1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam

84 635 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Đầu Tư Đến Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Ở Việt Nam
Người hướng dẫn Thầy Giáo Từ Quang Phương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 409,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu tư là một lĩnh vực có từ rất lâu nhưng thực sự để nó mang lạihiệu quả cao thì đó là vấn đề mà tất cả các quốc gia quan tâm Không chỉriêng đối với các nước phát triển mà cả những nước dang phát triển đầu

tư là nhân tố quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Đồng thời là đầu tư tác động đến việc chuyển dịch cơ câu của mỗi quốcgia vì vậy

Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí là một trong những vấn đề hết sứcquan trọng trong vấn chiến lược phát triển của mỗi quốc gia điều nàycòn có ý nghĩa to lớn đối với VIỆT NAM chung ta Trong bối cảnh toàncầu hóa như hiện nay , xu thế hội nhập vào khu vực và thế giới là tất yếu.Mỗi quốc gia đều phải tự chủ động tìm lợi thế của mình trong quá trìnhhợp tác phát triển

Thực hiện đường lối đổi mới của đảng , tư năm 1986 tới nay , rõ nhất là

từ năm 1990 , cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷtrọng các ngành công ngiệp và dịch vụ trong GDP của toàn nền kinh tếnước ta đã và của các vùng tăng nhanh chiếm tỷ trọng lớn , tỷ trọng củanông ngiệp có xu hướng giảm dần , cơ cấu các thành phần kinh tế có xuhướng thay đổi theo hướng hợp lí hơn Những chuyển biến đó đã gópphần tạo đà cho nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định

Tuy nhiên, những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũngmới chỉ là bước đầu, và nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cònchậm Cho đến nay, nước ta vẫn là nước nông nghiệp, dân cư sống ởnông thôn và lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn Để đạt đượcmục tiêu đến năm 2020, “ đưa nước ta cơ bản trở thàn một nước côngnghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,…” màĐại hội VIII của Đảng đề ra, thì còn nhiều vấn đề cần được tiếp tụcnghiên cức và có giải pháp sát thực

Trang 2

Để có một cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý như hiện nay không thểkhông kể đến vai trò của đầu tư Đầu tư được coi như một công cụ hữuhiệu, lá bài quan trọng nhất trong tay các nhà quản lý nhằm đẩy nhanhquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chính vì thế mà những năm gầnđây, chủ trương chính sách mà Đảng và Nhà nước đặt ra là đẩy mạnhcông tác thu hút đầu tư, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Vậy tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế như thếnào, trên những phương diện nào và cách thức ra sao? Làm thế nào để cóthể phát huy tối đa vai trò đó của đầu tư? Chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu

đề tài : tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt nam

Để thực hiện được đề tài này chúng em xin cảm ơn sự giúp dỡ của thầygiáo TỪ QUANG PHƯƠNG Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng khôngtránh khỏi thiếu sót vì vậy chúng em rất mong được sự góp ý của thầy

và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 3

Nội dung

Chương I: Lý luận chung về đầu tư và vai trò của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1 Lý luận chung về đầu tư:

1.1 Khái niệm đầu tư:

Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào một hoạt độngnào đó nhằm đem lại mục đích của chủ đầu tư trong tương lai trên góc

độ tài chính : đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tưnhận về 1 chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn va sinh lời trên góc độtiêu dùng : đầu tư là sự hi sinh mức tiêu dùng hiện tại để thu về mứctiêu dùng nhiều hơn trong tương lai

Đầu tư là việc bỏ vốn hay chi dùng vốn cùng các nguồn lực kháctrong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về các kếtquả có lợi trong tương lai

Đầu tư là sự hi sinh hay bỏ ra các nguồn lực ở hiện tại để tiến hànhcác hoạt động nhằm đạt được các kết quả , thực hiện đươc các mụctiêu nhất định trong tương lai

Đầu tư là quá trình bỏ vốn để tạo nên cũng như để vận hành mộtloại tài sản kinh doanh nào đó như nhà xưởng , máy móc , vật tư cũngnhư để mua cổ phiếu hay cho vay lấy lãi mà ở đây những tài sản đầu

tư này có thể sinh lợi dần hay thõa mãn dần một nhu cầu nhất định nào

đó của người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhấtđịnh

Đầu tư theo nghĩa rộng nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ởhiên tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu

tư các kết quả nhất định trong tương lai llowns hơn các nguôn lực đã

Trang 4

bỏ ra để đạt đươc kết quả đó nguồn lục đó có thể là tiền , là tàinguyên thiên nhiên , là sức lao động và trí tuệ những kết quả sẽ đạtđược có thể là sự tăng thêm tài sản tài chính ( tiền vốn ) , tài sản vậtchất ( nhà máy , đường sá , bệnh viện , trường học ) , tài sản trí tuệ( trình độ văn hóa , chuyên môn , quản lí , khoa học kĩ thuật ) vànguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động caohơn trong nền sản xuất xã hội trong những kết quả đã đat được trênđây , tài sản trí tuệ và vai trò quan trọng trong mọi nguồn nhân lựctăng thêm lúc và mọi nơi không chỉ đối với người bỏ vốn mà cả đốivới toàn bộ nền kinh tế những kết quả này khong chỉ người đầu tư

mà cả nền kinh tế được hưởng thụ

theo nghĩa hẹp , đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng cácnguồn lực hiện tại , nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kếtquả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đượccác kết quả đó

đầu tư phát triển là phương thức đầu tư trực tiếp , hoạt động trong đóngười có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sảnmới cho nền kinh tế , làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạtđộng xã hội khác , là điều kiện chủ yếu để tạo được việc làm , nâng caođược đời sống người dân trong xã hội đó là việc bỏ tiền ra để xây dựng ,sưa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng , mua sắm thiết bị , lắp đặt chungtrên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực , thực hiện các chi phíthường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trìtiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nềnkinh tế xã hội

đầu tư tài chính : là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vayhay mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước ( gửi tiếtkiệm , mua trái phiếu chính phủ ) hay lãi suất tùy thuộc vào kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành ( cổ phiếu, trái

Trang 5

phiếu cua công ty ) đầu tư tài sản tài chính không tạo ra tài sản mới chonền kinh tế ( nếu không xết đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này ) màchỉ làm tăng thêm giá trị cuat tài sản tài chính của tổ chức , cá nhân đầu

tư ( đánh bạc nhằm mục đích sinh lời cũng là một loại đầu tue tài chínhnhưng bị cấm do gây nhiều tệ nạn xã hội công ty mở ra sòng bạc để giảitrí của đến chơi nhằm thu lạo lợi nhuận về cho công ty tì đây là loại đầu

tư phát triển nếu đươc nhà nước cho phép và tuân theo đầy đủ các quyđịnh của pháp luật các quy chế hoạt động do nhà nước quy định để khonggây ra các tệ nạn xã hội ) với sự hoạt động của hình thức tài chính , vốn

bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng , khi cần có thể rút ra một cáchnhanh chóng ( rút tiết kiệm , chuyển nhượng trái phiếu , cổ phiếu chongười khác ) điều đó khuyến khích người có tiền bỏ tiền ra để đầu tư

để giảm độ rủi ro , họ có thể đầu tư vào nhiều nơi , mỗi nơi một ít tiền đây la một nguồn cung cấp vốn đầu tư quan trọng cho đầu tư phat triển đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra đẻ muahàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệchkhi mua và bán loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới chi nềnkinh tế ( nếu không tính đến ngoại thương ), mà chỉ làm tăng tài sản chínhcủa người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại , chuyển giao quyền sởhữu hàng hóa giuwax người bán và người đầu tư và người đầu tư vớikhách hang của họ tuy nhiên đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩyquá trình lưu thông của cải vật chất đầu tư phát triển tạo ra , từ đó thúcđẩy sản xuất phát triển , tăng thu cho ngân sách , tăng tích lũy cho sảnxuát , kinh doanh nghiệp vụ nói riêng và nền sản xuất xã hộ nói chung( chúng ta cần lưu ý rằng đầu cơ trong konh doanh cũng thuộc đầu tưthương maijxets về bản chất nhưng bị pháp luật cấm vì gây ra tình trạngthừa thiếu hàng hóa một cách giả tạo , gây khó khăn chi việc quản lí lưuthông phân phối , gây mất ổn định cho sản xuất , làm tăng chi phí chongười tiêu dùng

Trang 6

1.2 phân loại các hình thức đầu tư

- theo bản chất của đối tượng đầu tư : hoạt động đầu tư bao gồm đầu

tư cho các đối tượng vật chất hoặc tài sản ( nhà xưởng , máy móc thiết

bị )cho các đối tượng tài chính ( đầu tư tài sản trí tuệ và nguồn nhânlực như đào tạo , nghiên cứu khoa học , y tế ) trong các loại đầu tưsau đây đầu tư đối tượng vật chất là điều kiện tiên quyết , cơ bản làmtăn tiềm lực của nền kkinh tế , đầu tư tài chính là điều kiện quan trọng

để thu hút mọi nguồn vốn từ mọi tầng lơp dân cư cho đầu tư mọi đốitượng vật chất , còn đầu tư tài sản trí tuệ và các nguồn nhân lực là điềukiện tất yếu để đảm bảo cho đầu tư các đối tượng vật chất tiến hànhthuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế xã hội

theo cơ cấu tái sản xuất có thể phân loại hoạt động đầu tư thành đầu tưtheo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu trong đó đầu tư theo chiềurộng vốn lớn để khe dọng lâu , thời gian thực hiện đầu tư và thời giancần thực hoạt động để thu hồi vốn lâu , tính chất xã hội phức tạp độmạo hiểm cao còn đầu tư theo chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn íthơn , thời gian thực hiện đầu tư không lâu , độ mạo hiểm thấp hơn sovới đầu tư theo ciều rộng

- theo phan cấp quản lí , điều lệ quản lí đầu tư và xây dựng ban hànhtheo nghị định số 12/cp ngày 5 thánh 5 năm 2000 phân thành 3nhóm A, B, C tùy theo tính chất và quy mô của dự án , trong đónhóm A của dự án do thủ tướng chính phủ quyết đinh , nhóm B, C

do bộ trưởng , thủ trưởng cơ quan ngang bộ , cơ quan trực thuộcchính phủ , UBND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương quyết định

- theo quan hệ quản lí của chủ đầu tư , hoạt động đầu tư có thể phânchia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

+ đầu tư gián tiếp là đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếptham gia điều hành quản lí quá trình thực hiện và vận hành các kết quảđầu tư đó là việc chính phủ thông qua các chương trình tài trợ không

Trang 7

hoàn lại hoặc ó hoàn lại nhưng với lãi suất thấp cho chính phủ của cácnước khác vay để phát triển kinh tế xã hội , là việc các cá nhân , các tổchức mua các cứng chỉ có giá như cổ phiếu , trái phiếu để hưởngphúc lợi ( gọi là đầu tư tài chính )

Đầu tư trực tiếp là lloại đầu tư trong đó người có vốn trực tiếp thamgia quản lí , điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư đầu tư trực tiếp được chia thanh 2 loại : đầu tư dịch chuyển và đầu tưphát triển

Đầu tư dịch chuyển là đầu tư trong đó người có tiền mua lại một số cổphần đủ lớn để nắm quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp trong trương hợp này việc đẩu tư không làm tăng tài sản của doanhnghiệp mà chỉ thay đổi quyền sở hữu các cổ phần của doanh nghiệp Dầu tư phát triển là loại đầu tư để tạo ra những năng ực sản xuất phục

vụ mới ( ả về số lượng và chát lượng ) đây là loại đầu tư dể tái sảnxuất mơ rộng , là biện pháp chủ yếu để cung cấp việc làm cho ngườilao động , là tiền đề để thực hiện đầu tư tài chíh và đầu tư chuyển dịch chính sự điều tiết của bản thân thị trường và các chính sách khuyếnkhích đầu tư củ nhà nước sẽ dịnh hướng của nhà nước , từ đó tạo nênđược một cơ cấu đầu tư phục vụ cho việc hình thành 1 cơ cấu kinh tếhợp lí , có nghĩa là người có vốn sẽ không chỉ đầu tư cho lĩnh vực sảnxuất , khoogt chỉ đầu tư tài chính , đầu tư chuyển dịch ma cả đầu tưphát triển

-theo nguồn vốn : đầu tư dược chia thành đầu tư có vốn huy độngtrong nước ( vốn tích lũy của ngân sách , của doanh nghiệp , tiết kiệmcủa dân cư ) , và vốn huy động từ nước ngoài ( vốn đầu tư gián tiếp ,vốn đầu tư trực tiếp ) phân loaị nay cho thấy tình hình huy động vốnđối với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành , từng địa phương

và toàn bộ nền kinh tế

2 lí luận chung về cơ cấu kinh tế - chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 8

2.1 chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2.1.1 khái niệm cơ bản về cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố, cps quan hệ chặt chẽ với nhau , tác động qua lại với nhau trong mộtkhông gian và thời gian nhất định , trong những điều kiện xã hội cụthể , hướng vào thực hiện những mục tiêu đã định

2.1.2 phân loại chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế gồm 3 phương diện hợp thành :

-cơ cấu kinh tế

- cơ cấu thành phần kinh tế

Cơ cấu kinh tế lãnh thổ được hình thành bởi việc bố trí sản xuất theokhông gian địa lý trong cơ cấu lãnh thổ, có sự biểu hiện của cơ cấu ngànhtrong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ Việc chuyển dịch cơ cấulãnh thổ phải đảm bảo sự hình thành và phát triển có hiệuh quả của cácngành kinh tế trên lãnh thổ và trên phạm vi cả nước

Cơ cấu thành phần kinh tế biểu hiện tr chức kinh tế với các chế độ sởhữu khác nhau có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất,thúc đẩy sự phân công lao động xã hội

2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2.2.1 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, cơ cấu kinh tế luônthay đổi Sự thayđổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái

Trang 9

khác cho phù hợp với môi trường phát triển gọi là chuyển dịch cơ cấukinh tế.

2.2.2 Ứng với 3 loại cơ cấu kinh tế thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế có 3loại như sau:

_ Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

_ Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế

_ Chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ

2.3 Tính tất yếu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphóa hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, trong xu thế hội nhập với khu vực

và thế giới

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tất yếu gắn liền với sự pháttriển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là với sự phát triển trong quá trìnhhội nhập khu vực và thế giới Quá trình chuyển dich cơ cấu kinh tế phụthuộc vào các yếu tố như: quy mô kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế,mức độ mở cửa của nền kinh tế với bên ngoài, dân số một quốc gia, cáclợi thế tự nhiên, nguồn nhân lực, điều kiện kinh tế, văn hóa, sự ổn địnhchính trị xã hội… Nhân tố quan trọng khác góp phần chuyển dịch cơ cấukinh tế là quá trình chuyên môn hóa trong phạm vi quốc gia và mở rộngchuyên môn hóa quốc tế đồng thời có sự nhảy vọt về khoa học kỹ thuật.Chuyên môn hóa mở đường cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại, áp dụngcông nghệ tiên tiến, hoàn thiện tổ chức, nâng cao năng suất lao động xãhội Chuyên môn hóa cũng tạo ra các hoạt động dịch vụ và chế biến mới.Tiến bộ kỹ thuật công nghệ đã thúc đẩy chuyên môn hóa Điều đó làm tỷtrọng các ngành truyền thống giảm đi, tỷ trọng các ngành dịch vụ có khoahọc kỹ thuật mới tăng trưởng nhanh chóng và dần chiếm ưu thế Phâncông lao động xã hội và sự tiến bộ kỹ thuật, công nghệ ngày càng pháttriển sâu sắc tạo ra những tiền đề cho việc phát triển thị trường các yếu tốsản xúât Và ngược lại việc phát triển các yếu tố sản xuất lại thúc đẩyquá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế do vậy làm sâu sắc thêm quá

Trang 10

trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướnghợp lý - hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa là một tất yếu khách quangắn liền với sự phát triển kinh tế trong giai đoạn hội nhập của Việt Nam

3 Lý luận về đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

3.1 Mối quan hệ giữa đầu tư tăng trưởng kinh tế, cơ cấu đầu tư

A, Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu(+) Tác động đến tổng cầu:

Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu tư Đầu tư là một yếu

tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn xã bộ nền kinh tế Theo

số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm tỷ trọng từ 24 đến 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn Xét theo

mô hình kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổngcầu Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng ( nếu các yếu tố khác không đổi)

Trong thực tế thì mức độ của ảnh hưởng trên còn phụ thuộc vào mức độ cung của nền kinh tế Nếu năng lực cung hạn chế thì việc gia tăn tổng cầu, với bất cứ lí do nào chỉ làm tăng giá mà thôi , sản lượng thực tế không tăng là bao Ngược lai , nếu năng lực sản xuất dồi dào thì sự gia tăng

Trang 11

tổng cầu sẽ thực sự làm tăng sản lượng , ở đây llis thuyết cung được khẳng định

Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế theo số liệu ngân hàng thế giới đầu tư thường chiếm khoảng 24%-28% trong cơ câu tổng cầu của tất cả các nước tên thế giới Với tổng cầu , tác động của đầu tư là ngắn hạn

(+) Tác động đến cung:

Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính

Là cung cấp trong nước và cung cấp từ nước ngoài Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…, thể hiện qua phương trình sau:

Q = F (K, L,T, R…)

K: vốn đầu tư

L : lao động

T : công nghệ

R : nguồn tài nguyên

Như vậy, tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung của nên kinh tế , nếu các yếu tố khác không đổi, mặt khác tác động của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực , đổi mới công nghệ do đó , đầu tư lai giántiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế

B, tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng và phát triển kinh tế các mô hình tăng trưởng đơn giản dang tổng cung đều nhấn mạnh đến yếu tố vốn trong tăng trưởng

- hàm sản xuất Cobb-Douglas

- các nhà kinh tế tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng thông qua hàm sản xuất Hàm số này nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng trưởng của đầu ra với sự tăn lên của yếu tố đầu vào là : vốn , lao động , tài nguyên và khoa học công nghệ

Trang 12

Trong đó : g la tốc độ tăn trưởng của GDP

K, l , r là tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào

T là phần dư còn lại , phản ánh tác động của khoa học công nghệ

Như vậy từ đây ta có thể lượng hóa được tác động của các yếu tố tới tốc

dộ tăng trưởng , trong đó có tốc dộ tăng của vốn sản xuất Hay có thể đánh giá được tác dộng của đầu tư tới tốc dộ tăng trưởng kinh tế

- mô hình Harrod- Domar

đã đưa ra mối quan hệ hàm số giữa vốn ( kí hiệu là K ) và tăng trưởng sản lượng ( kí hiệu là Y ) Mô hình này cho rằng sản lượng của bất kì một thực thể nào – cho dù là doanh nghiệp , một ngành hay toàn bộ nền kinh tế - đều phụ thuộc vốn đã đầu tư với thực thể kinh tế đó cà được thể hiện dưới dạng hàm

Y= K/ k

Với k là hằng số , được gọi là hệ số vốn – sản lượng vốn

Để đạt được tốc dộ tăng trưởng nào đó thì nền kinh tế phải được đầu

tư theo một tỷ lệ nhất định nào đó từ GDP , khi chuyển sang dạng tốc

độ hệ số k gọi là hệ ố Icor

ICOR= vốn đầu tư / GDP do vốn tạo ra

Trang 13

Từ đó suy ra :

Mức tăng GDP = vốn đầu tư / ICOR

Hệ số ICOR cho biết để tăng thêm một đồng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư

Theo kinh nghiệm của các nhà kinh tế , muốn giữ tốc độ tăng trướng

ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 15-20% so với GDP tùy thuộc vào ICOR mỗi nước

Ở các nước phát triển , ICOR thường lớn , từ 5-7 do thừa vốn thiếu laođộng , vốn được sử dụng nhiều cho lao động , do sử dụng công nghệ hiện đại với giá cao Còn ở các nước chậm phát triển , ICOR thấp từ 2-3 do thiếu vốn , thừa lao động để thay thế cho vốn sử dụng công nghệ kém hiệu quả , giá rẻ

Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc nhiều nhân tố , thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước

Dối với các nước dang phát triển về bản chất được coi là ván đề đảm bảo các nguồn vốn đầu tư đủ để đạt một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm quốc dân dự kiến Thực vậy , ở nhiều nước , đầu tư đóng vai trò như một ‘ cái hích ban đầu ‘ , tạo đà cho cho sự cất cánh của nền kinh tế Đối với nước ta để đạt mục tiêu đến năm 2010 tăng gấp dôi tổng sản phẩm quốc nội năm 2000 theo dự tính của các nhà kinh tế , nếu ICOR

là 3 thì vốn đầu tư phải lớn gấp 3 lần hiện nay

Kinh nghiệm các nước cho thấy chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơcấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong các ngành , các vùng lãnh thổ cũng như phụ thuộc vào hiệu quả chính sách kinh tế nói chung

Thông thường ICOR trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp , ICOR trong gian đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu do tận dụng năng lực Do đó ở các nước phát triển , tỷ lệ đầu tư thấp dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp

C, mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và tốc độ tăng trưởng

Trang 14

Các nhà kinh tế đều thừa nhận đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế , muốn có tăng trưởng thì phải có đầu tư Tuy nhiên cơ cấu đầu tư là một vấn đề gây nhiều tranh cãi Các nhà kinh tế đều đồng ý với nhau rằng cần có một cơ cấu đầu tú hợp lí

để tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lí Thuật ngữ hợp lí ở đây được hiểu là cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế như thế nào để đảm bảo được tốc dộ phát triển nhanh và bền vững Mặc dù đồng ý với nhau như vậy nhưng các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về cách thức tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lí Có một số quan điểm chủ yếu sau :

+ quan điểm của trường phái tan cổ điển

Quan điểm này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực ( vốn, lao động ) mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này Trường phái này khẳng định một trong những ưu điểm của kinh tế thị trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự động dưới sự tự điều khiển của thị trường Các danh nghiệp ới mục đích tối da hóa lợi nhuận sẽ tim kiếm những cơ hội đầu tư tốt nhất cho mình Tuy nhiên giả thiết của trường phái tân cổ điển

là thị trường cạnh tranh hoàn hảo Đó là thị trường mà người bán và người mua không ai kiểm soát và có khả năng kiểm soát giá cả và có đầy

đủ thông tin trong cả hiện tại và tương lai Trong thực tế giả định này là một điều phi thực tế , nhất là về thông tin

+ quan điểm ủng hộ sự can thiệp của chính phủ

Quan điểm này cho rằng do thị trường không hoàn hảo , nhất là đối với các nước đang phát triển , nên tự vận động của thị trường sẽ không mang lại kết quả tối ưu Thông tin không hoàn hảo có thể dẫn đến sản xuất và đầu tư quá mức

Mặt khác , ở hầu hết các nước dang phát triển kinh tế còn lạc hậu phụ thuộc vào nông nghiệp , nếu để thị trường tự vận động sẽ không tạo ra sự phát triển mạnh mẽ Nhà nước cần tạo ra sự khởi đông ban đầu để hình

Trang 15

thành nên các ngành công nghiệp Sự can thiệp của nhà nước trong sự phân bổ nguồn lực cho công nghiệp là cần thiết Sỡ dĩ phải phát triển công nghiệp bởi đây là khu vực có thể tăng năng suất nhanh nhất do ứng dụng tiến bộ của khoa học kĩ thuật , ngoài ra khu vực này còn tạo ra kích thích cho toàn nền kinh tế Vì lí do đó mà cac nước dang phát triển chủ trương đẩy mạnh phát triển công nghiệp , hay còn gọi quá trình công nghiệp hóa

Tuy nhiên ở nhiều nước sự can thiệp quá mức của nhà nươc vào quá trình công nghiệp đôi khi không hiệu quả Rất nhiều ngành công nghiệp được hình thành theo ý chí chủ quan của một số nhà lãnh đạo , chứ khôngphải dựa trên các phân tích kinh tế kĩ càng

Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế chuyển đổi nhiều định chế của cơ chế thị trường chưa hoàn chỉnh nên các điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo rõ ràng là chưa đáp ứng được mặt khác nền kinh tế của ta dang ở mức phát triển thấp , chịu ảnh hưởng của một thời gian dài trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung , Tát cả những đạc tính đó cho thấy nhà nước cần đóng vai tro quan trọng trong việc thúc đẩy

sự phát triển kinh tế không thể để thị trường tự thân vận động Vì thế có thẻ nói đầu tư là một con bài quan trọng nhất mà nhà nước sử dungjn để tác động làm tăng trưởng kinh tế , điều tiết nèn kinh tế theo đúng dịnh hướng phát triển

D, mối liên hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và quá trình phát triển kinh tế Cho tới nay chưa có lý thuyết hoàn hảo nào có thể mô tả nhữn mối liên

hệ giữa quá trình phát triển và quá trình thay đổi cơ câu Tuy nhiên nhiềucông trình nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng chắc chắn là có những quy luật phản ánh phương thức thay đổi của cơ cấu kinh tế khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên

Trang 16

Như vậy cơ sở giúp chúng thấy được mối liên hệ giữa quá trình phát triểnkinh tế và thay đổi cơ cấu là cách thức tính toán GDP theo các biến số kinh tế vĩ mô

Trước hết nếu xét về phía cung , chúng ta phải phân tích cơ cấu sản xuất được tính theo các ngành sản xuất Ngoài các ngành có thể dễ quan sát như nông nghiệp , công nghiệp , hệ thống tài chính là ngành có tầm quan trọng đặc biệt trong cơ cấu của một nền kinh tế Một số kết quả quan sát cho thấy rằng , khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên , thì tỷ trọng trong tổng số sản phẩm quốc dân của ngành nông nghiệp giảm cùng với

số lao động sử dụng và tỷ trọng của ngành công nghiệp trong đó chủ yếu

là ngành khai khoáng và ngành chế biến tăng lên cùng với số lao động sử dụng Đặc biệt ngành chế biến ban đầu có xu hướng tập trung vào sản xuất cac mặt hàng tiêu dùng giản đơn như lương thực thực phẩm , quần

áo , sau này chuyển dần sang sản xuất các mặt hàng tư liệu sản xuất thuộcnghành công nghiệp nặng và sau cùng là sản xuất các sản phẩm vi điện tử

và các sản phẩm có công nghệ cao Vai trò của các ngành dịch vụ có xu hướng tăng lên tương đối rõ rệ Do kết quả mở rộng của nền kinh tế quốcdân khi quá trình kinh tế diễn ra nên sự phụ thuộc vào ngoại thương giảmdần cùng với tỷ trọng của sản phẩm khai thác trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu

Một điiều đáng quan tâm nữa là quá trình tăng trưởng có liên hệ chặt chẽ với sự đa dạng hóa sản xuất Mặt hàng chế biến và dịch vụ ngày cang đa dạng hơn sẽ có tác dụng mở rộng cơ cấu sản xuất mà trước đây chủ yếu lànông nghiệp Trình dộ chuyên môn hóa trong sản xuất và phân phối sẽ tăng lên khi nhu cầu cho nền kinh tế trở nên đa dạng hơn Tương tự như vậy trong nội bộ các ngành sản xuất vì thế trong nội bộ khu vực kinh tế nông thôn , các nghề phụ , phi nông thôn cũng sẽ trở thành các nguồn thu nhập và công ăn việc làm ngày càng quan trọng hơn so với thu nhập trực

Trang 17

tiếp từ nông nghiệp nghĩa là khu vực không chính thức trong nền kinh tế

và tỷ lệ tiết kiệm tăng lên và mức chênh lệch giưa tiết kiệm và đầu tư giảm đi, việc chủ động vạch ra những chính sách thay đổi cơ cấu sản xuấtcủa nền kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng đã dần dần có hiệu lực

Tóm lại , quá trình phát triển tăng trưởng kinh tế của một quốc gia

thuongf được xem xét như một quá trình làm thay đổi thu nhập bình quânđầu người Một xu hướng mang tính quy luật là cùng với sự phát triển củakinh tế , cũng diễn ra một quá trình thay đổi về cơ cấu kinh tế tức là một

sự thay đổi tương đối về vai trò mức đóng góp , tốc độ phát triển của từngthành phần kinh tế , từng yếu tố riêng về cấu thành toàn bộ nên kinh tế Một trong những cơ cấu kinh tế được quan tâm và nghiên cứu nhiều trongmối liên hệ với quá trình phát triển và tăng trưởng là cơ cấu ngành

Một trong những đặc điểm rõ nét nhất trong việc thay đổi cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển là việc tăng nhanh tỷ trọng công gnhieepj trong GDP trong khi tỷ trọng nông nghiệp lại giảm sút Có hai lí do chính lí giải cho hiện tượng này , thứ nhất là luật Enghen cho rằng khi thu nhập của một gia đình tăng lên thì phần chi tiêu cho thực phẩm giảm xuống Điều đó làm cho nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp không thể tăng cùng tốc độ như nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa công nghiệp được Thứ hai là sự phát triển kinh tế làm cho năng suất lao động nói chung và trong

Trang 18

nghành nông nghiệpnoi chung tăng lên, do đó tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp có xu hướng giảm

Như vậy có thể nói khi đời sống được nâng lên thì tỷ trọng các ngành công nghiệp dịch vụ có xu hướng tăng , còn tỷ trọng ngành nông nghiệp

có xu hướng giảm dần

2 Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và chuyển dịch cơ cấu đầu tư

Cơ cấu đầu tư là cơ cấu các yếu tố cấu thành đầu tư như cơ cấu về vốn , nguồn vốn , cơ cấu huy động và sử dụng vốn quan hệ hữu cơ , tương tác qua lại giữa các bộ phận trong không gian , vận động theo hướng hìnhthành một cơ cấu đầu tư hợp lí và tạo ra những tiềm lực lớn hơn về mọi mặt kinh tế xã hội

Cơ cấu đầu tư luôn luôn thay đổi trong từng giai đoạn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế , có nhân tố thuộc nội tại nền kinh tế , có nhân

tố tác động từ bên ngoài , có nhân ntoos thúc đẩy sự phát triển , song cũng có nhân tố kĩm hãm sự phát triển Các nhân tố trong nội bộ nền kinh tế bao gồm : nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội , trình độ phát triển của lực lượng sản xuất , quan điểm chiến lược , mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đât nước trong mỗi gian đoạn nhất dịnh ,

cơ chế quản lí có thể ảnh hương đến cơ chế hình thành cơ cấu đầu tư nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài như xu thế chính trị , xã hội kinh tế của khu vực và thế giới Trong xu thế quốc tế hóa lực lượng sản xuất và thời đại bùng nổ thông tin , tìm hiểu thị trường và xác dịnh chiến lược đầu tư hợp lí để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm chủ đọng hội nhập Sau thay đổi của cơ cấu đầu tư từ mức độ này sang mức độ khác , phù hợp với môi trường và mục tiêu phát triển gọi là chuyển dịch cơ cấu đầu

tư Sự thay đổi không chỉ là sự thay đổi về vị trí ưu tiên mà còn là sự thay đổi về chất trong nội bộ cơ cấu và các chính sách áp dụng Về thực chất chuyển dịch cơ cấu đầu tư là điều chỉnh cơ cấu vốn , nguồn vốn đầu

tư , điều chỉnh cơ cấu huy động và sử dụng các loại vốn và nguồn vốn

Trang 19

phù hợp với mục tiêu đã xác dịnh của toàn bộ nền kinh tế , ngành địa phương và các cơ sở trong từng thời kì phát triển

Chuyển dịch cơ cấu đầu tư có ảnh hưởng quan trọng đến đổi mới cơ cấu kinh tế trên cơ sở sự tác động của yếu tố đầu tư và có tính đến những nhân tố ảnh hưởng khác Mặt khác , sự thay đổi và phát triển của các bộ phận nền kinh tế sẽ quyết định sự thay đổi cơ cấu đầu tư của hiện tại Kếtquả của đầu tư đổi mới cơ cấu kinh tế là sự thay đổi về số lượng cũng như chất lượng của các ngành trong nền kinh tế quốc dân theo hướng xuất hiện nhiếu ngành mới , giảm tỷ trọng những ngành không phù hợp với tăng tỷ trọng cúa những ngành lợi thế , là đổi mới mối quan hệ giữa các bộ phận trong ngành , của nền kinh tế theo ngành theo hướng càng ngày hợp lí hơn , sử dụng các nguồn ngày càng hiệu quả hơn , là việc nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội cho từng bộ phận cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Quá trình chuyển dịch cơ cấu đầu tư của mốt quốc gia , của một ngành , một địa phương hay cơ sở thông qua kế hoạch đầu tư là nhằm hướng tới việc xây dựng một cơ cấu đầu tư hợp lí

Cơ cấu đầu tư hợp lí là cơ cấu đầu tư phù hợp với quy luật khách quan , các điều kiện kinh tế xã hội của từng cơ sở , ngành vùng và toàn thể nền kinh tế , coa tác động tích cực đến đổi mới cơ cấu kinh tế theo hương ngày càng hợp lí , khai thác và sử dụng hợp lí các nguồn lực trong nước , đáp ứng nhu cầu hội nhập , phù hợp với xu thế kinh tế , chính trị của thế giới và khu vực

3 Lý luận tác động của đầu tư tới , chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chúng ta thấy rằng đầu tư có tác động dây chuyền , khi tăng cường đầu tư , phân bổ vào một ngành , lĩnh vực đó gia tăng sản lượng và từ

đó làm thay đổi mối tương quan giữa các ngành

Trang 20

Những ngành những vùng lĩnh vực phát triển nhanh sẽ thu hút nhiều lao động vào ngành , lĩnh vực đó , tạo ra sự chuyển dịch giữa các ngành , các lĩnh vực

Dầu tư có tác dộng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua những chính sách tác động đến cơ cấu kinh tế Trong điều hành chính sách đầu tư , nhà nước có thể can thiệp trực tiếp như thực hiện chính sách phân bổ vốn , kế hoạch hóa , xây dựng cơ chế quản lí đầu tư hoặc điềutiết gián tiếp qua công cụ chính sách như tuế , tín dụng , lãi suất để xácdịnh và định hướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hương ngày càng hợp lí hơn

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy rằng nếu có chính sác đầu tư hợp lí sẽ tạo đà tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là cơ cấu của tổng thể các yếu tố cấ thành nền kinh tế , có quan hệ chặt chẽ với nhau , được thể hiện cả mạt chất và mặt lượng , tùy thuộc vào mục tiêu của nền kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế sự chuyển dịch kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô , tốc độ giữa các vùng miền

Hệ số chuyển dịch cơ cấu kinh tế việt nam thời kì 1990-2004 , thể hiện qua bảng sau :

Bản hệ số chuyển dịch cơ cấu kinh tế việt nam

Trang 21

Chuyển dịch cơ cấu của hai ngành nông nghiệp và công nghiệp

tố ngoại lực đối với cơ cấu ngành , đầu tư vốn vào ngàng nào , quy mô vốn đầu tư từng ngàng nhiều hay ít , đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển , đế khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành , tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới do đó làm chuyển dịch cơ cấu ngành

Đối với cơ cấu ngành lãng thổ , đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng miền , đưa những vùng kém phát triểnthoát khỏi tình trạng đói nghèo , phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên , kinh tế chính trị cả những vùng có khả năng phát riển cao hơn ,làm bàn đạp thúc đảy các vùng khác phát triển nhanh hơn

Trang 22

Chương II:Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta hiện nay

I.Tổng quan về đầu tư phát triển trong nền kinh tế

Trong những năm qua tình hình huy động vốn đầu tư của nước ta đã có bước tăng trưởng khá.Đặc biệt trong kế hoạch 5 năm (2001-2005),Việt Nam đẫ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) và đẩy manh đầu tư ra bên ngoài

Điển hình năm 2005,tổng vốn đầu tư phát triển tăng khá so với năm 2004,cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP theo giá thực tế,do đó tỷ lệ so vứi GDP cũng sẽ cao hơn và đạt mức cao nhất từ trước tới nay.Đáng lưu ý là vốn đầu tư ngòai khu vực quốc doanh,vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn ODA thực hiện đạt cao hơn năm 2004.Chúng ta đã thu hút được 5,8

tỷ USD vốn đăng ký tăng trên 2,5% so với năm 2004,vượt gần 30% mục tiêu ban đầu (4,5 tỷ USD) đề ra cho cả năm 2005,trong đó vốn cấp mới đạt trên 4 tỷ USD,vốn bổ sung đạt 1,8tỷ USD.Số vốn này kết hợp sức mạnh quan trọng cho việc thực hiện đầu tư các năm sau và điểm cần lưu

ý và quan trọng nhất của kết quả FDI trong năm 2005 là số vốn đầu tư thực hiện,đóng góp cho nền kinh tế,đạt khoảng 3,3 tỷ USD,tăng trên 15%

so với năm 2004,chiếm tới gần 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội,đã góp phần không nhỏ vào thành tựu chung của cả nước về phát triển KT-XH với mức tăng GDP gần 8,5%-mức tăng cao nhất trong 5 năm qua

Khu vực kinh tế có vốn FDI trong năm 2005 đạt doanh thu khoảng 21 tỷUSD(không có dầu thô),trong đó giá trị xuất khẩu khoảng 10,3tỷ

USD,tăng khoảng27% so với năm 2004,chiếm 35% kim ngạch xuất khẩu

cả nước(nếu tính cả dầu thô thì tỷ lệ đạt trên 56%);nộp ngân sách nhà nước đạt 1,29 tỷ USD,tăng gần 40% so với năm 2004 và chiếm 12% tổngthu ngân sách nhà nước.Các doanh nghiệp FDI đã thu hút khoảng 70.000

Trang 23

lao động,đưa tổng số lao động trực tiếp trong khu vực FDI lên khoảng 87 vạn người,tăng 18% so với năm 2004.

Cơ cấu kinh tế tiếp tuịc chuyển dịch theo hướng tích cực.Tỷ trọng khu vực công nghiệp –xây dựng sẽ đạt trên 41%,không những vựơt mục tiêu38-39% đề ra cho năm 2005 mà còn cao hơn so với mục tiêu 40-41%

đề ra cho năm 2010.Riêng tỷ trọng xây dựng sẽ tăng trở lại nhờ tốc độ tăng cao hơn năm trước

Như vậy,theo tính toán trên đây,khả năng huy động vốn đầu tư phát triểntoàn xã hội trong năm 2001-2005 vào khoảng 840 nghìn tỷ đồng (theo nặtbằng giá 2000) tương đương khoảng 60 tỷ USD,bằng 1,5 lần tổng vốn đầu tư thực hiện thời kỳ 1996-2000;trong đó nguồn vốn trong nước chiếmkhoảng 2/3.Tỷ lệ đầu tư so với GDP chiếm khoảng 31-32%,bảo đảm tốc

độ tăng trưởng kinh tế 7,5%/năm và có công trình gối đầu cho kế hoạch 5năm tiếp theo

Trong tổng nguồn vốn nêu trên,khả năng huy động đầu tư từ ngân khố Nhà nước trong 5 nưm (2001-2005) vào khoảng 186 nghìn tỷ đồng,chiếmtrên 22%;từ tín dụng Nhà nước khoảng 117 nghìn tỷ đồng,chiếm

14%;khu vực doanh nghiệp Nhà nước đầu tư khoảng 162 nghìn tỷ

đồng,chiếm trên 19%;vốn đầu tư của dân cư và tư nhân khaỏng 221 nghìn tỷ đồngchiếm trên 26% ;vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khoảng

153 nghìn tỷ đồng,chiếm trên 18%.Khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư toàn xã hội vào nông nghiệp khoảng 13% tổng vốn,các ngành công

nghiệp khoảng 44%,lĩnh vực giao thông vận tải,bưu điện khoảng 15%;cácngành khoa học,công nghệ,điều tra cơ bản,môi trường khoảng 0.6%;giáo dục đao tạo khoảng 3,7%;lĩnh vực y tế,xã hội,văn hoá,thông tin,thể dục thể thao khoảng 3,7%;khu vực công cộng,nhà ở,cấp thoát nước khoảng 14%;quản lý Nhà nước 3,2%;các lĩnh vực khác khoảng 2,8%

Vốn đầu tư từ Ngân sách và tín dụng mà Nhà nước có thể trực tiếp và chủ động bố trí theo cơ cấu đầu tư,chiếm bình quân hàng năm vào khoảng

Trang 24

35-39% tổng vốn(khoảng trên 10% GDP).Trong đó đầu tư cho công nghiệp và xây dưng khoảng 9,5% tổng số;nông nghiệp,thuỷ lợi,lâm

nghiệp,thuỷ sản khoảng 25%;giao thông bưu điện khoảng 29,5%;lĩnh vựcnhà ở,công cộng,cấp nứoc,dịch vụ khoảng 11%;khoa học công nghệ ,điềutra cơ bản,môI trường khoảng 2%;giáo dục đào tạo khoảng 7,8%;y tế xã hội khoảng 6,5%;văn hoá-thông tin,thể thao khoảng 3,4%;quản lý Nhà nước 4,3%,các lĩnh vực khác khoảng 1%

Việc đầu tư đẻ tạo ra năng lực sản xuất mới và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm chủ yếu do các doang nghiệp đầu tư từ nguồn vốn vaydưới nhiều hình thức,nguồn vốn tự tích luỹ của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.Điều đó đòi hỏi cần phảI đổi mới mạnh mẽ các chínhsách,cơ chế huy động các nguồn vốn,khuyến khích tích luỹ cao trong nước cho đầu tư và thu hút nguồn vốn bên ngoài.Ngoài ra một số doang nghiệp sản xuất kinh doanh,nhất là các doanh nghiệp hoạt động công ích được đầu tư bằng vốn ngân sách,hoặc hỗ trợ một phần từ Ngân

sách,thông qua hình thức bù lãI suất vốn vay,ưu đãi về chính sách để đầu

tư trở lại cho doanh nghiệp…

Đối với đầu tư trực tiép nước ngoài,cần địng hướng thu hút vào các khucông nghiệp,khu chế xuất,khu công nghệ cao và những địa bàn có nhiều lợi thế để phát huy vai trò vùng động lực,khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu,công nghiệp chế biến,công dụng công nghệ cao,vật liệu mới,điện tử,viễn thông phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế,xã hội và các ngành Việt Nam có lợi thế,gắn với công nghệ hiện đại và tạo việc làm;dành ưu đãi tối đa cho đầu tư vào các vùng,các địa bàn còn nhiều khó khăn

Đối với nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),một mặt cần nhanh chóng hợp thức hoá bằng các hiệp định vay vốpn cho các dự án ODA đã được cam kết;mặt khác cần vận động thu hút thêm vốn ODA đẻ đảm bảo nhu cầu thực hiện trong kỳ kế hoạch và gối đầu thực hiện cho cá

Trang 25

năm sau.Đinh hưóng trong năm năm tới khoảng 15% nguồn vốn ODA sẽ đưa vào hỗ trợ đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp,thuỷ lợi,lâm nghiệp.thuỷ sản,kết hợp mục tiêu ngành,năng lượng và công nghiệp;khoảng 25% cho các ngành giao thông,bưu điện;khoảng 35% cho các lĩnh vực phát triển xãhội,giao dục và đào tạo.khoa học và công nghệ,bảo vệ môI trường,cấp thoát nước và bảo vệ đô thị.

Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế.môI trường đầu tư chư minh bạch,thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản còn nhiều,hiệu quả

sử dụng vốn chưa cao… Do đó chính phủ đã và đang quyết tâm chỉ đạo

và cảI thiện môI trưòng đầu tư và kinh doanh như việc triển khai thành công sáng kiến Việt-Nhât về cảI thiện môI trường đầu tư,nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Viêt Nam,xây dựng và được quốc hội thông qua nhiều bộ luật quan trọng,trong đó phảI kể đến luật đầu tư chung và luật DN thống nhất có hiệu lực vào ngày 1/7/2006,nhừ đó hệ thống Pháp luật,chính sách đầu tư đã không ngừng được cảI thiện theo hướng ngày càng minh bạch,thông thoáng và thuận lợi cho các nhà đàu tư

II.Tác động của đầu tư phát triển tới chuyển dịch cư cấu ngành kinh tế1.Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta hiện nay

Hiện nay trên thế giới xu hướng chuyển mạnh sang các ngành kinh tế cạnh tranh của các nguồn tài nguyênvà lao động nước ta.Trên cơ sở đó,dễdàng nhận thấy xu hướng tỷ trọng lao động trực tiếp sản xuất trong các ngành công nghiệp giảm xuống,tỷ trọng lao động trí óc có tính chất phục

vụ tăng lên.Lý do là nhu cầu thị trưòng hiện nay là ngày càng hướng tới sản phẩm cao cấp.Trong mỗi sản phẩm hàm lượng chất xám tăng lên,hàmlượng lao động chân tay giảm xuống.Việt Nam trong những năm gần đây nhất ,nhất là từ năm 1990 trở đI,đã hình thành xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tương đối rõ theo hướng giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP tăng đồng thời tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ.Xu

Trang 26

thế này là hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển kinh tế của các nứơc trên thế giới khi bước vào thời kì công nghiệp hoá,theo đó cùng với thu nhập tính theo đầu người tăng lên thì phần chi cho lương thực thực phẩm giảm xuống.

Trong khi đó nội bbọ ngành công nghiệp cũng có xu hướng thay đổi về

cơ cấu.Các ngành có kỹ thuật cao phát triển rất nhanh do đưa các phát minh,sáng tạo khoa học vào sản xuất.Các ngành nghề truyền thống có xu hướng giảm tương đối,thu hẹp cả về người làm việc và tỷ trọng giá trị sảnphẩm

Mặt khác xu hướng chuyển từ sản phẩm kỹ thuật cơ khí là chủ yếu sanglấy cơ giới hoá đồng bộ và tự động hoá sản xuất làm nội dung chính của quá trình phát triển.Các ngành công nghiệp nặng từ nay không còn giữ vai trò như trước nữa mà thay vào đó là các ngành điện tử,tin học,công nghệ sinh học là cơ sở cho một nền kinh tees hiện đại.Điều đó cũng thể hiện nền công nghiệp khai thác các ngành phi vật chất ngày càng trở nên chiếm ưu thế

Ngày nay dịch vụ trở thành quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng ngày càngcao về cả lao động và tỷ trọng sản phẩm.Các nước trên thế giới đêu theo đuổi tăng trưởng dịch vụ,nhất là dịch vụ tài chính tiền tệ,khoa học công nghệ…Vì những ngành này vốn quay vòng nhanh,năng suất lao động cao,lợi nhuận lớn

2.Tác động của đầu tư phát triển tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh 2.1 Tác động của đầu tư phát triển tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tees nói chung

Trong 20 năm qua,cơ cấu ngành kinh tế nước ta đã có sự dịch chuyển dịch rất mạnh,tạo điều kiện nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.Để dánh giá tác động của đầu tư phát triển tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế chúng ta cần xem xét bảng số liệu sau;

Trang 27

Thực tế còn cho thấy có được cơ cấu ngành kinh tế như trên ngoài tác đọng của tỷ trọng vốn đầu tư cấp cho các ngành mà còn ảnh huởng nhiều bởi cư cấu vốn đầu tư ngày càng hựp lý hơn.

Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn vốn qua hai giai đoạn (%)

Năm 1991-2000 2001-2005Vốn ngân sách nhà nước 21.2 25.8

Vốn tín dụng đầu tư 12.7 14.2

Vốn đầu tư của DN nhà nước 13.4 19.3

Vốn đầu tư tư nhân và dân cư 27.1 22.5

Vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài

25.6 18.2

Trang 28

Nguồn vốn đầu tư hoạt động đã mở rộng ra từ rất nhiều nguồn,không

còn chỉ bó hẹp trong ngân sách nhà nước hay từ các doanh nghiệp quốc doanh nữa.Nhờ đó mà xoá bỏ được bao cấp đầu tư tồn tại khá lâu ở nước ta.Một cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ tạo nên một cơ cấu kinh tế hợp lý như đã trình bày ở trên

2.2.Tác động của đầu tư phát triển tới chuyển dịch cơ cấu ngành công

nghiệp

Từ sau đổi mới 1986 đến nay,ngành công nghiệp đã có những chuyển

biến rõ nét về cơ cấu kinh tế.Trong những năm 1989-1990,công nghiệp Việt nam đứng trước những thử thách gay gắt.Lúc này với cơ chế một giá,các khoản viện trợ,tài trợ phát triển ưu đãi (ODA) không còn nữa… khiến các doanh nghiệp Việt Nam,nhất là các doanh nghiệp quốc doanh chao đảo,tự tìm lối thoát đẻ khởi sắc vươn lên.Một thời kỳ công nghiệp mới mở ra,giai đoạn 1991-1997 công nghiệp Viêt Nam phát triển thay đổimạnh mẽ trước cầu của sự phát triển để hội nhập vào nền kinh tế khu vực

và thế giới.trong giai đoạn này chúng ta có thể thấy rõ nét nhất sự tác động của đầu tư phát triển vào quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp.Nền kinh tế quốc dân chứng kiến sự ra đời gần 14000 công ty và

16000 doanh nghiệp tư nhân,trong đó 40% số doanh nghiệp tham gia sản xuất công nghiệp.Sự thay đổi nhanh chónh về cơ câúi ngành cả về lượng lẫn chất xuất hiện từ chủ trương của nhà nước mở cửa cho đầu tư nước ngoài.Tính đến cuối năm 1997,đã có gần 2000 dự án đầu tư nuớc ngoài được phê duyệt.Trong đó đầu tư vào công nghiệp lên đến 15 tỷ USD.Có thể lấy ví dụ các dự án điển hình như :dự án sản Xuất PVC 90 triệu

USD,đặc biệt là các dự án sản xuất hàng điện tử,ô tô với các hãng nổi tiếng thế giới như: Toyota,Ford,Daewoo,…

Khác với các thành phần kinh tế trong nước làm phong phú thêm cơ

cấu công nghiệp,đặc biệt là cơ cấu công nghiệp chế biếnvới quy mô nhỏ

Trang 29

thì thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài làm cư cấu chúng ta thayđổi khá căn bản.tỷ trọng GDP của doanh nghiệp nhà nước trong toàn ngành công nghiệp chỉ còn xấp xỉ 50%,giá trị hàng xuất khẩu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang tăng trưởng nhanh,tạo hình ảnh tốt cho quá trình hội nhập của công nghiệp Việt Nam vào khu vực vàquốc tế.

Các khu vực công nghiệp lớn ra đời từ các dự án đầu tư nứoc ngoài đẫ

góp phần điều chỉnh cư cấu tiểu ngành công nghiệp cũng như giảI quyết đồng bộ các vấn đề do sản xuất công nghiệp đặt ra.Các dự án đầu tư vào công nghiệp có giá trị lứn được phân bổ cho các tỉnh như sau:thành phố

Hồ Chí Minh gần 300 dự án với giá trị gần 1 tỷ USD,Hà Nội hưn 80 dự

án với 1tỷ USD,Hải Phòng 40 dự án gần 500 triệu.Ngoài ra thêm 40 tỉnh thành đều có vốn đầu tư nước ngoài vào công nghiệp

Với sự thay đổi cơ cấu ngành công nghiệp trong giai đoạn trên đã tạo

tiền đề cho những chuyển biến có lợi của cơ cấu ngành trong những năm tiếp theo.Tỷ trong ngành công nghiệp-xây dựng tăng từ 34,5% năm 1999 đến 39,8% năm 2003,Trong đó tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng từ 18% lên 21% so với GDP toàn nền kinh tế.Đến năm 2000,công nghiệp khia thác chiếm 79% (trong đó công nghiệp thực phẩm chiếm

23.6%),công nghiệp sản xuất phân phối điịen,khí đốt,nước chiếm khoảng 6,0 % (trong đó công nghiệp điện chiếm 3,4%).Các nagnhf công nghiệp sản xuất và công nghiệp điện nước là cư sở hạ tầng cho phát triển kinh tế,xã hội và phát triển công nghiệp,do đó được chú trọng đầu tư phát triển.Nhờ vậy,tốc độ tăng trưởng trong những năm gần đây đã đạt bình quân khoảng 13,7%.Về điịen đã phát triển nguồn kết hợp thuỷ điện với nhiệt điện,đặc biệt nhiệt điện sử dụng nguồn khí đốt đến năm 2003 đã đạt sản lượng 33,8 Kw/h.Về lưới điện cũng được đầu tư đảm bảo cung cấp điện cho nhiều vùng kinh tế quan trọng và lưới điện nông thôn,một số

Trang 30

vung sâu vùng xa.Nguồn nước cũng được đầu tư tăng lượng nước cung cấp cho các đô thị.

2.3 Tác động của đầu tư phát triển tới chuyển dịch cư cấu ngành dịch vụ

Ngành dịh vụ ờ Việt Nam trong những năm qua có chuyển biến lớn tuy

nhiên tốc độ tăng trưởng lại không đồng đều qua các thời kì khác nhau Nghiên cứu cụ thể từng lĩnh vực thuộc ngành dịch vụ mới có thể thấy rõ

những thay đổi trong cư cấu kinh tế ngành dịch vụ những năm đầu thế kỷ 21.Trước hết,thực tế cho thấy tỷ trọng của lĩnh vực thương nghiệp – sửa chữa xe gắn máy và đò dùng tăng dần.Trong giai đoạn 1995-2001 tỷ trọng của lĩnh vực này từ mức 16,38% GDP xuống còn 14,08%.Tuy nhiên sang đến năm 2002 đã bắt đầu phục hồi trở lại với tỷ trọng trong tổng GDP tăng 0,3% so với năm 2001.Một trong những lí để có được thay đổi trên đó là hệ thống cơ sở hạ tầng cho thương nghiệp đang được đầu tư với quy mô lớn.năm 2003,chính phủ đã dành 40 tỷ đồng để xây dựng 18 chợ nông sản ở 18 tỉnh.Với sự quan tâm đầu tư của chính phủ vàp lĩnh vực này đã tạo bộ mặt mới mẻ cho thương nghiệp Việt Nam.Đó chính là điểm nhấn để Việt Nam thu hút được các tập đoàn siêu thị bán buôn và bán lẻ quốc tế như Càeou,Max

Tỷ trọng của lĩnh vực du lịch-khách sạn-nhà hàng tiếp tục tăng

nhanh.Năm 2002 tổng đầu tư vào khu vực khách sạn nhà hàng có xu hướng tăng,đạt mức 3300 tỉ đồng ( so với 2974,7 tỉ đồng năm 2001).Đặc biệt năm 2002 có 22 dự án,FDI vào lĩnh vực du lịch khách sạn với tổng

số vốn đăng kí là 168,6 tỉ USD so với 2 dự án cùng loại với tổng số vốn đăng kí 22,8 tỉ USD năm 2000.Điều này đã góp phần làm giảm đáng kể tình trạng quá tảI của các khu du lịch trong các mùa cao điểm

Bên cạnh đó,lĩnh vực giao thông vận tải – thông tin liên lạc tỷ trọng

cũng có phần tăng.Trong đó,giao thông vận tải có xu hướng tăng nhanh hơn dịch vụ viễn thông.Lý do cơ bản đó là vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng

Trang 31

giao thông vận tải nước ta tăng trưởng nhanh.Từ 1997 đến 2002, 44450 tỷđồng đã được huy động nhằm xây dựng các tuyến đường giao thông.Đặc biệt chúng ta đã nâng cấp các sân bay nội địa,xây dựng và mử rộng cảng biển quan trọng.Trong kế hoạch phát triển toàn diện,nguồn vốn khoảng

580000 tỷ đồng để xây dưng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải được huy động chủ yếu vốn đầu tư nước ngoài (chủ yếu BOT hoặc liên doanh) và viện trợ phát triển

Tỷ trọng của lĩnh vực kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn giảm

mạnh.Lý do chủ yếu dẫn tới xu hướng trên khi tổng vốn đầu tư cho lĩnh vực này giảm mạnh từ 4031 tỷ đồng năm 2000 xuống còn 1900 tỷ đồng năm 2002.Trong kgi đó tỷ trọng của lĩnh vực giáo dục - đào tạo và phục

vụ cá nhân cộng đồng tăng từ 5,73% năm 2001 lên 8,46% năm 2002.Có được mức tăng như trên là do đầu tư của khu vực tư nhân vào hoạt động dạy nghề tăng,hơn nữa chính phủ cũng không ngừng tăng cường cho đầu

tư giáo dục-đào tạo,đặc biệt vào việc nâng cấp cơ sở hạ tầng.Trong đó hạot động dịch vụ phục vụ cá nhân và công đòng như y tế,văn hoá,thể thao…tăng do nhu cầu của xã hội phát triển,nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực chủ yếu từ ngân sách nhà nước

2.4 Tác động của đầu tư phát triển tới chuyển dịch cơ cấu ngành nông

nghiệp nông thôn

Cơ cấu GDP của khui vực nông,lâm thuỷ sản qua các năm(%)

Trang 32

Vốn đầu tư phỏt triển phõn cho cỏc khu vực nụng,lõm.thuỷ sản(nghỡn tỉđồng)

đầu ra cuỉa sản phẩm.Cơ cấu hộ theo ngành nghề đã có sự thay đổi theo ớng tích cực,tỉ trọng hộ làm công nghiệp-xây dựng đã tăng từ 1,6% năm

h-1994 lên 5,8% năm 2001,tơng ứng với tỉ trọng hộ làm dịch vụ tăng từ 6,4% lên 11,2 %,tỉ trọng hộ làm nông lâm thuỷ sản đã giảm từ 81,6% xuống còn 79,8%.Cơ cấu hộ theo ngành nông,lâm thuỷ sản chuyển dịch chậm,tỉ trong hộ làm nông nghiệp vẫn còn tới 96,3% tổng số hộ

Cơ cấu sản xuất nông nghiệp,lâm nghiệp chuyển từ nền lâm nghiệp nặng

về khia thác thác sang lâm nghiệp dựa vào lâm sinh,từ chỗ quốc doanh sang xã hội hoá cao nhiều thành phần kinh tế tham gia.thuỷ sản chuyển mạnh từ khai thác tự nhiên sang tăng tỉ trong nuôI trồng,đánh bắt xa bừ những sản phẩm có chất lợng và giá trị cao.Cho đến nay chăn nuôi vẫn là ngành phụ do còn mang tính t cấp,quy mô nhỏ,phân tán,lạc hậu,cha đợc

đầu t quan tâm thoả đáng

3.Đánh giá những thành tựu và hạn chế

3.1.Thành tựu

Với sự quan tâm đúng lúc của chính phủ trong việc đầu t phát triển tơng

đối đồng bộ trong các ngành,lĩnh vực,cùng với những nguồn đầu t trong

và ngoài nớc ngày càng gia tăng,cơ cấu ngành kinh tế Viêt Nam có nhữngchuyển dịch theo hớng tích cực đã trình bày ở trên.Ví dụ nh góp phần

Trang 33

đáng kể làm tăng tỉ trọng rất nhiều lĩnh vực trong tất cả các ngành công nghiệp,dịch vụ,nông nghiệp.tạo cho Viet Nam một cơ cấu kinh tế hợp lý,phù hợp với xu thế của thế giới hiện nay đó là tăng dần tỉ trọng dịch vụ,công nghiệp và giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp,Song bên cạnh đónhững mặt hạn chế còn tồn tại rất nhiều mà đòi hỏi chúng ta cần phảI có những phơng hớng,chính sách hợp lí đẻ giải quyết một cách thoả đáng.

3.2.Hạn chế

3.2.1.Công nghiệp

Trong đầu t phát triển công nghiệp.một số dự án mới chỉ quan tâm đén

đầu vào,cha chs trọng đến đầu ra nên dẫn đến đầu t kém hiệu quả.Cơ chế phân cấp trong quản lý đầu t cha đI đôI với chế tài tài ràng buộc,kiểm tra,kiểm soát nên còn có sự vi phạm gây thất thoát vốn đầu t.Điển hình là

đầu t hàng chục nhà máy đờng suốt dọc các tỉnh miền trung gây lãng phí thất thoát hàng nghìn tỉ đồng và không có hiệu quả

Phát triển công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm chậm và hiệu quả thấp do chủ yếu lad sơ chế và ở phạm vi hạn chế trong một ssó laọi rau quả,nông sản.Một số dự án đầu t và chế biến nông sản thực phẩm triển khia thực hiện lại kém hiệu quả nh: ngành đờng,chế biến hoa quả hộp,… Đầu t cho các ngành có hàm lợng công nghwự cao còn thấp nên so với khu vực tỉ trong của nganh này cha cao,chỉ chiếm 15,7% và chủ yếu là sản xuất lắp ráp.Trình độ kĩ thuật công nghệ của phần lớn doanh nghiệp còn lạc hậu,chủ yếu do năng lực kinh doanh kém và thiếu vốn đầu t cho công nghệ mới

Việc tổ chức quản lý đối với các hoạt động dịch vụ trong nớc cha mang lại hiệu quả cao,tính tự phát còn thể hiện khá rõ.THí dụ trong những năm qua,nhiều doanh nghiệp và cá nhân đầu t vào xây dựng nhà hàng,khách sạn nhng hiệu quả khia thác sử dụng thấp.Một số ngành dờng nh chỉ là

độc quyền của nhà nớc nh bu chính viễn thông mặc dù hiện nay đã có doanh nghiệp nớc ngoài đầu t vào lĩnh vực này nh S-phone nhng khả năngcạnh tranh vẫn bị hạn chế

Bên cạnh đó,chúng ta còn cha tập trung phát triển các ngành dịch vụ theo chiều sâu và bền vững hơn nh công nghệ tin học,t vấn giáo dục

3.2.3 Nông nghiệp-nông thôn

Trang 34

Hiệu quả kinh tế củ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn về năng suất và thu nhập còn thấp.

Tốc đọ chuyển dịch tích cực nhng vẫm còn chậm.Thể hiệntrong phân công lao động xã hội trong cơ cấu nông nghiệp,quan hệ

giữa trồng trọt.chăn nuô

Trang 35

IV Thực trạng đầu t theo thành phần kinh tế

1 Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế đã thay đổi đáng kể.

Khu vực kinh tế nông nghiệp trong những năm gần đây đã có sựgiảm liên tục, năm 1995 khu vực này chiếm tỷ trọng là40,18%, đếnnăm 2000 là 38,53%, năm 2001 là 38,4% và đến ,,,,, còn 38,31%.Cũng nh vậy, khu vực kinh tế tập thể tiếp tục có sự suy giảm từ10,6% năm 1995 xuống 8,5% năm 2000, năm 2001 là 8,06% và vàonăm 2002 còn 7,98% Khu vực kinh tế t nhân lại có chiều hớng tănglên từ 3,12% năm 1995 lên 3,38% năm 2000 và vào 2 năm 2001,

2002 là 3,73%và 3,93% Con số này trong 4 năm 1995, 2000, 2001,

2002 của khu vực kinh tế cá thể là: 36,02%, 32,31%, 31,84%,31,42% Cũng qua 4 năm này, khu vực kinh tế hỗn hợp giàm từ4,32% năm 1995 xuống còn 3,92% năm 2000, tuy nhiên 2 năm

2001, 2002 lại tăng từ 4,22% lên 4,45% Trong khi đó, khu vực cóvốn đầu t nớc ngoài lại có sự gia tăng nhanh chóng từ 6,3% năm

1995 lên tới 13,3% năm 2000, 2 năm tiếp sau đó, tỷ trọng của khuvực này vẫn tăng lên nhng mức độ tăng không còn nhiều nh trớc, chỉ

( Nguồn: Viện kế hoạch và phát triển, Bộ kế hoach đầu t)

Nh vậy, quá trình đổi mới đã chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽgiữa các thành phần kinh tế Kinh tế nhà nớc vẫn chiếm vị trí chủ

đạo trong nền kinh tế nhng tỷ trọng của thành phần này trong GDP

đang có xu hớng giảm dần Thời kì này đánh dấu sự phát triểnnhanh chóng của khu vực kinh tế có vốn đàu t nớc ngoài và kinh tế tnhân 2 khu vực này có tốc độ tăng trởng nhanh chóng và ngày càng

Trang 36

chiếm tỷ trọng lớn trong GDP Thể hiện ngày càng rõ vai trò quantrọng của mình Điều này thể hiện chính sách đúng đắn của Đảng vànhà nớc trong việc mở cửa nền kinh tế, khuyến khích mọi cá nhântham gia hoạt động kinh tế Ngợc lại, thành phần kinh tế hợp tác xã,lại có xu hớng giảm dần, phản ánh sự đầu t cha đúng mức và tổ chứccha phù hợp với điều kiện biến đổi của nền kinh tế Tuy nhiên, khuvực này cũng đã có sự đóng góp không nhỏ vào GDP chung và gópphần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

2 Kinh tế nhà nớc chuyển dịch theo hớng sắp xếp lại và đổi mới.

Khu vực kinh tế nhà nớc sau thời gian bị chao đảo khi chuyểnsang cơ chế thị trờng đã sớm đợc phục hồi và phát triển có hiệu quảhơn Các doanh nghiệp nhà nớc đảm nhiệm những sản phẩm và dịch

vụ quan trọng có tác động trực tiếp đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vựccủa nềm kinh tế quốc dân, nhất là trong công nghiệp, cơ sở hạ tầng

và tài chính tín dụng Đã củng cố tổ chức và sắp xếp lại các tổngcông ty theo quyết định 91 TTg và các Tổng công ty theo quyết định

90 TTg với hàng nghìn các đơn vị thành viên, chiếm phần lớn tài sản,vốn liếng trong khối doanh nghiệp nhà nớc Hoạt động của các tổngcông ty có tác dụng hỗ trợ và giúp cho các doanh nghiệp thành viên

về vốn, công nghệ, thiết bị, thị trờng để duy trì và phát triển sản xuất,kinh doanh, tăng sức mạnh trong cạnh tranh, trong đấu thầu,….Cáctổng công ty đã thựuc hiện việc liên kết về hành chính, nghiệp vụquản lý, mở rộng thị trờng và hỗ trợ kỹ thuật cho các đơn vị thànhviên Một số tổng công ty thống nhất cả về điều hành xuất, nhậpkhẩu, quản lý thống nhất vốn đầu t, đổi mới công nghệ nh tổng công

ty than, tổng công ty xi măng, tổng công ty tàu biển…

Đến cuối năm 1999 toàn quốc có 370 DNNN đợc chuyển thànhcông ty cổ phần, trong đó các bộ phận quản lý 69 doanh nghiệp, cáctổng công ty quản lý 28 doanh nghiệp và các địa phơng quản lý 273doanh nghiệp Các doanh nghiệp cổ phần hoá đang hoạt động tốt,nhiều chỉ tiêu kinh tế cơ bản đều tăng: 1998 so với năm 1997 vốntăng 3,1%, doanh thu tăng 133,5%, lợi nhuận sau thuế tăng 131%,các khoản nộp ngân sách tăng 153%, lao động tăng 9%, thu nhậpbình quân tăng 29% và giá trị cổ tức dặt bình quân 2,6%/tháng, caogần gấp 3 lần lãi suất tiền gửi ngân hàng

Trang 37

Tỷ trọng đóng góp của thành phần kinh tế nhà nớc giảm từ năm

1994 đến nay tăng lên và ổn định ở mức trên dới 40% GDP cụ thể là:

về tài chính và kinh doanh Một số mô hình liên kết giữa hợp tác xãnông nghiệp và các cơ sở chế biến đã ra đời

Do trong nền kinh tế hiện nay thành phần kinh tế hợp tác xãkhông còn hấp dẫn, nên số ngời tham gia hợp tác xã giảm dần, do đó

tỷ trọng đóng góp của thành phần kinh tế hợp tác xã bị liên tục suygiảm trên phạm vị toàn quốc từ 10,06% năm 1995 xuống còn 7,98%năm 2002 Mặc dù vậy thành phần kinh tế hợp tác xã vẫn đóng góp 1phần đáng kể vào GDP

- Kinh tế cá thể tiểu chủ trong các lĩnh vực nông, lâm, ngnghiệp, tiểu chủ công nghiệp và dịch vụ thơng mại phát triển nhanh,

đã góp phần quan trọng vào các thành tựu kinh tế xã hội Nhà nớc đã

có nhiều chính sách khuyến khích phát triển thành phần kinh tế này,nhiều ngành và địa phơng đã giải quyết các khó khăn về vốn, côngnghệ, thị trờng và kinh nghiệm quản lý nhằm tạo môi trờng thuận lợi

để mở rộng sản xuất, kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh tế Cũng nh kinh tế hợp tác tỷ trọng thành phần kinh tế cá thểtiểu chủ trong GDP cũng có chiều hớng suy giảm từ 1995 đến nay

cụ thể là:

Trang 38

ty THHH ra đời với quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, nhng cũng cóMột số doanh nghiệp có quy mô tơng đối lớn, sử dụng nhiều lao

động Hoạt động của khu vực kinh tế t nhân ngày càng đợc mở rộngnên tỷ trọng đóng góp của thành phần kinh tế t nhân trong GDP pháttriển liên tục nhng vẫn ở mức độ thấp

Trong đó không chỉ tăng đối với t nhân nớc ngoài mà phát triển cả

đối với t nhân trong nớc

- Kinh tế hỗn hợp bao gồm các hình thức hợp tác, liên doanhgiữa kinh tế nhà nớc với t nhân trong nớc và t nhân nớc ngoài đangphát triển mạnh nhờ công nghệ mới, kỹ thuật sản xuất tiên tiến, đã và

đang sản xuất ra nhiều loại sản phẩm có sức cạnh tranh, thúc đẩy sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH – HĐH Tỷ trọng khuvực kinh tế này trong GDP đã tăng khá nhanh từ 10,78% năm 1995tăng lên 13,4% năm 2000; Trong đó khu vực kinh tế có vốn đầu t nớcngoài đã góp phần trên 10% vào tăng trởng kinh tế, tạo thêm 1 số mặthàng mới, công nghệ mới, tăng thêm sức cạnh tranh của sản phẩm,thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH – HĐH

4 Khu vực kinh tế nhà nớc chiếm đại bộ phận trong các ngành quan trọng

4.1 Doanh nghiệp nhà nớc giữ vị trí then chốt.

Trang 39

Thứ nhất: Doanh nghiệp nhà nớc vẫn nắm những ngành công

nghiệp then chốt của nền kinh tế quốc dân nh sản xuất giấy, hoá chất,cơ khí chế tạo, chế biến, dệt may

Thứ hai: Trong các doanh nghiệp nhà nớc, máy móc trang thiết bị

đợc đổi mới theo hớng HĐH bằng đầu t chiều sâu dựa vào nguồn vốn

đầu t của nhà nớc và vốn tự có của doanh nghiệp là chính

Thứ ba: Có đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề

đông về số lợng, đồng bộ về ngành nghề và khá về chất lợng

Thứ t: Doanh nghiệp nhà nớc có vị trí hàng đầu trong đóng góp

vào nguồn thu của ngân sách nhà nớc hàng năm (trên 40%)

Theo kết quả điều tra doanh nghiệp nhà nớc 1/1/2003 thì trongnăm 2002 doanh nghiệp nhà nớc chỉ chiếm 8% về số doanh nghiệpnhng chiếm 41,6% về số lao động; 55,9% về số vốn; 49,4% về doanhthu và chiếm 46,1% về tổng số nộp ngân sách của tất cả các doanhnghiệp thuộc thành phần kinh tế

Qua những số liệu trên mặc dù số lợng DNNN giảm nhng DNNNvẫn giữ đợc vị trí theo chốt của mình và vẫn khẳng định đợc vai tròquan trọng của mình trong sự đóng góp vào GDP

khu vực kinh tế nhà nớc, thực chất là Tại bao cấp“ Tại bao cấp” ”, làm cho khảnăng vơn lên của khu vực này bị hạn chế, tính năng động kém Tiến

dộ thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp còn chậm, cha tạo đợc sựchuyển biến mạnh mẽ về cơ chế huy động vốn và phát huy đúng lúctrong công cuộc đổi mới DNNN Chủ yếu là do lãnh đạo các ngành vàcác doanh nghiệp cha nhận thức đầy đủ có ý nghĩa của chủ trơng cổphần hoá, lo ngại bị ảnh hởng đến quyền lợi, cha yên tâm về hiệu quảnên chần chừ do dự, né tránh, sợ trách nhiệm, e ngại chệch hớng…Mặt khác, phơng pháp đánh giá tài sản doanh nghiệp trong điều kiệncha có thị trờng vốn còn nhiều bất cập Việc thí điểm bán cổ phần chongời nớc ngoài cha đợc hớng dẫn cụ thể Những điều này đã làm cảntrở khả năng hoạt động của khu vực này

Trang 40

5 Khu vực kinh tế hợp tác chậm đợc củng cố và phát triển,

Các chính sách khuyến khích phát triển các thành phần kinh tếchỉ dừng lại ở những Chỉ thị, Nghị quyết cha thực hiện sự đi vào cuộcsống, còn có nhiều phân biệt đối xử đối với các thành phần kinh tếngoài khu vực nhà nớc làm cho các thành phần kinh tế cha phát huynội lực, cha thực sự khuyến khích mọi thành phần kinh tế và hạn chếkết quả thu hút đầu t nớc ngoài Việc phát huy và khuyến khích cácthành phần kinh tế tham gia đầu t phát triển còn chậm, hiệu quả thấp.Các chính sách vĩ mô một mặt cha triển khai đồng bộ, mặt khác cha

đủ sức hấp dẫn để các tầng lớp dân c bỏ vốn vào đầu t

I,thuỷ sản.lâm nghiệp

Cơ sở hạ tầng cha đáp ứng đợc yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn.Công nghệ kĩ thuật sản xuất ở nông thôn vẫn còn quá lạc hậu,chậm đợc biến đổi,đặc biệt là các vùng nghèo và bị cô lậpphát triển

Một thách thức quan trọng đối với cơ cấu nông nghiệp nông thôn hiện nay đó là những thay đổi tiềm chứa nguy cơ gây bất ổn định xã hội do chính những tác đọng tích cực tạo nên:khoảng cách giàu nghèo,tính vững chắc và ổn định của mức sống thoát nghèo của một bộ phận dân c nông thôn còn khá mong manh

Chơng II:Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta hiện nay

I.Tổng quan về đầu t phát triển trong nền kinh tế

Trong những năm qua tình hình huy động vốn đầu t của nớc ta đã có

b-ớc tăng trởng khá.Đặc biệt trong kế hoạch 5 năm (2001-2005),Việt Nam

đẫ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu hút đầu t trực tiếp (FDI) và đẩy manh đầu t ra bên ngoài

Ngày đăng: 09/04/2013, 10:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Độ lệch tỷ trọng nụng nghiệp thời kỡ 1990-2004 õm, theo bảng trờn Đầu tư cú tỏc động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế  - Tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
l ệch tỷ trọng nụng nghiệp thời kỡ 1990-2004 õm, theo bảng trờn Đầu tư cú tỏc động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Trang 21)
- Kinh tế hỗn hợp bao gồm các hình thức hợp tác, liên doanh giữa kinh tế nhà nớc với t nhân trong nớc và t nhân nớc ngoài đang phát  triển mạnh nhờ công nghệ mới, kỹ thuật sản xuất tiên tiến, đã và đang  sản xuất ra nhiều loại sản phẩm có sức cạnh tranh,  - Tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
inh tế hỗn hợp bao gồm các hình thức hợp tác, liên doanh giữa kinh tế nhà nớc với t nhân trong nớc và t nhân nớc ngoài đang phát triển mạnh nhờ công nghệ mới, kỹ thuật sản xuất tiên tiến, đã và đang sản xuất ra nhiều loại sản phẩm có sức cạnh tranh, (Trang 39)
Theo số liệ uở bảng trên,căn cứ theo chỉ tiêu GDP,thành phần kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài có tỉ trọng tăng nhanh nhất,tiếp đó  là kinh tế t nhân.Các thành phần kinh tế khác có xu hớng giảm  - Tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
heo số liệ uở bảng trên,căn cứ theo chỉ tiêu GDP,thành phần kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài có tỉ trọng tăng nhanh nhất,tiếp đó là kinh tế t nhân.Các thành phần kinh tế khác có xu hớng giảm (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w