1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại VIETINCOM

67 972 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TSNH trong doanh nghiệp có các đặc điểm sau: - TSNH có tính thanh khoản cao nên đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp; - TSNH là một bộ phận của vốn sản xuất nên nó vận động

Trang 1

1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ

DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản tham gia một lần vào quy trình sản xuất và chuyển hóa hoàn toàn hình thái vật chất của nó vào sản phẩm hoặc những tài sản được mua, bán hoặc có chu kỳ sử dụng từ một năm trở xuống Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: vốn bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác

TSNH trong doanh nghiệp có các đặc điểm sau:

- TSNH có tính thanh khoản cao nên đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp;

- TSNH là một bộ phận của vốn sản xuất nên nó vận động và luân chuyển không ngừng trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh;

- TSNH có thể dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên cũng vận động rất phức tạp và khó quản lý

1.1.2 Vai trò của tài sản ngắn hạn

TSNH rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bởi đó là những tài sản được sử dụng trong cho hoạt động hàng ngày và chi trả cho các chi phí phát sinh

TSNH được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định, tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản

TSNH là những tài sản có thời gian sử dụng dưới một năm nên có khả năng luân chuyển và thu hồi vốn nhanh hơn TSCĐ, đảm bảo lượng vốn hoạt động cho các chu kỳ kinh doanh kế tiếp của doanh nghiệp

TSNH cũng là yếu tố giúp cho các nhà đầu tư có thể nhận định về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Lượng tiền bị tồn đọng trong hàng tồn kho hoặc lượng tiền mà khách hàng còn đang nợ của doanh nghiệp cho dù đó vẫn là các tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Vì vậy nếu một doanh nghiệp không hoạt động ở mức hiệu quả cao nhất định (Ví dụ: thu hồi nợ chậm) thì điều này sẽ biểu hiện ra ngoài bằng sự gia tăng trong TSNH Có thể nhận thấy điều này rõ ràng hơn nếu so sánh TSNH của

Trang 2

doanh nghiệp qua từng thời kỳ việc thu hồi nợ chậm có thể là dấu hiệu cho thấy những nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động của doanh nghiệp

TSNH thường được so sánh với nợ ngắn hạn để xác định khả năng thanh toán ngắn hạn và vốn lưu động ròng của doanh nghiệp từ đó hoạch định các chính sách tín dụng, chính sách đầu tư và quản lý các khoản nợ của doanh nghiệp

1.1.3 Phân loại tài sản ngắn hạn

1.1.3.1 Phân loại tài sản ngắn hạn theo phạm vi sử dụng

- Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh chính

Đối với doanh nghiệp sản xuất thì tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh chính chủ yếu là nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, vật liệu bao bì đóng gói,…

Nguyên vật liệu chính: gồm giá trị của những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất là bộ phận cơ bản cấu thành nên sản phẩm Vật liệu phụ : là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì nó chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất chế tạo, có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi

vị, hình dạng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghiệp, kỹ thuật phục vụ cho quá trình lao động

Nhiên liệu: Thực chất là một loại vật liệu phụ nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường

Phụ tùng thay thế: là những loại vật tư sản phẩm dùng để thay thế sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vật tư công cụ, dụng cụ sản xuất,…

Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản là những vật liệu và thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản

Công cụ, dụng cụ lao động nhỏ là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, chúng không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định vì giá trị nhỏ và thời gian sử dụng tương đối ngắn Công cụ, dụng cụ lao động sử dụng trong doanh nghiệp được phân thành hai loại :

+ Công cụ, dụng cụ được phân bổ một lần ( phân bổ 100%) : đây là loại công cụ, dụng cụ khi xuất kho đem sử dụng, toàn bộ giá trị của chúng được phân bổ hết vào chi phí kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Loại công cụ này được áp dụng với các loại công cụ, dụng cụ có giá trị nhỏ, phát huy tác dụng trong thời gian ngắn, chúng không ảnh hưởng lớn đến tổng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh;

Trang 3

3

+ Công cụ, dụng cụ được phân bổ nhiều lần: Là loại công cụ, dụng cụ lao động

có giá trị lớn, thời gian sử dụng tương đối dài và hư hỏng có thể sửa chữa được

Bao bì, vật liệu đóng gói là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, nó luôn đi cùng sản phẩm của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Sản phẩm dở dang: Là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất xây dựng hoặc đang nằm trên các địa điểm làm việc đợi chế biến tiếp, chi phí trồng trọt dở dang, chi phí chăn nuôi dở dang, súc vật nhỏ và nuôi béo,…

Bán thành phẩm tự chế: Cũng là những sản phẩm dở dang nhưng khác ở chỗ nó

đã hoàn thành giai đoạn chế biến nhất định

- Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh phụ

Để linh hoạt trong sử dụng tài sản trên thực tế hiện nay người ta dùng tài sản ngắn hạn để chi cho công tác sửa chữa Căn cứ vào đặc điểm kinh tế và kỹ thuật sửa chữa được phân thành hai loại: Sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản lưu động Ngoài ra tài sản ngắn hạn còn sử dụng trong hoạt động kinh doanh phụ như: hoạt động cung cấp dịch vụ, lao vụ, …

- Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác quản lý doanh nghiệp

Công tác quản lý doanh nghiệp bao gồm cả quản lý kinh doanh và quản lý hành chính.Tài sản ngắn hạn được sử dụng bao gồm:

+ Vật liệu cho văn phòng, cho phương tiện vận tải

+ Công cụ, dụng cụ văn phòng phẩm: Giấy, bút, mực, bàn ghế,…

+ Khoản tạm ứng : hội nghị, tiếp khách, đào tạo cán bộ,…

- Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác phúc lợi

Công tác phúc lợi, chủ yếu tài sản ngắn hạn dùng để đầu tư cho câu lạc bộ, công trình phúc lợi công cộng của doanh nghiệp, cho công nhân, nhân viên đi thăm quan, nghỉ mát, các hoạt động văn hóa nghệ,…

1.1.3.2 Căn cứ theo đặc điểm chu chuyển tài sản ngắn hạn

- Tiền: là bộ phận tài sản ngắn hạn tồn tại dưới hình thái tiền tệ bao gồm:

+ Tiền mặt tại quĩ : Là số tiền mà doanh nghiệp đang giữ tại quỹ của mình bao gồm tiền Việt Nam, ngân phiếu, các loại chứng từ, tín phiếu có giá trị như tiền, vàng bạc, kim khí quí, đá quí đang được giữ tại quỹ,…

+ Tiền gửi ngân hàng : Là số tiền hiện có trên tài khoản tiền gửi ngân hàng của doanh nghiệp tại ngân hàng, kho bạc Nhà nước, công ty tài chính (nếu có) Bao gồm : tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý,

Trang 4

+ Tiền đang chuyển : Là số tiền mà doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng hay đã gửi qua đường bưu điện, đang làm thủ tục trích chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp sang tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp chưa nhận được giấy báo có của ngân hàng

- Đầu tư tài chính ngắn hạn

Là các khoản đầu tư của doanh nghiệp ra bên ngoài được thực hiện dưới hình thức cho vay, cho thuê, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu,…) có thời gian sử dụng, thu hồi vốn không quá một năm

Mục tiêu của các doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao cho hiệu quả nhất Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt vì nếu số dư tiền mặt nhiều, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí Do đó trong quản trị tài chính người ta sử dụng chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn Ta có thể thấy điều này qua sơ đồ luân chuyển sau:

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ luân chuyển các khoản đầu tư ngắn hạn

- Các khoản phải thu

Các chứng khoán thanh khoản cao

Đầu tư tạm thời bằng cách

mua chứng khoán có tính

thanh khoản cao

Bán những chứng khoán thanh khoản cao để bổ sung cho tiền mặt

Dòng thu tiền mặt Tiền mặt Dòng chi tiền mặt

Trang 5

và tương đối ổn định Khoản chi dự phòng này là một bộ phận trong khoản phải thu và

là một phần tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

+ Nguyên liệu, vật liệu chính gồm: giá trị những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất là bộ phận cơ bản cấu thành nên sản phẩm

+ Vật liệu phụ: là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì nó không chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất chế tạo, nó làm tăng chất lượng của nguyên vật liệu chính của sản phẩm tạo ra

+ Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc qua quá trình chế biến do các bộ phận sản xuất chính và phụ của doanh nghiệp sản xuất hoặc thuê ngoài gia công đã xong, được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và nhập kho để bán

+ Sản phẩm dở dang: là những sản phẩm đang nằm trong dây chuyền sản xuất chưa hoàn thành, chưa bàn giao mà phải gia công chế biến tiếp mới trở thành sản phẩm + Công cụ, dụng cụ lao động: là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, chúng không đủ tiêu chuẩn là tài sản lưu động vì giá trị nhỏ và thời gian sử dụng tương đối ngắn

+ Bao bì, vật liệu đóng gói: là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó luôn đi cùng với sản phẩm của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất và tiêu thụ

Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây truyền sản xuất Thông thường quá trình sản xuất của các doanh nghiệp được

Trang 6

chia thành nhiều công đoạn, giữa những công đoạn này bao giờ cũng tồn tại những bán thành phẩm Đây là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục Nếu dây chuyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn thì tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn

Khi tiến hành sản xuất xong hầu hết các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụ hết sản phẩm Phần thì do có “độ trễ” nhất định giữa sản xuất và tiêu dùng, phần phải có đủ lô hàng mới xuất được Những doanh nghiệp mà sản xuất mang tính thời vụ và có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì dự trữ, tồn kho sản phẩm sẽ lớn

Do đó để đảm bảo cho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn và tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà mức dự trữ an toàn khác nhau

+ Chi phí trả trước: là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng đến kết quả hoạt động của nhiều kỳ thanh toán, cho nên chưa thể tính vào chi phí sản xuất kinh doanh một kỳ mà được tính cho hai hay nhiều kỳ hạch toán

Qua cách phân loại như trên ta thấy được tình hình tài sản ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp về hình thái vật chất cũng như đặc điểm của từng loại tài sản ngắn hạn,

để có thể đánh giá việc sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có hợp lý và hiệu quả không, từ đó phải tăng cường các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

1.1.3.3 Phân loại theo vai trò từng loại tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh

doanh

Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong

khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán

Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong

khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất

Trang 7

7

kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…

Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại

trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu của khách hàng

Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một cách cao nhất

1.1.4 Kết cấu tài sản ngắn hạn và các nhân tố ảnh hưởng dến kết cấu tài sản ngắn

hạn

Kết cấu tài sản ngắn hạn là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần TSNH chiếm trong tổng số TSNH tại một thời điểm nhất định

Việc nghiên cứu kết cấu tài sản ngắn hạn giúp chúng ta thấy được tình hính phân

bổ tài sản ngắn hạn và tìm mọi biện pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong từng điều kiện cụ thể

Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu tài sản ngắn hạn cũng không giống nhau Thông qua phân tích kết cấu tài sản ngắn hạn theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về tài sản ngắn hạn mà mình quản lý và sử dụng Mặt khác, thông qua việc thay đổi kết cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực hoặc hạn chế về mặt chất lượng trong công tác quản lý, sử dụng tài sản ngắn hạn của từng doanh nghiệp

Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu TSNH của doanh nghiệp bao gồm:

Các nhân tố về chính sách quản lý: có vai trò quan trọng trực tiếp quyết định

đến kết cấu của TSNH, đồng thời nó cũng tác động trực tiếp đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Các nhân tố về mặt sản xuất: Đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất của

doanh nghiệp, mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo, độ dài của chu kỳ sản xuất, trình độ tổ chức quá trình sản xuất, tay nghề, cán bộ công nhân viên đều ảnh hưởng rất lớn đến tỉ trọng các khoản mục cấu thành nên tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Các nhân tố về việc cung ứng nguyên nhiên liệu và tiêu thụ sản phẩm: Phụ

thuộc lớn vào mối quan hệ giữa đơn vị được cung ứng, thể hiện ở:

+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp: khoản cách giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp càng gần thì việc dự trữ công cụ dụng cụ, nguyên liệu càng thấp

Trang 8

+ Uy tín: cơ sở cung cấp nguyên vật liệu có uy tín, đảm bảo về thời gian cũng như chất lượng nguyên liệu thì doanh nghiệp sẽ giảm được việc phải dự trữ quá nhiều nguyên vật liệu, tỷ trọng phải dự trữ sẽ thấp và ngược lại

+ Đặc điểm sản phẩm: nếu là sản phẩm mới tung ra thị trường thì không nên dự trữ nhiều và ngược lại

+ Ngoài ra còn ảnh hưởng bởi mức độ tin cậy của bạn hàng, quy mô hợp đồng ký kết, trình độ tổ chức sản xuất và marketing sản phẩm…

Các nhân tố về mặt thanh toán: Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến kết cấu

TSNH của doanh nghiệp

+ Phương thức thanh toán hợp lý, đồng bộ không mất nhiều thời gian sẽ tạo thuận tiện cho khách hàng, giúp giảm tỷ trọng các khoản phải thu

+ Chấp hành kỷ luật thanh toán, thực hiện hợp đồng thanh toán tốt hay chưa tốt, lựa chọn hình thức thanh toán như thế nào cũng ảnh hưởng đến kết cấu TSNH, nếu lựa chọn hình thức thanh toán bằng chuyển khoản thì kết TSNH sẽ nghiêng về tiền gửi tại ngân hàng…

Các nhân tố về mặt sử dụng: Quá trình mua vật tư không phù hợp với quy trình

công nghệ hoặc vật tư không đủ tiêu chuẩn chất lượng không thu hồi được phế liệu Điều này có tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp

Nhân tố về lạm phát: Do tác động của nền kinh tế luôn tồn tại lạm phát, nếu

doanh nghiệp không điều chỉnh kịp thời giá trị của vật tư hàng hoá sẽ làm cho giá trị TSNH của doanh nghiệp bị giảm theo tốc độ trượt giá của tiền tệ

Nhân tố về rủi ro: Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có nhiều

thành phần kinh tế cùng tham gia, bình đẳng cạnh tranh và với sức mua thị trường là

có hạn thì sẽ luôn tồn tại những rủi ro về thua lỗ cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, các rủi ro về thiên tai, dịch họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào dẫn đến sự thâm hụt về tài sản cho doanh nghiệp

Trên đây là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến kết cấu TSNH của doanh nghiệp Vậy doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình, điều kiện sản xuất kinh doanh cụ thể của mình để kiếm chế bớt bất lợi, phát huy ưu thế nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH

1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp bao giờ cũng là đạt được những mục tiêu

mà doanh nghiệp đã đề ra Chính vì vậy quan niệm về hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là hoàn toàn khác nhau Tuy nhiên để đi đến mục đích cuối cùng thì vấn

Trang 9

Sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả là kết quả đạt được cao nhất với mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra Nghĩa là phải làm như thế nào để có được nhiều lợi nhuận nhất từ việc khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh

nghiệp

Để có thể tiền hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định và nguồn tài trợ tương ứng, không có vốn sẽ không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào Song việc sử dụng vốn như thế nào cho có hiệu quả cao mới chính là yếu tố quyết định cho sự tăng trưởng và phát triển của các doanh nghiệp Với ý nghĩa đó, việc quản lý, sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và TSNH nói riêng là một nội dung rất quan trọng của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng TSNH phải được hiểu trên hai khía cạnh:

Một là, với số tài sản hiện có có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp

Hai là, đầu tư thêm tài sản một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh thu tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng tài sản

Hai khía cạnh này chính là mục tiêu cần đạt được trong công tác tổ chức quản lý

và sử dụng tài sản nói chung và TSNH nói riêng Nhờ việc hoàn thành các mục tiêu trên, doanh nghiệp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH của mình từ đó góp phần nâng

Trang 10

cao năng suất và khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp Thật vậy, TSNH được

sử dụng càng hiệu quả thì năng lực sản xuất hàng hóa càng cao, chi phí sản xuất cũng giảm xuống khiến cho sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng không đổi trong khi giá thành lại giảm Do vậy, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, tăng doanh thu và đem lại lợi nhuận tốt nhất cho doanh nghiệp

Hơn nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận và lợi ích xã hội nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trọng đặt ra tối thiểu cho các doanh nghiệp là cần phải bảo toàn TSNH Do đặc điểm TSNH lưu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và hình thái TSNH thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn TSNH chỉ xét trên mặt giá trị Bảo toàn TSNH thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ được đủ mua một lượng vật tư, hàng hoá tương đương với đầu

kỳ khi giá cả hàng hoá tăng lên, thể hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ

và tài sản lưu động định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp Bên cạnh đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH còn giúp cho doanh nghiệp luôn

có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kỹ thuật được cải tiến Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến công nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường Đặc biệt khi khai thác được các tài sản, sử dụng tốt tài sản lưu động, nhất là việc sử dụng tiết kiệm hiệu quả TSNH trong hoạt động sản xuất kinh doanh để giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như việc giảm chi phí về lãi vay

Từ những lý do trên, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác quản

lý và sử dụng tài sản ngắn hạn trong các doanh nghiệp Đó là một trong những nhân tố quyết định cho sự thành công của một doanh nghiệp, xa hơn nữa là sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

1.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ, nó cho biết mức độ các khoản nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong mỗi giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó Để phân tích đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi chúng đến hạn thanh toán, người ta sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau:

- Khả năng thanh toán ngắn hạn

Trang 11

Hệ số này lớn hay nhỏ hơn còn phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn đối với doanh nghiệp thương mại, TSNH thường chiếm

tỷ trọng lớn hơn trong tổng tài sản nên hệ số này tương đối cao

Tuy nhiên, hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn chỉ phản ánh một cách tạm thời tình hình thanh toán của doanh nghiệp vì tài sản ngắn hạn bao gồm cả các khoản phải thu và hàng tồn kho Chính vì vậy để đánh giá chính xác hơn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ta cần xét thêm một số chỉ tiêu khác nữa

- Khả năng thanh toán nhanh

Khả năng thanh toán nhanh =

TSNH – Hàng tồn kho

Nợ ngắn hạn

ĐVT: lần Khả năng thanh toán nhanh cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn mà không tính đến hàng tồn kho Thông thường khả năng thanh toán của công ty được đánh giá an toàn khi hệ số này > 1 vì công ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần bán bớt hàng tồn kho

Đây là chỉ tiêu được các chủ nợ ngắn hạn rất quan tâm vì thông qua các chỉ tiêu này, các chủ nợ có thể đánh giá được tại thời điểm phân tích doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không Tuy nhiên, trong một

số trường hợp, chỉ tiêu này chưa phản ánh một cách chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng TSNH Do đó, để đánh giá chính xác và chặt chẽ hơn cần xem xét thêm khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp

- Khả năng thanh toán tức thời

Trang 12

Khả năng thanh toán tức thời =

Tiền và các khoản tương đương tiền

TSNH

ĐVT: Lần Khả năng thanh toán tức thời cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tiền và các khoản tương đương tiền Hệ số khả năng thanh toán tức thời là một chỉ tiêu đánh giá sát hơn khả năng thanh toán ngắn hạncủa doanh nghiệp

Tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh mà tỷ số về khả năng thanh toán tức thời bằng bao nhiêu là hợp lý Thông thường, tỷ số này xấp xỉ 0,5 là tốt Nếu quá lớn cho thấy tài sản của doanh nghiệp tồn tại dưới dạng tiền nhiều làm cho hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp sẽ không cao Ngược lại, nếu tỷ số này quá nhỏ lại phản ánh một tình hình tài chính không lành mạnh, khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ phải trả ngay

- Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu

Suất hao phí TSNH trên

TSNH bình quân Doanh thu thuần

ĐVT: lần Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Suất hao phí tài sản ngắn hạn trên doanh thu càng nhỏ càng tốt, càng thể hiện doanh nghiệp sử dụng tài sản một cách hợp lý và tiết kiệm khi cần lượng tài sản ngắn hạn ít hơn để tạo ra doanh thu Chỉ tiêu này càng thấp

Trang 13

13

chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao, lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng cao

- Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với lợi nhuận sau thuế

Suất hao phí của TSNH

so với lợi nhuận sau thuế =

TSNH bình quân Lợi nhuận sau thuế

ĐVT: lần Chỉ tiêu này cho biết để có được một đồng lợi nhuận sau thuế trong kỳ thì doanh nghiệp cần đầu tư bao nhiêu đồng TSNH Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ nếu lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp không đổi thì lượng tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp sử dụng sẽ ít hơn so với các kỳ trước Như vậy, rõ ràng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp tăng lên khi suất hao phí TSNH trên lợi nhuận sau thuế giảm đi

- Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn (ROA)

Tỷ suất sinh lời của tài

Lợi nhuận sau thuế TSNH bình quân

ĐVT: % ROA là chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư, nghĩa là 1 đồng tài sản ngắn hạn bỏ ra có thể thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng tốt, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phát triển và đó là nhân tố giúp nhà quản trị quyết định có nên mở rộng sản xuất kinh doanh hay không

Để phân tích tỷ suất sinh lời của TSNH, ta có thể xác định các nhân tố ảnh hưởng theo phương pháp Dupont như sau:

tổng doanh thu thuần

Dựa vào mô hình này, ta thấy được mối liên hệ của các chỉ tiêu tài chính với nhau và ảnh hưởng của chúng đến hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp Cũng nhờ có mô hình Dupont ta có thể xem xét các thành phần tác động tới tỉ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn, từ đó có biện pháp kiểm soát tốt các thành phần đó nhằm đạt được tỉ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn như mong muốn

Trang 14

Như vậy, theo mô hình Dupont, ROA chịu ảnh hưởng của 2 nhân tố: tỷ suất sinh lời của tổng doanh thu thuần và số vòng quay củ tài sản ngắn hạn Muốn cho tỷ suất sinh lời của TSNH cao thì cần có các biện pháp nâng cao 2 nhân tố ảnh hưởng trên

1.2.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển của TSNH

Tài sản ngắn hạn thể hiện phần vốn của doanh nghiệp đầu tư vào các hạng mục tài sản có tính luân chuyển nhanh với thời gian thu hồi vốn trong vòng một năm (hoặc một chu kì kinh doanh) Phân tích tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn có thể đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

- Số vòng luân chuyển của TSNH

Số vòng luân chuyển của

ra có thể tạo ra được bao nhiêu đồng tổng doanh thu tiêu thụ

Số vòng quay càng lớn, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phát triển Ngược lại, số vòng quay càng nhỏ, tài sản ngắn hạn được sử dụng càng lãng phí và kém hiệu quả Như vậy, thông qua việc xem xét chỉ tiêu số vòng luân chuyển tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp có thể đưa ra các chính sách sử dụng tài sản phù hợp để có được lợi nhuận mong muốn

- Thời gian một vòng luân chuyển của TSNH

Thời gian một vòng luân

chuyển của TSNH =

360

Số vòng luân chuyển của TSNH

ĐVT: ngày Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để tài sản ngắn hạn thực hiện được một lần luân chuyển hay được hiểu là độ dài thời gian một vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn ở trong kỳ Vòng luân chuyển tài sản ngắn hạn càng nhỏ thì thời gian một vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn càng được rút ngắn và chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động nhanh và được sử dụng có hiệu quả, góp phần nâng cao doanh thu

và lợi nhuận cho doanh nghiệp

- Hệ số đảm nhiệm TSNH

Trang 15

15

Hệ số đảm nhiệm TSNH =

TSNH Tổng doanh thu tiêu thụ

ĐVT: lần Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng tổng doanh thu tiêu thụ thì phải đầu tư bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Hệ số này càng thấp thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao, số tài sản ngắn hạn tiết kiệm được càng lớn do lượng tài sản ngắn hạn phải bỏ ra để thu về được cùng một lượng doanh thu không đổi thấp hơn so với kỳ trước Thông qua chỉ tiêu này doanh nghiệp sẽ xây dựng được các

kế hoạch đầu tư tài sản của mình, đồng thời có cơ sở để đánh giá tính chính xác của kế hoạch đầu tư tài sản hiện tại

1.2.3.4 Nhóm chỉ tiêu đánh giá năng lực hoạt động của TSNH

ĐVT: vòng Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho cho biết số lần bình quân mà hàng hoá tồn kho luân chuyển trong kỳ, nó thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp hiệu quả như thế nào

Chỉ tiêu này thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu Chỉ tiêu này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu nó nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp

Tỷ số này có giá trị cao sẽ ủng hộ lòng tin của khách hàng vào khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nếu tỷ số thấp sẽ cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh trì trệ

và kém năng động của doanh nghiệp đó Nhưng cũng có thể doanh nghiệp tăng mức

dự trữ nguyên vật liệu khi dự đoán trước giá sản phẩm sẽ tăng hoặc do có sự gián đoạn trong khâu cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất Bởi vậy khi so sánh cần có thêm những thông tin về dự trữ nhằm đảm bảo tính chuẩn xác Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Tỷ số này đo lường tính thanh khoản của hàng tồn kho Nếu việc quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp không hiệu quả sẽ phát sinh chi phí lưu trữ hàng tồn kho làm giá bán tăng

- Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho

Trang 16

Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho =

360 Vòng quay hàng tồn kho

ĐVT: ngày Chỉ tiêu này cho ta biết trung bình kể từ khi doanh nghiệp mua hàng đến khi bán được hàng mất bao nhiêu thời gian Biến động vòng quay hàng tồn kho có thể do nhiều yếu tố tác động Việc giảm vòng quay hàng tồn kho khiến số ngày của một vòng quay hàng tồn kho tăng lên Thời gian một vòng quay hàng tồn kho càng dài chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng kém hơn

- Vòng quay các khoản phải thu

Phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp

và được xác định theo công thức:

Vòng quay các khoản phải thu =

Doanh thu thuần Các khoản phải thu

ĐVT: vòng Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thể hiện rằng doanh nghiệp thu hồi càng nhanh các khoản nợ Điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra

sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất Ngược lại, nếu hệ số này càng nhỏ thì sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ vốn lưu động sẽ kém Quan sát số vòng quay các khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiệp Hệ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh và ngược lại

- Kỳ thu tiền trung bình

Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu (số ngày của một vòng quay các khoản phải thu) Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại Kỳ thu tiền trung bình được xác định theo công thức:

Kỳ thu tiền trung bình =

360 Vòng quay các khoản phải thu

ĐVT: ngày Tuy nhiên trong nhiều trường hợp kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp chưa thể có kết luận chắc chắn, mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh

Trang 17

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, ngoài phân tích các chỉ tiêu nói trên, chúng ta cũng cần nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả

sử dụng chúng Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhưng về cơ bản có 2 nhóm nhân tố chính là các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan

1.3.1 Nhân tố chủ quan

Trong cùng một môi trường kinh doanh khách quan như nhau nhưng trong khi một số doanh nghiệp phát triển thì không ít doanh nghiệp kinh doanh trì trệ, thâm chí phá sản Vậy nguyên nhân thất bại ở đây chính là những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân doanh nghiệp

Trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh

Một quy trình sản xuất – kinh doanh hợp lý sẽ khắc phục được tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các khâu, góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng năng suất lao động, giảm chi phí bất hợp lý, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Ngoài ra, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ để đổi mới trang thiết bị thì sẽ giảm được hao mòn vô hình của tài sản cố định, nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm, hạ giá thành và nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Trình độ nguồn nhân lực

Trang 18

Để việc sử dụng tài sản ngắn hạn đạt hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những cán bộ quản lý giỏi, công nhân viên có trình độ tay nghề cao Người quản lý phải nắm bắt rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp, sau mỗi chu kỳ hoạt động phải phân tích để đánh giá xem hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ra sao, từ đó đưa ra các

kế hoạch trong những chu kỳ tiếp theo Trong quá trình sản xuất để tận dụng hết nguyên vật liệu thì người công nhân phải có chuyên môn giỏi, đặc biệt việc sử dụng máy móc thiết bị hết sức quan trọng, máy móc thiết bị ngày càng hiện đại đòi hỏi đội ngũ sử dụng những loại máy móc thiết bị đó cũng phải được đào tạo có chuyên môn,

có kỹ thuật

Đặc điểm sản xuất kinh doanh

Đặc điểm sản xuất - kinh doanh có tác động quan trọng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tài sản ngắn hạn, vòng quay và hệ số sinh lời của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp.Vậy nên khi nhắc đến

sự tác động tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thì không thể không nhắc tới nhân tố này Doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau về ngành nghề kinh doanh sẽ đầu tư vào tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau Tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau nên hệ số sinh lời của tài sản cũng khác nhau Doanh nghiệp có đặc điểm hàng hoá khác nhau và đối tượng khách hàng khác nhau nên chính sách tín dụng thương mại cũng khác nhau dẫn đến tỷ trọng khoản phải thu khác nhau

Với mục đích sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp sẽ quyết định trong việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh Sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp chu kỳ sản xuất dài nhưng doanh nghiệp khác chu kỳ sản xuất lại ngắn, điều đó có ảnh hưởng đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn Để đi vào sản xuất thì lượng tài sản ngắn hạn cần đưa vào là bao nhiêu, mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo như thế nào, lượng tiền mặt doanh nghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài thì thời gian thu hồi vốn càng lâu, nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làm cho chu kỳ kinh doanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản ngắn hạn nhanh hơn Vòng quay tài sản ngắn hạn tăng tức là việc tiêu thụ hàng hóa cũng tăng lên và như vậy doanh thu tăng lên, làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng Điều đó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tăng

Năng lực quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Nếu trình độ quản lý, kinh doanh của doanh nghiệp tốt thì mục đích và kế hoach

sử dụng tài sản ngắn hạn đều được nghiên cứu trước một cách kỹ lưỡng Hơn nữa,

Trang 19

19

trong quá trình sản xuất kinh doanh tình hình sử dụng các loại tài sản ngắn hạn sẽ luôn được theo dõi một cách thường xuyên để tránh lãng phí cũng như có thể rút ra kinh nghiệm trong việc quản lý tài sản một cách tốt hơn, đem lại hiệu quả sử dụng tốt nhất

có thể có của tài sản Vì vậy, từ việc lập quy trình tổ chức quản lý sử dụng tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp đưa ra những kết luận đúng đắn về tình hình sử dụng tài sản từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của mình

Sự quản lý của Nhà nước

Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp mang một đặc thù riêng nó, Nhà nước có trách nhiệm quản lý các doanh nghiệp đó để nó đi vào hoạt động theo một khuôn khổ mà Nhà nước quy định.Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều phải tuân theo pháp luật mà Nhà nước đưa ra, từ khi bắt đầu thành lập đến khi hoạt động và ngay cả giải thể hay phá sản doanh nghiệp đều phải tuân theo chế độ hiện hành

Đảng và Nhà nước ban hành các luật lệ, chính sách nhằm mục đích tránh sự gian lận, đảm bảo sự công bằng và an toàn trong xã hội Sự thắt chặt hay lới lỏng chính sách quản lý kinh tế đều có ảnh hưởng nhất định đến doanh nghiệp

Sự phát triển của thị trường

Ngày nay sự phát triển nhanh chóng của thị trường nhân tố sản xuất đầu vào, thị trường dịch vụ hàng hóa và đặc biệt là thị trường tài chính tiền tệ có tác động rất lớn đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Các yếu tố đầu vào của một dự án hay một quá trình sản xuất phần lớn được mua hoặc thuê trên thị trường Thị trường các yếu tố đầu vào đa dạng, phong phú doanh nghiệp sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn Thị trường các yếu tố đầu vào cạnh tranh sẽ làm giảm giá các yếu tố đầu vào và làm giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp và ngược lại Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp đều thông qua thị trường tài chính

Thị trường tài chính là thị trường quan trọng nhất trong hệ thống kinh tế, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hang hóa Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Tất cả các hoạt động huy động vốn nhằm các mục đích thành lập doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoặc phát

Trang 20

triển sản xuất kinh doanh đều giao dịch trên thị trường tài chính Thị trường tài chính phát triển thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung Như vậy, những thay đổi của môi trường kinh tế ngày càng có tác động mạnh đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cho doanh nghiệp những thuận lợi đồng thời cả những khó khăn Do đó, doanh nghiệp phải luôn đánh giá và dự báo những thay đổi đó để có thể đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm tranh thủ những cơ hội và hạn chế những tác động tiêu cực từ sự thay đổi của môi trường kinh tế đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

Để tồn tại được thì các doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh lẫn nhau Cùng là các doanh nghiệp sản xuất ra một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp thì sẽ thu hút được nhiều người mua Như vậy vấn đề của các doanh nghiệp là thu hút được khách hàng và tất nhiên phần thắng sẽ thuộc về kẻ mạnh Hiện nay các doanh nghiệp luôn hướng tới việc trọng cầu, việc đưa ra các phương thức về giá cả, mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng luôn là vấn đề mà mọi doanh nghiệp phải quan tâm

Nhu cầu của khách hàng

Nhu cầu khách hàng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sản xuất ra loại sản phẩm gì, chất lượng ra sao, mẫu mã như thế nào Nhu cầu của con người ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu đó thì doanh nghiệp luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm Những doanh nghiệp mà đội ngũ nhân viên khéo léo, tận tình cộng với công tác xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm của mình để thâm nhập vào thị trường mới sẽ giúp doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm làm doanh thu của doanh nghiệp tăng nhanh

Trên đây là các nhân tố chính tác động tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nhưng bên cạnh đó doanh nghiệp cần quan tâm tới các nhân tố khác như: các vấn đề về

tỷ giá, lạm phát, thiên tai, dịch bệnh… cũng ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp

Trang 21

21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG – THƯƠNG MẠI VIETINCOM

2.1 Khái quát về công ty Cổ phần Xây dựng –Thương mại Vietincom

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần Xây dựng-Thương

mại Vietincom

- Giới thiệu chung về công ty

Tên đơn vị: CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG- THƯƠNG MẠI VIETINCOM Tên nước ngoài : Vietincom construction trade joint stock company

Tên viết tắt: VIETINCOM., JSC

có qui mô lớn và chất lượng cao Công ty Cổ phần Xây dựng-Thương mại Vietincomđã và đang được các khách hàng đối tác biết đến nhờ sự uy tín về giá cả, chất luợng, phục vụ và nét đẹp hoàn hảo của mỗi công trình

Trong bối cảnh chung của xã hội, một đất nước phồn vinh không thể thiếu những đường phố đẹp, những công trình đẹp để góp phần tô điểm thêm diện mạo của thành phố Mỗi công trình kiến trúc đẹp phải chứa đựng bên trong nhiều ý tưởng độc đáo và sáng tạo của đội ngũ thiết kế và thi công, không chỉ mang một ý nghĩa thực tế là nhà ở

mà còn là một tác phẩm nghệ thuật tâm hồn

Song song với nỗ lực lao động không mệt mỏi, sự đam mê nghề nghiệp của từng thành viên trong công ty và cùng với phương châm đặt ra công ty Cổ phần Xây dựng-Thương mại Vietincom đã tạo ra những sản phẩm đem lại sự tín nhiệm của khách hàng

Trang 22

ngày càng mạnh mẽ hơn Hơn thế nữa, công ty cũng đã quan tâm xác định cho mình một hướng đi đúng đắn Đó chính là việc: “Lấy chất lượng phục vụ và chất lượng công trình để tạo nên uy tín phát triển công ty”

Hiện nay công ty Cổ phần Xây dựng-Thương mại Vietincom đang có nhiều kiến trúc sư và kỹ sư với trình độ chuyên môn cao và thực sự tâm huyết với nghề Để xây dựng và quảng bá cho công ty, tất cả các nhân viên công ty đều nỗ lực học tập, tìm tòi sáng tạo để có thể mang lại cho khách hàng những công trình kiến trúc có phong cách độc đáo nhất Không dừng lại ở đó, công ty đã và đang tạo điều kiện cho tất cả nhân viên học hỏi thêm kiến thức và nâng cao tay nghề nhằm đáp ứng nhu cầu càng cao của khách hàng cũng như phát triển công ty ngày càng bền vững hơn

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty

Để nắm bắt kịp thời với xu thế phát triển chung của đất nước cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO, Công ty Cổ phần Xây dựng – Thương mại Vietincom có mục đích đa dạng hoá nghành nghề sản xuất cũng như kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận tối ưu cho các cổ đông, phát triển nguồn lực của công ty, xây dựng và nâng cao vị thế thương hiệu Đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế của đất nước, đem lại việc làm cho người lao động, thực hiện các nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước

Các lĩnh vực hoạt động của công ty bao gồm:

- Kiểm tra và phân tích kỹ thuật công trình xây dựng;

- Thiết kế công trình thủy lợi, công trình dân dụng, công nghiệp;

- Giám sát xây dựng và hoàn thiện công trình cầu, đường bộ;

- Giám sát thi công xây dựng loại công trình dân dụng, công nghiệp, cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn;

- Khảo sát địa chất công trình;

- Bán buôn xăng dầu và các sản phẩm liên quan;

- Xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh;

- Sản xuất và bán bê tông, các sản phẩm từ xi măng và thạch cao;

- Sản xuất thiết bị đo lường, kiểm tra, định hướng và điều khiển;

- Gia công cơ khí, xử lý và tráng phủ kim loại;

- Cho thuê máy móc, thiết bị xây dựng

Ngoài ra, công ty còn mở rộng thêm các hoạt động như:

- Giám sát xây dựng và hoàn thiện công trình đường dây, trạm biến áp, điện chiếu sáng, điện công nghiệp;

Trang 23

23

- Chứng nhận thiết kế, khảo sát xây dựng công trình: Nền, mặt đường, cầu đường

bộ, bến bãi, ngầm tràn thoát nước và các công trình phụ trợ khác trên đường;

- Giám sát công tác xây dựng và hoàn thiện công trình thủy lợi;

- Phá dỡ và chuẩn bị mặt bằng xây dựng;

- Xây dựng nhà các loại

Tuy hoạt động trên nhiều lĩnh vực, nhưng các hoạt động kiểm tra và phân tích kỹ thuật công trình xây dựng; Thiết kế công trình thủy lợi, công trình dân dụng, công nghiệp; Giám sát xây dựng và hoàn thiện công trình cầu, đường bộ và giám sát thi công xây dựng loại công trình dân dụng, công nghiệp, cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn đem lại lợi nhuận lớn nhất cho công ty

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Xây dựng-Thương mại Vietincom

Công ty Cổ phần Xây dựng – Thương mại Vietincom hoạt động theo chế độ hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng để quan hệ giao dịch và ký kết các hợp đồng kinh tế với các đơn vị trong và ngoài nước Dựa vào đặc điểm của ngành xây dựng, nhiệm vụ sản xuất mà đơn vị đảm nhận, mặt khác để phù hợp với cơ chế kinh tế mới, Công ty đã không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý làm cho bộ máy quản

lý ngày càng gọn nhẹ nhưng lại có hiệu quả Hiện nay việc tổ chức thành các đội và các tổ lao động hợp lý giúp Công ty trong việc quản lý lao động và phân công lao động của Công ty thành nhiều công trình, vị trí thi công khác nhau một cách có hiệu quả

Trang 24

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại Vietincom

Giám đốc là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, chịu trách nhiệm tổ chức, thực hiện và hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra theo đúng chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước

Phó Giám đốc ngoài việc hỗ trợ cho Giám đốc hoàn thành tốt công tác điều hành, còn được phân công phụ trách một số công việc chuyên môn của công ty, được Giám đốc uỷ quyền thay thế điều hành khi Giám đốc đi vắng Phó Giám đốc phải đảm bảo

Ban giám đốc Ban cố vấn kỹ thuật

Tổ thiết kế giao thông &

công trình thủy lợi

Tổ thiết kế dân dụng &

công nghiệp

Tổ đánh giá tác động môi

trường

Trang 25

25

hoàn thành tốt những công việc được giao và phải chịu trách nhiệm trước cấp trên về phần việc của mình Mặt khác, Phó Giám đốc phải báo cáo, đề xuất với lãnh đạo cấp trên, xin ý kiến chỉ đạo thực hiện những công việc vượt quá mức chức năng, quyền hạn của mình

+ Lập kế hoạch, xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh; Lập kế hoạch tiến

độ thực hiện các nhiệm vụ được giao;

+ Quản lý, điều động, phân công các tổ phục vụ công tác tư vấn;

+ Tính toán lập các hồ sơ dự thầu, hồ sơ chào thầu các công trình tư vấn xây dựng của Công ty;

+ Lập các hợp đồng và thanh lý hợp đồng tư vấn với các bên chủ đầu tư, khách hàng, các đơn vị thầu phụ bên ngoài, các hợp đồng giao khoán với các tổ, đội;

+ Tổng hợp lập báo cáo công trình hoàn thành, tham chiếu các giá trị quyết toán

và thẩm định

- Phòng nghiệp vụ – tổng hợp

Tham mưu và quản lý về công tác quản trị hành chính Theo dõi công tác nhân

sự, điều động cán bộ công nhân viên cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty được tiến hành thuận lợi

Thực hiện công tác về tiền lương, tính toán và trả lương kịp thời, công tác đào tạo nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ công nhân viên và tổ chức nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động tại công ty

Có nhiệm vụ bảo vệ, theo dõi các hoạt động của công ty, kiểm tra an toàn lao động, công tác phòng chóng cháy nổ, bảo vệ môi trường,…

Chức năng chính là tham mưu cho Giám đốc về sử dụng vốn, thực hiện ghi chép chính xác các hoạt động kinh doanh của đơn vị dưới hình thức tiền tệ Lập kế hoạch tài

vụ, thực hiện chế độ tài chính, kiểm tra, giám sát, tổ chức, lưu chuyển và bảo quản tốt chứng từ kế toán, hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo quy định, cuối kỳ lập báo cáo tài chính gởi các đơn vị có liên quan

- Đội khảo sát địa hình- địa chất

Trang 26

- Đoàn khảo sát địa chất- địa chất thực hiện công tác khoan xoay, lấy mẫu thí nghiệm trên các địa hình chuẩn bị thi công

- Đưa ra đánh giá chính xác các nền móng phức tạp, nền đá nứt nẻ, tầng các tơ, tầng đất xốp, từ đó triển khai những giải pháp xử lý thích hợp nhằm đảm bảo an toàn cho công trình

- Các phòng ban trực thuộc phòng kỹ thuật

Tổ thẩm định

Tổ chức xem xét một cách khách quan toàn diện các vấn đề cơ bản ảnh hưởng đến tính khả thi của một hợp đồng Từ đó đưa ra quyết định xem có nên thực hiện hợp đồng đó hay không, việc thực hiện hợp đồng mang lại lợi ích gì cho công ty về mặt kinh tế, xã hội, môi trường

Tổ thiết kế giao thông và các công trình thủy lợi

- Đưa ra các kế hoạch quản lý, các bản thiết kế cho các công trình giao thông như: xây dựng cầu, đường bộ,…

- Giám sát xây dựng và hoàn thiện các công trình thủy lợi

Tổ thiết kế dân dụng và công nghiệp

- Phụ trách quản lý, thiết kế các công trình xây dựng, sửa chữa nhà ở cho dân

- Thiết kế, xây dựng các xưởng sản xuất, khu công nghiệp

Tổ đánh giá tác động môi trường

Xem xét ảnh hưởng của môi trường đến chất lượng công trình từ đó đưa ra các biện pháp, chính sách bảo hành phù hợp đối với từng công trình ở các môi trường khác nhau như: đồng bằng, núi, biển… Đồng thời đưa ra được các tác động của công trình đối với môi trường tự nhiên

2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại Vietincom giai đoạn 2011-2013

2.2.1 Tình hình biến động tài sản ngắn hạn của công ty Cổ phần Xây dựng –

Thương mại Vietincom giai đoạn 2011-2013

Trang 27

27

Bảng 2.1 Quy mô tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xây dựng-Thương mại

Vietincom giai đoạn 2011-2013

Chênh lệch 2012/2011 Tuyệt đối đối (%) Tương Tuyệt đối đối (%) Tương Tổng tài sản

(Nguồn: BCĐKT của công ty giai đoạn 2011-2013)

Qua bảng 2.1, ta thấy tổng tài sản ngắn hạn của công ty Cổ phần Xây dựng – Thương mại Vietincom có xu hướng tăng lên khá nhanh trong giai đoạn 2011-2013

Cụ thể, tổng tài sản ngắn hạn năm 2011 là 15.421,2 triệu đồng, năm 2012 đã tăng lên 25.205,79 triệu đồng, tăng 9.784,59 triệu đồng, tương ứng tăng 63,45% so với năm

2011 Sang đến năm 2013, tài sản ngắn hạn tiếp tục tăng thêm 22.307,8 triệu đồng, tương ứng tăng 88,5% và đạt mức khá cao là 45.513,59 triệu đồng Sự tăng lên nhanh chóng của tài sản ngắn hạn cho thấy công ty đang tập trung mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Để tìm hiểu rõ hơn, ta sẽ xem xét biến động của từng khoản mục nhỏ sau:

Tiền và các khoản tương đương tiền

Tiền và các khoản tương đương tiềncó biến động bất ổn trong giai đoạn năm 2011-2013 Năm 2012, tiền và các khoản tương đương tiền là 1.182,55 triệu đồng, giảm 303,11 triệu đồng, tương đương giảm 20,4% so với năm 2011 Trong năm 2012 lượng tiền và các khoản tương đương tiền có sự giảm nhẹ là do công ty đã dồn lượng lớn tiền để mua mới thiết bị vật tư phục vụ cho các công trình dân dụng nhằm nâng cao lợi nhuận cho công ty Việc giảm dự trữ tiền mặt giúp công ty tiết kiệm chi phí lưu trữ và tránh bị ứ đọng vốn Mặt khác, lượng tiền đấy được đưa vào lưu thông cũng sẽ tăng khả năng sinh lời cho tài sản ngắn hạn Sang đến năm 2013, tiền và các khoản tương đương tiền tăng đột biến lên 19.173,9 triệu đồng, tức tăng 17.991,35 triệu đồng, tương ứng tăng 1521,4%so với năm 2012 Tiền và các khoản tương đương tiền tăng lên nhanh chóng do trong năm này công ty nhận được nhiều hợp đồng xây dựng cả về

Trang 28

công trình dân dụng và công trình công nghiệp, một số hợp đồng đã được bàn giao và quyết toán đầy đủ cho công ty Hơn nữa, các hợp đồng cung cấp nguyên vật liệu do công ty sản xuất và nhập khẩu về như: thạch cao, xi măng, sàn gỗ, cũng đã được các khách hàng thanh toán khiến cho khoản mục này tăng cao Việc tăng cường dự trữ tiền

và các khoản tương đương tiền giúp công ty đáp ứng kịp thời các khoản chi tiêu phát sinh hàng ngày và đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, nhất là trong giai đoạn nền kinh tế còn đang gặp nhiều thách thức và khó khăn như hiện nay, từ đó nâng cao uy tín của công ty với các khách hàng và nhà cung cấp Tuy nhiên, lượng tiền

và các khoản tương đương tiền tồn trữ quá lớn sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty do không tận dụng được cơ hội đầu tư vào những tài sản sinh lời khác Vì vậy, công ty cần có những chính sách phù hợp để vừa có thể đảm bảo được khả năng thanh toán vừa tận dụng tối đa lượng tiền nhàn rỗi, nhằm thu được lợi nhuận lớn nhất, đảm bảo cho công ty luôn phát triển ổn định và bền vững

Các khoản phải thu ngắn hạn

Các khoản phải thu ngắn hạncó chiều hướng tăng lên khá nhanh trong ba năm 2011-2013 Năm 2011, các khoản phải thu ngắn hạn chỉ là 4.415,72 triệu đồng, đến năm 2012 đã tăng lên 7.413,75 triệu đồng, tăng 2.998,03 triệu đồng, tương đương tăng đến 67,89% so với năm trước Năm 2013, khoản mục này lại tiếp tục tăng với tốc độ nhanh hơn rất nhiều so với năm 2012 khi đạt mức 14.697,92 triệu đồng, tăng 7.284,17 triệu đồng, tương ứng tăng 98,25% so với năm 2012 Các khoản phải thu ngắn hạn của công ty đều là phải thu khách hàng và trả trước cho người bán Chính sự tăng lên liên tiếp của phải thu khách hàng do công ty nới lỏng chính sách tín dụng khiến cho các khoản phải thu ngắn hạn của công ty tăng mạnh Mặt khác, để đảm bảo đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho các hợp đồng thi công đã ký kết, chi phí trả trước cho người bán đã tăng lên trong cả ba năm 2011-2013 cũng là nguyên nhân khiến phải thu ngắn hạn tăng lên Sự tăng lên của khoản mục này cho thấy lượng vốn công ty bị chiếm dụng ngày càng tăng cao, khiến công ty phải đối mặt với các khoản nợ khó đòi và phát sinh chi phí quản lý, thu hồi các khoản nợ đó

Hàng tồn kho

Hàng tồn kho của công ty có sự tăng giảm thất thường trong ba năm gần đây Năm 2012 hàng tồn kho tăng từ 9.393,28 triệu đồng lên 16.278,53 triệu đồng, tăng 6.885,25 triệu đồng, tương đương tăng 73,3% so với năm 2011 Năm 2013, hàng tồn kho giảm nhẹ đi 16,83% xuống còn 13.539,39 triệu đồng Nguyên nhân là do trong năm 2012 công ty bắt đầu tham gia thi công một số hạng mục quan trọng cho dự án GEMEK TOWER Đây là một dự án lớn đòi hòi thời gian thi công dài và lượng nguyên vật liệu lớn Vì vậy, chi phí xây dựng dở dang và chi phí nhập mua nguyên vật

Trang 29

vụ cho công tác quản lý tại trụ sở của công ty Năm 2013, tài sản ngắn hạn khác là 102,39 triệu, giảm 228,58 triệu đồng, tương ứng giảm 69,06% so với năm 2012 Việc tài sản ngắn hạn khác giảm phản ánh chi phí cho các loại công cụ dụng cụ của bộ phận quản lý giảm, cũng có nghĩa là các loại công cụ dụng cụ này đang được sử dụng tiết kiệm hơn Tuy xét về mặt tuyệt đối, mức giảm không nhiều nhưng cũng góp phần tăng lợi nhuận cho công ty, đồng thời còn cho thấy việc sử dụng các công cụ dụng cụ được

chú trọng quản lý

Từ những phân tích trên ta thấy hai khoản mục tiền và tương đương tiền; các khoản phải thu ngắn hạn của công ty qua các năm có rất nhiều biến động Điều này một phần là do đặc trưng của ngành xây dựng luôn cần một lượng tiền mặt cần thiết để đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu thường xuyên như mua NVL, thanh toán nhân công… Khoản mục phải thu ngắn hạn của doanh ngiệp là khoản tiền phải thu từ các công trình đã hoàn thành nhưng chưa thanh toán hết cho công ty trong năm và những năm trước Hai khoản mục này của công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khả năng thanh toán của khách hàng trong năm, các khoản thu chi phát sinh trong ngày mà công

ty không dự đoán được nên có nhiều biến động

2.2.2 Cơ cấu TSNH của công ty Cổ phần Xây dựng-Thương mại Vietincom giai

đoạn 2011-2013

Cơ cầu tài sản ngắn hạn của công ty bao gồm các khoản mục sau: Tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác Việc phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn giúp nhà quản lý có thể đưa ra những chiến lược hoạt động tối ưu nhất, giúp công ty tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro thông qua việc đánh giá tính hợp lý trong việc thay đổi kết cấu các hạng mục tài sản ngắn hạn Hơn thế nữa, nếu công ty chú trọng phân tích kết cấu TSNH nhằm đưa ra một cơ cấu TSNH an toàn, phù hợp nhất với tình hình hoạt động của công ty và sự biến động của các yếu tố kinh tế trên thị trường thì sẽ rất có lợi trong việc thu hút vốn đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 30

- Cơ cấu tiền và các khoản tương đương tiền

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tiền và các khoản tương đương tiền của công ty Cổ phần

Xây dựng – Thương Mại Vietincomgiai đoạn 2011-2013

(Nguồn: BCĐKT của công ty Cổ phần Xây dựng – Thương Mại

Vietincom giai đoạn 2011-2013)

+ Tiền mặt

Trong tiền và các khoản tương đương tiền thìtiền mặt chiếm phần lớn vì vậy tiền mặt cũng có biến động tương tự như tiền và các khoản tương đương tiền Cụ thể như sau, năm 2011 tiền mặt là 1.237,7 triệu đồng chiếm 83,31% trên tổng tiền và các khoản tương đương tiền Năm 2012, tiền mặt giảm đi 251,92 triệu đồng, tương ứng giảm 20,35% xuống còn 985,78 triệu đồng, chiếm tỉ trọng 83,36% Với bản chất một công ty hoạt động trên lĩnh vực xây dựng thì tỷ trọng tiền mặt dự trữ như vậy là thấp

và sẽ không đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán đơn đặt mua nguyên vật liệu cho các công trình lớn và không đảm bảo khả năng thanh toán cho công ty Do vậy, năm 2013, tiền mặt tăng lên 18.150 triệu đồng, tương đương tăng 1.741,22%, chiếm tới 94,66% trên tổng tiền và các khoản tương đương tiền Tỷ trọng tiền mặt cao như vậy đủ để đáp ứng nhu cầu thanh toán tức thời phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Tuy nhiên không phải khoản nợ nào cũng yêu cầu thanh toán ngày lập tức, nên lượng tiền mặt dự trữ trong quỹ được đánh giá là quá cao dẫn đến lãng phí do không được đưa vào lưu thông để sinh lời cho công ty Chính vì vậy, công ty cần xác định lại nhu cầu dự trữ tiền mặt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH, nâng cao lợi nhuận công ty

+ Tiền gửi ngân hàng

Tiền gửi ngân hàngchiếm tỷ trọng trong tiền và các khoản tương đương tiền thấp hơn nhiều so với tiền mặt Năm 2012, tiền gửi ngân hàng giảm từ 247,96 triệu xuống còn 196,77 triệu đồng, tức giảm mất 51,19 triệu đồng, tương ứng giảm 20,64% so với năm 2011 và chỉ chiếm tỉ trọng 16,64% trên tổng tiền và các khoản tương đương tiền Sang đến năm 2013, tiền gửi ngân hàng tăng 827,13 triệu đồng, tức tăng 420,35% so

Năm 2013

Tiền mặt Tiền gửi ngân hàng

Trang 31

31

với năm 2012, chiếm tỉ trọng 5,34% trên tổng tiền và các khoản tương đương tiền Tuy tăng, giảm thất thường nhưng tiền gửi ngân hàng luôn chiếm tỉ trọng rất thấp so với tỉ trọng tiền mặt Nguyên nhân khiến cho lượng tiền gửi ngân hàng chiếm tỉ trọng nhỏ như vậy là do công ty chú trọng đến việc dự trữ lượng tiền mặt hơn là sử dụng các hoạt động thanh toán và chuyển khoản qua ngân hàng Việc dữ trữ tiền qua ngân hàng là một điều có lợi cho công ty vì khi đó công ty không chỉ được hưởng lãi mà việc dùng chúng để thanh toán cũng khá thuận tiện, nhanh gọn, chống thất thoát nhờ hệ thống thanh toán của ngân hàng Vì vậy công ty cần mở tài khoản tại ngân hàng để gửi các tài khoản tạm thời chưa dùng đến vào ngân hàng, triệt để sử dụng phương thức thanh toán chuyển khoản giữa hai bên mua và bán

Như vậy, tỷ trọng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng chưa được hợp lý Công ty cần điều chỉnh lại chính sách quản lý tiền mặt của mình nhằm xác định lại cơ cấu tiền và các khoản tương đương tiền một cách chính xác và giúp công ty đạt được lợi nhuận như kỳ vọng

- Cơ cấu các khoản phải thu ngắn hạn

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu các khoản phải thu ngắn hạn của công ty Cổ phần Xây dựng-

Thương mại Vietincom giai đoạn 2011-2013

(Nguồn: BCĐKT Cổ phần Xây dựng – Thương Mại

Vietincomgiai đoạn 2011-2013)

+ Phải thu khách hàng

Phải thu khách hàng chiếm phần lớn tỷ trọng các khoản phải thu của công ty Năm 2011, phải thu khách hàng là 3.086,12 triệu đồng, chiếm tỉ trọng là 69,89% trên tổng các khoản phải thu Năm 2012, khoản này tăng lên 2.111,34 triệu đồng, tương ứng tăng 68,41% và đạt tỷ trọng 70,11% trên tổng các khoản phải thu Sang đến năm

2013, mặc dù phải thu khách hàng tăng đến 3.755,93 triệu đồng, tức tăng 72,26% nhưng vẫn không thể so sánh được với mức tăng 88,5% của tổng tài sản ngắn hạn nên

tỉ trọng khoản này đã giảm xuống còn 60,92% Các khoản phải thu khách hàng tăng

Năm 2013

Trang 32

lên liên tiếp trong ba năm là do công ty đã nới lỏng chính sách tín dụng nhằm kích cầu tiêu dùng của khách hàng, từ đó gia tăng lợi nhuận cho công ty Có thể dễ dàng nhận thấy rằng giai đoạn 2011-2013 là giai đoạn khó khăn của cả nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là đối với ngành xây dựng khi thị trường bất động sản bị đóng băng vào năm

2012 Do vậy, để tránh rơi vào tình trạng làm ăn thua lỗ và cũng là do nhận thấy nhu cầu về nhà ở dân dụng còn nhiều nên công ty tích cực cho khách hàng được thanh toán trả chậm, đồng thời đưa ra nhiều hình thức giảm giá, khuyến mãi các sản phẩm nguyên vật liệu cho các hợp đồng có bao thầu nguyên vật liệu Chính vì vậy khoản phải thu khách hàng đã liên tục tăng qua các năm gần đây khiến cho tỉ trọng các khoản phải thu khách hàng luôn chiếm một phần lớn trong tổng tài sản ngắn hạn của công ty Qua xem xét ta thấy tỉ trọng của khoản này là hợp lý vì công ty hoạt động trên lĩnh vực xây dựng, các công trình đều yêu cầu lượng vốn rất lớn, thời gian thi công và thu hồi vốn lâu do đó các khoản phải thu luôn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng tài sản ngắn hạn của công ty Tuy nhiên, các khoản phải thu tăng với tốc độ nhanh như thế này sẽ đặt công ty vào nguy cơ đối mặt với các khoản nợ khó đòi và phát sinh nhiều phí quản

lý, thu hồi các khoản nợ đó Hơn nữa, nguồn vốn bị chiếm dụng quá lớn còn ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn của công ty Vì vậy, trong tương lai, công ty nên thắt chặt chính sách tín dụng, hạn chế lượng khách hàng được cấp tín dụng để đảm bảo nguồn vốn luân chuyển của mình

+ Trả trước cho người bán

Tỉ trọngkhoảntrả trước cho người bán tăng liên tiếp trong ba năm 2011-2013 Năm 2011, trả trước cho người bán là 1.329,61 triệu đồng, chiếm 30,11% trên tổng các khoản phải trả Năm 2012, khoản này đã tăng lên 2.216,29 triệu đồng và chiếm tỉ trọng 29,89% Đến năm 2013, trả trước cho người bán tiếp tục tăng lên 5.744,53 triệu đồng

và chiếm 39,08% trên các khoản phải trả của công ty Trả trước cho người bán giúp công ty nhận được hàng hóa đúng lúc trong trường hợp khan hiếm Tuy nhiên, tỉ trọng của khoản này năm 2013 được cho là khá lớn sẽ khiến công ty mất đi cơ hội đầu tư vào các dự án khác, tốc độ luân chuyển vốn cũng giảm đi, gây ảnh hưởng đến lợi nhuận công ty Vì vậy, trong thời gian tới, công ty nên giảm khoản trả trước cho người bán xuống, chỉ trả trước cho những mặt hàng khan hiếm hoặc sử dụng các hợp đồng phái sinh như: hợp đồng quyền chọn mua, hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng tương lai

để đảm bảo lượng hàng hóa, nguyên vật liệu nhận được và giảm thiểu chi phí cho công ty

- Cơ cấu hàng tồn kho

Hàng tồn kho của công ty chủ yếu là chi phí xây dựng dở dang và nguyên vật liệu nên thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản của công ty

Trang 33

33

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu hàng tồn kho của công ty Cổ phần Xây dựng Thương mại

Vietincom giai đoạn 2011-2013

(Nguồn: BCĐKT Cổ phần Xây dựng – Thương Mại Vietincom

giai đoạn 2011-2013)

+ Chi phí xây dựng dở dang

Chi phí xây dựng dở dang chiếm phần lớn hàng tồn kho của công ty vì vậy nó có biến động tương ứng với chiều biến động của hàng tồn kho Năm 2012, chi phí xây dựng dở dang tăng lên đến 6.187,92 triệu đồng, tương đương tăng 71,01%, chiếm tỉ trọng 91,58% trên hàng tồn kho Nguyên nhân là do trong năm này công ty bắt đầu tham gia thi công dự án tổ hợp nhà chung cư kết hợp với trung tâm thương mại GEMEK TOWER, là một dự án lớn lên thời gian thi công và quyết toán lâukhiến cho chi phí xây dựng dở dang tăng lên mạnh Sang đến năm 2013, công ty đã thực hiện bàn giao một trong hai tòa chung cư của dự án này khiến chi phí xây dựng dở dang giảm đi 5.666.82 triệu đồng, tương ứng giảm 38,03% so với năm 2012 và chỉ chiếm 60,92% trên hàng tồn kho của công ty

+ Nguyên liệu, vật liệu

Nguyên vật liệu của công ty chủ yếu là sắt, xi măng, cát, các loại gạch, ống chịu nhiệt, phục vụ cho hoạt động xây lắp Nguyên liệu, vật liệu đang có chiều hướng tăng mạnh trong ba năm gần đây Cụ thể là năm 2011, nguyên liệu, vật liệu là 679,08 triệu đồng, chiếm 7,23% hàng tồn kho Năm 2012, loại tài sản này đã tăng thêm 697,33 triệu đồng, tương ứng tăng 102,69% Năm 2013, nguyên vật liệu tồn kho của công ty lại tiếp tục tăng mạnh thêm 2.927,68 triệu đồng, tương ứng tăng 212,17%, chiếm 31,79% hàng tồn kho của công ty.Cũng bởi do tham gia dự án GEMEK TOWER khiến nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu của công ty tăng lên vì vậy công ty đã tăng lượng dự trữ kho để kịp thời đáp ứng nhu cầu công việc Hơn nữa, việc tăng cường dự trữ nguyên vật liệu còn giúp công ty tránh được ảnh hưởng từ biến động thất thường của giá cả Tuy nhiên, dự trữ tăng khiến chi phí lưu kho và chi phí bảo quản tăng lên

92.7 7%

Ngày đăng: 01/06/2015, 14:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Giáo trình Tài chính doanh nghiệp - Chủ biên PTS Lưu Thị Hương - NXB Giáo dục 1998 Khác
4. Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp, TS. Bùi Văn Vần, NXB Học Viện Tài chính Khác
5. Nguyễn Hải Sản(1998), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản thống kê Khác
6. Trường đại học kinh tế quốc dân (2005), Giáo trình pháp luật kinh tế, Nhà xuất bản thông kê Khác
8. Thông tin trên : Tạp chí kinh tế các năm 2010, 2011, 2012 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại Vietincom - Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại VIETINCOM
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại Vietincom (Trang 24)
Bảng 2.1 Quy mô tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xây dựng-Thương mại - Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại VIETINCOM
Bảng 2.1 Quy mô tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xây dựng-Thương mại (Trang 27)
Bảng 2.2Khả năng thanh toán của công ty Cổ phần Xây dựng – Thương Mại Vietincom giai đoạn 2011-2013 - Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại VIETINCOM
Bảng 2.2 Khả năng thanh toán của công ty Cổ phần Xây dựng – Thương Mại Vietincom giai đoạn 2011-2013 (Trang 35)
Bảng 2.3 Nhóm chỉ tiêu tổng quát về hiệu quả sử dụng của công ty Cổ phần Xây dựng – Thương mại Vietincom - Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại VIETINCOM
Bảng 2.3 Nhóm chỉ tiêu tổng quát về hiệu quả sử dụng của công ty Cổ phần Xây dựng – Thương mại Vietincom (Trang 39)
Bảng 2.4 Nhóm chỉ tiêu phản ảnh tốc độ lưu chuyển tài sản ngắn hạn của công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại Vietincom - Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại VIETINCOM
Bảng 2.4 Nhóm chỉ tiêu phản ảnh tốc độ lưu chuyển tài sản ngắn hạn của công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại Vietincom (Trang 44)
Bảng 2.5 Nhóm chỉ tiêu đánh giá năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn của công ty Cổ phần Xây dựng – Thương mại Vietincom - Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại VIETINCOM
Bảng 2.5 Nhóm chỉ tiêu đánh giá năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn của công ty Cổ phần Xây dựng – Thương mại Vietincom (Trang 47)
Bảng 3.1. Tỉ trọng TS - NV trên doanh thu - Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xây dựng- Thương mại VIETINCOM
Bảng 3.1. Tỉ trọng TS - NV trên doanh thu (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w