hướng nghiệp và việc làm cho SV trong KNT
5 Tuỳ điều kiện từng Trường có thể tổ chức các khu vực hoặc phòng tựnấu ăn chung cho SV trong KNT
6 Xây dựng quy định cụ thể về các hoạt động dịch vụ để phục vụ SVtrong KNT
Điều 12 Công tác phối hợp
Chủ động phối hợp với các cơ quan công an, chính quyền địa phương đểthực hiện có hiệu quả các biện pháp, phương án bảo đảm an ninh chính trị vàtrật tự an toàn KNT, xử lý kịp thời các vụ việc liên quan xảy ra trong KNT.Phối hợp với tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội SV Việt Nam, Hội Liên
Trang 25hiệp thanh niên Việt Nam (nếu có) và các tổ chức đoàn thể khác trong Trường
để tổ chức các hoạt động rèn luyện cho SV nội trú, thực hiện nếp sống vănminh trong KNT
(Trích chương III - Nội dung công tác HSSV) [33, tr 6 - 7]
Theo Quy chế công tác SV nội trú do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạoban hành thì công tác quản lý SV nội trú của Nhà trường gồm 4 nội dung sau:Nội dung 1: Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý SV nội trú đápứng các mục tiêu, yêu cầu của công tác SV nội trú Các yêu cầu đó là:
- Phải đảm bảo phối hợp chặt chẽ thường xuyên giữa các đơn vị trongnội bộ Nhà trường, trước hết là phòng (ban) quản lý KTX với Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, Hội SV Nhà trường
- Phải đảm bảo phối hợp chặt chẽ thường xuyên giữa Nhà trường, giađình và chính quyền địa phương
- Phải đảm bảo giám sát kịp thời trong việc nắm bắt thực trạng SV nội trú.Nội dung 2: Ban hành các quy đinh cụ thể của Nhà trường về công tác
SV nội trú phù hợp với các quy định của quy chế công tác SV nội trú do Bộtrưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành
Trong các quy định cụ thể của Nhà trường về công tác SV nội trú trướchết phải ban hành được quy định đối với bộ máy làm công tác quản lý SV nộitrú của Nhà trường (về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn…), sau đó là quyđịnh đối với SV nội trú (quyền hạn, trách nhiệm…) Làm việc với chínhquyền địa phương để ban hành được quy chế phối hợp giữa Nhà trường - địaphương Sau khi đã bàn bạc được các quy định này, cần phải tổ chức quántriệt các quy định đó cho tất cả các thành viên trong bộ máy quản lý (chủ thểquản lý) và các SV nội trú (đối tượng quản lý)
Việc soạn thảo các quy định cho công tác quản lý SV nội trú phải dựavào Quy chế của Bộ GD và ĐT, vào điều kiện cụ thể của Nhà trường, của địaphương… sao cho các quy định ấy mang tính khả thi, động viên được cảngười quản lý và người bị quản lý
Nội dung 3: Tổ chức bộ máy quản lý SV nội trú
Bộ máy quản lý SV nội trú phải được tổ chức như một chỉnh thể gồmcác bộ phận chức năng, quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, có mối liên hệ phụ
Trang 26thuộc lẫn nhau, được bố trí thành từng hàng, từng cấp, từng khâu, thực hiệncác chức năng quản lý nhất định, nhằm đạt mục tiêu định trước của công tác
SV nội trú Việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức SV nội trú không mang mục đích
tự thân mà là phương tiện để nâng cao hiệu quả quản lý SV nội trú
Như vậy, mỗi Nhà trường cần thành lập bộ phận quản lý KNT Bộ phậnnày có các nhân sự từ các đơn vị, đoàn thể cơ sở của Trường: Phòng Công tác
SV (chủ trì), phòng Đào tạo, Đoàn TN, Hội SV Trường, cán bộ quản lý SV…
Bộ phận quản lý KNT của Trường chịu sự quản lý hành chính (theo kếhoạch công tác SV nội trú của Trường ) của phòng Công tác SV - đơn vị cơ
sở được Hiệu trưởng ủy quyền chỉ đạo và tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giácông tác SV nội trú của Trường Bộ phận quản lý SV nội trú thực hiện kếhoạch công tác SV nội trú được xây dựng trên các nội dung quản lý SV nộitrú của Trường, nhằm thực hiện các yêu cầu, mục tiêu của công tác SV nội trú
do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
Nội dung 4: Kiểm tra đánh giá việc thực hiện công tác SV nội trú
Kiểm tra, đánh giá là chức năng cuối cùng của quản lý Kiểm tra là mộtchức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạtđộng của hệ thống, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động
so với các mục tiêu và kế hoạch đã định, có kế hoạch tiếp tục hướng dẫn việc
sử dụng các nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu và kiểm tra xác định xemchúng hoạt động có phù hợp với mục tiêu và kế hoạch hay không
Mục đích của kiểm tra nhằm đảm bảo cho kế hoạch thành công, phát hiệnkịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp sửa chữa kịp thời nhữngsai sót đó Quá trình kiểm tra phổ biến cho mọi hệ thống gồm 3 bước:
- Bước 1: Xây dựng các chỉ tiêu
- Bước 2: Đo lường việc thực hiện nhiệm vụ theo các chỉ tiêu
Trang 27- Bước 3: Đánh giá các chỉ tiêu so với kế hoạch
Kiểm tra việc thực hiện công tác SV nội trú nhằm cung cấp cho Nhàtrường và địa phương các thông tin cần thiết để đánh giá đúng tình hình của
SV nội trú và kết quả hoạt động của bộ máy quản lý SV nội trú, đồng thời dựkiến quyết định bước phát triển mới cho công tác SV nội trú
Việc đánh giá công tác SV nội trú cũng cần có quan điểm toàn diện,nghĩa là phải xem xét trên tất cả các mặt của công tác quản lý Mỗi biện phápquản lý thường đưa đến kết quả trên nhiều mặt và biểu hiện qua nhữngkhoảng thời gian nhất định Do đó, phải tìm ra quan hệ bản chất của các kếtquả quản lý SV nội trú đang thực hiện với các biện pháp trước đó
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác SV nội trú phải có sự phốihợp của nhiều lực lượng trong và ngoài Nhà trường Đây là việc làm không đễthực hiện như một nề nếp, nếu không có kế hoạch cụ thể và quyết tâm cao củacác Nhà trường
Trên đây là bốn nội dung cơ bản trong công tác quản lý SV nội trú củacác Trường ĐH, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Bốn nội dung này cóquan hệ mật thiết với nhau, thực hiện nội dung này là tiền đề cho việc thựchiện nội dung khác, nếu thiếu một nội dung hoặc nội dung này thực hiệnkhông đạt được mục tiêu
Tại Điều 14 - Quy chế công tác SV nội trú (ban hành theo Thông tư số27/2011/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ GD &ĐT) nêu rõ trách niệm của Nhà trường trong công tác SV nội trú bao gồm:
- Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chính, trực tiếp chỉ đạo tổ chứcthực hiện, kiểm tra và đánh giá công tác SV nội trú của Trường
- Phòng (Ban) quản lý SV có trách nhiệm giúp Hiệu trưởng chỉ đạo và tổchức thực hiện, kiểm tra và đánh giá công tác SV nội trú của Trường
- Các đoàn thể, tổ chức xã hội trong Nhà trường, trước hết là ĐoànTNCS Hồ Chí Minh, Hội SV có trách nhiệm góp phần thực hiện công tác SVnội trú
Như vậy trong mỗi trường ĐH, Cao đẳng phòng (Ban) quản lý SV là đơn
vị tham mưu cho Hiệu trưởng và tổ chức, chỉ đạo, thực hiện về công tác SVnội trú
Trang 281.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sinh viên nội trú ở trường Đại học
1.5.1 Môi trường xã hội
Trải qua gần 30 năm đổi mới, đất nước ta đã có nhiều thay đổi quantrọng Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hộiđất nước có những thay đổi to lớn Chính trị ổn định, kinh tế có những bướctăng trưởng nhất định, văn hóa xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, đời sống vậtchất và tinh thần của người dân được cải thiện Điều kiện thuận lợi này tạotiền đề cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo Đầu tư cho giáo dục khôngngừng tăng lên Chủ trương xã hội hóa giáo dục nhận được sự đồng tình, ủng
hộ của toàn xã hội Được sự quan tâm chăm lo của Đảng, Nhà nước và toàn
xã hội, điều kiện sống và học tập của SV không ngừng được cải thiện Tuynhiên bên cạnh những thuận lợi kể trên, cũng tồn tại không ít những hạn chế
có ảnh hưởng tiêu cực đến công tác giáo dục và đào tạo
Môi trường xã hội xuất hiện một loạt những tệ nạn nảy sinh: nạn cờ bạc,rượu chè, ma túy, mại dâm đã hình thành lối sống chạy theo đồng tiền khiếnmối quan hệ gắn bó giữa những người thân trong gia đình, giữa cá nhân với
cá nhân, giữa cộng đồng với cá nhân ngày càng kém khăng khít, các cá nhân
có xu hướng sống biệt lập, chỉ biết mình Điều đó ảnh hưởng nghiêm trọngđến tầng lớp trẻ nói chung và SV nói riêng - những người đang trong giaiđoạn hình thành và phát triển nhân cách, do không được quan tâm đúng mứcnên đã hình thành những suy nghĩ, hành động lệch chuẩn
Đất nước mở cửa hội nhập kéo theo những biến động về hệ thống các giátrị truyền thống về đạo đức, về bản sắc văn hóa với sự du nhập của nhiềuthang giá trị và nhiều luồng văn hóa Thanh niên nói chung và SV nói riêng
dễ bị choáng ngợp trước những điều mới lạ, khó xác định được đâu là nhữngtinh hoa văn hóa cần phải tiếp thu và với sức đề kháng còn yếu khiến nhữngluồng văn hóa ngoại lai rất dễ xâm nhập
Toàn bộ môi trường xã hội trên với những mặt tích cực và tiêu cực của nóđang từng ngày từng giờ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới SV nói chung và
SV nội trú nói riêng Vì vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao hạn
Trang 29chế tới mức thấp nhất những tác động tiêu cực để SV chuyên tâm vào công việchọc tập và rèn luyện vì mục tiêu giáo dục của đất nước.
1.5.2 Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trong bối cảnh kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường, đất nước mở cửa,hội nhập với thế giới, sự nghiệp giáo dục cũng đang đổi mới mạnh mẽ Đảng vàNhà nước đã dành cho giáo dục nhiều sự quan tâm đặc biệt
Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đãchỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trongnhững động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, là điều kiện phát huy nguồn lực con người” 1, tr 1
Giáo dục và đào tạo là vấn đề then chốt của xã hội Nghị quyết Hộinghị lần thứ 6 Ban Chấp hành trung ương khóa IX (2002) khẳng định “Muốntiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển giáo dục
và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triểnnhanh và bền vững” [12, tr 50]
Đại hội X của Đảng (2006) tiếp tục chỉ rõ nhiệm vụ: “Bồi dưỡng các giá
trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối
sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh con người Việt Nam” [13, tr 106].
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) chỉrõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồnnhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xâydựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạocùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáodục và đào tạo là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêucầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế,phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnh xâydựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân học tập suốtđời” [14, tr 77]
Nhà nước đã cụ thể hóa quan điểm của Đảng về giáo dục bằng hệ thốngcác chính sách theo hướng ưu tiên, tạo môi trường thuận lợi cho giáo dục pháttriển Các chính sách này tập trung vào các vấn đề như chính sách đầu tư, học
Trang 30phí và phát triển hệ thống, mạng lưới các Trường lớp, các chính sách đảm bảocông bằng xã hội trong giáo dục, ưu tiên phát triển giáo dục vùng dân tộc vàcác vùng khó khăn; đổi mới giáo dục toàn diện từ nội dung, phương pháp dạy
và học, hệ thống Trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, chính sách đối vớigiáo viên và người học; cải tiến cơ chế phối hợp giữa Nhà trường, gia đình và
xã hội; thực hiện cải cách hành chính, hợp tác quốc tế trong giáo dục Đặcbiệt chủ trương xã hội hóa giáo dục đã khuyến khích, huy động các cộngđồng, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp và cá nhân trong và ngoài nướccùng chung tay sự nghiệp giáo dục
Liên quan đến SV và SV nội trú nói riêng, chính sách của Nhà nước vềhọc bổng, học phí, tín dụng đào tạo, hỗ trợ SV tạo việc làm, các chính sáchkhuyến khích SV học tập và nghiên cứu khoa học là những chính sách thiếtthực đã có tác động tích cực đến cuộc sống của SV Nhìn chung những chínhsách này đã thực sự tạo ra môi trường thuận lợi cho SV học tập
Tuy nhiên, xét trên tổng thể, hệ thống chính sách này vẫn chưa tạo rabước đột phá trong việc góp phần giải quyết mâu thuẫn lớn của giáo dục hiệnnay giữa một bên là yêu cầu cao về phát triển quy mô và nâng cao chất lượng
và một bên là điều kiện còn hạn hẹp về nguồn lực Xét trong phạm vi liênquan đến SV nói chung và SV nội trú nói riêng, chính sách của Nhà nước cònthiếu và yếu SV còn gặp nhiều khó khăn trong môi trường sống và học tậpcủa mình hiện nay
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
SV là nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng vàphát triển đất nước Để đạt được mục tiêu đào tạo con người Việt Nam pháttriển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ, nghề nghiệp, hoàn
Trang 31thành bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác QLSV trong các Trường ĐH, Cao đẳng cầnđược coi trọng, được phối hợp triển khai thực hiện một cách khoa học,nghiêm túc
Việc nâng cao chất lượng công tác QLSV là một yêu cầu thiết thực, làvấn đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp giáo dục và đào tạo Thông qua việc tìm hiểu sơ lược về vấn đề nghiêncứu các khái niệm cơ bản, vị trí, vai trò, nội dung của công tác QLSV và cácchủ thể liên quan, các yêu cầu của công tác QLSV trong bối cảnh hiện nay, đãcho thấy một cơ sở lý luận về công tác QLSV
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
2.1 Khái quát về Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển, truyền thống, thành tích đạt được, tầm nhìn sứ mệnh
2.1.1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển
Ngày 01/4/1956, Trường sơ cấp Lái tàu được thành lập tại Nhà máynước đá, đường Cù Chính Lan Thành phố Hải Phòng (nay là trụ sở của Công
ty vận tải thủy số 3) Ngày 01/7/1956, tại số 5 Bến Bính, Hải Phòng, Trường
sơ cấp Máy tàu được thành lập Đầu năm 1957, sáp nhập Trường Sơ cấp Láitàu và Trường Sơ cấp Máy tàu thành Trường Sơ cấp Hàng hải, trụ sở tại số 5Bến Bính, Hải Phòng Tháng 5/1962, Trường về tiếp quản Trường Học sinhMiền Nam số 19 và 21 ở Cầu Rào Tháng 1/1963, Trường đón đoàn chuyêngia Liên Xô gồm 4 người thuộc các chuyên ngành: Kinh tế vận tải, Hàng hải,Máy tàu, Điện tàu thủy sang giúp về bồi dưỡng giáo viên và xây dựng mụctiêu đào tạo Năm 1965, Trường sơ tán về các xã ngoại thành thuộc HuyệnTiên Lãng, Hải Phòng Thời kỳ này, Trường thành lập Ban Vỏ tàu thủy, mởthêm lớp Sơ cấp Thương vụ, Sơ cấp Hàng giang học 18 tháng, mở thí điểmlớp ĐH Tại chức các ngành Hàng hải như: Lái tàu, Máy tàu, Điện tàu thủy(gọi là lớp ĐH Chống Mỹ) Đến năm 1966, chính thức thành lập Khoa ĐHHàng hải tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Năm 1968, Nhà trường mởthêm lớp đào tạo giáo viên ngành Hàn tàu Năm 1970, hợp nhất các tổ Vỏ tàu,Hàn tàu, Sửa chữa máy thành Ban Cơ khí thủy Từ năm 1971 đến năm 1975,Trường chuyển về số 338 Lạch Tray (Cầu Rào) chuẩn bị cho bước phát triểnmới Năm 1973, Trường được Chính phủ giao đào tạo 10 ngành học Tháng01/1973, Bộ Giao thông vận tải giao nhiệm vụ cho Trường Hàng hải ViệtNam đón các ngành học thuộc Khoa Hàng hải từ Phân hiệu Đại học Giaothông đường thủy về, chiêu sinh khóa mới, chuẩn bị thành lập Trường ĐHHàng hải Tháng 4 năm 1974 các ngành thuộc khoa Hàng hải từ Phân hiệu đã
Trang 33được bàn giao xong Trường Hàng hải chuyển từ nơi sơ tán về số 338 LạchTray, Hải Phòng Tháng 8/1989, Bộ Giao thông vận tải chuẩn y mục tiêu,chương trình, nội dung đào tạo các ngành học của Trường gồm: 10 ngành ĐH
5 năm, 01 ngành ĐH 4 năm và 2 ngành Trung học đào tạo 3 năm Tháng9/1992, Nhà trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho mở đào tạo Cao họccác ngành Bảo đảm an toàn Hàng hải, Thiết bị năng lượng tàu thuyền, Điệntàu thủy, Đóng tàu, Xây dựng công trình thủy, Kinh tế vận tải thuỷ… Năm
1998, Nhà trường mở thêm 3 ngành đào tạo hệ ĐH: Điện tự động côngnghiệp, Kinh tế ngoại thương, Xây dựng dân dụng và công nghiệp Ngày 03tháng 7 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1056/QĐ-TTg vềviệc đổi tên Trường Đại học Hàng hải thành Trường Đại học Hàng hải ViệtNam
2.1.1.2 Truyền thống
Khi những tên lính xâm lược Pháp cuối cùng vừa rút khỏi Thành phốCảng Hải Phòng, ngày 1/4/1956, Trường Sơ cấp Lái tàu được thành lập, trảiqua hơn 55 năm vừa xây dựng vừa phát triển, từ sơ cấp, lên trung cấp, rồi trởthành Trường ĐHHHVN Trường đã đào tạo gần 60.000 cán bộ khoa học kỹthuật, cán bộ quản lý kinh tế, sỹ quan thuyền viên, đóng góp sức mình vào sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong giai đoạn đổi mới, Trường tiếp tục
đi tiên phong trong hội nhập quốc tế, trong đào tạo huấn luyện hàng hải, gópphần khẳng định tên tuổi, thương hiệu của Hàng Hải Việt Nam trong nền kinh
tế biển thế giới Ghi nhận thành tích to lớn của Trường, nhân dịp kỷ niệm 50năm ngày thành lập Trường (1956 - 2006), năm 2006, Chủ tịch nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trao tặng Nhà trường danh hiệu Anh hùnglao động thời kỳ đổi mới, huân chương Hồ Chí Minh Những năm gần đây,thực hiện chiến lược biển của Đảng, Đảng bộ Trường ĐHHHVN lãnh đạoNhà trường Thi đua “dạy tốt, học tốt”, tiếp tục đổi mới, nâng cao nhiệm vụđào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong tình hình nhiệm
vụ mới
Công tác Đào tạo ĐH: thực hiện nghiêm túc chỉ thị 269 - CT/CP của thủtướng chính phủ về đổi mới công tác quản lý đào tạo ĐH, thực hiện côngbằng và minh bạch trong tuyển sinh, từ năm học 2009 - 2010, Trường đã
Trang 34tuyển được 5762 SV cho 20 ngành học gồm 3255 SV hệ chính quy, 2507 SV
hệ vừa làm vừa học, nâng tổng số SV Trường đang đào tạo lên trên 26.000
SV
Trong đào tạo, Trường thực hiện cuộc vận động “Hai không”: nói khôngvới tiêu cực trong thi cử, nói không với bệnh thành tích trong giáo dục, điềuchỉnh mục tiêu, chương trình đào tạo của các ngành học cho phù hợp với yêucầu xã hội và xu thế đổi mới của thế giới, hoàn chỉnh toàn bộ giáo trình bàigiảng chi tiết cho gần 600 học phần, triển khai đào tạo theo học chế tín chỉtrong toàn Trường, tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy ĐH, xây dựng
“chuẩn đầu ra” cho tất cả các ngành đào tạo, triển khai chương trình đào tạotiên tiến và học bằng tiếng Anh ngành “Toàn cầu hóa và thương mại vận tải”với 45 SV, xây dựng phương án tuyển sinh theo 2 khối A và D thực hiện từnăm 2011 Trường đã hoàn thành đề cương chi tiết của 2 ngành Logistic vàchuỗi cung ứng, Kỹ thuật cơ điện tử trình Bộ GD và ĐT phê duyệt để tuyểnsinh vào năm 2011 Năm học 2009 - 2010, kết quả học tập của SV như sau:
- SV học theo hệ niên chế: loại giỏi 0,66%, loại khá 10,8%, loại TB khá:50,01%, loại TB 37,37%, yếu kém 1,16%
- SV học theo hệ tín chỉ, học kỳ 2 có kết quả: xuất sắc 0,28%, giỏi2,16%, khá 16,84%, TB 19,33%, số SV phải học lại và thi lại theo quy chếđào tạo tín chỉ là 61,39% (Nhà trường đang từng bước nâng cao chất lượngđào tạo cũng như nghiên cứu điều chỉnh quy chế cho phù hợp với đào tạo tínchỉ trong điều kiện thực tế) Năm học 2009 - 2010, nhiều SV tham gia dự thiOLYMPIC các môn học cấp Trường và cấp quốc gia, nhiều em đạt giải cao.Trường đã xây dựng chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế cho các ngànhĐiều khiển tàu biển, Máy tàu biển, Đóng tàu Triển khai từng bước công tácđào tạo theo địa chỉ cho các đơn vị sử dụng nguồn nhân lực do Trường đàotạo (tuyển được 261 SV) Tổ chức kiểm tra trình độ Tiếng Anh của toàn bộ
SV theo yêu cầu Toeic nhằm giúp SV chuẩn bị tốt cho việc học và thi lấychứng chỉ đạt chuẩn đầu ra về trình độ tiếng Anh, tổ chức thi và bồi dưỡngtiếng Anh cho giáo viên qua các đợt thi giảng dạy bằng tiếng Anh để chuẩn bịcho việc đào tạo SV quốc tế trong những năm tới
Công tác đào tạo Sau ĐH: Từ năm học 2009 - 2010, theo chủ trương
Trang 35chung, Bộ GD và ĐT giao toàn bộ công tác đào tạo Sau ĐH về các Trường,Trường đã chủ động và tăng cường liên kết đào tạo thạc sỹ với các Trường :
ĐH Liege (vương quốc Bỉ), ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Kinh tế quốc dân HàNội, ĐH Xây dựng Hà Nội, ĐH Bách khoa Hà Nội Trường đã tuyển được
190 học viên cao học, 6 NCS, tổ chức bảo vệ thành công luận án TS chonhiều NCS, tổ chức bảo vệ và trao bằng tốt nghiệp cho 129 thạc sỹ Công tácquản lý đào tạo cao học được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, đúng quy chế,nâng cao uy tín và chất lượng đào tạo cao học của Trường
Công tác Huấn luyện Sỹ quan Hàng hải: Năm học 2009 - 2010, Trườngđào tạo 4 lớp Sỹ quan Quản lý Boong, Máy, với 357 học viên và 4 lớp Sỹquan Vận hành Boong, Máy với 391 học viên… Đổi, gia hạn và cấp chứngchỉ cho 5.000 lượt học viên về huấn luyện an toàn cơ bản, huấn luyện nghiệp
vụ, tổ chức đào tạo các lớp hoa tiêu cơ bản tại Thành phố Hải phòng và Thànhphố Hồ Chí Minh Các lớp đào tạo, huấn luyện đều được cập nhật kiến thứcmới, hiện đại, phù hợp với yêu cầu của Tổ chức Hàng hải thế giới, yêu cầucủa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Công tác Nghiên cứu khoa học vàchuyển giao công nghệ: là một Trường ĐH có bề dày về thành tích NCKH,những năm qua Trường ĐH Hàng Hải đặc biệt chú trọng tới NCKH, chuyểngiao công nghệ, xây dựng các bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, chú ý tớisản xuất các sản phẩm mang thương hiệu ĐHHHVN (VIMARU)
Năm học 2009 - 2010, Trường thực hiện 15 đề tài NCKH, tiêu chuẩn vàchương trình mục tiêu cấp Bộ với kinh phí trên 5 tỷ đồng, nghiệm thu 91 đềtài NCKH cấp Trường (có 61 đề tài xuất sắc, 30 đề tài khá) đã trao giảithưởng hàng năm “Neptune” (Thần biển) cho 5 tập thể và 6 cá nhân có côngtrình đạt loại xuất sắc, đặc biệt Viện Khoa học Công nghệ Hàng hải củaTrường đã bám sát các yêu cầu sản xuất, nghiên cứu chế tạo nhiều sản phẩmmang thương hiệu VIMARU, đã hoàn thành dự án cấp nhà nước: “Hoàn thiệncông nghệ sản xuất các thiết bị điện, tự động cho tàu thủy theo công nghệ khảtrình” (đã nghiệm thu cấp cơ sở ),“Kiểm định phương án hạ thủy kho nổichứa dầu FSO5 trọng tải 150.000 DWT”, “Lập phương án đưa kho nổi chứadầu FSO5 trọng tải 150.000DWT từ Nam Triệu tới nơi khai thác dầu tại vùngbiển phía nam” khẳng định tiềm năng và uy tín khoa học của các nhà khoa
Trang 36học ĐH Hàng hải Những năm học qua, Nhà trường định kỳ tổ chức Hội nghịKHCN Hàng hải với trên 100 báo cáo khoa học được công bố, nhiều côngtrình NCKH và chuyển giao công nghệ mang lại lợi nhuận cho Nhà trường,động viên mạnh mẽ phong trào NCKH, đặc biệt phong trào NCKH ứng dụngvào sản xuất của cán bộ, giảng viên.
Công tác NCKH của SV cũng được triển khai rộng khắp từ các khoa, cácLiên chi, các chi đoàn Năm học 2009 - 2010, toàn Trường có 63 đề tài SVNCKH được nghiệm thu từ cấp khoa tới cấp Trường, nhiều đề tài được chọn
dự thi toàn quốc, nhiều đề tài được trao giải khuyến khích… điều đáng biểudương là các em SV say mê với NCKH, đã xuất hiện nhiều CLB SV NCKH,nhiều nhà khoa học trẻ trong tương lai
Trường duy trì đều đặn hàng năm xuất bản 4 số Tạp chí Khoa học Côngnghệ Hàng Hải, là diễn đàn trao đổi khoa học của các nhà khoa học, các giáoviên, có rất nhiều bài viết với giá trị khoa học, giá trị học thuật cao Các khoacũng xuất bản các nội san khoa học của mình với nhiều bài viết của giáo viên
và SV Trước yêu cầu to lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thựchiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tếbiển, Đảng bộ Trường ĐHHHVN đang tập trung năng lực, trí tuệ lãnh đạocán bộ giảng viên, SV thi đua “dạy tốt, học tốt”, hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ năm học, xứng đáng với truyền thống hơn 55 năm xây dựng và phát triểncủa Nhà trường
- Trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, định hướng, chuyển giao vàứng dụng công nghệ đạt trình độ khu vực và thế giới; Có tầm ảnh hưởng
Trang 37không chỉ trong nước mà cả ở khu vực Tiểu vùng sông Mê kông, các nướcASEAN và tiến tới có ảnh hưởng ở châu lục trong khoảng từ 7 đến 10 năm tớitrong các lĩnh vực: Điều khiển tàu, Nghiên cứu phát triển máy tàu thủy, Quản
lý đội tàu, Logistics và chuỗi cung ứng, Quản lý cảng, Thiết kế, đóng mới,sửa chữa tàu thủy và công trình nổi, Công trình biển và thềm lục địa, Bảo đảm
an toàn hàng hải, Quản lý, bảo vệ môi trường thủy, Nghiên cứu biến đổi khíhậu và tác động của môi Trường
- Trở thành trung tâm hàng đầu khu vực và tiến tới tầm châu lục về địnhhướng, phát triển, thực nghiệm các công nghệ mới trong các lĩnh vực liênquan đến kinh tế biển và hải dương học phục vụ cho nhu cầu dân dụng vàquân sự Định hướng đổi mới quy mô và hình thức đào tạo
- Tăng số chuyên ngành đào tạo, số lượng SV các hệ, dự kiến quy môđào tạo và đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoa học trong giai đoạn
2015 đến 2020 như sau:
Bảng 2.1 Dự kiến quy mô đào tạo và đội ngũ cán bộ giảng dạy,
nghiên cứu khoa học của Trường giai đoạn 2015 đến 2020
Giai đoạn
Quy mô tuyển sinh
Tổng số sinh viên học viên chính quy
Đội ngũ cán bộ giảng dạy, NCKH
+ “Trường - Xưởng” đối với các chuyên ngành kỹ thuật;
+ “Trường - Tàu huấn luyện” đối với các chuyên ngành hàng hải; + “Trường - Doanh nghiệp” đối với các chuyên ngành kinh tế, quản lý.
Trang 38Định hướng đổi mới trọng tâm, phương thức nghiên cứu khoa học,chuyển giao công nghệ (tiến tới có khả năng định hướng công nghệ chuyênngành cho đất nước và khu vực) Các nội dung nghiên cứu trọng tâm (làm cơ
sở để xây dựng các phòng, trung tâm thí nghiệm, thực nghiệm quốc gia) dựkiến:
- Bảo vệ môi trường thuỷ, nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu
- Phát triển công nghệ đóng mới, sửa chữa tàu thuỷ, công trình biển vàthềm lục địa
- Nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm động cơ tàu thuỷ (đặc biệt động cơdùng nhiều loại nhiên liệu, nhiên liệu sinh học biofuel)
- Logistics và chuỗi cung ứng
- Tự động điều khiển hàng hải
Định hướng đổi mới phương thức quản lý, kiểm định chất lượng:
- Phân cấp mạnh trách nhiệm quản lý; định lượng hoá khối lượng côngtác cho các đơn vị hành chính; giao quyền chủ động cho các Trường, khoatrực thuộc
- Xây dựng hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm định, đánh giá chấtlượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và khốilượng/kết quả công tác của tất cả các đơn vị thành viên
Định hướng đổi mới cơ cấu tổ chức:
Trong giai đoạn này, dự kiến sẽ xây dựng 5 TrườngĐH thuộc ĐH trọngđiểm ngành Các TrườngĐH được thành lập trên cơ sở các chuyên ngànhchính của kinh tế biển gồm:
- Học viện Hàng hải thành lập trên cơ sở các Khoa Điều khiển tàu
biển, Máy tàu biển, một số ngành hàng hải khác, đồng thời mở rộng thêm một
số ngành đào tạo mới, được xây dựng tại cơ sở mới ở xã Đoàn Xá, huyệnKiến Thuỵ
- Trường ĐH Kinh tế được thành lập trên cơ sở Khoa Kinh tế Vận tải
biển và một số ngành đào tạo mới, được xây dựng tại số 484 Lạch Tray (địađiểm hiện tại của Nhà trường)
Trang 39- Trường ĐH Kỹ thuật tàu thủy được thành lập trên cơ sở Khoa
Đóng tàu và mở rộng thêm một số ngành mới, được xây dựng tại cơ sở mới ở
xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thuỵ
- Trường ĐH Kỹ thuật Công trình được thành lập trên cơ sở Khoa
Công trình thuỷ, mở rộng thêm một số ngành đào tạo mới và được xây dựngtại cơ sở mới ở xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thuỵ
- Trường ĐH Kỹ thuật Điện - Điện tử được thành lập trên có sở
Khoa Điện - Điện tử tàu biển và mở rộng thêm một số ngành đào tạo mới vàđược xây dựng tại cơ sở mới ở xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thụy
- Trường cũng sẽ thành lập và nâng cấp một số Khoa, Trung tâm trên
cơ sở các Ngành, Khoa hiện có như:
+ Khoa Công nghệ thông tin
+ Khoa Công nghệ môi trường
+ Trung tâm Giáo dục thể chất
+ Trung tâm Giáo dục quốc phòng
Bên cạnh đó Trường cũng sẽ xây dựng một số trung tâm thực nghiệmquốc gia do các doanh nghiệp khoa học - công nghệ điều hành
Như vậy tổ chức hệ thống ĐH sẽ gồm các bộ phận chính yếu sau:
- Các đơn vị quản lý hành chính
- Các Trường thành viên và khoa trực thuộc
- Các đơn vị thành viên đóng vai trò nguồn lực chung
- Các trung tâm đào tạo/huấn luyện chuyên ngành (hàng hải, logistics )
- Các doanh nghiệp thực tập/sản xuất (các chuyên ngành kỹ thuật)
- Các phòng/trung tâm thí nghiệm/thực nghiệm quốc gia do các doanhnghiệp khoa học công nghệ vận hành Các lĩnh vực cần đạt trọng tâm nghiêncứu/thực nghiệm trong thời gian tới gồm: Khoa học và công nghệ hàng hải;Công nghệ đóng tàu; Môi trường biển; Công trình biển và thềm lục địa
- Các doanh nghiệp, công ty liên doanh thuộc Trường
Trang 402.1.2 Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy, hệ thống cơ sở vật chất
2.1.2.1 Vị trí, vai trò của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia biển với 3.260 km đường bờ biển và trên1.000.000 km2 lãnh hải, thềm lục địa tại một trong những vùng biển giàu tàinguyên và vận tải biển tấp nập nhất thế giới, có nguồn lợi chiến lược về anninh - quốc phòng, năng lượng, khoáng sản, hải sản, vận tải biển, du lịch
Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế biển đối với đất nước, trongnhững năm gần đây Đảng và Nhà nước đã có chiến lược, quyết sách để pháttriển kinh tế biển Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa X (2007) “về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020” khẳng
định chiến lược tổng quát là: “Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thànhquốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, đảm bảo vững chắc chủ quyền,quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu, mạnh”
Trường ĐHHHVN là cơ sở đào tạo ĐH lớn nhất trong ngành giaothông vận tải biển của cả nước với trên 25.000 học viên, SV đang theo học 20chuyên ngành ĐH, 6 chuyên ngành cao học, 3 chuyên ngành nghiên cứu sinhthuộc các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến kinh tế biển
2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ
Trường ĐHHHVN (với tên giao dịch tiếng Anh: VIETNAMMARITIME UNIVERSITY, viết tắt VIMARU) có chức năng, nhiệm vụ đượcban hành theo Quyết định số 2624/QĐ-TC ngày 7 tháng 7 năm 1976 của Bộtrưởng Bộ giao thông vận tải Theo đó, Trường ĐHHHVN chịu trách nhiệmđào tạo và huấn luyện như sau:
- Bậc Tiến sỹ: 03 chuyên ngành
- Bậc Thạc sỹ: 08 chuyên ngành
- Bậc ĐH: 21 chuyên ngành thuộc 8 khoa chuyên môn
- Huấn luyện và cập nhật kiến thức để thi lấy Giấy chứng nhận khảnăng chuyên môn các mức trách nhiệm vận hành và quản lý cho sỹ quan hànghải hạng 1 và hạng 2 theo yêu cầu của Công ước Quốc tế STCW 78/95
- Huấn luyện và cấp chứng chỉ an toàn cơ bản và nâng cao cho thuyền