A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Cïng víi sù ph¸t triÓn cña x• héi, gi¸o dôc nhµ trêng xuÊt hiÖn nh mét ®iÒu tÊt yÕu, ®ãn bíc thiÕu nhi c¾p s¸ch tíi trêng. C¶ thÕ giíi ®ang më tríc m¾t c¸c em. Kho tµng v¨n minh nh©n lo¹i ®îc chuyÓn giao tõ nh÷ng ®iÒu s¬ ®¼ng nhÊt. Qu¸ tr×nh gi¸o dôc ®îc thùc hiÖn ë mäi lóc, mäi n¬i, tÊt c¶ c¸c m«n häc. Nh÷ng ®iÒu s¬ ®¼ng nhÊt ®• gãp phÇn rÊt quan träng trong viÖc sö dông ng«n ng÷ vµo ho¹t ®éng giao tiÕp cña häc sinh. Ng«n ng÷ lµ thø c«ng cô cã t¸c dông v« cïng to lín. Nã cã thÓ diÔn t¶ tÊt c¶ nh÷ng g× con ngêi nghÜ ra, nh×n thÊy biÕt ®îc nh÷ng gi¸ trÞ trõu tîng mµ c¸c gi¸c quan kh«ng thÓ v¬n tíi ®îc. C¸c m«n häc ë TiÓu häc cã t¸c dông hç trî cho nhau nh»m gi¸o dôc toµn diÖn häc sinh ph¶i kÓ ®Õn LuyÖn tõ vµ c©u, mét ph©n m«n chiÕm thêi lîng kh¸ lín trong m«n TiÕng ViÖt ë TiÓu häc. Nã t¸ch thµnh mét ph©n m«n ®éc lËp, cã vÞ trÝ ngang b»ng víi ph©n m«n TËp ®äc, TËp lµm v¨n...song song tån t¹i víi c¸c m«n häc kh¸c. §iÒu ®ã thÓ hiÖn viÖc cung cÊp vèn tõ cho häc sinh lµ rÊt cÇn thiÕt vµ nã cã thÓ mang tÝnh chÊt cÊp b¸ch nh»m “®Çu t” cho häc sinh cã c¬ së h×nh thµnh ng«n ng÷ cho ho¹t ®éng giao tiÕp còng nh chiÕm lÜnh nguån tri thøc míi trong c¸c m«n häc kh¸c. TÇm quan träng ®ã ®• ®îc rÌn giòa luyÖn tËp nhuÇn nhuyÔn trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt c¸c d¹ng bµi tËp trong m«n LuyÖn tõ vµ c©u líp 4. H¬n n÷a Chúng ta đã trải qua 6 năm đổi mới chương trình, sách giáo khoa. Cùng với việc đổi mới các môn học khác thì đổi mới trong Tiếng Việt đã tạo ra tâm thế mới trong công tác giảng dạy. Với chương trình SGK mới thì mục tiêu của môn Tiếng Việt cũng có sự thay đổi, chương trình tiểu học mới xác định mục tiêu của môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học là : (1)Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) và cung cấp những kiến thức sơ giản gắn trực tiếp với việc học tiếng Việt nhằm tạo ra ở học sinh năng lực dùng tiếng Việt để học tập ở tiểu học và các cấp học cao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa tuổi. (2)Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản ( phân tích, tổng hợp, phán đoán…) (3)Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa và văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đó: Góp phần bồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt, lẽ phải và sự công bằng xã hội; góp phần hình thành lòng yêu mến và thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt. Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại: Có tri thức, biết tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết rèn luyện lối sống lành mạnh, ham thích làm việc và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này. Với mục tiêu dạy học Tiếng Việt như trên, ta thấy thì môn Tiếng Việt đóng vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục làm cơ sở ban đầu cho trẻ chiếm lĩnh tri thức mới, có được năng lực sử dụng ngôn ngữ, biết sử dụng thành thạo Tiếng Việt, cùng các bộ môn khác góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. SGK mới, phân môn Từ ngữ Ngữ pháp được giọi bằng tên mới là Luyện từ và câu. Đây là môn học đóng vai trò quan trọng hàng đầu bởi nó dạy cho học sinh, cung cấp cho các em vốn tri thức Tiếng Việt ban đầu nhằm phục vụ cho việc tiếp thu các môn học khác một cách dễ dàng hơn. Vì vậy học Luyện từ và câu sẽ giúp cho các em hình thành, phát triển vốn ngôn ngữ của mình. Hằng ngày việc tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, cha mẹ cũng như với mọi người đòi hỏi các em phải có vốn ngôn ngữ đồng thời qua việc tiếp xúc đó các em cũng bổ sung thêm cho mình những gì bị thiếu hụt. Hay khi tiếp xúc với một số tác phẩm văn học ta phải biết những từ ngữ tác giả sử dụng trong đó với dụng ý gì, cấu trúc câu trong đó như thế nào hay từ láy từ ghép đó dược dùng để làm gì… Với vai trò vị trí của bộ môn Tiếng Việt cùng với phân môn Luyện từ và câu trong hệ thống các môn học, tôi nghĩ rằng: Đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt nói chung và nâng cao hiệu quả giảng dạy Luyện từ và câu là một vấn đề liên tục. Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “ Híng d•n häc sinh líp 4 häc tèt m«n Luyện từ và c©u ”. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU. Thực hiện đề tài này, bản thân có điều kiện để nghiên cứu sâu hơn việc tổ chức dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4. Từ đó là cơ sở để tôi dạy tốt phân môn Luyện từ và câu. III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trờng xuất hiện nh một điều tất yếu, đón bớc thiếu nhi cắp sách tới trờng Cả thế giới đang mở trớc mắt các em Kho tàng văn minh nhân loại đợc chuyển giao từ những điều sơ đẳng nhất Quá trình giáo dục đợc thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tất cả các môn học
Những điều sơ đẳng nhất đã góp phần rất quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp của học sinh Ngôn ngữ là thứ công cụ có tác dụng vô cùng to lớn Nó có thể diễn tả tất cả những gì con ngời nghĩ ra, nhìn thấy biết đợc những giá trị trừu tợng mà các giác quan không thể vơn tới đợc Các môn học ở Tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn diện học sinh phải kể đến Luyện từ và câu, một phân môn chiếm thời lợng khá lớn trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học Nó tách thành một phân môn độc lập, có vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn song song tồn tại với các môn học khác
Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần thiết và nó có thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu t” cho học sinh có cơ sở hình thành ngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng nh chiếm lĩnh nguồn tri thức mới trong các môn học khác Tầm quan trọng đó đã đợc rèn giũa luyện tập nhuần nhuyễn trong quá trình giải quyết các dạng bài tập trong môn Luyện từ và câu lớp 4
Hơn nữa Chỳng ta đó trải qua 6 năm đổi mới chương trỡnh, sỏch giỏo khoa Cựng với việc đổi mới cỏc mụn học khỏc thỡ đổi mới trong Tiếng Việt đó tạo ra tõm thế mới trong cụng tỏc giảng dạy Với chương trỡnh SGK mới thỡ mục tiờu của mụn Tiếng Việt cũng cú sự thay đổi, chương trỡnh tiểu học mới xỏc định mục tiờu của mụn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học là :
(1)Hỡnh thành và phỏt triển ở học sinh cỏc kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, núi) và cung cấp những kiến thức sơ giản gắn trực tiếp với việc học tiếng Việt nhằm tạo ra ở học sinh năng lực dựng tiếng Việt để học tập ở tiểu học
và cỏc cấp học cao hơn, để giao tiếp trong cỏc mụi trường hoạt động lứa tuổi
(2)Thụng qua việc dạy và học tiếng Việt, gúp phần rốn luyện cho học sinh cỏc thao tỏc tư duy cơ bản ( phõn tớch, tổng hợp, phỏn đoỏn…)
(3)Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xó hội, tự nhiờn và con người, về văn húa và văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đú:
-Gúp phần bồi dưỡng tỡnh yờu cỏi đẹp, cỏi thiện, lũng trung thực, lũng tốt,
lẽ phải và sự cụng bằng xó hội; gúp phần hỡnh thành lũng yờu mến và thúi quen giữ gỡn sự trong sỏng, giàu đẹp của tiếng Việt
-Gúp phần hỡnh thành nhõn cỏch con người Việt Nam hiện đại: Cú tri thức, biết tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dõn tộc, biết rốn luyện lối sống lành mạnh, ham thớch làm việc và cú khả năng thớch ứng với cuộc sống xó hội sau này
Với mục tiờu dạy học Tiếng Việt như trờn, ta thấy thỡ mụn Tiếng Việt đúng vai trũ hết sức quan trọng trong giỏo dục làm cơ sở ban đầu cho trẻ chiếm lĩnh tri thức mới, cú được năng lực sử dụng ngụn ngữ, biết sử dụng thành thạo Tiếng
Trang 2Việt, cùng các bộ môn khác góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam
Xã hội chủ nghĩa
SGK mới, phân môn Từ ngữ - Ngữ pháp được giọi bằng tên mới là Luyện
từ và câu Đây là môn học đóng vai trò quan trọng hàng đầu bởi nó dạy cho học sinh, cung cấp cho các em vốn tri thức Tiếng Việt ban đầu nhằm phục vụ cho việc tiếp thu các môn học khác một cách dễ dàng hơn Vì vậy học Luyện từ và câu
sẽ giúp cho các em hình thành, phát triển vốn ngôn ngữ của mình Hằng ngày việc tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, cha mẹ cũng như với mọi người đòi hỏi các em phải
có vốn ngôn ngữ đồng thời qua việc tiếp xúc đó các em cũng bổ sung thêm cho mình những gì bị thiếu hụt Hay khi tiếp xúc với một số tác phẩm văn học ta phải biết những từ ngữ tác giả sử dụng trong đó với dụng ý gì, cấu trúc câu trong đó như thế nào hay từ láy từ ghép đó dược dùng để làm gì…
Với vai trò vị trí của bộ môn Tiếng Việt cùng với phân môn Luyện từ và câu trong hệ thống các môn học, tôi nghĩ rằng: Đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt nói chung và nâng cao hiệu quả giảng dạy Luyện từ và câu là một vấn
đề liên tục Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “ Híng d·n häc sinh
líp 4 häc tèt m«n Luyện từ v c©u à c©u ” ”.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Thực hiện đề tài này, bản thân có điều kiện để nghiên cứu sâu hơn việc tổ chức dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 Từ đó là cơ sở để tôi dạy tốt phân môn Luyện từ và câu
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp nghiên cứu lí luận.
a Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài, SGK, SGV Tiểu học
b Hệ thống hóa những vấn đề có liên quan đến phân môn Luyện từ và câu
2 Phương pháp điều tra, khảo sát.
a Thực trạng Luyện từ và câu ở Tiểu học
b Trực tiếp đối thoại với học sinh Tiểu học ở lớp 4
3 Thực nghiệm sư phạm.
Trực tiếp dạy và dự giờ Luyện từ và câu
4 Tổng kết kinh nghiệm.
B PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Mục đích, ý nghĩa và tác dụng của phân môn Luyện từ và câu trong nhà trường và ngoài xã hội
Người Việt Nam, mỗi chúng ta ai cũng tự nhận thấy rằng ngôn ngữ chúng
ta hết sức phong phú và đa dạng Mỗi con người ngay từ khi sinh ra đến tuổi đi học đều hình thành cho mình vốn ngôn từ Tiếng Việt, quy tắc giao tiếp nhất định
Trang 3Bởi vậy, để tăng nhanh được vốn từ, để chính xác hóa nội dung ngữ nghĩa của từ cũng như thúc đẩy việc hình thành kĩ xảo ngữ pháp diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi không thể không chú ý đến việc rèn luyện, trau dồi cho các em vốn kiến thức về Tiếng Việt qua phân môn Luyện từ và câu Kế thừa và phát huy những ưu điểm của chương trình cũ đồng thời cũng để tạo ra phong thái mới trong dạy và học hiện nay, chương trình SGK mới ra đời với mong muốn sẽ giúp cho học sinh tiếp cận một cách dễ dàng hơn với môn tri thức mới Với phân môn Luyện từ và câu sẽ giúp học sinh:
a Mở rộng hệ thông hóa vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu
b Rèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu
c Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; rèn luyện ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong giao tiếp
Với mục đích như vậy, việc dạy học Luyện từ và câu chiếm vị trí hết sức to lớn trong nhà trường cũng như cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để đi sâu vào tìm hiểu các lĩnh vực khác
2 Cùng với sự thay đổi về chương trình SGK thì việc đổi mới về phương pháp dạy học cũng là điều tất yếu Sự đổi mới này phải theo hương tăng cường tổ chức hướng dẫn học sinh luyện tập thực hành là một trong những mục tiêu quan trọng của chương trình Tiểu học mới
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK lần này là đổi mới phương pháp dạy và học: Chuyển từ phương pháp truyền thụ sang phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học trong đó người dạy đóng vai trò tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt động, bộc lộ mình
và được phát triển Đó cũng chính là bản chất của phương pháp dạy học mới
Theo phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, SGK Tiếng Việt 4 nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng không trình bày kiến thức như là những kết quả có sẵn mà xây hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh
tự học, tự thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh tri thức và phát triển kĩ năng
sử dụng Tiếng Việt
3 Một số nhận xét về phân môn luyện từ và câu hiện nay.
3.1 Phương pháp dạy học Luyện từ và câu hiện nay kế thừa và phát huy các ưu điểm của cách dạy Từ ngữ - Ngữ pháp trước đây
3.2 Tổ chức dạy học Luyện từ và câu theo phương pháp day học hiện nay
có nhiều điểm mới Đó là tăng cường luyện tập thực hành, tổ chức nhiều hình thức làm bài tập khác nhau
3.3 Học sinh có điều kiện bộc lộ năng lực, khả năng sử dụng và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp
3.4 Học sinh là người đóng vai trò chủ đạo, làm trung tâm, tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên
Trang 43.5 Mỗi học sinh đều được hoạt động, bộc lộ mình và được phát triển 3.6 Học sinh được hoạt động trong môi trường giao tiếp dưới sự hướng dẫn của thầy, cô giáo
3.7 Học sinh được rèn luyện thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu
và ý thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp phù hợp với chuẩn mực văn hóa
3.8 Trang bị cho học sinh phương pháp học tập để học sinh có thể tự học sau này
II BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY - HỌC LUYỆN TỪ
VÀ CÂU Ở LỚP 4
1 Lập kế hoạch bài học
Việc lập kế hoạch bài học tức là tạo ra cho mình một cẩm nang cho việc dạy học Vì vậy, việc lập kế hoạch bài học của giáo viên phải logic, tích hợp đầy
đủ các nội dung dạy học ở trong đó, phải có đầy đủ mục đích, yêu cầu cũng như quy trình một bài dạy sao cho phù hợp, có hoạt động người dạy, người học Khi lập kế hoạch bài học, giáo viên phải đặt ra những tình huống trong giờ dạy ngoài
dự kiến của mình để có thể kịp thời xử lý, đồng thời tạo cho giờ học sinh động, hấp dẫn
2 Chuẩn bị đồ dùng
Việc dạy học theo phương pháp mới hiện nay đòi hỏi giáo viên phải năng động, sáng tạo tìm tòi học hỏi để làm tăng hiệu quả giờ dạy đồng thời nâng cao chất lượng học tập của học sinh Vì vậy, việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cho mỗi bài dạy là khâu quan trọng, mỗi bài yêu cầu mỗi loại đồ dùng riêng như: Phiếu học tập, bảng phụ, hình ảnh trực quan…Đồ dùng dạy học sẽ đóng góp phần lớn cho hiệu quả củng như thành công của tiết dạy
Ví dụ: Khi dạy bài "câu kể Ai là gì?" với yêu cầu dùng câu kể Ai là gì? viết
đoạn văn giới thiệu về gia đình mình hoặc tập thể lớp mình Chắc chắn rằng, giờ học này sẽ sinh động hơn khi học sinh có tấm ảnh chụp cả gia đình, các em sẽ nhìn vào đó để giới thiệu thành viên của gia đình cho cả lớp nghe qua tấm ảnh đó
3 Hướng dẫn chuẩn bị bài
Đây cũng là biện pháp góp phần to lớn vào việc nâng cao hiệu quả dạy học Sau mỗi tiết học, giáo viên cần dành chút ít thời gian để hướng dẫn cho các em xem trước bài học sắp tới và những phần cần chuẩn bị, có như vậy khi học bài các
em mới các em đã được làm quen, xem qua những kiến thức mình sắp học đồng thời cũng bổ sung những kiến thức đã học liên quan đến bài mới
4 Tổ chức thực hiện
Đây là điều kiện cần cho một giờ Tiếng Việt nói chung và luyện tập về câu nói riêng Có thể có nhiều hình thức tổ chức khác nhau để thực hiện bài tập:
+ Làm việc độc lập
+ Làm việc theo cặp, theo nhóm
Trang 5+ Làm việc theo lớp.
-Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả làm việc bằng nhiều hình thức khác nhau và phải luân phiên nó bằng phiếu bài tập, có khi là phiếu học tập, có khi là bằng bảng giấy hay bảng lớp, có khi trình bày bằng miệng Ngoài ra còn có thể cho thi đua giữa các nhóm
-Trao đổi với học sinh sửa đổi cho học sinh hoặc tổ chức cho các em góp ý đánh giá cho nhau trong quá trình làm bài
-Sơ kết tổng kết ý kiến, ghi bảng nếu cần thiết
5 Hoạt động ngoài giờ
Ngoài việc dạy học ở trên lớp nên tổ chức cho học sinh những giờ học ngoại khóa thật bổ ích như tổ chức các trò chơi đố vui để học…các hội thi tìm từ nhanh, đặt câu đúng…để các em tăng thêm vốn hiểu biết tạo ra sự thi đua, hứng khởi trong học tập Tiếng Việt và phân môn Luyện từ và câu nói riêng
Giáo viên cũng nên tổ chức cho các em đi tham quan thực tế học tập để các
em mở rộng vốn kiến thức về quê hương, đất nước để giúp đỡ các em hiểu hơn về cuộc sống, từ đó làm giàu thêm vốn từ Hay từ trong cuộc sống hằng ngày của các
em thường giao tiếp với thầy cô, bạn bè, cha, mẹ… học sinh phải nắm bắt được điều đó để điều chỉnh cho học sinh trong hoạt động giao tiếp
6 Giáo viên phải biết linh hoạt phối hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp dạy học cũng như thay đổi các phương pháp đó trong các giờ học để tạo hứng thú cho học sinh trong học tập Mặt khác giáo viên cần hạn chế bớt phương pháp dạy học cũ là thuyết giảng từ một phía
- Giao việc cho học sinh :
+ Cho học sinh trình bày yêu cầu, câu hỏi, bài tập
+ Cho học sinh thực hiện một phần câu hỏi, bài tập trong SGK, nếu nhiệm
vụ đặt ra là khó hoặc mới sau khi học sinh làm thử cần tổ chức chữa bài để các
em nắm được cách làm
+ Tóm tắt nhiệm vụ, nêu những điểm cần chú ý khi làm bài
- Kiểm tra học sinh: Trong quá trình học sinh làm bài tập, giáo viên cần tới từng bàn để kiểm tra công việc của các em
+ Xem học sinh có làm việc không
+ Xem học sinh có hiểu việc phải làm không
+ Trả lời thắc mắc của học sinh
- Tổ chức báo cáo làm việc
- Tổ chức đánh giá
7 §Ò ra c¸c biÖn ph¸p nghiªn cøu, ¸p dông ph¬ng ph¸p tæn chøc d¹y c¸c D¹ng bµi tËp LuyÖn tõ vµ c©u “ ”
Trang 6A Ph ơng pháp nghiên cứu.
Với đặc trng của môn Luyện từ và câu“ ” cùng các mâu thuẫn giữa yêu cầu của xã hội, nhu cầu hiểu biết của học sinh với thực trạng giảng dạy của giáo viên, việc học của học sinh trờng tôi, đồng thời để củng cố nâng cao kiến thức, kỹ năng
làm các bài tập Luyện từ và câu“ ” cho học sinh lớp 4 Tôi đã nghiên cứu và rút ra
đợc nhiều kinh nghiệm thông qua các bài học trên lớp, trớc hết tôi yêu cầu học sinh thực hiện theo các bớc sau
1 Đọc thật kỹ đề bài.
2 Nắm chắc yêu cầu của đề bài Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố đã cho
và yếu tố phải tìm.
3 Vận dụng kiến thức đã học để thực hiện lần lợt từng yêu cầu của đề bài.
4 Kiểm tra đánh giá.
Đặc biệt tôi cũng mạnh dạn đa ra từng bớc hớng dẫn các phơng pháp rèn
luyện kỹ năng làm các dạng bài tập Luyện từ và câu“ ” Muốn học sinh làm bài một cách có hiệu quả, trớc hết các em phải nắm chắc kiến thức, vì đó là bớc quan trọng cho cả giáo viên và học sinh
Mỗi một dạng bài tập cụ thể, bài tập riêng đều có một hình thức tổ chức riêng Có thể theo nhóm, làm việc cả lớp hoặc làm việc cá nhân Song song với các hình thức đó là phơng pháp hình thành giải quyết vấn đề cho học sinh
Muốn làm đợc việc đó trớc tiên học sinh phải hiểu rõ đặc điểm của nội dung
các chủ điểm mà phân môn Luyện từ và câu“ ” cần cung cấp
- Qua các bài mở rộng vốn từ học sinh đợc:
Cung cấp thêm các từ ngữ mới theo chủ điểm hoặc nghĩa, các yếu tố hán việt; rèn luyện khả năng huy động vốn từ theo chủ điểm ; rèn luyện sử dụng từ, sử dụng thành ngữ tục ngữ
- Thông qua các bài tập cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từng học sinh đợc: Tìm hiểu về cấu tạo của tiếng, nhận diện đợc hiện tợng bắt đầu từ vấn đề trong thơ, tìm hiểu phơng thức tạo từ mới để phục vụ cho nhu cầu giao tiếp Học sinh cần tìm hiểu đợc:
Có 2 cách để tạo từ phức:
1 Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau là từ ghép
2 Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau đó là từ láy
- Thông qua các bài tập về từ loại: Học sinh đợc cung cấp kiến thức sơ giản
về danh từ, động từ, tính từ gắn bó với các tình huống sử dụng Cần lu ý:
+ Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy với tính từ đã cho
+ Thêm vào các từ rất, quá, lắm vào trớc hoặc sau tính từ
+ Tạo ra phép so sánh
Thông qua các bài tập về câu, học sinh đợc rèn luyện năng lực sử dụng các kiểu câu tuỳ theo nhu cầu, lĩnh vực giao tiếp
Ví dụ: Nhiều khi ta có thể sử dụng câu hỏi để thực hiện:
1 Thái độ khen, chê
Trang 72 Sự khẳng định, phủ định
3 Yêu cầu, mong muốn
- Đặc biệt rất chú trọng đến việc dạy học sinh biết giữ phép lịch sự trong giao tiếp Cụ thể: Khi hỏi chuyện ngời khác cần giữ phép lịch sự
Câu hỏi:
1 Cần tha gửi, xng hô cho phù hợp với quan hệ giữa mình với ngời đợc hỏi.
2 Cần tránh những câu hỏi làm phiền lòng ngời khác
Câu khiến:
1 Khi yêu cầu, đề nghị phải giữ phép lịch sự
2 Muốn cho lời yêu cầu, đợc đề nghị lịch sự, cần có cách xng hô cho phù hợp và thêm vào trớc hoặc sau động từ: Làm ơn, giùm, giúp
3 Có thể dùng câu hỏi, kiểu câu nếu yêu cầu đề nghị
B Ph ơng pháp tổ chức dạy cho học sinh làm bài tập Luyện từ và câu “ ”
Các kiểu hình thức và kĩ năng cần học trong phân môn Luyện từ và câu“ ” đợc rèn luyện thông qua nhiều bài tập với các tình huống giao tiếp tự nhiên
a Đối với các dạng bài tập mở rộng vốn từ.
Ví dụ: Tìm các từ ngữ:
- Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thơng đồng loại
- Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thơng
- Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại
- Trái nghĩa với với đùm bọc hoặc giúp đỡ
Ngoài việc sử dụng hớng mẫu trong sách giáo khoa Giáo viên yêu cầu học
sinh làm việc theo nhóm (4 nhóm) Mỗi nhóm một yêu cầu, sau khi đại diện nhóm
trả lời cho học sinh làm việc ở lớp
Nhóm 1: Lòng thơng ngời, đùm bọc, giúp đỡ
Nêu ý nghĩa của các từ em tìm đợc Các nhóm cùng bổ sung, giáo viên chốt lại ý kiến đúng
Liên hệ giữa tình huống học sinh đã làm đợc trong cuộc sống, quá trình học tập
b Rèn luyện kĩ năng cấu tạo từ – dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy. dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy.
Ví dụ: Tìm từ láy, từ ghép chứa các tiếng sau đây.
- Ngay
- Thẳng
- Thật
Đối với các dạng bài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm trong phiếu Giáo viên có thể sử dụng phơng pháp động não thu nạp rất nhiều từ,
từ quá trình học sinh, mỗi nhóm hoạt động một nhiệm vụ với từ (Ngay, thẳng, thật)
Ngay Ngay ngáy Ngay thẳng, ngay ngắn Thẳng Thẳng thắn Ngay thẳng, thẳng tắp
Trang 8Thật Thật thà Sự thật, thẳng thật Cùng yêu cầu của bài đã cho học sinh chọn từ để đặt câu với từ đó Giáo viên cho học sinh làm việc cá nhân
* Cho học sinh so sánh từ láy, từ ghép:
Giáo viên chốt:
Từ bao giờ cũng có nghĩa vì nó là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu
Từ láy, từ ghép đều là từ có nghĩa Từ láy là phối hợp những tiếng có phụ âm đầu, vần hoặc cả âm đầu và giống nhau gọi là từ láy Từ ghép là ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau, đó là từ ghép Dựa vào cấu tạo trên mà học sinh có thể xác định
từ ghép và từ láy
Giáo viên có thể lấy thêm ví dụ:
+ Từ ghép: Cơn ma, nhà cửa, bông hoa
+ Từ láy: Luộm thuộm, chăm chỉ
c Luyện tập các bài có dạng về tính từ, động từ, danh từ.
Trong đó chơng trình sách giáo khoa cũng lựa chọn những tình huống giao tiếp gắn bó với cuộc sống gần gũi của học sinh
Ví dụ1: Viết họ và tên 3 bạn nam, 3 bạn nữ trong lớp em Họ và tên các bạn
ấy là danh từ chung hay danh từ riêng? vì sao?
Với bài này tôi đã gợi ý cho học sinh: Xác định tên của bạn mình, viết, ghi
rõ họ, tên Lu ý đó là danh từ chung hay danh từ riêng
Cho học sinh làm việc cá nhân, nêu miệng Phần học này học sinh thờng hay mắc lỗi ở vạch danh từ chung
Tôi yêu cầu các em nêu lại danh từ chung là gì? Dùng phép suy“ ” để học sinh áp dụng vào bài của mình
Ví dụ 2: Gạch dới các động từ trong đoạn văn sau:
Yiết Kiêu đến kinh đô yết kiến vua Trần Nhân Tông
Nhà vua: Trẫm cho nhà ngơi nhận một loại binh khí
Yết Kiêu: Thần chỉ xin một chiếc dùi sắt
Nhà vua: Để làm gì ?
Yết Kiêu: Để dùi những chiếc thuyền của giặc vì thần có thể lặn hàng giờ
d-ới nớc.
Tôi đã cho học sinh làm việc theo nhóm Học sinh trong nhóm thảo luận nêu trớc lớp
Lu ý có 2 từ dùi“ ” từ nào là động từ ? Lấy ví dụ trờng hợp khác Ngời ta lấy
cái đục là cái lỗ để nớc đục chảy ra.
Ví dụ 3: Tìm những từ ngữ biểu thị mức độ của đặc điểm, tính chất đợc
gạch chân trong đoạn văn sau:
Hoa cà phê thơm đậm và ngọt lên mùi hơng thờng theo gió bay đi rất xa Nhà thơ Xuân Diệu chỉ có một lần đến đây ngắm nhìn của cà phê đã phải thốt lên
Hoa cà phê thơm lắm em ơi
Trang 9Hoa cùng một điệu với hoa nhài Trong ngà trắng ngọc, xinh và sáng.
Nh miệng em cời đâu đây thôi
Đây là bài tập để rèn luyện về tính từ và bài này hơi trừu tợng với học sinh Cho các em phân tích đề bài trớc vì yều cầu của bài không quen thuộc với học sinh
;các em đã hiểu
Tìm những từ biểu thị mức độ của đặc điểm tính chất của cá từ gạng chân cụ thể : Hoà cà phê thơm nh thế nào ? (thơm đậm và ngọt ) nên mùi hơng bay đi rất
xa Lần lợt học sinh tìm (trả lời cá nhân theo phơng pháp động não):
Thơm – dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy lắm Trong – dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy ngà Trắng – dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy ngọc
Nh vậy các em thấy quen thuộc với cách làm của bài này
C Củng cố khắc sâu mở rộng luyện các dạng bài tập về câu.
Với dạng bài này cũng đợc lựa chọn với thực tiễn sinh động hàng ngày để học sinh biết đặt câu đúng, phù hợp với tình huống giao tiếp, đảm bảo lịch sự khi
đặt câu
1 Câu kể.
Ví dụ 1: Đặt một vài câu kể để:
a) Kể việc làm hàng ngày sau khi đi học về
b) Tả chiếc bút em đang dùng
c) Trình bày ý kiến của em về tình bạn
d) Nói lên niềm vui của em khi nhận đợc điểm tốt
Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân Kể về việc em làm
Lu ý học sinh khi viết hết câu phải có dấu chấm Học sinh viết và đọc cho học sinh trong lớp nhận xét bổ sung
Nội dung của các yêu cầu trên khác nhau: Tả, bày tỏ ý kiến, nói lên niềm vui
Giáo viên hớng dẫn mẫu:
+ Tả kết hợp với dùng từ ngữ gợi tả, biện pháp nghệ thuật
+ Bày tỏ ý kiến – dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy yêu mến, gắn bó nh thế nào?
+ Nói lên niềm vui – dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy vui sớng nh thế nào khi đợc điểm tốt
Ví dụ 2: Khi muốn mợn bạn cái bút, em có thể chọn những cách nói nào?
a) Cho mợn cái bút!
b) Lan ơi, cho tớ mợn cái bút!
c) Lan ơi, cậu có thể cho tớ mợn cái bút đợc không?
Cho học sinh trả lời cá nhân, học sinh chọn trờng hợp c, vì nó thể hiện sự lịch sự trong giao tiếp
Giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động tiếp nối Trao đổi theo cặp, thực hành lời yêu cầu lịch sự
Trang 102 Câu hỏi:
Đối với việc giữ lịch sự khi đặt câu hỏi, dạng bài tập cho phần này cũng rất
cụ thể:
Ví dụ: So sánh các câu hỏi trong đoạn văn sau: Em thấy câu các bạn nhỏ
hỏi cụ già có thích hợp hơn những câu hỏi khác không? Vì sao?
Sau một cuộc dạo chơi, đám trẻ ra về Tiếng nói cời ríu rít Bỗng các bạn dừng lại khi thấy một cụ già đang ngồi ở vệ đờng Trông cụ thật mệt mỏi, cặp mắt
lộ rõ vẻ u sầu.
- Chuyện gì đã xảy ra với ông cụ thế nhỉ? Một em trai hỏi, - Đám trẻ tiếp lời bàn tán sôi nổi:
- Chắc là cụ bị ốm?
- Hay là cụ đánh mất cái gì?
- Chúng mình thử hỏi xem đi?
Các em tới chỗ ông cụ, lễ phép hỏi:
- Tha cụ, chúng cháu có thể giúp gì cho cụ không?
Giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân Trớc hết học sinh phải xác
định câu nào là câu hỏi, câu nào là câu các bạn phỏng đoán với nhau: cho học sinh
so sánh
Các câu các em hỏi nhau:- Chuyện gì xảy ra với ông cụ thế nhỉ?
- Chắc là cụ bị ốm
- Hay cụ đánh mất cái gì?
Câu hỏi các bạn nhỏ hỏi cụ già:
- Tha cụ, chúng cháu có thể giúp gì cụ không?
Hớng dẫn học sinh nhận xét về câu hỏi của các bạn nhỏ với cụ già là rất phù hợp trong trờng hợp đó vì: Nếu không biết nguyên nhân của ông cụ nh thế nào
mà hỏi cụ bị ốm hay cụ đánh mất cái gì sẽ làm tổn thơng đến ông cụ (chẳng may
ông cụ rơi vào hoàn cảnh nh vậy) Qua bài tập này củng cố khắc sâu cho học sinh
về cần đặt những câu hỏi lịch sự, tránh những câu hỏi làm phiền lòng ngời khác
Học sinh còn bỡ ngỡ trong việc phân tích các câu hỏi Tôi đã dớng dẫn các
em phải đặt nó trong văn cảnh cụ thể
Hoạt động liên hệ: Cho học sinh đặt câu hỏi phù hợp khi gặp tình huống nh trong bài tập trên ở ngoài thực tế
1 Câu khiến
- Dạng bài tập cho mảng kiến thức này gồm:
- Chuyển các câu kể thành câu khiến
- Đặt câu khiến phù hợp với các tình huống
- Đặt câu khiến theo yêu cầu có hãy“ ” trớc động từ
đi
“ ” hoặc nào“ ” sau động từ
xin
“ ” hoặc mong“ ” trớc chủ ngữ
- Nêu tình huống có thể dùng câu khiến nói trên