1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

những nguyên nhân dẫn đến bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

23 2K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Bình Thường Hóa Quan Hệ Việt Nam - Trung Quốc
Người hướng dẫn Thầy Hướng Dẫn
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn
Chuyên ngành Khoa Đông Phương
Thể loại Báo Cáo Khoa Học
Năm xuất bản K45
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 169 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn về những nguyên nhân dẫn đến bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

Trang 1

Trờng Đại học KHoa học xã hội & Nhân văn

K45 - Khoa Đông phơng

-báo cáo khoa học

Đề tài : Những nguyên nhân dẫn đến bình thờng hoá quan

hệ Việt Nam - trung quốc

Trang 2

Qua đây em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hớng dẫn, các thầy cô khoa Đông

Ph-ơng học trờng Đại học KHXH & NV, thầy cô Viện nghiên cứu Trung Quốc đã cho em nhữngkiến thức quý báu để hoàn thành tiểu luận này

Trang 3

Lời nói đầu

Sau chiến tranh lạnh, trật tự thế giới mới đang hình thành Tất cả các nớc lớn nhỏ đều

điều chỉnh lại chính sách đối nội và đối ngoại cùng với đờng lối xây dựng đất nớc cho phù hợpvới tình hình mới

Trong bất cứ hoàn cảnh nào Đảng và Nhà nớc ta luôn xác định: “Việt Nam muốn làbạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển”.Trên cơ sở đó, nền Ngoại giao Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu rực rỡ Bên cạnh việcthiết lập các mối quan hệ mới, Đảng và Nhà nớc ta không ngừng củng cố và khôi phục cácmối quan hệ truyền thống lâu đời với các nớc láng giềng, tiếp tục thúc đẩy và tăng cờng tìnhhữu nghị truyền thống nh đoàn kết với Lào, Cămpuchia Đặc biệt, Việt Nam đã khôi phục vàphát triển một bớc quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc sau những năm bị gián đoạn.Hơn thế nữa, trong bối cảnh Quốc tế mới hiện nay hai Đảng, hai Nhà nớc và nhân dân Việt -Trung đã đang và sẽ duy trì mối quan hệ “láng giềng hữu nghị hợp tác toàn diện, ổn định lâudài, hớng tới tơng lai” ngày một tốt đẹp hơn

Việt Nam Trung Quốc là hai nớc láng giềng xã hội chủ nghĩa gần gũi “núi liền núi sông liền sông” Nhân dân hai nớc có truyền thống hữu nghị, giao lu lâu đời và tốt đẹp, hai n-

-ớc đã từng kề vai sát cánh giúp đỡ nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài vì sự nghiệpxây dựng Chủ nghĩa xã hội, vì độc lập tự do, vì cuộc sống ấm no hạnh phúc của nhân dân hainớc Tuy nhiên, không phải mối quan hệ này lúc nào cũng tốt đẹp Nhu cầu phát triển kinh tế,

ổn định chính trị của Việt Nam và Trung Quốc cùng với xu thế hoà bình, ổn định hợp tác hữunghị đã thúc đẩy quan hệ Việt - Trung xích lại gần nhau trong những năm bị gián đoạn Việcmối quan hệ này bình thờng hoá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhất là đối với Việt Nam

Đảng và Nhà nớc ta coi việc củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác với Trung Quốc làmột yêu cầu chiến lợc, đánh dấu một chặng đờng phát triển của Việt Nam, thể hiện sự đúng

đắn trong sách lợc của ta mở ra một thời kỳ quan hệ rộng mở với các nớc

Quan hệ Việt - Trung là một đề tài rộng, có sức hấp dẫn lớn Những nguyên nhân dẫn

đến quan hệ bình thờng hoá hai nớc trong cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 là một chủ đề cầnphải nghiên cứu trong những bớc “thăng trầm” trong quan hệ hai nớc để từ đó giúp chúng tahiểu sâu hơn về mối quan hệ này Trong thực tế, có rất nhiều bài báo, bài phát biểu, thậm trí

có cả các công trình khoa học ra đời, song vẫn cha thoả mãn đợc nhu cầu nghiên cứu của mốiquan hệ này càng phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu

Chơng I : Những nét chính trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trớc bình thờng hoá.1.1 Giai đoạn từ 1919 - 1972

2.1.2 Xu thế quốc tế hoá, khu vực hoá

2.1.3 Tình hình khu vực Châu á - Thái Bình Dơng

2.2 Những nguyên nhân chủ quan

2.2.1 Đờng lối đối ngoại đổi mới của Đảng và Nhà nớc Việt Nam

Trang 4

2.2.2 Đờng lối đối ngoại cải cách mở cửa của Đảng và Nhà nớc Trung Quốc.

Chơng III Thực trạng và triển vọng quan hệ Việt Nam- Trung Quốc3.1 Thuận lợi

3.2 Tồn tại

3.3 Triển vọng

Kết luận

Trang 5

Chơng I :Những nét chính trong quan hệ Việt - Trung trớc Bình thờng hoá.

1.1 Giai đoạn từ 1949 - 1972

Việt Nam và Trung Quốc là hai nớc láng giềng có quan hệ bang giao từ bao đời naynhng mối quan hệ đó có những lúc “nồng ấm” và cũng có những lúc “băng giá” Sau khi nớcCộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời 1/10/1959 thì đến đầu 1950, Trung Quốc đã công nhậnnớc Việt Nam dân chủ cộng hoà và đến 18/1/1950, hai nớc Việt - Trung từ sau khi đợc thiếtlập quan hệ ngoại giao Quan hệ Việt - Trung từ khi đợc thiết lập, đã trải qua những thăngtrầm nhng cho đến nay nhìn chung là tốt đẹp và có xu hớng ngày càng phát triển Chúng ta thửnhìn lại những chặng đờng của mối quan hệ này và những nguyên nhân nào khiến hai quốc giaViệt Nam - Trung Quốc xích lại gần nhau hơn và những thành quả mà việc bình thờng hoáquan hệ Việt - Trung đem lại cho nhân dân hai nớc nói riêng và cho sự phồn thịnh phát triểncủa khu vực và thế giới nói chung

Từ đầu những năm 50 đến cuối những năm 60 quan hệ Việt - Trung nhìn bề mặt có thể

đợc đánh giá là tốt đẹp Sở dĩ nh vậy vì trong thời kỳ này, Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam cả

về vật chất lẫn tinh thần, góp phần to lớn làm lên thắng lợi hoàn toàn của nhân dân trớc thựcdân Pháp và tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh Mĩ sau này Nhng nếu nhìn một cách sâu sắchơn, ta có thể thấy đợc rằng sự giúp đỡ của Trung quốc đối với ta không phải hoàn toàn vô t,hết mình Năm 1950, Trung Quốc công nhận nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, thế nhng mãi

đến năm 1954, khi hiệp định Giơnevơ kí thì Trung Quốc mới cử đại sứ sang Việt Nam đểtránh đụng chạm đến đế quốc Pháp Trung Quốc thúc ép ta ký hiệp định Giơnevơ 1954 Họ đã

ép Việt Nam nhận vĩ tuyến 17 trên thực tế là Trung Quốc đã thoả thuận với Pháp để đổi lấymột số lợi ích cho mình Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, sự giúp đỡ của Trung Quốc đốivới ta thực chất chỉ nhằm những mục tiêu có lợi cho họ, bảo vệ sự an toàn cho bản thân họ.Trung Quốc không thực sự hết lòng giúp đỡ để Việt Nam thắng Mĩ, họ khuyên Việt Nam “tr-ờng kỳ mai phục” họ không muốn thấy một Việt Nam hoàn toàn độc lập, vững mạnh mà chỉmuốn thấy Việt Nam vừa đủ mạnh để làm vùng đệm am toàn cho họ, một Việt Nam phụ thuộcvào Trung Quốc

Đến đầu những năm 1970, do bất đồng nên Trung Quốc đã thực hiện một số chínhsách gây bất lợi cho Việt Nam Cụ thể là tháng 2/1972, trong thông cáo Thợng Hải, TrungQuốc đã thoả thuận với Mĩ, bỏ mặc Việt Nam để đổi lấy Đài Loan

1.2 Giai đoạn 1972 - 1986.

Kể từ sau thông cáo Thợng Hải giữa Mĩ và Trung Quốc năm 1972, rồi đến vấn đềQuần đảo Hoàng Sa (1974) vấn đề Cămpuchia càng làm cho mối quan hệ Việt - Trung trở lênxấu hơn Sau khi Việt Nam thống nhất đất nớc năm 1975, quan hệ giữa hai nớc trở lên căngthẳng xung quanh vấn đề Cămpuchia Trung quốc cho rằng việc quân đội Việt Nam đa quân

đội giúp Cămpuchia là hành động xâm phạm chủ quyền và tấn cồng và 6 tỉnh biên giới phíaBắc nớc ta rồi tuyên bố đó là hành động “phản kích tự vệ” Tháng 2/1979, Việt Nam ra tuyên

bố nghiêm khắc lên án hành động xâm lợc của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc chấm dứtxâm lợc rút quân ra khỏi biên giới, quan hệ Việt-Trung rất căng thằng Tiếp đó trong nhiềunăm liền Trung Quốc gây khó khăn và xung đột cục bộ ở biên giới ta đã đồng thời tố cáo đề

Trang 6

nghị ký hiệp ớc tồn tại hoà bình nhng Trung Quốc từ chối những mâu thuẫn bất đồng giữaViệt Nam và Trung Quốc, rõ ràng là không có lợi cho Việt Nam và tình hình khu vực, vì vậyViệt Nam luôn mong muốn nối lại vòng đàm phán Việt - Trung Tháng 9 năm 1984, Bộ trởngNgoại giao nớc ta liên tục đề nghị hai bên đàm phán bí mật, trên cơ sở đó thảo luận và giảiquyết thực sự các vấn đề thực chất trong quan hệ hai nớc Về phía Trung Quốc không nhữngkhông đáp ứng mà còn yêu cầu Việt Nam rút hết quân khỏi Cămpuchia thậm chí dùng con bàiViệt Nam để cải thiện quan hệ Trung - Xô, dùng Liên Xô ép Việt Nam rút khỏi Campuchia,cha phải là bàn việc bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam, coi vấn đề Campuhica là một trong

ba trở ngại chính trong quan hệ giữa hai nớc

Nh vậy đến thời điểm này quan hệ Việt - Trung vẫn căng thẳng xung quanh vấn đềCampuchia Trung Quốc coi đây là trở ngại chính và hoàn toàn cha có thiện chí bình thờnghoá quan hệ với Việt Nam, chừng nào quân đội Việt Nam cha rút hết khỏi Campuchia

1.3 Giai đoạn 1986 - 1991

Cuộc chiến tranh biên giới tháng 2/1979 là một vết đen trong lịch sử Quan hệ Việt Trung Báo chí phơng Tây gọi là “cuộc chiến giữa những ngời anh em đỏ” điều đó không cólợi cho các nớc (XHCN) nói chung và hai nớc Việt - Trung nói riêng Việt Nam luôn tỏ rõthiện trí sẵn sàng đàm phán bình thờng hoá quan hệ với Trung Quốc

-Ngày 8/6/1986 tại hội nghị Ngoại trởng ba nớc Đông Dơng Việt Nam lại nêu ý muốn

“Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất kỳ ở đâu và bất kỳ cấp nào ”(1) Một vấn đềlớn là tháng 7/1986 căn cứ vào tình hình khu vực Châu á Thái Bình Dơng (CA-TBD), tìnhhinh Việt Nam và Đông Dơng, Đảng và Nhà nớc ta quyết định chuyển sang giai đoạn đấutranh mới trong cùng tồn tại hoà bình với Trung Quốc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI

Đảng cộng sản Việt Nam (12/1986) đã nêu: “Trên tinh thần bình đẳng, đảm bảo độc lập chủ

quyền và tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ Việt Nam giữa Việt Nam và Trung Quốc, bình thờng hoá và khôi phục tình hữu nghị giữa hai nớc vì lợi ích của nhân dân hai nớc vì hoà bình của Đông Nam á và trên thế giới”(2) Ngày5/4/1989, Việt Nam tuyên bố sẽ rút hết quân khỏi Cămpuahia vào 8/1989 Ngày 12/8/1990,Thủ tớng Lý Bằng tuyên bố Trung Quốc ky vọng cuối cùng sẽ bình thờng hoá quan hệ vớiViệt Nam và thảo luận các vấn đề nh Nam-Sa

Xuất phát từ những biến chuyến chuyển của tình hình thế giới và khu vực trên cơ sởhai nớc đều có thiện chí khôi và bình thờng hoá quan hệ, với những vấn đề nêu trên, đặc biệtvấn đề cămphuchia đã làm gián đoạn và can trở việc bình thờng hoá quan hệ giữa hai nớc.Tình trạng không bình thờng trong khoảng 10 năm này chỉ là tạm thời so với lịch sử quan hệhữu nghị truyền thống giữa hai nớc từ ngày 3/4/1990 hội nghị cấp cao Việt Nam - Trung Quốc

đã diễn ra tại thành đô (Trung Quốc) Đây đợc coi là hội nghị mở đờng cho việc khai thông vàbình thờng hoá quan hệ Việt - Trung và cũng là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa các nhà lãnh

đạocaps cao của hai Đảng, hai Nhà nớc Việc phấn đấu tiến tới bình thờng hoá quan hệ ViệtNam cũng nh việc đấu tranh giải quyết vấn đề Campuchia tuy còn nhiều khó khăn, phức tạp,nhng đã có nhiều nhân tố mới tích cực thúc đẩy quan hệ giữa hai nớc ngày càng tốt đẹp hơn

dân 1989 tr 204.

(2) Lu Văn Lợi

Trang 7

Nhận lời mới của Tổng bí th Đảng cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tớngQuốc vụ viện Trung Hoa Lý Bằng Tổng bí th Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mới và Thú tớngChính phủ Võ Văn Kiệt dã dẫn đoàn đại biểu nớc ta thăm chính thức cộng hoá nhân dânTrung Hoa chuyến thăm này nhằm chính thức bình thờng hoá quan hệ giữa hai nớc tại BắcKinh, ngày 10/11/1991 hai bên đã ra thông cáo chung và ký một số hiệp định tóm tắt kết quả

đã đạt đợc, thông cáo chung nêu rõ “Cuộc gặp gỡ và hội đàm diễn ra trong bầu không khí

thẳng thắn và hiểu biết lẫn nhau” hai bênhài lòng về kết quả đã hội đàm Cải thiện và phát triển tngf bớc quan hệ hai nớc và đã tuyên bố Cuộc gặp cấp cao Trung - Việt đánh dấu sự

bình thờng hoá quan hệ giữa Việt-Trung phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân hai nớc và cùng có lợi cho hoà bình ổn định và sự khôi phục của khu vực”(3)

Hai bên tuyên bố, hai nớc Việt Nam và Trung Quốc sẽ phát triển quan hệ hữu nghị vàláng giềng thân thiện trên cơ sở 5 nguyên tắc “tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ củanhau bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình

Hai Đảng sẽ khôi phục quan hệ bình thờng trên các nguyên tắc Độc lập tự chủ, hoàntoàn bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

Hai bên cho rằng việc hai Đảng, hai Nhà nớc trao đổi bình thờng và kinh nghiệm vềxây dựng đất nớc và cải cách kinh tế là điều kiện bổ ích, giải quyết các vấn đề tồn tại giữa haibên thông qua thơng lợng, đàm phán phù hợp với lợi ích, luật pháp của mỗi bên cũng nh luậtpháp Quốc tế Cuộc hội đàm này là một mốc son lịch sử, mang một ý nghãi quan trọng củathời đại mới: khép lại quá khứ, mở ra tơng lai

Tóm lại, từ những năm đầu thập kỷ 70 quan hệ Việt - Trung một thời gian dài dơi vàotình trạng căng thẳng va đối đầu, nổi cộm là vấn đề Cămpuchia chi phối quan hệ này và đỉnhcao là cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 làm cho quan hệ hai nớc trong tình trạng xấu nhất.Tuy nhiên với thiện chí của Việt Nam với tinh thần hợp tác vì một Đông Nam á hoà bình, ổn

định và sự phát triển của các nớc ASEAN, sự quan tâm giải quyết của các nớc lớn, trong đó cóTrung Quốc đã làm cho quan hệ trong khu vực “ấm lên” cởi mở hơn Những chuyển biến tíchcực này đã tác động tích cực đến quan hệ Việt - Trung Có thể nói bình thờng hoá quan hệViệt - Trung là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, xu thế hoà bình, ổn định hợp tác vàphát triển trên thế giới, phù hợp với nguyện vọng của hai Đảng hai Nhà nớc và lợi ích căn bảncủa nhân dân hai nớc

(3) Lu Văn Lợi, Sdd tr.212.

Trang 8

Chơng II

Những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến việc bình

th-ờng hoá quan hệ việt - trung

2.1 Những nguyên nhân khách quan

Ngày nay, cục diện Thế giới biến đổi sâu sắc thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế háo vàkhu vực hóa nền kinh tế và đời sống xã hội Thế giới Các quốc gia lớn nhỏ ngày càng tuỳthuộc lẫn nhau trong xu thế hoà bình hợp tác và phát triển Hoà bình phát triển trở thành nhucầu, mệnh lệnh của thời đại, là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Ngày nay rõràng không chỉ có một mô hình xã hội duy nhất, các dân tộc đang tìm con đờng đi đến một xãhội mới, tiến bộ giàu mạnh và công bằng hơn Chúng ta phấn đấu thực hiện “dângiàu, nớcmạnh, xã hội công bằng văn minh” cùng nhằm đạt đợc mục tiêu lý tởng cao đẹp

Chiến tranh lạnh chấm dứt sự sụp đổ của Liên Xô và các nớc XHCH Đông Âu khiếnCNXH Thế giới lầm vào thoái trào, tác động mạnh mẽ đến tình hình Thế giới, cán cân lực l-ợng trên trờng quốc tế thay đổi, trật tự “hai cực” bị phs vỡ, cục diện Thế giới biến đổi nhanhchóng, loài ngời không bị chi phối bởi ý thức hệ Mĩ là siêu cờng duy nhất nhng không tuyệt

đối còn khả năng lãnh đạo Thế giới Cán cân lực lợng thay đổi không có lợi cho cách mạng thếgiới nhng tính chất của thời đại vẫn không thay đổi, loài ngời vẫn đang trong thời kỳ quá độ từchủ nghĩa T bản (CNTB) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) Các mâu thuẫn cơ bản vốn có trên thếgiới vẫn tồn tại và phát triển Chủ nghĩa quốc tế không ngừng chống phá nhằm lật đổ các nớcXHCN còn lại thông qua diễn biến hoà bình” Song, không ngăn các nớc này đổi mới, cải cách

đã và đang thu đợc những kết quả đáng khích lệ nh ở Việt Nam, Trung Quốc

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ (KHCN0 hiện đại mà nội dung cơ bản là cáchmạng thông tin, sinh học, năng lợng… phát triển mạnh mẽ đã và đang tác động mạnh mẽ đến phát triển mạnh mẽ đã và đang tác động mạnh mẽ đếnmọi mặt đời sống xã hội, làm tăng lên lực lợng sản xuất, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịchcơ cấu phát triển thế giới, quốc tế háo sản xuất và đời sống xã hội thế giới, làm cho tính chấttuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng gia tăng, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc

tế, đẩy mạnh quá trình liên kết khu vực và toàn cầu hoá Ví dụ nh : nhờ áp dụng công nghệthông tin mà con ngời ngày càng nhận biết đợc các vấn đề mang tính toàn cầu cấp bách nhmôi trờng sinh thái, bùng nổ dân số, bệnh tật hiểm nghèo… phát triển mạnh mẽ đã và đang tác động mạnh mẽ đến đang đe doạ sự tồn vong của nhânloại và chỉ giải quyết đợc khi có sự hợp tác với tinh thần cao của cộng đồng quốc tế Cáchmạng KHCN cũng đang tạo ra thời cơ và thách thức lớn cho tất cả các nớc, buộc các quốc giaphải nghiên cứu khi xây dựng đờng lối, xác định phơng hớng và mục tiêu phát triển Songthành công hay thất bại còn phụ thuộc vào quá trình khai thác thời cơ, tiềm năng, tiềm lực và

nỗ lực phấn đấu của mỗi quốc gia Chính vì vậy, cha bao giờ các quốc gia chậm và đang pháttriển đứng trớc nhiều thử thách nh ngày nay Trung Quốc và Việt Nam cũng đang đứng trớcvòng xoáy toàn cầu đó, đòi hỏi việc bình thờng hoá quan hệ hai nớc là một vấn đề cấp bách

Bối cảnh quốc tế sau chiến tranh lạnh đã và đang thay đổi trên mọi mặt của đời sốngxã hội, cùng với thành tựu của cách mạng KHCN tác động mạnh mẽ và làm thay đổi cục diệnthế giới Về cơ bản, những xu thế phát triển chính xuất hiện và đang đợc định hình rõ nh :

2.1.1 Xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

Trang 9

Sự đối đầu căng thẳng giữa hai hệ thống chính trị (XHCN và TBCN) thời kỳ chiếntranh lạnh đã kiềm chế sự phát triển của các quốc gia Ngày nay, xu thế đối đầu đã chuyểnsang xu thế đối thoại, chạy đua vũ trang sang cam kết về quân sự, hoà dịu trong sinh hoạt quốc

tế Hoà bình ổn định để hợp tác là nhu cầu khách quan, đem lại cơ hội cho các quốc gia pháttriển kinh tế đợc u tiên hàng đầu có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cờng sức mạnh tổnghợp của quốc gia trên trờng quốc tế Đồng thời, không ngừng tạo sự ổn định chính trị và điềukiện mở rộng hợp tác quốc tế, chính sách dối ngoại mỗi nớc nhằm phục vụ đờng lối, chínhsách phát triển kinh tế nớc mình, mở rộng quan hệ chính trị đối ngoại, tạo môi trờng quốc tếthuận lợi, khai thác các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự phát triển đất nớc Hội nhập vàphát triển, khai thác điểm đồng, hạn chế điểm bất đồng, tập hợp lực lợng để tạo ra thế và lựccho nhu cầu phát triển Bên cạnh đó không ngừng nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự cờng và

đấu tranh chống sự can thiệp và áp đặt của nớc ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và văn hoádân tộc, phát triển kinh tế xã hội Khi yếu tố kinh tế trở thành nhân tố quyết định quyền lựccủa mỗi quốc gia, lợi ích phát triển, hợp tác và cạnh tranh phát triển đang là vấn đề nổi bậttrong quan hệ quốc tế hiện đại Các quốc gia có chế độ chính trị xã hội khác nhau nhng trunghợp về nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích vì hoà bình ổn định và phát triển vừa hợp tác vừa đấutranh trong cùng tồn tại hoà bình Trung Quốc và Việt Nam đang thực hiện cải cách và mở cửarất cần đến hoà bình, ổn định, hợp tác để phát triển ở trong nớc cũng nh khu vực và quốc tế

2.1.2 Xu thế quốc tế hoá, khu vực hoá

Gắn liền với xu thế nêu trên, xu thế quốc tế, khu vực hoá trong lĩnh vực kinh tế đangngày càng phát triển Mỗi quốc gia không thể tồn tại biệt lập mà phải hoạch định chính sáchliên kết khu vực, hợp tác quốc tế cùng phát triển vì lợi ích căn bản của mỗi bên Thế giới ngàynày là một tổng thể thống nhất, tuỳ thuộc lẫn nhau, vừa hợp tác vừa cạnh tranh và kiềm chế

ảnh hởng của nhau Hội nhập quốc tế là sự lựa chọn tất yếu, đa đến một thế giới phụ thuộc lẫnnhau ngày một sâu sắc Nhờ có quá trình tự do hoá kinh tế, các quốc gia đi sau có khả năngtiếp cận các nguồn vốn và công nghệ quốc tế, rút ngắn quá trình Đồng thời phát huy tối đa thếmạnh của đất nớc và tận dụng cơ hội do quá trình quốc tế háo đang mở ra

Bên cạnh quá trình hội nhập quốc tế, liên kết khu vực và tiểu khu vực, song phơng và

đa phơng ngày càng gia tăng mạnh mẽ, dựa trên cơ sở tơng đồng về địa lý, văn hoá truyềnthống, tạo nên sức mạnh tập thể hình thành nên thị trờng thống nhất, nhân công lao động quốc

tế phát triển Các quốc gia chậm phát triển có cơ hội hội nhập và phát triển kinh tế, từng b ớcnâng cao vị thế trong khu vực và trên thế giới Liên kết kinh tế song và đa ph ơng dới nhiềuhình thức tam giác, tứ giác xuất hiện phát triển ngày càng bền vững Do đó, vấn đề ngoại giaokinh tế cạnh tranh lợi ích kinh tế, lợi dụng tiềm năng quốc tế để phát triển trở thành nội dungquan trọng trong quan hệ quốc tế hiện đại

Những đặc điểm và xu thế trên đây đã quy định tính đa phơng, đa dạng hoá quan hệquốc tế và đờng lối chính sách đối ngoại của các quốc gia nói chung của Việt Nam và TrungQuốc nói riêng Để thực hiện chơng trình cải cách kinh tế, Việt Nam và Trung Quốc phải duytrì môi trờng hoà bình và quan hệ với các nớc láng giềng Trong bối cảnh đó, quan hệ Việttrung đã đợc bình thờng hoá và ngày càng phát triển

2.1.3 Tình hình khu vực Châu á - Thái Bình Dơng

Trang 10

Châu á - Thái Bình Dơng (CA-TBD) là một khu vực rộng lớn, tập trung nhiều nớc lớn

có nền kinh tế phát triển vào bậc nhất thế giới, có vị trí địa lý chiến lợc cũng nh tiềm năngtiềm lực phát triển cao, là khu vực ngày càng thu hút sự chú ý của thế giới

Cuộc cách mạng KHCN hiện đại tạo ra thời cơ và thuận lợi cho các nớc trong khu vực,ứng dụng công nghệ vào sản xuất và cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân, đẩy mạnh nhân công lao

động quốc tế đã và đang tăng trởng liên tục trong nhiều thập kỷ qua Đây là khu vực đợc coi là

có nền kinh tế tăng trởng năng động nhất thế giới Xuất hiện nhiều trung tâm ứng dụng côngnghệ hiện đại nh : Nhật Bản, Trung quốc, ấn Độ… phát triển mạnh mẽ đã và đang tác động mạnh mẽ đến đang tạo ra thế cạnh tranh gay gắt giữa cácquốc gia Đây cũng là khu vực diễn ra quá trình liên kết, tự do hoá thơng mại mạnh mẽ tiêubiểu là APEC, hội nghị hợp tác á - Âu (ASEM) Những biến đổi mạnh mẽ trong nền kinh tế

đất nớc Châu á đã khẳng định vai trò ngày càng tăng của khu vực này đối với thế giới

Sau chiến tranh lạnh, các quốc gia trong khu vực đã và đang điều chỉnh chính sách đốingoại và chiến lợc phát triển của mình Các nớc lớn, các trung tâm kinh tế chính trị hàng đầuthế giới cũng đang điều chỉnh chiến lợc hớng mạnh vào Châu á Điều đó tạo thời cơ thuận lợicho kinh tế các nớc khu vực phát triển Thế và lực của Châuá “khi vị thế và vai trò của Nhà n-

ớc XHCN Trung Quốc trong nớc ngày càng lên trong khu vực, khiến Mĩ và một vài nớc lớnkhác lo ngại Nổi bật nhất trong khu vực CA-TBD là quan hệ tam giác Mĩ - Trung - Nhật,trong đó các cặp quan hệ song phơng luôn đợc tính toán, vừa hợp tác vừa đấu tranh gay gắt,không đảy mối quan hệ đến chố đối đầu căng thẳng, các bên đều tìm giải pháp hoà hoãn đểkiềm chế ảnh hởng của nhau, tác động sâu sắc đến tình hình khu vực nói chung Các quốc giavừa và nhỏ cãng đang trong quá trình điều chỉnh chính sách hớng về Châu á - Thái Bình D-

ơng, tham gia hợp tác khu vực và tiểu khu vực, tiếp tục duy trì ổn định chính trị, giải quyết cáctranh chấp thông qua thơng lợng và dựa trên luật pháp quốc tế Ngày nay các quốc gia Châu á

- TBD đang đứng trớc cơ hội phát triển lớn, u tiên phát triển kinh tế đợc coi là nhiệm vụ hàng

đầu Đặc biệt các nớc XHCN còn lại đang trong quá trình cải cách, mở cửa (ở Trung quốc và

đổi mới ở Việt Nam) đạt đợc nhiều thành tựu trong bớc đi ban đầu, nhằm xây dựng một nềnkinh tế hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển phần thịnh của Châu lục

Nằm trong khu vực CA-TBD, Đông Nam á đợc coi là chiếc cầu nối giữa Phơng Đông

và phơng Tây, là khu vực có nguồn tài nguyên và nhân lực phong phú, Đông Nam á có u thế

về tiềm năng và triển vọng về tốc độ phát triển kinh tế, có vị trí địa lý chiến lợc quan trọng đốivới thế giới Việc bình thờng hoá quan hệ Việt - Trung để từ đó Việt Nam trở thành cái cầunối lý tởng của Trung Quốc đối với Đông Nam á

Sau chiến tranh lạnh, sự đối đầu giữ hai cực không còn, dới tác động của xu thế hoàbình, ổn định và phát triển trên thế giới, các nớc Đông Nam á chuyển sang giai đoan quan hệmới : hợp tác và phát triển Là khu vực có nhiều thế chế xã hội khác nhau, nhng các quốc gia

Đông Nam á đều mong muốn có hoà bình, ổn định ở khu vực Nguyện vọng này trở thành xuthế không thể đảo ngợc trong những thập kỷ trớc mắt Vừa giải quyết hoàn toàn vấn đềCămphuchia, sự đối đầu giữa Việt Nam - Mĩ, Việt Nam - Trung Quốc không còn nữa, quan hệgiữa các nớc này đã bớc sang thời kỳ mới , đối đầu chuyển sang đối thoại cùng hợp tác cùngphát triển Dới tác động của cuộc cách mạng KHKT hiện đại, su liên kết kinh tế vùng, tiểu

Trang 11

vùng giữa các quốc gia có nhiều điểm tơng đồng (lịch sử, văn hoá, lợi ích l.) không những hỗtrợ nhau mà còn cạnh tranh với các thế lực bê ngoài

Ngày nay, Đông Nam á là một thể thống nhất, với thế và lực ngày càng tăng lên dựavào sức mạnh tổng hợp mà nòng cốt là tổ chức ASEAN, các nớc này đang phấn đấu xây dựngmột khu vực hoà bình hữu nghị, hợp tác và phát triển Đông Nam á ngày càng thu hút sự chú

ý của các nớc trong khu vực và thế giới Đặc biệt là các nớc lớn, trớc hết là Mĩ - Nhật - Trungthờng xuyên củng cố và duy trì ảnh hởng của mình đối với các khu vực này Do đó, khi quansát cục diện Đông Nam á, ngời ta thấy rõ mối quan hệ tam giác nói trên, đang hình thành thếcân bằng mới So với các nớc lớn cùng khu vực (Mĩ, Nhật, ấn Độ… phát triển mạnh mẽ đã và đang tác động mạnh mẽ đến) Trung Quốc có vị trí địa

lý thuận lợi hơn cả Châu á nói chung và Đông Nam á nói riêng Song sự thu hút sự chú ý củacác nớc trong khu vực và ngợc lại Sự phát triển nhanh chóng cả về kinh tế và quân sự củaTrung Quốc, không ngừng mở rộng ảnh hởng đối với các nớc Đông Nam á

Mặt khác, quan hệ chính trị, kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ sau năm 1990 ngày càngphát triển, Trung Quốc không ngừng tăng cờng hợp tác với ASEAN và ngợc lại Tạo cơ hộicho Việt Nam và các nớc trong khu vực hợp tác để phát triển Những thành tu trong công cuộccải cách mở cửa Trung Quốc sẽ là kinh nghiệm quý báu đối với các nớc ASEAN nhất là đốivới Việt Nam Hơn nữa, mâu thuẫn giữa Trung Quốc và các nớc ASEAN về vấn đề biển Đôngvẫn cha có biện pháp giải quyết Đây là vấn đề nhạy cảm khó giải quyết dứt điểm và có nguycơ tiềm năng gây mất ổn định, và có thể dẫn đến bùng nổ xung đột nếu các bên liên quan(Trung Quốc, Việt Nam và một số nớc ASEAN khác) không bình tĩnh ra phơng pháp giảiquyết thoả đáng

Tóm lại, bối cảnh quốc tế và tình hình khu vực thời kỳ sau chiến tranh lạnh đã tạo rathời cơ và thuận lợi cho các quốc gia dân tộc nói chung và Việt Nam, Trung Quốc nói riêng,củng cố và phát triển quan hệ, tạo môi trờng quốc tế thuận lợi phục vụ công cuộc đổi mới ởViệt Nam, cải cách mở cửa ở Trung Quốc góp phần củng cố hoà bình, ổn định và phát triểntrong khu vực và trên thế giới

2.2 Những nguyên nhân chủ quan.

Chính sách đối ngoại là sự tiếp nối đờng lối của chính sách đổi mới, phục vụ chínhsách đối nội Là bộ phận của đờng lối chính trị, đờng lối cách mạng của từng nớc bao gồmnhững quan điểm, biện pháp, hình thức đối ngoại nhằm mục tiêu cách mạng trong nớc, phùhợp với xu thế, quy luật vận động của thế giới

2.2.1 Đờng lối đối ngoại đổi mới của Đảng và Nhà nớc Việt Nam.

Chính sách đối ngoại Việt Nam là sự kế tục t tởng đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh

và truyền thống ngoại giao Việt Nam: độc lập, tự chủ với nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạnbiến”, phát huy tối đa sức mạnh dân tộc, khai thác hiệu quả sức mạnh thời đại, sức mạnh quốc

tế, thực hiện đoàn kết quốc tế, tăng cờng hợp tác để tạo lập và khai thác môi trờng quốc tếthuận lợi, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện mục tiêu có tính chiến l ợccủa cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công CNXH

Để đạt đến mục tiêu trên, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nớc ta đợc dựa trên cơ

sở phân tích những biến động của tình hình thế giới, xu thế vận động của thời đại cũng nh đòihỏi của sự nghiệp cách mạng trong nớc qua từng thời kỳ nhất định

Ngày đăng: 09/04/2013, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w